Môn học này có tên gọi là Nhập môn chính sách công và phân tích thể chế. Chúng ta sẽ cố gắng đạt nhiều mục tiêu trong môn học này. Thứ nhất, môn học sẽ giúp học viên làm quen với chính sách công như một chuyên ngành đào tạo. Chúng ta học gì trong ngành chính sách công? Vì nó nói về chính sách nên một phần chính sách công phải ít nhất đề cập đến hành động của chính phủ.... Mời bạn đọc tham khảo.
Trang 1Nhập môn chính sách công
Bài giảng 1
Chính sách công là gì?
Môn học này có tên gọi là Nhập môn chính sách công và phân tích thể chế Chúng ta sẽ
cố gắng đạt nhiều mục tiêu trong môn học này Thứ nhất, môn học sẽ giúp học viên làm quen với chính sách công như một chuyên ngành đào tạo Chúng ta học gì trong ngành chính sách công? Vì nó nói về chính sách nên một phần chính sách công phải ít nhất đề cập đến hành động của chính phủ Nhưng có phải chính sách công chỉ giới hạn trong nghiên cứu về chính phủ và chính trị? Liệu nó có bao hàm những hành động của các nhóm và cá nhân khác trong điều kiện họ cũng có tác động lên “chính sách liên quan”?
Nghiên cứu chính sách công chắc chắn bao gồm việc phân tích cách thức chính phủ ra quyết định và thực hiện các quyết định này Theo nghĩa đó thì đây là một ngành khoa học thực chứng, mô tả sự vật Nhưng chúng ta không hài lòng với điều này Chúng ta cũng muốn nói về những gì là “nên”, hay xác định chính sách nào là tốt hay không tốt
Do đó, chính sách công cũng là một môn học mang tính chuẩn tắc Chúng ta không có sự
xa xỉ được đứng ngoài và nhìn cuộc chơi Đôi khi phải nhảy vào Chúng ta cũng muốn đánh giá tác động của các chính sách lên công chúng và đối với một số nhóm dân nhất định
Chúng ta sẽ dành hai năm tới nghiên cứu một số khái niệm về chính sách công Một số
sẽ được giới thiệu trong môn học dẫn nhập này Chúng ta sẽ tìm hiểu thị trường hoạt động ra sao và thất bại thế nào Ví dụ, thị trường cung cấp cho chúng ta rất nhiều kẹo sô-cô-la nhưng nếu để nó tự hoạt động thì nó sẽ không có đủ cầu được xây Chính phủ phải hành động để cung cấp hàng hóa công như những cây cầu Hay, chính phủ phải điều chỉnh thất bại thị trường Nhưng đôi khi chính phủ cũng thất bại, chẳng hạn mất quá nhiều thời gian để xây cầu hay xây không đúng chỗ hoặc không đúng giá
Chúng ta cũng phải sẵn sàng thừa nhận rằng chính sách công cũng thất bại
Chính sách công không chỉ về thị trường, thất bại của thị trường và chính phủ (cả chính sách) Không có những giá trị được chia sẻ và thiện chí hợp tác thì xã hội sẽ không thể đạt được mục tiêu của mình Chúng ta không thể kỳ vọng mọi người phải đóng góp đồng đều cho các mục tiêu của cộng đồng, hay hy sinh quyền lợi của mình vì sự nghiệp chung Nhưng một xã hội toàn những người vì bản thân thì cũng không phải là hay
Chính sách công cũng nói về chính trị Quyền lợi của các cá nhân và nhóm thường mâu thuẫn nhau, đôi khi sẽ có người được kẻ mất Cách thức đưa ra những quyết định này là một phần và bộ phận của nghiên cứu chính sách công Quyền lợi tư sẽ mâu thuẫn, và quyền lợi công thường đi ngược với quyền lợi của một số cá nhân, công ty và nhóm người Quyền lợi của các thế hệ tương lai để có một môi trường sống lành mạnh lại mâu thuẫn với ước muốn của những người hiện tại đang khai thác tài nguyên thiên nhiên và thực hiện những hoạt động gây ô nhiễm môi trường
Trang 2Chính sách công cũng nói về sự quản lý khu vực nhà nước, và khả năng các lãnh đạo cộng đồng thiết kế và thực hiện chính sách giúp xã hội đạt được mục tiêu của mình Các lãnh đạo phải có khả năng nói lên được những giá trị của cộng đồng và phối hợp được với các cá nhân và nhóm để tìm ra những thỏa hiệp khi quyền lợi và mục tiêu mâu thuẫn
Để minh họa cho một số ý tưởng này, chúng ta sẽ dành thời gian còn lại hôm nay để chơi một trò chơi Trong mỗi vòng, mỗi học viên sẽ nhận được hai lá bài đen và hai lá bài đỏ Sau đó phải nộp lại hai lá và giữ hai lá Trong vòng đầu, mỗi lá đỏ giữ lại sẽ có giá trị 40.000 đồng Học viên ghi lại số lá bài đỏ giữ lại và giá trị tương ứng vào giấy tính điểm Chúng ta cũng sẽ đếm số lá đỏ nộp lại chung Mỗi lá bài đỏ trong chồn bài gộp chung này có giá trị 10.000 đồng
Ở các vòng tiếp theo, mỗi lá bài đỏ nộp lại vẫn là 10.000 đồng nhưng chúng ta sẽ thay đổi giá trị của lá bài đỏ giữ lại
Anh chị có thể xem lá bài đỏ giữ lại là hàng hóa tư, và lá bài đỏ nộp lên trên là đóng góp của mình để tài trợ cho hàng hóa công Vậy thì việc thay đổi giá trị của lá bài đỏ giữ lại riêng sẽ ảnh hưởng thế nào đến quyết định đóng góp của anh chị? Điều gì khác sẽ tác động lên quyết định của anh chị? Chúng ta học được gì từ thí nghiệm này?
Trang 3Nhập môn chính sách công
Bài giảng 2
Làm chính sách công trong nền kinh tế thị trường
Hôm nay chúng ta sẽ thảo luận về sự phát triển của chính sách công như một ngành học,
và các ý tưởng về chính sách công đã thay đổi thế nào theo thời gian Lấy ví dụ cải cách phúc lợi ở Mỹ, chúng ta sẽ xem xét vai trò các giá trị và qui phạm công cộng trong việc định hình chính sách công Chúng ta cũng sẽ nêu rõ tầm quan trọng của những giới hạn
về thông tin trong việc hình thành chính sách công, và bản chất tương tác hay vừa học vừa làm của công tác chính sách
Chính phủ luôn phải đề ra chính sách Nhưng sự hình thành một ngành học để nghiên cứu qui trình làm và triển khai chính sách thì lại khá mới Ngành “hành chính công” có thể truy nguồn gốc về cuối thế kỷ 19 ở Mỹ, khi vai trò ngày càng tăng của chính phủ đã tạo ra nhu cầu cần có những chuyên gia quản lý và kỹ thuật có trình độ để trang bị cho các cơ quan liên bang, tiểu bang và địa phương Woodrow Wilson, nhà khoa học chính trị lỗi lạc đầu tiên của trường Princeton và sau này là Tổng thống Mỹ, là người sớm đề xuất và ủng hộ ngành quản trị công
Những chương trình này chủ yếu định hướng kỹ năng và dạy nghề, nhưng không đi sâu vào bản chất của việc làm chính sách Một trong những công trình quan trọng đầu tiên
xem chính sách công như một ngành nghiên cứu là của E Pendleton Herring: Public
Policy and the Public Interest (1936) Herring chỉ ra rằng luật luôn luôn khái quát và phải
được diễn dịch để áp dụng cho những tình huống cụ thể Những người vận dụng luật chính là các viên chức hay cán bộ hành chính nhà nước Đa số các nhà quan sát ở Mỹ trước cuốn sách của Herrings đều ngạc nhiên với ý tưởng cho rằng những nhà quản lý hành chính không được bầu chọn có thể làm chính sách một cách hiệu quả, nhưng đối với Herrings thì điều này là hoàn toàn tự nhiên và cần thiết Tuy nhiên, ông lập luận rằng các nhà quản lý hành chính cần được đào tạo phù hợp để giúp họ đưa ra các quyết định chính sách tốt
Sau đó là những nỗ lực chuyên nghiệp hóa đào tạo nhà quản lý hành chính và để áp dụng cách tiếp cận khoa học vào chính sách Trong thập niên 1950 và đặc biệt là thập niên
1960, đã có một sự lạc quan rất lớn cho rằng ảnh hưởng của các nhà kỹ trị được đào tạo
về kinh tế học, xã hội học, kinh doanh và luật sẽ gia tăng và kết quả sẽ là những chính sách hợp lý, hiệu quả và công bằng hơn Quan điểm này được thể hiện rõ nhất trong một
cuốn sách được xem là chuẩn mực thời đại của Harold Lasswell: The Policy Sciences
(1951) Sự lạc quan về vai trò của các nhà kỹ trị đạt cực thịnh dưới thời Tổng thống John
F Kennedy Ông đã bổ nhiệm một số nhân vật hàng đầu thuộc các lĩnh vực hàn lâm và kinh doanh vào nội các của mình Nổi tiếng nhất trong số này là Robert McNamara, ông
ta đã đưa các chiến lược quản lý thông tin từng sử dụng để điều hành Công ty Ford Motor vào áp dụng cho Bộ Quốc phòng Mỹ Đến thời Tổng thống Lyndon Johnson, McNamara
là người đi đầu ủng hộ chiến tranh ở Việt Nam Sau này ông lại đổi thái độ chống cuộc chiến này và từ chức thôi làm cho chính quyền (sau đó được chỉ định làm Chủ tịch Ngân hàng Thế giới, và giữ vị trí này hơn 10 năm) Sự thất bại của McNamara trong việc nắm bắt bối cảnh lịch sử và chính trị của cuộc xung đột tại Việt Nam đã chỉ ra yếu điểm to lớn
Trang 4của cách tiếp cận kỹ trị hay “hiện đại cao” đối với chính sách: chính sách suy cho cùng là chính trị, và do đó đòi hỏi nhiều hơn là sự quản lý thông tin phức tạp và các qui trình ra quyết định hợp lý
Sự lạc quan và nhiệt huyết trẻ trung của chính quyền Kennedy đã thúc giục nhiều người trẻ gia nhập ngành công chức, và nhiều chương trình đào tạo hàn lâm đã mọc lên trên khắp nước Mỹ để đáp ứng nhu cầu đang gia tăng này Các tổ chức này muốn làm nhiều hơn là đào tạo cán bộ hành chính Họ đưa các nhà lãnh đạo chính trị tương lai vào đối tượng sinh viên của mình và cũng tuyển dụng các chính trị gia và những người làm chính sách thực tiễn vào giảng một số môn học Sự chú ý lúc này chuyển từ những kỹ thuật hành chính sang các mục tiêu hoạt động của chính phủ, kỹ năng lãnh đạo và thuyết phục Thay vì cố gắng loại bỏ các giá trị và yếu tố chính trị khỏi chính sách công, thế hệ đào tạo hàn lâm mới này nhắm đến tìm hiểu sự tương tác của những quyền lợi, giá trị, và sự lãnh đạo trong việc hình thành và triển khai chính sách
Xuất phát điểm cũng tương tự như những nhận định sâu sắc trước đó của Herrings Các
nhà quản lý hành chính làm chính sách khi họ ra quyết định Cuốn Street Level
Bureaucracy (1980) của Michael Lipsky là một nghiên cứu đầy ảnh hưởng về sự tùy định
mà các quan chức phải đưa ra đối với chính sách nhất thời Trong một hệ thống dân chủ, quyền lực của nhà quản lý vẫn làm cho người dân không thoải mái, nhưng nó là một thực
tế phải chịu đựng của đời sống nhà nước Các học giả chính sách công trong những năm gần đây đã nhấn mạnh rằng sự tùy định của các nhà quản lý hành chính cấp thấp hơn có nghĩa là các nhà hoạch định chính sách cấp cao và chính trị gia không thể cầm quyền bằng “mệnh lệnh và sự kiểm soát” Ngay cả trong kỷ nguyên cách mạng IT, các học giả chính sách công cũng không còn tin vào những hệ thống thông tin kiểu Robert
McNamara như là phương tiện dẫn đến chính sách công và sự triển khai hợp lý Các nhà lãnh đạo phải hoạt động trong một khuôn khổ giá trị và qui phạm xã hội, họ phải sử dụng
sự thuyết phục tương đương với liều lượng mệnh lệnh để mọi chuyện được tiến hành Nói cách khác, chúng ta không thể tách yếu tố chính trị ra khỏi qui trình làm chính sách: đàm phán là một phần không thể tránh của sự hình thành và thực thi chính sách
Trong thế giới mới về chính sách công này, vai trò của nhà phân tích chính sách là gì? Khác với thời của McNamara đa số học giả chính sách công không còn tin rằng nhà phân tích chính sách sẽ tạo ra một câu trả lời “đúng” để sau đó được các chính trị gia và công chức khác áp dụng Ngay từ đầu, các nhà phân tích chính sách đã không thống nhất với nhau, thứ hai dù có thống nhất thì các chính trị gia cũng phải hành động trong khuôn khổ khả thi về mặt chính trị chứ không phải theo những gì tối ưu về mặt lý thuyết
Aaron Wildavsky, một trong những học giả chính sách công hàng đầu của nửa sau thế kỷ
20 đã xem các nhà phân tích chính sách như là một phần của qui trình đàm phán Họ phải chuẩn bị để “nói sự thật với giới cầm quyền”, nói cách khác, là để nói với các lãnh đạo những điều mà họ có thể không muốn nghe nhưng cần biết Nhà phân tích chính sách phải thúc đẩy sự nghiệp chung theo như mình nhận biết hơn là những mối quan tâm đặc biệt Mặc dù người ta có thể có cách nhìn nhận hàng hóa công khác nhau, thực tế nhà phân tích chính sách không thúc đẩy quyền lợi của một nhóm đặc biệt nào đó có nghĩa là
họ có vai trò đặc biệt trong qui trình chính sách công Chỉ vì chính trị là một phần không
Trang 5thể tránh của chính sách không có nghĩa là các nhà chuyên môn về chính sách không có vai trò gì
Sẽ dễ hiểu hơn nếu xem một ví dụ cụ thể Trong thập niên 1990, Mỹ thực hiện cải cách lớn chương trình “phúc lợi” hay các chính sách hỗ trợ xã hội Phúc lợi là vấn đề gây nhiều tranh cãi ở Mỹ không chỉ vì nó có qui mô lớn trong ngân sách chính phủ (dù rằng tất cả chương trình trợ cấp gộp lại chỉ bằng một phần nhỏ của những gói giải cứu dành cho các tổ chức tài chính gần đây), mà cũng vì người Mỹ có ác cảm với sự hỗ trợ xã hội hơn so với các nước châu Âu Mặc dù khó đo lường các ý kiến một cách nhất quán giữa các nền văn hóa, kết quả của cuộc Khảo sát Giá trị Thế giới cho thấy người Mỹ có
khuynh hướng đồng hóa nghèo khó với sự lười biếng hơn là kém may mắn hay những trở ngại về kinh tế hay xã hội đối với sự cải thiện bản thân Người châu Âu nhìn chung gắn vai trò lớn vào các yếu tố cấu trúc trong sự tồn tại của nghèo khó Những giá trị này được phản ánh trong những chương trình thực tế: Mỹ chi tiêu cho các chương trình xã hội
ít hơn nhiều so với đa số các nước châu Âu, kể cả Anh (là nước châu Âu có thể chế và văn hóa gần giống với Mỹ nhất)
Nhiệm kỳ Tổng thống của Ronald Reagan đánh dấu sự chuyển dịch trong tư tưởng người
Mỹ về vai trò đúng đắn của hành động nhà nước Có vẻ như trong phản ứng với đợt lạm phát của thập niên 1970 và mối đe dọa cạnh tranh đang tăng từ phía Nhật, Mỹ đã “định khung lại” vấn đề vai trò đúng đắn của nhà nước trong nền kinh tế Chủ trương nới lỏng qui định với hệ thống tài chính được tích cực theo đuổi (dẫn đến kết quả khủng hoảng tiết kiệm và vốn vay sau này trong thập niên đó) và chính quyền đã giảm thuế để kiềm hãm chi tiêu của nhà nước (mặc dù kết quả là thâm hụt ngân sách lớn hơn thay vì tăng trưởng nhanh hơn, như một số đã dự báo)
Việc định khung lại các vấn đề này bao gồm cả sự thù nghịch ngày càng tăng đối với các chương trình hỗ trợ xã hội Reagan đã từng nói về việc mục kích một phụ nữ mua thuốc
lá và rượu bằng tem phiếu thực phẩm (lúc đó là không dễ thực hiện và bất hợp pháp), và
đã làm dấy lên sự giận dữ của những người đóng thuế trung lưu Nhưng thực tế Reagan
và người kế nhiệm là George H.W Bush đã nắm quyền trong một giai đoạn mà chi tiêu
xã hội tăng mạnh Chính Tổng thống phe Dân chủ Bill Clinton cuối cùng đã ký thông qua luật cải cách phúc lợi năm 1996 Clinton đã cam kết “chấm dứt kiểu phúc lợi như chúng ta vẫn biết” trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1992, đây là một chiến lược chính trị thông minh để tái khẳng định với giới trung lưu là ông đang mang trong tim quyền lợi tốt nhất của họ Cho nên mặc dù đạo luật theo sau đó, Đạo luật Trách nhiệm cá nhân và cơ hội làm việc 1996, là do phe Cộng hòa chiếm đa số trong quốc hội định hình, Clinton vẫn ký Đạo luật này đã thay thế Chương trình hỗ trợ gia đình có trẻ phụ thuộc (AFDC) bằng Chương trình hỗ trợ tạm thời gia đình có nhu cầu (TANF) Sự hỗ trợ xã hội trong chương trình mới này có hạn định về thời gian và gắn liến với nỗ lực tìm việc hay đào tạo của người nhận Trách nhiệm hỗ trợ xã hội chuyển dịch từ chính phủ liên bang quan chính quyền tiểu bang, và tiểu bang phải đáp ứng một số tiêu chí nhất định trong thiết kế chương trình để được liên bang hỗ trợ
Cuộc chiến ý thức hệ diễn ra trên nền AFDC và TANF, nhưng nhiều nhà phân tích đã chỉ
ra rằng các chương trình này chỉ là một phần nhỏ của tổng chi tiêu hỗ trợ xã hội Ngay cả
Trang 6khi ở đỉnh điểm, AFDC cũng chỉ bằng 1% của ngân sách liên bang Chương trình TANF cắt chi tiêu của AFDC còn ½ giữa 1996 và 2004, nhưng vẫn không bằng sự gia tăng trong chi tiêu cho Mediaid (bảo hiểm y tế cho người nghèo) Chương trình Hoàn thuế thu nhập tiền lương (EITC) – là khoản trợ cấp cho người có thu nhập thấp thông qua hệ thống thuế - và hỗ trợ nhà ở cũng tăng lên trong cùng kỳ
Kết quả cuối cùng là nhiều hỗ trợ xã hội được đưa ra nhưng nhắm đến người nghèo đi làm và dành cho y tế và chi phí khuyết tật Nhiều người nghèo tìm cách thức để khai nhận trợ cấp theo hệ thống an sinh xã hội thông qua chương trình Mediaid hoặc chương trình hỗ trợ khuyết tật Nhưng nó nhất quán với hệ thống giá trị phổ biến ở Mỹ Mục tiêu
là không bao giờ đánh đồng sự giúp đỡ, ý muốn nói các bà mẹ ăn phúc lợi có thể được trả tiền để KHÔNG đi làm
Tỉ lệ nghèo vẫn hầu như không đổi trong suốt thời kỳ này Nghèo giảm đi trong giai đoạn bùng nổ kinh tế kéo dài suốt thập niên 90 và tăng trở lại trong cuộc suy thoái 2001 Câu hỏi hiện nay là liệu hệ thống mới có thể đáp ứng đầy đủ với cuộc khủng hoảng kinh
tế hay không Thất nghiệp đã vượt quá 9% và có khả năng tăng cao hơn trong nửa cuối năm nay
Cải cách phúc lợi minh họa tầm quan trọng của chính trị đối với sự hình thành chính sách công Các bà mẹ ăn phúc lợi không phải là nhóm quyền lợi hiệu quả: nhiều người không
có trình độ và họ không được trang bị tài chính hay tổ chức tốt về mặt chính trị Vì lý do
đó nên chính phủ cắt giảm một số hình thức chi trả trực tiếp cho họ là điều khá đơn giản Điều thú vị là chương trình tem phiếu thực phẩm không bị cắt và chương trình Mediaid thì mở rộng nhanh chóng Nông dân và bác sĩ là các nhóm mạnh về mặt chính trị Các nhóm vận động xã hội làm hết sức mình để tối thiểu hóa tác động tiêu cực lên người nghèo Tuy nhiên, động cơ đằng sau sự cải cách chính là sự chuyển dịch trong giá trị công Khó biết được cái gì sẽ tạo ra sự chuyển dịch này, nhưng việc duy trì các chương trình dạng AFDC ngày càng khó khăn trong môi trường chính trị mới
Một khi quyết định chính sách đã được đưa ra, nội dung thật sự của chính sách có thể thay đổi đáng kể trong quá trình thực hiện Điều này quay trở lại luận điểm của Herring
về sự diễn dịch ở cấp cơ sở và quan điểm “công chức cấp đường phố” của Lipsky Những tài liệu chuyên ngành hiện nay không chỉ chú trọng đến các cấu trúc thứ bậc (chính trị gia phụ thuộc vào các công chức cơ sở) mà còn các mạng lưới theo chiều ngang Ví dụ, Rod
Rhodes (Understanding Governance: Policy Networks, Governance and Accountability,
1997) nhấn mạnh rằng các công chức cần huy động nguồn lực từ chính mình và các cơ quan khác để mọi việc được thực hiện Để hiệu quả, họ cần phải xây dựng liên minh và mạng lưới để tiếp cận được nguồn lực, thông tin và ảnh hưởng Trong trường hợp cải cách phúc lợi, luật mới cho phép các tiểu bang nhiều không gian tự quyết định cách họ thực hiện chương trình TANF, và trong các cơ quan nhà nước, cá nhân các công chức cũng có sự tùy định về hình thức hỗ trợ mà họ mang lại cho khách hàng Nhưng họ cần hợp tác với các cơ quan khác (ví dụ, an sinh xã hội, bệnh viện, nhà trẻ, chủ lao động) để mọi chuyện được tiến hành
Trang 7Cuối cùng, sự hình thành chính sách luôn là câu hỏi “vừa học vừa làm” Không ai biết trước những thay đổi chính sách sẽ diễn ra như thế nào Các điều kiện có thể thay đổi ngoài dự kiến Ví dụ, nhiều người ngạc nhiên rằng nạn nghèo đã giảm khi hỗ trợ xã hội
bị hạn chế Nhưng không ai kỳ vọng thất nghiệp vượt quá 10% lực lượng lao động ở Mỹ,
và điều này sẽ gây khó khăn hơn cho những lao động thuộc diện phúc lợi để thực hiện TANF Nếu các thể chế có thể học hỏi từ sự thành công và thất bại của mình, các chương trình tốt sẽ mở rộng và chương trình tồi sẽ bị đóng lại Tiếc thay các thể chế thường không học hỏi được nhanh, và đôi khi họ còn học sai bài
Trang 8
Nhập môn chính sách công
Bài 5
Phân công lao động, chuyên môn hóa và thương mại
Tuần này sẽ xem xét nguồn gốc của một số tư tưởng quan trọng trong kinh tế học Bạn
có thể tự hỏi tại sao chúng ta phải quan tâm đến lịch sử tư duy kinh tế Điều này liên quan gì đến chủ đề chính sách công hiện nay? Câu trả lời tốt nhất là của John Maynard Keynes, nhà kinh tế học lỗi lạc nhất của thế kỷ 20 Ông viết:
Ý tưởng của các nhà kinh tế và triết gia chính trị, cả khi họ đúng và sai, đều mạnh
mẽ hơn những gì người ta hiểu Thật vậy, thế giới này được cai trị hơi khác đi Những người thực tế, tin rằng bản thân họ khá miễn nhiễm với bất kỳ ảnh hưởng tri thức nào, lại thường là nô lệ của một số nhà kinh tế thiên cổ
Keynes không có ý nói rằng các chính trị gia chỉ ngồi lê đọc cuốn The Wealth of Nations của Adam Smith hay General Theory của Keynes Ý ông muốn nói là các ý tưởng hàm
chứa trong những cuốn sách này định hình cách thức chúng ta suy nghĩ về nền kinh tế và
xã hội ngay cả khi chúng ta chưa bao giờ nghe nói về những nhà tư duy vĩ đại này Các ý tưởng đó đã có tác động sâu sắc lên cách thức chúng ta nhìn thế giới đến mức chúng trở thành một phần trong mô thức suy nghĩ của chúng ta Vì lý do đó, chúng ta cần hiểu các
ý tưởng này ở đâu ra và chúng thay đổi nhận thức của chúng ta về thế giới quan như thế nào
Adam Smith là khởi đầu tốt, vì nhiều người xem ông như cha đẻ của kinh tế học hiện đại
Robert Heilbroner, trong cuốn sách hàng đầu, The Worldly Philosophers, đã hỏi tại sao
không có nhà kinh tế nổi tiếng nào trước Smith Suy cho cùng, ở thời điểm Smith được sinh ra trong thế kỷ 18, con người đã vật lộn với những vấn đề kinh tế trong 6000 năm Ông viết:
Con người đã chật vật với vấn đề kinh tế từ lâu trước cả thời Pharaohs, và trong những thế kỷ này đã sản sinh ra nhiều nhà triết học, khoa học, các nhà tư tưởng chính trị, sử gia, nghệ sĩ, và hàng lô lốc nghị viên Nhưng tại sao lại không có nhà kinh tế nào?
Câu trả lời là đối với hầu hết lịch sử được ghi nhận, trừ vài trăm năm vừa qua, các xã hội
đã tự tổ chức mình trên cơ sở truyền thống và quyền hành Đời sống kinh tế không thể tách rời khỏi cuộc sống chính trị, tôn giáo và xã hội Điều này đúng ở phương Tây giai đoạn trung cổ, và đúng ở phương Đông Nông dân không trồng trọt vì lợi nhuận: nông nghiệp không do thị trường chi phối mà là truyền thống làng xã và những yêu cầu của vua chúa, hoàng đế hay lãnh chúa Đất không phải hàng hóa để mua bán, mà là vật đảm bảo tiếng tăm và vị thế, và là thứ phải chiếm đoạt Lao động không phải để bán cho người trả giá cao nhất, mà bị cột chặt vào đất đai, chủ đất hay lãnh chúa Người dân có thể trốn khỏi sự ràng buộc này bằng cách bỏ xứ ra đi, nhưng khi đó lại bị phụ thuộc vào nhu cầu của các chúa đất khác
Trang 9Điều này hiển nhiên là sự đơn giản hóa quá mức tình hình trước khi đời sống kinh tế được tổ chức trên cơ sở thị trường Nhưng không phải là không chính xác Trước khi thị trường nổi lên vào thế kỷ 15 ở châu Âu, thương mại giữa làng mạc, vùng miền và quốc gia chủ yếu gồm hàng xa xỉ: hương liệu từ châu Á, vàng và kim loại quí, cà phê, trà và thuốc lá Các nhu yếu phẩm thì được sản xuất tại chỗ, và chủ yếu giao dịch theo kiểu truyền thống Ở châu Âu, hàng sản xuất công nghiệp vốn có thì do các nghệ nhân sản xuất theo phường hội Giá cả do hội điều tiết và sự cạnh tranh giữa các nghệ nhân là không được phép
Thật vậy, chính thuật từ “nền kinh tế” là xuất phát từ Hy Lạp cổ, từ oikos, hay nhà, và
nomos, là qui phạm hay luật, từ đó đề ra lĩnh vực quản lý hộ gia đình Với người Hy Lạp
và La Mã thì kinh tế học là một vấn đề tư nhân, không liên quan đến lĩnh vực công Nhưng từng bước qua nhiều thể kỷ, truyền thống và quyền hành đã nhường chỗ cho thị trường làm cơ chế hàng đầu để lập trật tự sản xuất và phân phối Tại sao nó diễn ra lúc
đó và ở Tây Âu thay vì nơi khác, thì vẫn còn là vấn đề nóng hổi gây tranh cãi trong lịch
sử kinh tế Chúng ta không cần quan tâm nhiều đến điều này Nhưng với mục đích ban đầu, chúng ta cần phải nhớ rằng sự chuyển dịch từ truyền thống và quyền lực sang thị trường đã tạo ra một cuộc cách mạng trong năng suất với qui mô mà thế giới chưa bao giờ trải qua trước đó Như Heilbroner đã viết:
"Đó là cuộc cách mạng quan trọng nhất từng xảy ra, xét theo quan điểm định hình
xã hội hiện đại, và về cơ bản nó gây xáo trộn ở qui mô còn hơn cả cuộc cách mạng Pháp, Mỹ và cả Cách mạng Nga."
Có thể thấy điều này trong ước tính của Angus Maddison về GDP bình quân đầu người giữa năm 1 và năm 2003 sau công nguyên Giữa năm 1 và 1500 sau Công nguyên, hầu như không có gì xảy ra Thực tế, gần như cả giai đoạn này thu nhập đầu người là chưa bằng mức đạt được trong thời cực thịnh của Đế chế La Mã Ước tính kiểu này có thể không bao giờ chính xác, nhưng nếu cho phép một ít sai số thì rõ ràng sau năm 1500 tăng trưởng thu nhập bình quân đã bắt đầu tăng lên ở châu Âu, và đến thế kỷ 19 cả thế giới đã trải qua tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, lần đầu tiên ở hầu như mọi nơi
Adam Smith đã sống và viết vào thời điểm mà sự chuyển tiếp này đã diễn ra một thời gian nhưng không ai khác có được sự hiểu biết rõ ràng về nguyên nhân và tầm quan trọng
của nó như ông Smith, trong cuốn The Wealth of Nations (1776), là học giả đầu tiên
hiểu được “của cải của các quốc gia” được tạo ra bởi các nhà sản xuất cạnh tranh để bán
ra các thị trường, ở đó người tiêu dùng có thể chọn mua cái gì và mua của ai
Thực tế Smith không phải là nhà kinh tế đầu tiên chỉ ra rằng của cải không bao gồm vàng hay bạc, mà là năng suất của con người Những nhà kinh tế theo trường phái trọng nông đứng đầu là nhà vật lý Francois Quesnay, ví nền kinh tế như cơ thể con người trong đó của cải chảy qua hệ thống như máu trong hệ tuần hoàn vậy Nhưng những người này tin rằng chỉ có nông nghiệp mới tạo ra của cải, và sản xuất công nghiệp chỉ là việc thao tác lại trên các sản phẩm của thiên nhiên, nên do đó không mang tính sản xuất
Trang 10Smith lấy từ ý tưởng của phe trọng nông rằng sự hình thành của cải được gắn liều với sản xuất và năng suất trong khi đả kích sự kỳ thị của họ đối với sản xuất công nghiệp Nhưng ông đi xa hơn phe trọng nông khi tuyên bố rằng của cải của các quốc gia phụ thuộc vào quyền lợi của chính nhà sản xuất và người tiêu dùng Đó là dòng văn nổi tiếng nhất cuốn
the Wealth of Nations, và có lẽ là dòng văn được trích dẫn nhiều nhất trong lịch sử kinh tế
học:
Không phải lòng tốt của anh hàng thịt, chị nấu bia, hay ông hàng bánh mà chúng
ta kỳ vọng có bữa ăn tối, mà chính nhờ sự quan tâm của họ về quyền lợi bản thân Chúng ta đáp ứng được nhu cầu cá nhân không phải nhờ tính nhân văn của họ mà
là sự vị kỷ của chính họ, và không bao giờ nói với họ về nhu cầu của chúng ta mà phải nói về cái lợi của họ
Với chúng ta ý tưởng này nghe có vẻ hiển nhiên, nhưng Smith đã viết nó ra ở thời điểm
mà sự chuyển tiếp từ truyền thống và quyền lực sang các thị trường cùng với nguyên tắc
tổ chức chủ chốt của đời sống kinh tế vẫn đang diễn ra Quan điểm này, cho rằng chính lợi ích cá nhân thúc đẩy con người cạnh tranh và cung cấp hàng hóa và dịch vụ ở mức giá thấp nhất có thể, đã là một sự nắm bắt thông thái Còn cấp tiến hơn nữa là đề xuất của Smith rằng “bàn tay vô hình” của sự cạnh tranh sẽ dẫn dắt con người hướng vào những việc mang lại lợi ích chung, và xã hội không phải dựa vào quyền hành hay truyền thống
để thực hiện tốt chức năng Tầm nhìn của Smith là một quan điểm dân chủ cấp tiến: hãy
để người dân tự định đoạt, không cần các lãnh chúa hay nhà thờ nói họ phải sản xuất cái
gì, khi nào và như thế nào
Lợi ích riêng tạo động cơ, và sự cạnh tranh tạo ra nguyên tắc Những hạn chế đối với thương mại như phường hội hay độc quyền dưới bất kỳ hình thức nào đều làm các nước nghèo hơn thay vì giàu lên Bản thân điều này cũng đủ để đảm bảo vị trí của Smith là nhà kinh tế học hiện đại đầu tiên Nhưng ông còn có một ý tưởng cấp tiến khác quan trọng tương tự, nếu không nói là lớn hơn đối với sự hiểu biết của chúng ta về cách thức hoạt động của nền các kinh tế và thị trường Đó là ý tưởng về “phân công lao động”
Smith xác định sự phân công lao động như là nguồn tăng trưởng năng suất chính yếu Điều này xảy ra theo 3 cách Thứ nhất, khi người lao động làm một công việc nhiều lần,
họ trở nên am tường thực hiện công việc đó, và thực hiện nhanh hơn và chính xác hơn Thứ hai, người lao động tiết kiệm thời gian nếu họ không phải chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác Thứ ba, việc chia sản xuất ra thành nhiều công đoạn rời rạc sẽ dẫn đến tiến bộ kỹ thuật
Trong ví dụ nổi tiếng của Smith về nhà máy sản xuất pin, một công nhân phải tự làm mọi thứ sẽ sản xuất được khoảng 10 cục pin một ngày, trong khi một nhà máy nhỏ với 10 công nhân sản xuất khoảng 50.000 cục pin một ngày Sản lượng do đó tăng đến 5000 lần Câu hỏi hiển nhiên là ai sẽ mua hết số pin này? Chúng rẻ hơn nhiều loại pin làm mỗi lần một cục Nhưng triển vọng của nhà máy phụ thuộc vào sự hiện hữu của một thị trường pin lớn hơn Do đó chúng ta có thể hiểu sự kiên định của Smith về quan điểm không có rào cản thương mại Những cải thiện năng suất rất phụ thuộc vào sự phân công lao động này, nhưng cũng phụ thuộc vào sự tăng trưởng của thị trường Smith không
Trang 11phải không biết về những hệ quả xã hội của sự phân công lao động Ông đã viết trong
cuốn The Wealth of Nations, phiên bản 5:
Người mà cả đời chỉ để thực hiện một vài hoạt động giản đơn, mà tác động của những hoạt động đó có lẽ luôn như nhau, hoặc gần như nhau, sẽ không có cơ hội
để phát huy hiểu biết của mình, hay thực hiện sự phát minh để tìm ra những biện pháp loại bỏ các khó khăn chưa bao giờ xảy ra Vì thế lẽ tự nhiên anh ta sẽ mất đi thói quen áp dụng thực hiện, và nhìn chung sẽ trở nên ngu ngốc và trì trệ đến mức
mà một sinh vật loài người có thể rơi vào Trạng thái u mê đầu óc sẽ khiến anh ta, không những không có khả năng thích thú hay tiếp nhận một phần của bất kỳ cuộc đối thoại nào, mà còn không thể tiếp nhận bất kỳ cảm xúc chung, tao nhã hay nhẹ nhàng nào, và kết quả là không có khả năng hình thành bất kỳ nhận định thuần túy nào về nhiều việc thậm chí là những nhiệm vụ thông thường của đời sống cá nhân Xét theo lợi ích to lớn và rộng hơn của đất nước thì anh ta nói chung không có khả năng nhận định
Smith đề xuất đầu tư công vào giáo dục tiểu học để lấy lại cân bằng trước tác động mất dần kỹ năng và thui chột tư duy của việc phân công lao động Tuy nhiên, ông vẫn lo lắng
về tác động xã hội gây thiệt hại tiềm năng khi biến lao động thành những cái máy Nhìn chung ông vẫn tin rằng tác động năng suất của việc phân công lao động vẫn đáng giá
David Ricardo, có lẽ là nhà kinh tế theo trường phái cổ điển nổi tiếng nhất sau Smith, đã nắm bắt vấn đề phát triển nền kinh tế thị trường Ông chấp nhận quan điểm của Smith về nền kinh tế dựa vào sự phân công lao động, ông cũng áp dụng sự phân công xã hội của Smith thành ba giai cấp xã hội: người lao động, nhà tư bản và chủ đất Ứng với mỗi giai cấp là một nguồn thu nhập: lương cho người lao động, lợi nhuận cho nhà tư bản, và tô lợi cho chủ đất Đây là sự đặc trưng hóa chính xác bối cảnh kinh tế nước Anh lúc bấy giờ, chủ yếu là nông nghiệp và đại đa số bất động sản là do triều đình và giới quí tộc nắm giữ Lực đẩy tăng trưởng kinh tế được xem như sự cạnh tranh, thúc đẩy các nhà tư bản tái đầu
tư lợi nhuận của mình Nhưng toàn bộ cấu trúc này có thể bị chặn đứng nếu các chủ đất
có thể tăng giá thuê và làm giảm lợi nhuận
Theo Ricardo, tiền lương ứng với sự tiêu dùng đủ sống của người lao động làm việc trong qui trình sản xuất, còn tiền thuê đất và lợi nhuận ứng với thặng dư, được xem như sản phẩm còn lại sau khi trừ lương và bổ sung lại bắp giống Giới chủ đất tiêu tiền vào những thứ xa xỉ, còn giới tư bản do sự cạnh tranh kích thích sẽ tiếp tục đầu tư lợi nhuận của mình Một giả định xa hơn là tỉ lệ lợi nhuận là bằng nhau giữa tất cả hoạt động và ngành kinh doanh (lợi nhuận cao hơn trong một ngành sẽ kéo thêm sự tham gia và cạnh tranh trong ngành)
Khi dân số tăng, nhiều đất đai được đưa vào canh tác, nhưng diện tích đất mới lại không màu mỡ bằng số đất cũ, giả định rằng nông dân trồng trên đất tốt trước và để đất ít màu
mỡ lại sau Tỉ lệ lợi nhuận xuyên suốt hệ thống giảm khi vùng đất kém năng suất vốn dĩ tạo thặng dư rất ít sau khi trừ chi phí sản xuất, bị giảm đi Các chủ đất hưởng giá thuê cao hơn trên vùng đất tốt và giới tư bản đẩy giá đất lên cao Lợi nhuận thấp hơn nghĩa là đầu tư thấp hơn và tăng trưởng chậm hơn
Trang 12Hàm ý chính sách của mô hình Ricardo là rõ ràng: sự nhập khẩu tự do thực phẩm sẽ cung cấp ngũ cốc giá rẻ cần thiết để duy trì lợi nhuận, tốc độ đầu tư cao và tăng trưởng nhanh Mục tiêu của ông là Luật Bắp ngô, là một loạt đạo luật được quốc hội do giới chủ đất chi phối thông qua vào đầu thế kỷ 19 để bảo vệ tô lợi trước ngũ cốc nhập khẩu giá rẻ
Ricardo khuyến khích kết luận chính sách này với lý thuyết lợi thế so sánh Theo đó, mỗi
nước cần chuyên môn hóa vào sản xuất những mặt hàng có lợi thế tương đối về chi phí
sản xuất Nói cách khác, các nước không cần phải có lợi thế hiệu quả tuyệt đối để hưởng lợi từ thương mại Lập luận này hướng đến chống lại giới chủ đất, vì họ cho rằng lương thấp hơn ở nước ngoài có nghĩa là nước Anh phải phải vệ thị trường của mình vì không
có lợi thế thương mại tuyệt đối
Ví dụ cho thấy điều này xảy ra như thế nào Mặc dù người Anh kém hiệu quả hơn người
Bồ Đào Nha trong sản xuất vải và rượu, việc giao thương một đơn vị vải cũng đủ để trả cho phần rượu tăng thêm và làm cho thương mại có lợi cho cả hai nước
Kết luận chính của các nhà kinh tế cổ điển vẫn có giá trị với chúng ta ngày nay Sự phân công lao động là nguồn tăng trưởng năng suất quan trọng Thương mại giúp các nước khá hơn Những ràng buộc với thương mại, bất kể dưới hình thức độc quyền trong nước hay những rào cản xuất nhập khẩu, thu nhập thấp hơn và những ưu đãi dành cho những
kẻ trục lợi như giới chủ đất so với nhà đầu tư Đây là những ý tưởng mạnh mẽ có chất lượng trong những nghiên cứu đương đại nhưng vẫn đưa ra được những hàm ý chính sách quan trọng cho phân tích kinh tế hiện đại
Trang 13Nhập môn chính sách công
Bài giảng 6
Giá trị và sự phân phối trong tư duy kinh tế
Xuyên suốt lịch sử kinh tế học, các học giả đã xoay xở với câu hỏi về giá trị Như chúng
ta sẽ thấy, câu hỏi giá trị liên quan mật thiết đến những mục tiêu của ngành khoa học kinh
tế Sự theo đuổi thước đo giá trị khách quan được gắn liền với sự quan tâm của các nhà kinh tế học cổ điển vào tính năng động dài hạn của hệ thống và sự phân phối thặng dư
Sự chuyển dịch sang chủ nghĩa vật thể đi cùng với sự chuyển dịch trọng tâm từ dài hạn đến ngắn hạn, từ phân phối sang hiệu quả
Vật thể có giá trị với chúng ta vì có thể sử dụng chúng cho những mục đích cụ thể Chúng ta cần thực phẩm để ăn, nước uống và quần áo để mặc Chúng ta sử dụng vật thể
để phát tín hiệu về vị thế của mình hay khoe của cải Một chiếc Toyota cũng mang lại dịch vụ đi lại tốt như chiếc Lexus, nhưng chỉ bằng nửa giá Giá cả vì thế không phải là thước đo hoàn hảo “giá trị sử dụng” vì bất kỳ mục tiêu hay ý nghĩa đáng có nào Từ thời Adam Smith, các nhà kinh tế đã bình luận thực tế rằng, chúng ta không thể sống thiếu nước, nhưng kim cương là một thứ xa xỉ lại có giá cao hơn rất nhiều Làm sao có thể như vậy? Giá kim cương phản ánh sự khan hiếm của nó (nước có nhiều, kim cương thì ít) Nhưng đây cũng không phải là lời giải thích vì chúng ta hiếm khi dùng đến kim cương ngoài mục đích là những “món hàng tiêu dùng kêu gọi sự chú ý”, như Thorstein Veblen
Robinson Crusoe cũng như ở Quảng trường Trafalgar; cũng như nhau ở
Moscow hay New York Nhưng giá trị là mối quan hệ giữa con người Nó không
có ý nghĩa gì đối với Robinson Crusoe Sẽ không bao giờ có một đơn vị đo lường thu nhập quốc gia có cùng ý nghĩa cho tất cả mọi người, nói gì đến một đơn vị mang cùng ý nghĩa ở mọi thời điểm hay trong mọi bối cảnh hệ thống kinh tế khác
nhau" (Economic Philosophy, 1962)
Giá trị là một quan hệ Nó xuất hiện từ những tương tác giữa con người, không phải từ sự vật Vì lý do đó các nhà kinh tế cổ điển đã có một thời gian khó khăn tìm kiếm thước đo giá trị khách quan, và tại sao các nhà kinh tế cuối cùng tập trung vào tính khách quan và
“sở thích được tiết lộ”
Các nhà kinh tế cổ điển đã giải đáp hai câu hỏi quan trọng:
Một nền kinh tế phức tạp dựa trên sự phân công lao động sẽ hoạt động như thế nào? (câu hỏi thực chứng)?
Trang 14Để đảm bảo kết quả kinh tế công bằng hay hợp lý thì luật ứng xử đối với vua chúa, nhà đầu tư, người lao động và chủ đất phải như thế nào? (câu hỏi chuẩn tắc)?
Khi tiến bộ trong các ngành khoa học tự nhiên tăng tốc trong thế kỷ 18 và 19, các học giả ngày càng trở nên quen thuộc với ý tưởng tách rời thực tế khỏi giá trị Ý tưởng cho rằng các lý thuyết cần được kiểm chứng dựa trên quan sát thực tế trở nên phổ biến (thay vì dựa vào những thánh văn hay sản phẩm của sự suy diễn nội tại thuần túy) Adam Smith đặc biệt quan tâm đến những triển vọng đối với sự tiến bộ xã hội và phát triển kinh tế, nhưng ông cũng phát triển lý thuyết bàn tay vô hình thông qua quan sát xã hội theo đúng thực tế Dần dà, những câu hỏi “cái gì” đang xảy ra được tách khỏi những câu hỏi “nên là gì” Tuy nhiên, nghiên cứu kinh tế chính trị chủ yếu quan tâm đến sự phát triển của nền kinh
tế và sự phân phối lợi ích kinh tế trong dài hạn
Phân tích phân phối “thặng dư” đòi hỏi một số thước đo khách quan giá trị kinh tế Các nhà kinh tế cổ điển trăn trở với câu hỏi này Họ hiểu rằng sự vật có giá trị sử dụng, và từ chối ý tưởng cho rằng các giá trị trao đổi (giá cả) phản ánh giá trị thật của sự vật Lúc đó cung và cầu được cho là không hoạt động theo qui luật kinh tế Thương mại gắn liền với
xa xí phẩm, những dư thừa và thiếu hụt bất ngờ, và giá cả đến mức nó có khuynh hướng biến động mạnh mà không có lý do rõ ràng nào Quan trọng hơn, nếu giá cả thị trường được chấp nhận như là thước đo giá trị duy nhất, thì sẽ khó nói về sự công bằng của các kết quả kinh tế Chúng ta có thể thấy điều này trong các kỹ thuật phân tích chi phí và lợi ích hiện đại ngày nay Phân tích chi phí và lợi ích được thực hiện với “giá mờ” (shadow prices), được cho là phản ánh giá trị “thực” chính xác hơn là giá thị trường
Với Smith và Ricardo, một yếu tố chung cho tất cả hàng hóa và dịch vụ là lao động Họ cho rằng có thể đi đến một thước đo giá trị khách quan bằng cách tính toán “lao động cần thiết” hay lượng thời gian lao động cần thiết để sản xuất một hàng hóa cụ thể “Giá trị lao động” thực sự của một hàng hóa không nhất thiết liên quan gì đến giá trị sử dụng hay giá trị trao đổi của nó Mục đích của nó là làm mẫu số chung Nhưng đó cũng không phải là giải pháp tốt, vì không ai biết phải cần đến bao nhiêu lao động cần thiết để sản xuất một hàng hóa cho trước, đặc biệt khi những khác biệt trong công nghệ có nghĩa là lao động cần thiết luôn là một mục tiêu di động
Adam Smith thử ý tưởng “giá tự nhiên” như thước đo giá trị khách quan Giá tự nhiên bao gồm tất cả chi phí sản xuất, gồm lao động, nguyên liệu, tiền thuê và một khoản tỉ suất lợi nhuận “thông thường” Nhưng cái này cũng không ổn vì nó nhanh chóng chuyển thành kiểu lý luận vòng vo (circular logic) Nếu cần thép để sản xuất than và than để sản xuất thép, thì làm thế nào biết được giá cả tự nhiên của hai mặt hàng này?
Ricardo sử dụng lý thuyết giá trị lao động để xem xét những động năng dài hạn của nền kinh tế Điều này lẽ ra không thể làm được với lý thuyết giá trị sử dụng giá cả thị trường,
là thứ rất khả biến và quá tạm thời để đóng vai trò dẫn dắt những qui luật chuyển động dài hạn trong nền kinh tế Ricardo biết rằng giá thực phẩm đang tăng lên, và ông nhận thấy sự tăng giá gắn liền với sự phát triển dài hạn của hệ thống kinh tế hơn là những biến động ngắn hạn Hệ thống giá trị của ông do đó tạo ra lý thuyết phân phối Giá trị sản xuất
Trang 15nông nghiệp phụ thuộc vào yếu tố lao động đầu vào Tiền lương chỉ vừa đủ để đảm bảo
sự tồn tại của người lao động Lợi nhuận bằng tiền lương trừ tô lợi trả cho chủ đất và trừ chi phí sản xuất (giống) Khi đất kém màu mỡ được đưa vào sản xuất, thì lợi nhuận sẽ biến mất do năng suất biên giảm
Hệ thống của Ricardo rất sâu sắc và chẩn đoán một cách chính xác mối liên kết giữa những hạn chế thương mại và lợi nhuận giảm đi Nhưng lý thuyết giá trị lao động đã khiến ông không thấy được những dạng thay đổi công nghệ làm ngắt quảng sự kết nối giữa áp lực dân số và khả năng lợi nhuận Kết luận của ông cho rằng nền kinh tế sẽ trì trệ trong dài hạn đã được thực tế chứng minh là không đúng
Những cố gắng của các nhà kinh tế cổ điển để đi đến một thước đo giá trị khách quan đã mai một Một lứa các nhà kinh tế mới, chịu ảnh hưởng mạnh của sự phát triển về kỷ thuật
và vật lý, đã chuyển sang tìm kiếm thước đo giá trị giúp họ ứng dụng những công cụ toán học vào nền kinh tế Gần như đồng thời ở ba nước, có ba nhà kinh tế quyết định rằng cách thức tiến triển là phải bỏ đi ý tưởng thước đo giá trị khách quan và chuyển sang những thước đo chủ quan Nói cách khác, giá trị không phải là đặc tính thực của hàng hóa Chúng ta gắn giá trị vào hàng hóa dựa trên sở thích của mình, và không có gì đảm bảo (thực tế hoàn toàn không thể) rằng hai người sẽ gắn cùng chính xác một giá trị cho một loạt những hàng hóa trên thị trường, hay cho cùng hàng hóa ở hai thời điểm bất kỳ Giá trị không phản ánh trong lao động cần thiết hay chi phí sản xuất, mà trong số tiền mà một người sẵn lòng bỏ ra để trả cho đơn vị hàng hóa cuối cùng vào một thời điểm bất kỳ
William Stanley Jevons ở Anh, Leon Walras ở Pháp và Carl Menger ở Áo đã đi đến kết luận này trong vài năm riêng lẽ vào cuối thế kỷ 19 Mặc dù có những khác biệt tinh tế giữa họ, và những người theo họ, cả ba người gộp lại đã hình thành nên điều được biết đến như là “cuộc cách mạng cận biên” Lần đầu tiên, giá trị kinh tế được xác định với sở thích chủ quan của người tiêu dùng, trọng tâm là giá cả được đưa ra cho đơn vị hàng hóa cuối cùng được giao dịch trên thị trường Sự chuyển dịch từ khách quan sang chủ quan,
và từ dài hạn sang ngắn hạn, đã cho phép các nhà kinh tế này và những người theo họ áp dụng các nguyên tắc đại số và sau đó là các phép tính vào hành vi thị trường
Vilfred Pareto tiếp bước, chuyển kinh tế học từ thước đo số học thỏa dụng sang thứ bậc thỏa dụng, với những thuộc tính toán học tốt hơn Sự tối ưu Pareto (là cụm từ được các nhà kinh tế học sử dụng sau khi Pareto mất) mang ý nghĩa một vị thế mà tại đó không người tiêu dùng nào có thể cải thiện sự thỏa mãn theo thứ bậc sở thích của mình mà không làm người khác bị thiệt Sự trao đổi tự nguyện và sự cân bằng trở thành tâm điểm của kinh tế học
Có điều gì bị mất đi trong sự chuyển tiếp từ khách quan sang chủ quan và từ động năng dài hạn sang cân bằng ngắn hạn không? Quay trở lại hai câu hỏi chiếm lĩnh tâm trí của các nhà kinh tế cổ điển: một nền kinh tế phức tạp hoạt động như thế nào trên nền tảng phân công lao động; và các tác nhân trong nền kinh tế hành xử như thế nào? Sự chuyển dịch sang chủ nghĩa cận biên dẫn đến sự tách bạch có tính quyết định giữa kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc Chủ nghĩa cận biên mang lại nền tảng cho lý thuyết cân bằng riêng phần và tổng thể, nó tạo ra một tập hợp công cụ phức tạp để mô tả các
Trang 16hiện tượng kinh tế, ít nhất trong ngắn hạn Nhưng câu hỏi mang tính chuẩn tắc thì hầu như biến mất Với khuôn khổ khách quan, sự bất khả khi so sánh giữa các cá nhân, thì không có cách nào để đi đến những nhận định liên quan đến sự công bằng hay “đạo đức” của các kết cục kinh tế Kinh tế học mất đi sự quan tâm đến câu hỏi đúng và sai, và ngày càng tập trung vào việc tối đa hóa thỏa dụng như được đo lường theo quan điểm sở thích được tiết lộ của người tiêu dùng
Hiệu quả, không phải công bằng là mục tiêu của phân tích kinh tế Khác Ricardo, các nhà kinh tế không còn quan tâm đến sự phân phối thặng dư kinh tế, thu nhập hay của cải Kinh tế học không trả lời cho câu hỏi làm thế nào tạo ra một xã hội tốt và công bằng Đó không còn là điều mà các nhà kinh tế cảm thấy thoải mái khi nói đến Họ cũng không thoải mái khi nói đến những kết quả không công bằng hay sự bóc lột Cách tiếp cận giá trị chủ quan của họ khiến họ không thể phán xét bất kỳ giao dịch nào diễn ra một cách tự nguyện Các nhà kinh tế nhường cho chính trị gia và công chúng việc đặt ra quan điểm về
xã hội tốt, và họ giới hạn hoạt động của mình vào việc mô tả các chính sách được thiết kế
để đạt được những mục tiêu này
Sự chuyển dịch thứ hai từ dài sang ngắn hạn Lý thuyết cận biên về giá trị, dựa vào thứ hạng sở thích, chỉ mở rộng đến trạng thái cân bằng kế tiếp (phiên bản Áo gọi là tức thời) Động năng dài hạn của hệ thống không phải là câu hỏi dễ dàng giải đáp Quá trình tích lũy vốn theo sau là đầu tư cũng rắc rối, vì ở trạng thái cân bằng tất cả lợi nhuận đều bị cạnh tranh lấy đi Mãi về sau, các nhà kinh tế cận biên mới tạo ra mô hình tăng trưởng kinh tế giải thích tăng trưởng như là một sản phẩm của sự thay đổi công nghệ và tăng trưởng dân số Những mô hình này đã soi sáng một số khía cạnh của quá trình tăng
trưởng, nhưng chúng không thật sự thực tế Dài hạn vẫn là một vấn đề đối với kinh tế học hiện đại
Điều này có ý nghĩa gì với mối quan hệ giữa kinh tế học và chính sách công? Quan trọng nhất là nó cho ta biết ý tưởng về những gì có thể kỳ vọng từ các nhà kinh tế và kinh tế học Kinh tế học hữu dụng nhất khi là tập hợp các công cụ để chỉ ra cách làm hiệu quả nhất (về chi phí) để đạt được một mục tiêu cho trước Nó không hữu ích lắm khi quyết định mục tiêu nên là gì, hay đánh giá sự công bằng hay ý nghĩa đạo đức của các kết quả kinh tế Các nhà kinh tế lập luận rằng khoa học không thể đưa ra các quyết định đạo đức
mà đó chính là một phần của qui trình chính trị
Trang 17Hiệu quả và mô hình thị trường cạnh tranh
Phương pháp phân loại cơ sở lý luận chính sách công bắt đầu từ khái niệm mô hình thị trường hoàn hảo hay lý tưởng hóa Đây là một trong những khái niệm căn bản trong kinh
tế học hiện đại liên quan đến số lượng lớn doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận và người tiêu dùng tối đa hóa thỏa dụng Theo thuật ngữ đơn giản này, mọi người đều chọn cái tốt nhất cho mình Theo một số giả định, các hành vi tự thúc đẩy của các tác nhân kinh tế
này sẽ dẫn đến các mô thức sản xuất và tiêu dùng hiệu quả Hiệu quả, theo đó là không
có cách nào để tăng lợi ích cho người này mà không làm thiệt hại đến lợi ích của người khác
Khái niệm hiệu quả, hay hiệu quả Pareto, hoặc phân bổ tối ưu Pareto, nói đến việc phân
bổ mang tính chất không thể tăng phúc lợi của người tiêu dùng này mà không làm thiệt hại đến phúc lợi của người tiêu dùng khác Ví dụ bằng trò chơi cắt bánh
Thị trường cạnh tranh được xem là chuẩn mực của hiệu quả, hay tối ưu Pareto Khi người
tiêu dùng đến nhà thuốc mua thuốc trị cúm, họ có thể thất vọng vì giá thuốc Tamiflu quá cao Đồng thời, khi công ty dược sản xuất loại thuốc này, họ muốn giá thuốc phải cao hơn Đơn giản là người mua muốn trả ít, còn người bán muốn giá cao Liệu có “giá thuốc đúng” theo quan điểm xã hội không? Trong một thị trường cạnh tranh, áp lực cung và cầu
sẽ quyết định giá (và lượng) hàng hóa dịch vụ sao cho lợi ích của người tiêu dùng và nhà sản xuất lớn nhất Tại sao và như thế nào?
Hình dung ngày lễ Valentine Có 28 cô gái xinh đẹp trong lớp và chỉ có một món quà mà các cô mong đợi: một album nhạc luôn đứng đầu bảng xếp hạng của các giảng viên FETP
và chỉ có một đĩa CD duy nhất Đĩa nhạc được bán ở phòng cô Kim Châu Giả sử có bốn anh nam xuất hiện, mỗi người được yêu cầu viết riêng ra một tờ giấy mức giá mà họ muốn mua Giả sử các mức giá lần lượt là $100, 80, 70 và 50 cho Hùng, Dũng, Chiến, Thắng Sau đó bắt đầu đấu giá, mức khởi đầu được đưa ra là $10, ai cũng muốn mua Sau
đó giá tăng lên và dừng ở mức $90 do Hùng đưa ra Lúc đó, Dũng, Chiến, và Thắng đều
bỏ cuộc vì họ không muốn trả nhiều như vậy Hùng trả $90 và lấy đĩa CD Anh ta được
gì? Một cuộc thương thảo thật sự với thặng dư của Hùng là $10 Thặng dư tiêu dùng là
chênh lệch giữa mức sẵn lòng chi trả và mức thực tế họ phải trả Vậy giá thấp hơn thì thặng dư sẽ cao hơn
Mục tiêu khi đưa ra khái niệm thặng dư tiêu dùng là để phân định mức độ mong đợi của kết quả thị trường Thặng dư tiêu dùng đo lợi ích mà người mua nhận được từ một hàng hóa theo nhận định của họ Do đó thặng dư tiêu dùng là thước đo phúc lợi kinh tế tốt nếu các nhà hoạch định chính sách tôn trọng sở thích của người mua
Tuy nhiên, một số trường hợp các nhà hoạch định chính sách sẽ chọn cách không quan tâm đến thặng dư tiêu dùng Ví dụ, người nghiện ma túy sẽ sẵn sàng trả giá cao, nhưng không thể nói họ hưởng lợi lớn nếu mua được ma túy giá rẻ Theo quan điểm chính sách, mức sẵn lòng chi trả trong ví dụ này không phải là thước đo tốt cho lợi ích người mua, và thặng dư tiêu dùng không phải là thước đo phúc lợi kinh tế tốt, vì người nghiện không nhắm đến lợi ích tốt nhất của mình Tuy nhiên, ở đa số thị trường, các nhà kinh tế thường
Trang 18mặc định người mua có suy xét khi ra quyết định Có suy xét nghĩa là người ta sẽ cố hết sức để đạt được mục tiêu của mình, nếu có cơ hội Các nhà kinh tế cho rằng sở thích của con người cần được tôn trọng
Chuyển sang khía cạnh khác của thị trường và xem bên bán được lợi gì từ thị trường Hình dung bạn sống trong KTX FETP và mọi người được giao thay phiên nấu một số bữa
ăn, nhưng đó là việc bạn chán nhất Bốn cô gái, Mai, Lan, Quỳnh, Hồng sẵn sàng nhận nấu giùm bạn cho cả năm nhưng và giá của mỗi người đưa ra là $900, $800, $600, $500 Mới đầu, giá được đưa ra khá cao, sau đó giảm dần khi có người muốn làm giúp với giá thấp hơn Cuối cùng, Mai thắng với giá $580 vì mức sẵn lòng giúp của cô ấy chỉ là $500
Như vậy, ta nói rằng Mai có được thặng dư sản xuất $80 Thặng dư sản xuất là chênh
lệch giữa số tiền mà người bán nhận được so với chi phí sản xuất Vậy giá cao hơn tăng thặng dư sản xuất
Thặng dư xã hội là tổng thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất Nếu sự phân phối nguồn lực tối đa hóa tổng thặng dư, ta nói rằng phân bổ hiệu quả Nếu phân bổ không hiệu quả, nghĩa là có một số lợi ích giao dịch giữa bên mua và bán chưa được hiện thực hóa Nếu vẽ một điểm cân bằng thị trường, thì tổng diện tích giữa đường cung và cầu giao tại điểm cân bằng sẽ là tổng thặng dư thị trường Không có sự phân bổ nào khác (nhiều hay ít hàng hóa hơn) có thể làm tăng phúc lợi của một nhóm mà không làm giảm của nhóm khác Tóm lại:
1 Thị trường cạnh tranh phân bổ cung hàng hóa cho những người mua nào cho giá trị cao nhất, tính theo mức sẵn lòng chi trả của họ
2 Thị trường cạnh tranh phân bổ cầu hàng hóa cho nhà sản xuất nào có thể sản xuất chúng với chi phí thấp nhất
3 Thị trường cạnh tranh tạo ra số lượng hàng hóa tối đa hóa tổng thặng dư tiêu dùng
gọi là ngoại tác Cả ngoại tác và sức mạnh thị trường là ví dụ của hiện tượng được gọi là
thất bại thị trường, mang lại những cơ sở lý luận truyền thống cho chính sách công, đây
là chủ đề sẽ được đề cập ở buổi giảng sau
Trang 19Nhập môn Chính sách Công
Bài giảng 8
Các vấn đề kinh tế vĩ mô
Bài giảng hôm nay bàn về vấn đề chính sách cơ bản trong kinh tế vĩ mô: nền kinh tế vĩ
mô có tự điều tiết hay không? Các thị trường sẽ hoạt động tốt hơn nếu chính phủ không can thiệp? Chu kỳ kinh tế có phải là kết quả của những cú sốc từ bên ngoài hay là một phần tự nhiên của nền kinh tế thị trường?
Bài giảng này không nhằm gom toàn bộ môn học macro vào một buổi, mà mục tiêu là minh họa tầm quan trọng của chính sách đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô Bắt đầu bằng vài câu hỏi đơn giản: các chu kỳ kinh tế là nội sinh hay ngoại sinh đối với nền kinh tế vĩ mô? Tình trạng bong bóng tài sản có tồn tại không? Nếu có, các cơ quan tiền tệ phải phản ứng như thế nào? Đây là những vấn đề rất quan trọng ở các nước đang phát triển và Việt Nam đã gặp phải năm 2007-08 Chúng có thể xuất hiện trở lại trong năm nay
Đã từ lâu kinh tế học có cách nhìn truyền thống về chu kỳ kinh tế (các giai đoạn bùng nổ theo sau là suy thoái) như là được sinh ra từ bên ngoài những hoạt động chức năng thông thường của thị trường Nói cách khác, chu kỳ kinh tế đã được xem như “ngoại sinh” thay
vì “nội sinh” Chúng ta có thể tìm nguồn gốc của quan điểm này từ nhà kinh tế người Pháp, Jean-Baptiste Say, vào đầu thể kỷ 19 Say lập luận rằng qui trình sản xuất tạo ra thu nhập cần thiết để mua hàng hóa được sản xuất Qui luật của Say nhìn chung được đúc kết thành câu phát biểu đơn giản nổi tiếng “cung sẽ tạo ra cầu của riêng nó” Thật ra nói như
vậy hơi quá đơn giản, vì Say muốn nói rằng điều đó chỉ đúng trong nền kinh tế trao đổi, ở
đó hàng hóa này được mua bằng hàng hóa khác Ý chính ở đây là không có tiêu dùng dưới mức cân bằng trong một nền kinh tế làm tốt chức năng Nó hàm ý rằng tiền tiết kiệm như tài khoản ngân hàng, sẽ luôn chuyển thành hình thức đầu tư nào đó
Nếu Qui luật của Say đúng, thì phía cầu của nền kinh tế là thụ động Mọi việc quan trọng đều được thực hiện ở phía cung Nếu hàng hóa được sản xuất thì sẽ có người mua Không phải ông nói là nếu có ai đó sản xuất một triệu con vịt nhựa màu vàng thì một triệu con vịt này sẽ được mua hết Có thể dư hàng hóa ở một thị trường và thời điểm nhất định Nhưng tính bình quân, và xuyên suốt tất cả thị trường, qui trình sản xuất sẽ tạo ra thu nhập và thu nhập sẽ chuyển thành sức cầu đủ để tiêu thụ hết thị trường hàng hóa được cung cấp
Qui luật của Say chiếm ưu thế trong tư duy kinh tế vĩ mô trong một thời gian dài Tuy nhiên thực tiễn cho thấy các nền kinh tế thường xuyên trải qua chu kỳ kinh tế Tăng trưởng kinh tế tăng tốc và thu nhập cùng việc làm tăng theo Sau đó, khoảng một hay hai thập niên, tăng trưởng chậm lại, việc làm mất đi và thu nhập giảm Các nhà kinh tế lại chật vật tìm hiểu nguồn gốc của chu kỳ kinh tế dựa trên niềm tin cho rằng cung sẽ tạo ra cầu của riêng nó William Stanley Jevons, cha đẻ của chủ nghĩa cận biên nổi tiếng, cho rằng có thể lý giải các chu kỳ kinh tế như hệ quả của các vệt đen trên mặt trời, là những vùng trên bề mặt mặt trời có nhiệt độ thấp Ông ghi chú là thời gian của chu kỳ kinh tế và các vệt đen mặt trời là 10,45 năm Không may cho Jevons, các nghiên cứu sâu hơn cho thấy, các vệt đen xuất hiện 11 năm một lần, và độ dài của các chu kỳ kinh tế thay đổi từ
Trang 20nơi này sang nơi khác và từ thời kỳ này sang thời kỳ khác Đây là ví dụ tốt cho nhận định quan trọng rằng có tương quan không hẵn sẽ có quan hệ nhân quả!
Trong kinh tế học hiện đại, quan điểm cho rằng chu kỳ kinh tế không phải nội sinh được nâng lên trong lý thuyết gọi là “chu kỳ kinh tế thực” Theo đó, các chu kỳ kinh tế do các yếu tố ngoại sinh gây ra như thay đổi công nghệ, khí hậu hay biến cố như chiến tranh Những yếu tố này nằm ngoài hoạt động của thị trường, vốn dĩ giúp nền kinh tế tăng trưởng ở tốc độ đều đặn khi không có các cú sốc từ bên ngoài Như trong Qui luật của Say, tiền là trung tính và luôn có đủ cầu để cân bằng cung Một cú sốc ngoại sinh tích cực, ví dụ một phát minh mới quan trọng, sẽ làm tăng năng suất giúp các công ty thuê lao động nhiều hơn và trả lương cao hơn Người lao động có động cơ này và làm việc nhiều hơn, nên việc làm tăng và nền kinh tế phát triển Ngược lại khi cú sốc tiêu cực bên ngoài tác động lên nền kinh tế, chẳng hạn giá dầu tăng do chiến tranh hay đảo chính quân sự, sẽ buộc chủ lao động giảm thuê mướn và giảm lương Người lao động không có động cơ đi làm nên ở nhà, khiến việc làm và tăng trưởng giảm đi
Hàm ý chính sách của chu kỳ kinh tế thực là không có cơ sở để chính phủ can thiệp kích thích nền kinh tế trong thời kỳ trì trệ và giảm thắt chặt tín dụng trong thời kỳ bùng nổ Những nguyên nhân đằng sau tốc độ tăng trưởng là nằm ngoài thị trường, do đó can thiệp chỉ tạo ra biến dạng mà thôi Nếu chính phủ muốn kích thích tăng trưởng thì cần thực hiện ở phía cung thông qua các chương trình đào tạo, hỗ trợ nghiên cứu nâng cao năng suất và giảm thuế để khuyến khích chủ lao động thuê nhiều nhân công
Kỳ vọng của nhà đầu tư không phải là một yếu tố trong chu kỳ kinh tế thực, vì lý thuyết giả định rằng kỳ vọng của nhà đầu tư phản ánh chính xác lợi nhuận kinh tế trong tương lai Điều này không có nghĩa là mỗi nhà đầu tư đều đoán đúng lợi nhuận tương lai của
mình, nhưng họ không sai một cách hệ thống: tính bình quân thì họ không đoán quá cao
hay quá thấp Hệ quả về mặt tài chính của quan điểm này là “giả thuyết thị trường hiệu quả” Theo như tên gọi, giả thuyết này cho rằng các thị trường định giá mọi tài sản một cách đúng đắn, ở đây cũng không có nghĩa là mức giá mà hàng ngày thị trường chứng khoán định ra cho mỗi cổ phiếu có liên quan trực tiếp đến suất sinh lợi đầu tư ở những
công ty chủ thể Nó chỉ đơn giản có nghĩa là thị trường chứng khoán không sai như dự
đoán Giá thị trường có thể quá cao hay quá thấp, nhưng quá cao hay quá thấp chỉ là ngẫu
nhiên, không phải hệ thống Khả năng giá quá cao hay quá thấp vào một ngày bất kỳ là như nhau
Bong bóng tài sản không tồn tại nếu các thị trường hiệu quả theo nghĩa này Những lần giá tăng mạnh phản ánh giá trị nền tảng thật sự của tài sản Nếu đúng, thì ngân hàng trung ương không nên hành động để hạn chế sự tiếp cận tín dụng khi giá tài sản đang tăng Tăng trưởng tín dụng luôn phản ánh sự chuyển động của nền kinh tế đến mức cân bằng cao hơn
Tiếc thay, bong bóng tài sản là một thực tế thường xuyên quan sát được trong đời sống kinh tế Nhiều nhà kinh tế đã gặp rắc rối khi phủ nhận sự tồn tại của chúng Có lẽ ví dụ nổi tiếng nhất là Irving Fisher, cha đẻ của thuyết định lượng tiền tệ và là một trong những nhà kinh tế được khen ngợi nhất nước Mỹ Một tuần trước khi thị trường chứng khoán
Trang 21sụp đổ năm 1929, Fisher tuyên bố rằng giá cổ phiếu đã “đạt mức bình nguyên cao vĩnh viễn” Đây là bài học tốt cho các nhà kinh tế: đừng bao giờ đưa ra những dự báo về thị trường chứng khoán
Chính cuộc Đại khủng hoảng theo sau vụ đổ vỡ thị trường chứng khoán 1929 đã làm
nguồn cảm hứng cho cuốn General Theory of Employment, Interest and Money (1936)
của John Maynard Keynes, trong đó ông đề ra một lối tư duy lại mang tính cấp tiến về chu kỳ kinh tế và hoàn toàn loại bỏ Qui luật Say Đợt suy thoái thập niên 30 là tệ hại nhất trong lịch sử được ghi nhận: ví dụ ở Mỹ, thu nhập quốc dân bị giảm ½ giữa 1929 và
1933 Với Keynes, đây là bằng chứng sau cùng cho thấy chu kỳ kinh tế nằm ngoài phạm
vi hoạt động của nền kinh tế Nếu để mặc, thì các thị trường không phục hồi được, và cũng không có một cơ chế tự động nào để đảm bảo rằng nền kinh tế sẽ trở lại trạng thái cân bằng
Ngược với chu kỳ kinh tế thực và quan điểm thị trường hiệu quả, Keynes thấy được tính bất trắc như là một phần tự nhiên của đời sống kinh tế Sự bất trắc chủ yếu tác động lên đầu tư Mức tiêu dùng của nền kinh tế là có thể đoán được và có liên quan mật thiết đến thu nhập Khi người dân kiếm được nhiều tiền hơn, họ chi tiêu nhiều hơn Nhưng đầu tư không phải là một hoạt động thường nhật cứ diễn ra bất kể điều gì đang xảy ra trên thế giới Nhà đầu tư hình thành kỳ vọng về lợi nhuận tương lai dựa vào những gì họ thấy và vào bản năng của mình (Keynes gọi đó là “tâm lý bầy đàn”) để phát hiện các cơ hội kiếm lợi nhuận Họ so sánh những ước tính lợi nhuận tương lai tốt nhất của mình với lãi suất đồng tiền hoặc việc giữ tiền mặt Nếu vì lý do nào đó họ cho rằng lợi nhuận tương lai sẽ không cao, thì họ sẽ không đầu tư Sự liên kết tự động giữa cung và cầu và giữa đầu tư với tiết kiệm bị ngắt đi Cầu sẽ không đủ, buộc cung phải giảm, dẫn đến thất nghiệp và cả giảm phát
Nếu thị trường hoạt động tốt, ta có thể dự trù nhà đầu tư sẽ do dự và kết quả là dư thừa tiết kiệm, dẫn đến lãi suất giảm đi Khi lãi suất rất thấp thì đầu tư bắt đầu có lợi trở lại Keynes phủ nhận logic này, ông chỉ ra rằng ngay cả khi lãi suất thấp thì rủi ro tỉ suất lợi nhuận được điều chỉnh từ đầu tư cũng có thể quá thấp Nên giữ tiền mặt sẽ an toàn hơn Hơn nữa, khi lợi nhuận giảm thì sự dồi dào tiết kiệm có thể không có lợi chút nào Các ngân hàng sẽ thiếu tiền mặt khi họ bù cho các khoản nợ xấu từ những người đi vay khác (đó là điều đang xảy ra hiện nay)
Một nhà kinh tế khác, Hyman Minsky, đã ứng dụng các lý thuyết của Keynes vào thị trường tài chính Giả thuyết về sự bất ổn tài chính của ông là đối nghịch với giả thuyết thị trường hiệu quả Theo Minsky, giá tài sản không nhất thiết gắn kết với bất kỳ giá trị thực nào Thật vậy, từ bên trong nội tại đã có khuynh hướng tạo ra bong bóng tài sản Lý do là giá tài sản đang tăng sẽ giúp người đi vay có giá trị thế chấp nhiều hơn để vay nhiều hơn, điều này lại đẩy giá tài sản tăng lên nữa Trong khi đó, các tổ chức tài chính lại phát minh
ra những công cụ mới để tăng tốc độ đòn cân nợ nhanh hơn Trong giai đoạn bùng nổ, một qui trình tự củng cố diễn ra trong đó mọi người cảm thấy họ dường như giàu hơn, và các ngân hàng thì sẵn sàng tài trợ đầu tư để giúp họ cảm thấy giàu hơn Cuối cùng, khi số người không trả được nợ tăng đủ lớn thì tiến trình vãng nợ bắt đầu theo hướng ngược lại Mọi người bán tài sản để trả nợ, giá tài sản giảm, tạo ra sự đổ vỡ
Trang 22nợ ngân hàng vay tiền Thị trường nhà ở Mỹ trải qua giai đoạn tăng giá kéo dài từ 1996 đến 2006 Tỉ lệ giá nhà trung vị với thu nhập hộ gia đình tăng từ 3 năm 1970 lên 5 năm
2006 Ngày càng nhiều người tham gia vào thị trường, với kỳ vọng là tiền dễ kiếm Giới ngân hàng ngày càng mạnh tay chấp thuận các khoản vay gọi là “cấp ba” cho những người đi vay rủi ro vì có mức xếp hạng tín dụng kém hay tài sản thế chấp giới hạn (ngoài căn nhà mà họ đang mua) Giữa 2004 và 2006, các ngân hàng đã bán $1,5 ngàn tỉ nợ tín dụng nhà ở cấp ba, chiếm đến 25% tổng thị trường tín dụng nhà ở năm 2006 Các khoản tín dụng nhà ở có lãi suất điều chỉnh tùy chọn tăng từ 1% thị trường năm 2003 lên 15% năm 2006 Nợ các hộ gia đình ở Mỹ tăng từ 80% thu nhập khả dụng năm 1986 lên 100%
2000 và lên đến 140% năm 2007
Khi nào ngôi nhà xây bằng những lá bài này sụp đổ chỉ còn là vấn đề thời gian Khi nó xảy ra, thì toàn bộ khu vực ngân hàng Mỹ và Anh bị đẩy vào trạng thái hoàn toàn mất khả năng thanh toán và còn gây thiệt hại nghiêm trọng cho một số ngân hàng châu Âu Tình trạng vãng nợ lan nhanh sang khu vực sản xuất của nền kinh tế Như Keynes đã dự đoán, lãi suất thấp hơn không kích hoạt đầu tư Không chỉ nhà đầu tư có kỳ vọng thấp về lợi nhuận tương lai, mà ngân hàng cũng quá bận rộn để nghĩ đến việc cho vay vì phải dọn dẹp bảng cân đối tài sản Các ngân hàng trung ương hối hả bơm tiền vào các ngân hàng
để chúng không bị sụp đổ Các chính phủ trên thế giới đồng loạt sử dụng chính sách ngân sách để bơm sức cầu vào nền kinh tế Rõ ràng cung không tự nó tạo ra cầu
Những hàm ý chính sách của câu chuyện này đã rõ Các nền kinh tế không tự điều tiết, chủ yếu vì đầu tư không có tính dự đoán được như tiêu dùng Qui luật Say không còn vững: khi kỳ vọng lợi nhuận tương lai là thấp, thì sức cầu có thể trôi khỏi hệ thống khi các nhà đầu tư triệt tiêu tín dụng (trả hết nợ) hay chỉ giữ tiền mặt Khi tình hình tốt đẹp, nhà đầu tư trả giá cao cho tài sản, ngân hàng mở rộng tín dụng bơm thêm cầu vào nền kinh tế Sự bất ổn là một phần tự nhiên của hệ thống kinh tế
Chính phủ có thể làm gì? Bài học đầu tiên là theo dõi tăng trưởng tín dụng và giá tài sản Khi cung tín dụng tăng nhanh hơn nền kinh tế, thì bong bóng tài sản sẽ là trước mắt Các
cơ quan tiền tệ phải làm những gì cần thiết để hạn chế cho vay mới, ví dụ nâng lãi suất hay dự trữ bắt buộc Bài học thứ hai là cần có những qui định và giám sát tài chính để ngăn chặn các ngân hàng ôm quá nhiều rủi ro Sự qui định chặc chẽ hơn nợ tín dụng nhà
ở cấp ba và các công cụ chứng khoán tín dụng nhà ở Mỹ nếu có đã ngăn chặn được cuộc khủng hoảng hiện nay xảy ra