Ngoài phần mục lục, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của bài tiểu luận được chia làm 3 chương Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về làng Cự Đà Chương 2: Tiềm năng phát triển du lịch của làng Cự Đà Chương 3: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch tại làng Cự Đà
Trang 1M C L C Ụ Ụ
MỞ ĐẦU 1
1.Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục của bài tiểu luận 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ LÀNG CỰ ĐÀ 3
1.1.Cơ sở lý luận 3
1.1.1.Một số khái niệm 3
1.1.1.1 Khái niệm Làng 3
1.1.1.2.Khái niệm Văn hóa làng 4
1.1.1.3.Khái niệm làng nghề 5
1.2.Tổng quan về làng Cự Đà, xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, Hà Nội 5
1.2.1.Vị trí địa lý, diện tích và dân cư 5
1.2.1.1 Vị trí địa lý 5
1.2.1.2 Diện tích và dân cư 8
1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển 8
1.2.2.1 Quá trình thành lập làng 8
1.2.2.2 Quá trình phát triển 11
Trang 2CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG DU LỊCH CỦA LÀNG CỔ CỰ ĐÀ, XÃ CỰ
KHÊ, HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 14
2.1 Gía trị văn hóa vật thể 14
2.1.1 Làng xóm, nhà ở 14
2.1.1.1 Cảnh quan làng xóm 14
2.1.1.2 Kiến trúc nhà ở 14
2.1.2 Hệ thống thờ tự của làng 16
2.1.2.1 Đình làng 16
2.1.2.2 Chùa làng Cự Đà 18
2.1.3 Các di sản vật thể khác 18
2.2 Gía trị văn hóa phi vật thể 20
2.2.1 Phong tục tập quán 20
2.2.1.1 Lễ tết 20
2.2.1.2 Cưới hỏi 21
2.2.2 Tín ngưỡng dân gian 22
2.2.2.1 Tục thờ cúng tổ tiên 22
2.2.2.2 Tục thờ thành hoàng 23
2.2.3 Lễ hội truyền thống của làng 25
2.2.3.1 Hội làng Cự Đà 25
2.2.3.2 Lễ hội Đàn xã tắc 26
2.2.4 Nghề thủ công truyền thống 30
2.2.4.1 Nghề làm miến dong 30
2.2.4.2 Nghề làm tương 31
Trang 3CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TẠI LÀNG CỔ CỰ ĐÀ 33
3.1 Thực trạng du lịch của làng Cự Đà 33
3.2 Giải pháp phát triển du lịch tại làng Cự Đà 34
3.2.1 Bảo tồn, khai thác, quản lý ngôi làng cổ 34
3.2.2 Giải pháp quy hoạch đầu tư du lịch làng Cự Đà 36
3.2.3 Gỉai pháp về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch 37
3.2.4 Giải pháp quảng bá du lịch làng Cự Đà 38
KẾT LUẬN 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
PHỤ LỤC 41
Trang 4MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài
Làng Việt truyền thống từ bao đời nay là nơi cư trú, lao động, sản xuất và
tổ chức sinh hoạt văn hóa, sinh hoạt tinh thần của người Việt Đồng thời nó còn
là mô hình để người xưa mở rộng ra xây dựng các quốc gia, đô thị Cũng từ làng
xã, văn hóa làng được hình thành Nó đi vào ký ức người dân bằng hàng loạt cácgiá trị vật chất và giá trị tinh thần rất gần gũi và giản dị
Trải qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc, văn hóa làng Việt đã chứng tỏ sứcsống mãnh liệt của mình Sau lũy tre làng, bên giếng làng, dưới mái đình làng,trong bầu không khí thân thương của những ngày hội làng, mọi người sống vớinhau nặng tình nặng nghĩa, quan hệ láng giềng ràng buộc con người trong nếpsống làng,xã
Đối với mỗi làng quê Việt Nam, do tác động của nền kinh tế, những giátrị văn hóa có những đặc trưng riêng.Việt Nam đang trong quá trình hội nhậpkinh tế thế giới, điều đó đặt ra rất nhiều những thách thức trong quá trình đổimới Du lịch cũng là một trong những vấn đề được quan tâm trong việc thu hútphát triển Giờ đây, các làng quê Việt Nam cũng đang đẩy mạnh công cuộc côngnghiệp hóa và hiện đại hóa Cuộc cách mạng to lớn này sẽ tác động mạnh mẽ,sâu sắc hơn bao giờ hết đến các mặt của đời sống làng xã Đã có rất nhiều làng
xã đã đánh mất hoặc làm mai một những giá trị văn hóa quý báu
Làng Cự Đà nằm ở xã Cự Khê huyện Thanh Oai, Hà Nội Đây là mộtngôi làng cổ nằm ven sông Nhuệ, hiện là một trong số ít các làng cổ còn bảo lưuđược các giá trị ban đầu của một làng quê truyền thống vùng đồng bằng châu thổsông Hồng Những giá trị đặc biệt được bảo tồn của làng cho đến nay vẫn chưađược các đơn vị kinh doanh du lịch quan tâm khai thác Chính vì vậy khi chọn
Trang 5vấn đề để nghiên cứu cho bài tiểu luận của mình, tôi đã chọn đề tài “ Tiềmnăng phát triển du lịch của làng Cự Đà” để nghiên cứu chính là do xuất phát từđánh giá trên.
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu: “ Tiềm năng phát triển du lịch làng Cự Đà” với mụcđích tìm hiểu các giá trị văn hóa truyền thống ở làng Cự Đà, xã Cự Khê, huyệnThanh Oai, Hà Nội nhằm đưa ra những giải pháp phát triển du lịch tại làng
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các đối tượng văn hóatruyền thống vật thể và phi vật thể của làng Cự Đà để phát triển tiềm năng dulịch
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu những giá trị văn hóa truyền thốngở làng Cự Đà từ xưa cho đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong công trình nghiên cứu của mình người viết đã tiến hành một sốphương pháp nghiên cứu như sau: Phương pháp nghiên cứu dân tộc học, Vănhóa học, thống kê xã hội học, phương pháp liên ngành, đặc biệt chú trọng tớiphương pháp điều tra thực địa, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp đểđạt được mục tiêu đã nêu
5 Bố cục của bài tiểu luận
Bài tiểu luận có bố cục như sau:
Ngoài phần mục lục, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củabài tiểu luận được chia làm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về làng Cự Đà
Chương 2: Tiềm năng phát triển du lịch của làng Cự Đà
Chương 3: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch tại làng Cự Đà
Trang 6CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ LÀNG CỰ ĐÀ 1.1.Cơ sở lý luận
1.1.1.Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm Làng
Theo “ Một số vấn đề làng xã Việt Nam” của Nguyễn Quang Ngọc ở phầnMở đầu [tr.7]: “ Đồng thời với quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy
và hình thành xã hội có giai cấp và Nhà Nước đầu tiên trên đất nước ta là quátrình ra đời của làng Việt Làng Việt có lịch sử lâu dài như lịch sử đất nước.Trong tiến trình lịch sử Việt Nam kể từ buổi đầu thời đại dựng nước cho đếnnay, làng lúc nào cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trên tất cả các lĩnh vựccủa đời sống kinh tế, chính trị văn hóa, xã hội
Làng xã đã từng đóng vai trò quyết định trong quá trình trị thủy, làm thủylợi, khai hoang phát triển sản xuất, làm nền tảng cho sự tồn tại và phát triển củađất nước Làng xã là nơi nuôi dưỡng lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường,truyền thống bất khuất,tạo nên sức mạnh chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược Làng
xã trên cơ sở nền tảng của văn hóa, văn minh Việt Nam
Không chỉ đóng vai trò hết sức quan trọng trong lịch sử đất nước mà làngcòn là nơi sinh thành, là trường hoạt động, là nơi mỗi người dân Việt Nam gắn
bó cả cuộc đời Tâm lý chung của người dân Việt Nam trong bất kỳ hoàn cảnhnào đều không muốn rời bỏ làng quê mình: Được sống tại làng, được chết ởlàng, đấy là ước mơ chân chính của mỗi người dân Việt Nam”
Trong tác phẩm “ Xã thôn Việt Nam”, nhà sử học Nguyễn Hồng Phong sửdụng khái niệm xã thôn do ông quan niệm xã là một đơn vị hành chính có bộmáy cai trị còn thôn hợp thành xã thường có tính tự trị, tự quản của cộng đồngdân cư nông nghiệp [16,tr.127]
Trong cuốn “ Nông thôn Việt Nam trong lịch sử” tập I, các tác giả viết: “ Làng xã Việt Nam là một cộng đồng có tính chất dân tộc học, xã hội học và tín
Trang 7ngưỡng, nó hình thành quá trình liên hiệp tự nguyện giữa những người nông dân lao động trên con đường chinh phục những vùng đất gieo trồng [30, tr.11]
Nhà dân tộc học Bùi Xuân Đính trong tác phẩm “ Lệ làng phép nước’,
“Hương ước và quản lý làng xã” đã cho ràng làng là một từ Nôm dùng để chỉđơn vị tụ cư truyền thống của người nông dân Việt, có địa vực riêng, cơ sở hạtầng, cùng cơ cấu tổ chức, lệ tục riêng, hoàn chỉnh và ổn định qua quá trình lịch
sử, còn xã là từ Hán Việt chỉ đơn vị hành chính cơ sở của nhà nước phong kiến ởvùng nông thôn Việt Nam
1.1.1.2.Khái niệm Văn hóa làng
Văn hóa làng là một bộ phận cơ bản tạo nên yếu tố của kết cấu văn hóadân tộc Việt Nam Nếu văn hóa dân tộc là một đại lượng lớn thì văn hóa làng làmột đại lượng nhỏ nhất Được gọi là làng không chỉ có một địa bàn cư trú riêng
mà còn có một nền văn hóa với những sắc thái riêng Đó là toàn bộ cuộc sốngvăn hóa bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể với những đặc trưngmang tính truyền thống từ: ăn, mặc, đi lại, ở với các phong tục tập quán trongsinh nở, cưới xin, tôn trọng người già,tương trợ lẫn nhau, họp làng, cúng tế, cáchình thức sinh hoạt văn hóa dân gian…đến các thiết chế, cấu trúc của làng vềquyền lợi và nghĩa vụ, các quan niệm về thế giới tâm linh, và xã hội trần tục…của bao thế hệ đi trước để lại và được thử thách qua thời gian; Là chuẩn mựccủa toàn thể cộng đồng làng đã được lựa chọn, bảo lưu giữ gìn và phát triển nó
Văn hóa làng là một thành tố rất quan trọng của dân tộc, là chất keo đãgắn kết chặt con người lại với nhau trong những cộng đồng làng bao đời nay đểtạo nên bản sắc văn hóa của mỗi làng Ngày nay tuy những hình ảnh làng xưa đãnhiều thay đổi, những vẫn là nơi quê cha đất tổ, nơi chín nhớ mười thương củamỗi người Những bản sắc văn hóa như cây đa bến nước, sân đình, đường làngngõ xóm, đồng làng, ao làng, già làng, trai làng, gái làng, rồi tình làng nghĩaxóm, tối lửa tắt đèn có nhau, các phong tục tập quán, sinh hoạt văn nghệ dân
Trang 8gian…Nói chung những sản phẩm vật chất và sản phẩm tinh thần do người dântrong các làng xây đắp nên, lưu truyền mãi cho đến ngày nay và còn có giá trịvăn hóa đó là văn hóa làng
1.1.1.3.Khái niệm làng nghề
Làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công truyền thống Ở đó khôngnhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công nhưng việc sản xuất phảimang tính chuyên môn hóa cao, có tính hệ thống, có ảnh hưởng đến cả vật chất
và tinh thần của làng
Làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quytụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thốnglâu đời, có sự liên kết hỗ trợ sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểuhệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng Tổ nghề và các thành viên luôn ýthức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc Sự lien kết hỗ trợ nhau về nghề,kinh tế kỹ thuật, đào tạo thợ trẻ giữa các gia đình cùng dòng tộc, cùng phườngnghề trong quá trình lịch sử hình thành, phát triển nghề nghiệp đã hình thànhngay trên đơn vị cư trú, làng xóm truyền thống của họ
1.2.Tổng quan về làng Cự Đà, xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, Hà Nội
1.2.1.Vị trí địa lý, diện tích và dân cư
Phía đông giáp: xã Tả Thanh Oai ( Thanh Trì)
Phía tây giáp: phường Phú Lương, quận Hà Đông
Trang 9 Phía nam giáp: giáp các xã Bích Hòa, Bình Minh, Mỹ Hưng củahuyện Thanh Oai.
Phía bắc giáp: phường Kiến Hưng ( Hà Đông ) và xã Hữu Hòa( Thanh Trì)
-Làng Cự Đà: Do vị trí đặc biệt nên làng Cự Đà nằm trải dài bên bờ phảicủa sông Nhuệ Dòng sông này từ thời cổ được gọi là sông Từ Liêm vì nó chảytrên địa phận huyện Từ Liêm ( Hà Nội ) Đoạn chảy qua địa phận làng Cự Đàcòn được gọi là sông Thanh Oai Trong lịch sử đây là dòng sông có giá trị vềgiao thông thủy, là con đường giúp làng giao thông, buôn bán với các vùngkhác Trong thời kỳ trước đây, hàng ngày sông Nhuệ luôn tấp nập thuyền bè qualại buôn bán
Làng Cự Đà ngày nay là một trong ba thôn của xã Cự Khê ( cùng với thônKhúc Thủy và Khê Tang) thuộc huyện Thanh Oai, Hà Nội, nằm ở phía Tây Namcủa thủ đô Hà Nội,cách trung tâm thủ đô khoảng 20km Thôn Cự Đà giáp thônKhúc Thủy ở phía Nam, ranh giới giữa 2 thôn là khu Mả Giai Phía Đông Bắccủa thôn giáp với thôn Phú Diễn ( xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì, Hà Nội) PhíaTây của làng giáp với cánh đồng của xã Phú Lãm ( quận Hà Đông, Hà Nội)
Về đường thủy, thôn Cự Đà nằm trải dài 800m dọc theo bờ sông Nhuệ
Trong sách Đại Nam nhất thống chí đã miêu tả về dòng sông này như sau: “ Ở cách tỉnh thành 34 dặm, có thuyết nói: vì ngọn nguồn nhọn, nên gọi là Nhuệ Giang; nguồn từ phía Đông Nam đầm Bát Long, xã Hạ Mỗ huyện Từ Lâm; chảy vào địa phận huyện Thanh Oai, phía đông đến Xã Hà Liễu, huyện Thanh Trì, ở đây có sông Tô Lịch chảy đến, chảy ngoặt sang phía Nam sang địa phận xã Tả Nhai huyện Thượng Phúc, một chi phía Đông hợp lưu với sông Kim Ngưu, còn chi chính chảy về phía Nam vào địa phận xã Thịnh Đức huyện Phú Xuyên hợp lưu với sông Kim Ngưu, chảy suốt đến ngã ba Lường rồi hợp với Sa Giang, lại chuyển sang phía Nam đến địa phận tổng Trác Bút huyện Nam Xang thì chia
Trang 10làm hai chi: một chi chảy về phía Đông Bắc, chuyển Đông Nam, qua địa phận các tổng Mộc Hoàn và Chuyên Nghiệp huyện qua địa phận Duy Tiên, tục gọi ngã ba Vàng, lại chảy về phía đông qua xã Thái Đường huyện Sơn Minh, ở đây
có kênh Phương Đình chảy đến, tục gọi là ngã ba Sa, lại chuyển sang phía Đông, qua địa phận xã Đường Xuyên ( tục gọi là ngã ba Lương) huyện Phú Xuyên Sông này vào quãng mùa hè mùa thu có thể đi thuyền,mùa đông mùa xuân thì cạn” [20,tr.217-218]
Có thể thấy, thời xa xưa Cự Đà đã nằm ở một vị trí địa lý thuận lợi cả vềđường bộ và đường thủy Cự Đà chỉ cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 km,chính vì vậy đây là điều kiện thuận lợi cho việc buôn bán và giao thương vớikinh thành Thăng Long Về đường thủy, làng nằm bên cạnh con sông Nhuệ, mộtdòng sông có nhiều giá trị về giao thông vận tải, là nơi có thể giúp làng giaothương dễ dàng với các nơi bằng đường thủy Cũng chính vì thuận lợi về vị tríđịa lý, Cự Đà nằm ở một vị trí chiến lược quan trọng với khu vực trung tâm củakinh thành Thăng Long xưa Điều này đã được chứng minh bằng sự thịnh vượngcủa làng trong thời kỳ trước với rất nhiều những ngôi nhà làm bằng gỗ quý, vàcác thương nhân nổi tiếng ở Thăng Long như Cự Nhân, Cự Doanh, CựNguyễn…
1.2.1.2 Diện tích và dân cư
Theo tài liệu Cự Đà thôn địa bạ ghi vào năm Gia Long 4 (1805) tổng diệntích đất đai tại thôn Cự Đà tại thời điểm này là 183 mẫu, 5 sào, 11 thước, 4 tấc(trong đó bao gồm cả đất ở, ruộng công, ruộng thuê, đất đình chùa đền miếu,vườn ao) Ngoài ra còn có 7 mẫu, 4 sào thổ phụ và đất gò, đống Tổng cộng là
190 mẫu, 9 sào, 11 thước, 4 tấc, bằng khoảng 686.000 m2 Nếu so với diện tíchtrung bình của một thôn/xã lúc bấy giờ ( 490 mẫu), đây là một diện tích khá nhỏ
Theo số liệu thống kê năm 2005, thôn Cự Đà có diện tích tự nhiên là107ha, trong đó có 79ha đất canh tác, có 406 hộ gia đình và 1449 nhân khẩu
Trang 11Hiện nay làng Cự Đà được chia thành 14 ngõ xóm: xóm ngõ Thí, xómChợ, xóm Điếm, xóm Chùa, xóm Đình, xóm Cương, xóm Đồng Nhân Cát, xóm
An Lạc, xóm Quang Trung I, xóm Trung Tín ( xóm Con Cóc),xóm Hiếu Đễ,xóm Lễ Nghĩa, xóm Quang Trung II, xóm Ba Gang Các xóm được phân bố dọc
bờ sông hình xương cá Đây là một đặc điểm đặc biệt của kết cấu làng xómngười Việt, đầu các xóm chạy dọc theo bờ sông, đầu kia của xóm thường là bụitre, ao hay là cánh đồng Các xóm được đặt tên chủ yếu theo các lễ nghi của Nhogiáo Tuy vậy mỗi ngõ xóm vẫn có tên dân gian, chủ yếu là theo hình dánh hoặcđặc trưng của xóm như xóm Ba Gang là do trong xóm có 3 ngã rẽ, hay xóm ngõThí là do xóm này có lỗi dẫn ra nghĩa địa của làng…
1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển
1.2.2.1 Quá trình thành lập làng
Có thể nói, vùng đất Cự Đà được ưu đãi tọa lạc trên một vùng đất cónhiều điều kiện thuận lợi Chính vì lẽ đó, người Việt cổ định cư ở vùng đất này
từ khá sớm Trong quá trình tìm hiểu về làng cổ Cự Đà, được biết rằng, hiện naytại làng chưa có văn tự nào khẳng định chính xác thời điểm làng được hìnhthành Nhưng có một chi tiết khá thú vị, đó là khi hỏi người dân làng về quátrình hình thành làng, họ chỉ biết đến một câu nói được truyền tụng lại, khẳngđịnh được làng Cự Đà được hình thành từ rất lâu:
Cư tụ thiên niên thành Cự ấp
Thanh liên nhất đại dẫn Đà giang
Qua việc phân tích câu nói trên, có thể suy đoán được rằng, làng Cự Đàđược thành lập cách đây rất lâu, từ nhiều thế kỷ trước, qua “ thiên niên” mà tạothành
Theo gia phả các dòng họ, làng được hình thành vào khoảng 800 nămtrước nhưng theo PGS.TS Trịnh Sinh ( Viện khảo cổ học Việt Nam) nghiên cứu
và khẳng định làng đã được thành lập từ cách đây gần 2000 năm Thông qua quá
Trang 12trình nghiên cứu và khảo cứu các mẫu vật được tìm thấy như những viên gạch
có đắp nổi hình ô trám, hình đồng tiền, gạch được tìm thấy khi tu sửa chùa làng
Cự Đà đã phát hiện ra Những viên gạch và họa tiết này đặc trưng cho các ngôimộ thời kỳ Bắc thuộc cách đây 20 thế kỷ Có thể thấy, trong thời kỳ Bắc thuộc,người Hán đã đến đây từ rất sớm Cự Đà là một trong những khu vực đượcngười Hán đặc biệt quan tâm với mục đích để tìm đường đi lại từ Nam TrungQuốc qua nước ta rồi qua đó thôn tính các vùng xung quanh
Từ những câu ca lưu truyền của các thế hệ từ trước đên nay và những dấuvết khảo cổ học có thể nhận định rằng, làng Cự Đà từ xa xưa đã có nhiều ngườiViệt cổ đến định cư và sinh sống
Trong lịch sử làng Cự Đà có rất nhiều tên gọi khác nhau Trước kia nó cótên gọi là làng Ngô Khê (theo tư liệu văn bia còn lưu giữ ở chùa làng Cự Đà) Ởkhu vực này tên gọi có chữ Khê xuất hiện khá nhiều Xã nằm cạnh xã Cự Khê làTam Hưng cũng có hai thôn Phúc Khê và Bối Khê, hay thôn nằm giáp thôn Cự
Đà là thôn Khê Tang cũng đều có chữ Khê Một giả thiết được đặt ra đó là, ngàyxưa khi đặt tên cho làng mình, họ thường căn cứ vào đặc điểm tự nhiên củavùng đất mà họ sinh sống, như vùng đất đó nhiều ao, hồ, sông, suối, khe, lạch,hay vùng đó đất cao, đất chiêm chũng…và ghép vào tên của mình để đặt tên chotên làng Từ đó có thể suy ra ý nghĩa của cái tên Ngô Khê: Ngô là vùng đất mà
họ Ngô sinh sống, còn Khê theo tiếng Hán là khe lạch Kết hợp hai ý trên thìNgô Khê là người họ Ngô sinh sống trên vùng đất có nhiều khe và lạch nướcchảy Tuy nhiên theo Nguyễn Việt Trung ( tác giả báo cáo Làng Cự Đà từ khi
thành lập đến đầu thế kỷ XX, 1991) cho rằng: Người họ Ngô ở làng Cự Đà nay không còn nữa, chỉ có ở làng Tả Thanh Oai( Làng Tó) mới có người họ Ngô sinh sống lâu đời ở đó, đó là dòng họ của Ngô Thì Sĩ và Ngô Thì Nhậm.
Tuy nhiên Huỳnh Phương Lan( tác giả của báo cáo Làng Cự Đà-quá trìnhhình thành và phát triển) không đồng ý với ý kiến của Nguyễn Việt Trung và
cho rằng “ đối với họ Ngô ở Tả Thanh Oai, họ Ngô thì còn giữ được tấm bia
Trang 13Ngô thế gia quan đức chi bí do chính Ngô Thì Nhậm soạn năm Quang Trung 4 (1791) ghi về dòng họ mình đến thời điểm lập bia đã đước 13 đời, tức là khoảng trên dưới 300 năm Như vậy tại thời điểm thế kỷ X khó có thể có dòng họ Ngô tới đây sinh sống Còn dòng họ Ngô Vi theo gia phả vào năm Tự Đức 36 (1883) thì họ Ngô tới đây vào thời Trần và tới thời điểm lập gia phả được 20 đời Do
đó việc họ Ngô tới đây là không có cơ sở.”[13,tr.32] Đồng thời Huỳnh Phương
Lan cũng cho rằng Nguyễn Việt Trung đã nhầm lẫn chữ Ngô trong từ Ngô Khê.Ngô ở đây là để chỉ cây duối, cây vông, những loại cây mọc rất nhiều trong làngchứ không phải để chỉ dòng họ Ngô
Vào khoảng cuối thế kỷ XVII (khoảng từ năm 1650-1680), chính quyền phong kiến Lê-Trịnh ra lệnh xóa tên Ngô Khê bắt đổi tên mới Dân làng đã cử các cụ lớn tuổi trong làng đứng ra xin phép lấy tên làng là Cự Đà, tên gọi làng
cũ của họ Trịnh ở Thanh Hóa [7,tr.49].Từ đó làng có tên là Cự Đà, tức là cái tên
Cự Đà mới có khoảng cách đây 340-350 năm Hiện tại, trong làng có cây hươngđá tại chùa Cự Đà hay còn gọi là Minh Linh tự có ghi về tên Cự Đà Mặt trước
của cây hương có khắc dòng chữ Hoàng triều Chính Hòa thập lục niên tuế thứ
Ất Hợi thu (mùa thu năm 1695) Ở cây hương này, địa danh của Cự Đà được ghi tại mặt trước của cây hương là Ứng Thiên phủ Thanh Oai huyện Hạ Thanh Oai
xã Cự Đà thôn Có thể thấy, vào cuối thế kỷ XVII, Cự Đà vẫn chỉ là một thôn
của xã Hạ Thanh Oai Đầu thế kỷ XIX, làng là một thôn của xã Hạ Thanh Oai,tổng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam Thượng(năm Minh Mạng thứ 12 - 1831 trấn này nhập với phủ Hoài Đức thành tỉnh HàNội) Cuối thế kỷ XIX làng được nâng thành xã độc lập Từ năm Thành Thái thứ
14 (Nhâm Dần, 1902), làng thuộc tỉnh Cầu Đơ (một phần ngoại thành của tỉnh
Hà Nội lập năm 1831), năm 1904 đổi thành tỉnh Hà Đông.
Năm 1959, làng Cự Đà cùng với hai làng Khúc Thủy và Khê Tang sápnhập với nhau thành xã Cự Khê thuộc huyện Thanh Oai Năm 1965 tỉnh HàĐông và tỉnh Sơn Tây hợp nhất thành tỉnh Hà Tây Năm 1976 sáp nhập tỉnh Hòa
Trang 14Bình với tỉnh Hà Tây thành tỉnh Hà Sơn Bình Thời kỳ này, làng Cự Đà thuộchuyện Thanh Oai, tỉnh Hà Sơn Bình Năm 1991, tỉnh Hà Sơn Bình tách ra thànhhai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình, Cự Đà thuộc tỉnh Hà Tây Năm 2008 Hà Tây sápnhập vào Hà Nội, và Cự Đà hiện nay thuộc huyện Thanh Oai, Hà Nội
1.2.2.2 Quá trình phát triển
Ở Cự Đà hiện nay có năm dòng họ đang sinh sống đó là: họ Trịnh, họ Vũ,
họ Đinh, họ Vương và họ Nguyễn Các họ gốc của làng là: Đinh, Trịnh, Vũ HọĐinh là họ đông nhất, tuy học hành không cao nhưng luôn nắm được các chứctrách cao trong bộ máy quản lý làng xã Họ Vũ có nhiều người học hành thànhđạt, giàu có, họ Trịnh vốn là dòng dõi của Trịnh Khả (một trong những ngườitham gia Bộ Chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn), chuyển cư từ Thanh Hóa ra, buônbán giỏi nên rất khá giả vì vậy hai họ Trịnh và Vũ thường kết thông gia vớinhau
Thông qua quá trình các dòng họ đến định cư tại làng thì có thể thấy đượcquá tình phát triển của làng qua các thời kỳ Giai đoạn đầu, người dân tới làngsinh sống chủ yếu tập trung ở giữa làng Điều này được minh chứng qua việckhảo sát về nhà ở tại làng Trong suốt quá trình tìm hiểu, có thể thấy rằng cácngôi nhà có niên đại lâu đời chủ yếu tập trung ở giữa làng với mật độ dày đặc
Về sau, nhiều dòng họ và các hộ dân đến đây sinh sống, Dân số tăng lên do vậyngười dân đã mở rộng địa bàn sinh sống sang hai bên Qua quá trình điền dã, cóthể thấy người dân hiện nay còn làm nhà ở ngay bờ sông, nơi mà trước kia chủyếu làm bến đỗ thuyền
Cự Đà vốn nằm bên cạnh sông với vị trí “Nhất cận thị, nhị cận giang”,
người dân ở đây đã biết được vị trí đặc biệt của làng là nằm gần sông và là trungtâm của việc giao lưu với các vùng khác nên họ đã chuyển sang buôn bán, giaothương với các vùng khác Cùng với việc buôn bán là nghề làm tương xuất hiện
và trở thành một nghề phụ nổi tiếng ở làng
Trang 15Từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX làng phát triển cực thịnh về mọi mặtkinh tế, văn hóa… , việc kinh doanh buôn bán của dân làng Cự Đà, nhất lànhững người dòng họ Trịnh, phát triển rất mạnh vượt ra khỏi phạm vi của làng
xã để vươn tới các trung tâm kinh tế- chính trị và đô thị lớn Tại các thành phố,thị xã lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Hà Đông, Sơn Tây, Sài Gòn… đã thấy xuấthiện nhiều cửa hiệu buôn lớn của người Cự Đà Các cửa hiệu này đều lấy chữ
Cự ở đầu như: Cự Doanh, Cự Chân, Cự Chi, Cự Hiên…Kinh tế thương nghiệp
và thủ công nghiệp có những bước tiến vô cùng mạnh mẽ mà biểu hiện cụ thểnhất là làng có nghề làm tương nổi tiếng và nghệ buôn bán phát đạt Hai ngànhkinh tế này đã trở thành xương sống của nền kinh tế làng Cự Đà, bên cạnh đónông nghiệp phát triển nên đã xây dựng thành một Cự Đà phát đạt, phồn thịnh
Sự phát triển kinh tế được minh chứng qua hàng loạt các công trình xây dựngphúc lợi của địa phương và những ngôi nhà cổ đều được xây dựng vào nhữngnăm đó
Theo Nguyễn Việt Trung thì “vào thế kỷ XIX Cự Đà là một làng giàu có, sầm uất và phồn thịnh, sự giao lưu buôn bán rất phát triển Buôn bán ở làng gồm nhiều thành phần từ những người buôn bán ở làng nhỏ với số vốn ít, cho tới những lái buôn có một số lượng hàng và tiền tệ rất lớn Họ thuê thuyền đi mua và bán các sản phẩm ở mọi nơi Hiện tượng các lái buôn với quy mô làm
ăn lớn nói chung là khá phổ biến ở làng Cự Đà” [33, tr 48]
Khoảng những năm 60 của thế kỷ XX, ở Cự Đà xuất hiện nghề làm miến.Người khai sinh ra nghề này là ông Trịnh Văn Cẩn đưa từ Hà Nội về làng Nghềmiến cho tới ngày nay vẫn rất phát triển và có thể nói đây là nghề thủ côngchính của làng Khi tới làng chúng ta sẽ thấy hầu như nhà nào cũng có một khuvực sản xuất miến và khắp làng đâu đâu cũng thấy miến Với sự phát triền củanghề thủ công này, năm 2004 làng đã được công nhận là làng nghề thủ côngtruyền thống
Trang 16CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG DU LỊCH CỦA LÀNG CỔ CỰ ĐÀ, XÃ CỰ
KHÊ, HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Gía trị văn hóa vật thể
2.1.1 Làng xóm, nhà ở
2.1.1.1 Cảnh quan làng xóm
Trong quá trình kéo dài hàng nghìn năm qua đấu tranh với thiên nhiên,khai phá đồng ruộng, xây dựng bản làng, nhân dân nơi đây cần cù, sang tạo chọncho mình những nơi cư trú hoàn toàn thích ứng và tiện lợi
Nhà cửa thường được bố trí trên những vùng đất cao Trong các làngđường làng ngõ xóm được bố trí như hình xương cá Đường làng chạy men theosông, các đường ngõ xóm trổ sang hai bên Chủ yếu nằm trên bãi bồi ngoài đê.Nhà cửa ngoài bãi thường phải tôn cao để tránh mùa nước lên
Nhìn chung dựa vào điều kiện tự nhiên của vùng, miền và dựa vào điềukiện kinh tế tự cung tự cấp trước đây mà nhân dân Cự Đà đã tạo dựng cho mìnhmột khuôn viên, từ làng xóm đến nhà cửa-nơi cư trú bình yên Có thể cho rằng
đó là sự kết hợp tuyệt vời giữa con người và môi trường thiên nhiên Đồng thời
Trang 17còn thể hiện sự lựa chọn phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của cư dân trongvùng
2.1.1.2 Kiến trúc nhà ở
Làng Cự Đà là ngôi làng có khá nhiều ngôi nhà mang phong cách kiếntrúc khác nhau Bên cạnh những trúc đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ làngôi nhà mang phong cách kiến trúc Việt- Trung và những ngôi nhà xây dựngbằng gạch có phong cách kiến trúc Pháp đặc sắc Đây là một ngôi làng điển hìnhvới nhiều loại hình kiến trúc khác nhau
Làng Cự Đà với những ngôi nhà cổ được thiết kế khá độc đáo từ thờiPháp, nhưng đặc biệt hơn cả là những ngôi nhà gỗ cổ truyền của người Việt, nơilưu giữ những dấu ấn văn hóa của dân tộc, của làng xã Ông Vũ Văn Tuấnnguyên Trưởng thôn cho biết, làng Cự Đà có chiều dài khoảng 800m với nhữngngôi nhà tuổi thọ gần 200 năm và được xây cất theo trục chính của con sôngNhuệ Làng Cự Đà là một quần thể những ngôi nhà được xây cất một cách có hệthống, trục chính chạy song song với dòng sông Nhuệ Nét cổ kính thâm trầmcủa ngôi làng, soi bóng xuống dòng sông tô thêm nét độc đáo của Cự Đà Tuynhiên, cũng như hầu hết người dân trong làng Cự Đà, niềm tự hào về một khulàng cổ vào bậc nhất nhì Hà Nội đang dần vơi đi khi những ngôi nhà này đangngày bị mai một trước sự công phá của thời gian cũng như tác động của cơ chếthị trường
Khi tiếp xúc với người dân ở đây, họ cho rằng trước kia làng có khoảng
200 ngôi nhà cổ nhưng hiện nay do dân số tăng lên cùng với nhu cầu cần có mặtbằng để phục vụ sản xuất thì nhà cổ ở làng dần bị phá đi và còn khoảng 50% sốnhà cổ, tức là còn khoảng 100 ngôi nhà Theo ông Vũ Văn Bằng, Trưởng banVăn hoá xã, cho biết trong khoảng thời gian từ năm 1950 đến 1970 làng có hơn
100 ngôi nhà Việt cổ và nhà đan xen kiến trúc Pháp – Việt Đến nay có khoảng
50 ngôi nhà Việt cổ và 25 ngôi nhà theo kiến trúc Pháp.Tuy nhiên trên thực tế,số lượng nhà cổ còn lại (tính cả những ngôi nhà đã sửa lại nhưng vẫn giữnguyên kết cấu cũ) thì làng còn 25 ngôi nhà gỗ có niên đại 100 năm trở lên
Trang 18Trong tổng số 25 ngôi nhà cổ còn lại, bên cạnh những ngôi nhà mang kiến trúctruyền thống của nguời Việt có một ngôi nhà khá đặc biệt đó là ngôi nhà số 39của ông Đinh Như Lai, xóm Chùa 3, đó là một ngôi nhà cổ chịu sự ảnh hưởng
lớn của kiến trúc Trung Hoa Trong khoảng 10 năm trở lại đây, do nhu cầu về
nhà ở, nhiều ngôi nhà xuống cấp đã bị phá huỷ để thay thế vào đó là những ngôinhà có diện tích sử dụng lớn hơn, thuận lợi cho sản xuất
So với các làng bên cạnh, số nhà gỗ cổ của làng chiếm số lượng khá lớn,như ở làng Phú Diễn chỉ có khoảng 4 – 5 ngôi nhà gỗ có niên đại lâu đời nhưlàng Cự Đà Con số 25 có thể là lớn đối với những làng xung quanh nhưng đốivới làng Cự Đà lại là một điều đáng lo ngại, bởi theo thời gian nếu không cóbiện pháp bảo tồn, quy hoạch đúng cách thì số nhà cổ ở làng sẽ dần biến mất vàcũng đồng nghĩa mất đi một giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của người dânlàng Cự Đà nói riêng và của người Việt nói chung
Trong các ngôi nhà cổ thường có nhiều thế hệ sinh sống, không gian củangôi nhà cổ không đủ để cho một gia đình có nhiều thế hệ chung sống nhất làgia đình có nhiều nhân khẩu Do đó trong ngôi nhà thường có sự chắp vá, hoặc
là xây ngôi nhà hiện đại ngay bên cạnh ngôi nhà cổ phá vỡ không gian hài hòacủa ngôi nhà Có một số gia đình chia đôi ngôi nhà cổ ra làm hai cho các consinh sống khiến ngôi nhà mất đi cảnh quan và vẻ đẹp trọn vẹn của một ngôi nhàtồn tại hàng thế kỷ
Hơn nữa, làng Cự Đà không chỉ được biết đến là làng quê có những ngôinhà cổ, làng còn được biết tới là làng quê có nghề truyền thống nổi tiếng đãđược công nhận vào năm 2004 về sản xuất miến Sản xuất miến yêu cầu phải cómột không gian sản xuất với diện tích lớn, không gian mặt bằng để phơi miến rấtlớn do vậy, nhiều nhà cổ đã bị phá đi để thay thế bằng những ngôi nhà mái bằngđể tận dụng được tầng trên phơi miến và có một diện tích đủ rộng để sản xuấtmiến
Trang 192.1.2 Hệ thống thờ tự của làng
2.1.2.1 Đình làng
Đình làng, nơi thờ tự và cũng là nơi kiêm nhiệm chức năng hành một thành tố không thể thiếu trong các làng Việt ở Bắc Bộ Trong lịch sử, có cáchình thái đình như: phương Đình, Đình trạm, Thủy Đình v.v với các chức năngkhiêm nhường như là nơi để nghỉ chân, sân khấu cho trò rối nước, song đến khicác vị Thành Hoàng làng xuất hiện với sự gia tăng quyền uy Nho giáo thời Lê sơthì ngôi đình Việt mới trở thành một biểu tượng hoàn thiện cho sự cộng cảm vàcộng mệnh Các ngôi đình làng ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ còn lại cho đếnnay là di sản quý, mang nhiều giá trị về mặt kiến trúc mà trong số đó, đình làng
chính-Cự Đà là một ví dụ điển hình Với đặc trưng của một làng cổ ven sông, sớm phátđạt nghiệp buôn bán (Nhất cận thị, nhị cận giang) người dân đã sớm quan tâmđến văn hóa tâm linh Bởi trong tâm thức Việt vốn sống quần tụ theo làng thì dùgiàu sang đến đâu mà không có nơi thờ tự Thành hoàng thì rất khó để yên ổnlàm ăn, không có những thế lực thiêng liêng bảo hộ cho dân làng thêm sinh sôi,thịnh đạt Nhờ có thế đất hướng ra sông thuận lợi, đúng theo thế “tụ thủy” màkhông chỉ một ngôi đình mà có đến hai ngôi đình với hai vị Thành hoàng làng
đã được hình thành Ngay cạnh cổng làng là ngôi đình đầu tiên thờ vị Thànhhoàng xuất thân là quan võ thời nhà Đinh Với kiến trúc của một ngôi đình cónhững hàng cột gỗ truyền thống với hệ thống các vì kèo được ráp nối bằng cácmộng bởi sự tinh tế của người nghệ nhân dân gian Đình có 2 phần cơ bản lànhà tiền tế có gian giữa thờ chính, tả ban và hữu ban thờ cận thần, phía trong làhậu cung
Đình còn có tên là Đình Vật, gắn với truyền thuyết đây là nơi tuyển chọnbinh lính trong thời kì dẹp loạn 12 sứ quân của vị tướng nhà Đinh hiện đangđược phụng thờ Cứ 5 năm một lần trong ngày hội lớn, tục hèm ấy sẽ được diễnlại tại chính khoảng sân đình nơi đây với màn tranh tài đấu vật
Trang 20Ngôi đình thứ hai nằm xa hơn về phía cuối làng, liền kề với chùa cổ Cự
Đà Ngoài những điểm đặc trưng của ngôi đình làng Bắc bộ, đình còn có một bệthờ trời đất mà thường gọi là Đàn xã tắc Việc đàn xã tắc có mặt ở đây đã chứng
tỏ lịch sử phát triển của làng gắn liền với cả cư dân làm nông nghiệp lẫn thươngnghiệp Có nền học vấn khoa cử song cũng thạo buôn bán Sở dĩ có nhận địnhnhư vậy vì mỗi lần tế cáo trời đất cần chuẩn bị lễ vật rất chu toàn đồng thời đòihỏi người chủ tế phải văn hay chữ tốt Nơi đây thờ vị thành hoàng Trung Thông(một vị quan văn đời Trần)
Hai ngôi đình của làng cổ Cự Đà gắn với nhị vị Đại Vương được thờphụng mang giá trị tiêu biểu cho kiến trúc đồng bằng châu thổ sông Hồng Đókhông chỉ là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh mà còn là nơi dân làng thấy đượcbiểu hiện cao nhất của trình tự từ cộng cảm đến cộng mệnh
2.1.2.2 Chùa làng Cự Đà
Du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, Phật giáo với triết lí nhân sinh cao màkhông xa đã bén rễ vào văn hóa dân gian, kết hợp hài hòa với những tín ngưỡngbản địa để trở thành một phần của nếp sinh hoạt tại các làng quê, đặc biệt ở khuvực châu thổ Bắc Bộ- cái nôi của văn minh lúa nước Trái với Đình thường nằmkhu vực trung tâm thì chùa lại thường nằm ở những nơi vắng vẻ trong làng.Làng Cự Đà có ngôi Chùa cổ Cự Đà (hay còn gọi là chùa Linh Minh) cũngkhông nằm ngoài quy luật đó Theo văn bia còn ghi lại, ngôi chùa Linh Minhnày phía Đông dân cư đô hội, phía Tây long phượng chầu về, bên phải là miếuthờ Thành Hoàng, bên trái là từ đường họ Đinh, trước mặt dòng sông Nhuệ uốnquanh, là nơi thắng cảnh trong vùng, xứng đáng chốn danh lam - được xây dựngrất lâu đời, đến nay không còn ai nhớ rõ Là nơi thờ tự, phía sau cổng Tam quan
là Tam bảo chùa với hệ thống tượng Phật được bố trí trang nghiêm, quy củ, nơisân chùa có một cặp voi trắng, một cặp sư tử hộ vệ Bị Hí (một trong nhữngngười con của rồng) đội Bát hương Hai bên tả hữu là Lầu Quan Âm và gác
Trang 21chuông hai tầng Mùa Xuân năm Canh Thìn (2000) chùa được công nhận là ditích lịch sử Văn hóa, xếp hạng di tích quốc gia Và đến năm Giáp Thân (2004)thì trải qua một đợt đại trùng tu để dựng nên diện mạo to đẹp như hiện nay.
2.1.3 Các di sản vật thể khác
- Con cóc đá: Nếu đến với làng cổ Cự Đà, du khách sẽ được nghe về mộtcâu chuyện lý giải tại sao, trên đường làng lại có 2 trụ đá, bên trên có con cócđá Trụ đá cao khoảng 1m, có dạng hình trụ, 4 mặt được khắc những văn tự cổ.Trên lưng con cóc đá có một chỗ lõm xuống to bằng cái đĩa đựng trầu
Trụ đá con cóc bắt nguồn từ câu chuyện về một thương gia giàu có tên làTrịnh Văn Cối, hay còn gọi là cụ Hai Tiêu Cụ được biết đến là một người rấtphong kiến và đặc biệt sở hữu rất nhiều ruộng đất, vào khoảng 600 mẫu đấtruộng, thuê nhiều nhân lực để cày cấy Mỗi năm tổ chức thu tô một lần Trênlưng con cóc đá có một chỗ lõm xuống, đó chính là nơi để thắp đèn dầu Mỗi lầnđèn được thắp lên chính là lúc vào mùa thu tô Cái đèn đó chính là dấu hiệu đểthuyền bè biết đã đến mùa thu tô và nếu thuyền bè trên sông Nhuệ đi vào đêmtối có thể nhận biết được
- Cột đèn: Nếu đến với làng Cự Đà, chắc hẳn sẽ cảm thấy vô cùng ngạcnhiên, bởi ở giữa làng xuất hiện hai cột đèn rất cao Theo như lời của người dânlàng Cự Đà, hai ngọn đèn này được xây dựng vào khoảng năm 1930- thời kỳphát triển thịnh vượng của làng.Câu chuyện dựng cột đèn được mọi ngườitruyền tai nhau rằng: Vào năm 1930, trong làng có cụ Tư Đường lên lão 50 Cụbàn với làng nên trồng cột điện đem điện khí về thắp sang Cự Đà Cụ ra Hà Nộimua các đèn đúc bằng gang của Pháp thải bỏ từ Phủ toàn quyền đem bán đấugiá Cụ mua được 12 cái trồng rải rác từ cổng nhà cụ cho đến chợ Đình Vật Cứcách đúng 50m lại trồng một cột, nhìn rất đẹp, đúc gang mỹ thuật, trên có cáichao đèn tráng men trắng bóng loáng, chụp đèn bằng thủy tinh mờ Sau đó cụthuê máy phát điện của Tây nhà đèn Hà Nội đưa về làng Máy chạy bằng xăng
Trang 22nên nhà nào muốn có điện phải tự kéo dây và đóng tiền xăng đổ vào máy Thời
ấy cũng chưa có nhiều các thiết bị điện như bây giờ, chủ yếu là thắp sáng bóngđèn Cũng chỉ có những nhà nào giầu mới có tiền mua bóng đèn, mua xăng
Duy trì được 3-4 năm thì gặp giai đoạn kinh tế khủng hoảng, dân làngkhông có tiền để mua xăng chạy máy nữa Vì thế, năm 1982, các đồng chí ởTỉnh ủy Hà Đông về thăm làng, thấy hàng cột điện đẹp đã vận động dân làngđổi cho tỉnh ủy để dựng ở khu nhà khách Khi nào làng được kéo điện, tỉnh ủy sẽđổi lại cho dãy cột bê tông 10 cái cột được mang đi, hiện còn 2 cái ở gần phía
ao làng vẫn đang vươn mình nâng đỡ những dòng điện phục vụ người dân
Điều đó có thể chứng minh một điều rằng, sự phát triển kinh tế của làng
Cự Đà dường như ngược với sự phát triển chung của đất nước giai đoạn bấy giờ.Nếu như những năm 1890-1945, đất nước ta trải qua nhiều biến động với cáccuộc khai thác thuộc địa, sự xâm lược của các thế lực đế quốc dẫn đến kinh tếngừng trệ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn thì với một vị trí địa lý đặcbiệt, có thể phát triển thương nghiệp bằng việc tận dụng nguồn lợi từ con sôngNhuệ bao quanh, và đặc biệt là sự phát triển thịnh vượng của nghề dệt đã tạo nên
sự phát triển ngược xu hướng của làng Cự Đà Trong giai đoạn đó, việc có hệthống điện là một trong những biểu hiện cho sự phát triển, sự giàu có của làng
Cự Đà
-Cột cờ : Một trong những biểu tượng khác cho sự giàu có của làng Cự
Đà, đó là cột cờ được xây dựng từ năm 1929 ( năm Kỷ tỵ) Vào thời đó, làng cócột cờ như vậy là rất hiếm Trên nóc cột cờ lá cờ vẫn tung bay như thể hiện sứcsống mãnh liệt sự phồn vinh của ngôi làng cổ này Hằng năm, người dân làng
Cự Đà vẫn quét sơn mới, tu sửa cột cờ như một niềm tự hào của họ
Trang 232.2 Gía trị văn hóa phi vật thể
2.2.1 Phong tục tập quán
2.2.1.1 Lễ tết
Trong một năm thường có nhiều ngày tết, song tết nguyên đán là tết tonhất Ở Cự Đà tết diễn ra trong khoảng thời gian từ 30 tháng chạp ( Tức tháng
12 âm lịch) đến ngày mùng 2 tháng giêng của năm mới
Xưa nhiều gia đình cùng nhau tích cóp để chuẩn bị cho ngày tết Tiết kiệmtiền, nuôi lợn béo để ngày tết giết thịt cùng chung đụng, hay nuôi gà trống thiến
và thả cá dùng vào dịp tết
Tục ngữ có câu “ đói ngày giỗ cha, no ba ngày tết” Vào dịp tết trên mâm
cỗ cũng tổ tiên, ông bà không thể quá đạm bạc, như thế cho là “ rông”-sái cảnăm Vì thế mà mọi người thường có ý thức chuẩn bị cho dịp tết thật chu đáo
Vào ngày 30 tháng chạp, buổi trưa hoặc tối làm lễ cúng tất niên, tống tiễnnhững rủi ro vận hạn của năm cũ, chuẩn bị đón năm mới Lễ cúng giao thừađúng thời khắc năm cũ chuyển sang năm mới (12h đêm) Đó là lúc nhà nào cũngrộn vang tiếng pháo nổ để chào đón một năm mới nhiều may mắn và tài lộc…
Nhìn chung không khí tết ở Cự Đà xưa đầm ấm, sự cách biệt cũng cónhưng không đáng để lưu tâm Nhờ tính cộng đồng gắn kết, mà đã vượt lên trêntất cả Trong một năm ngoài tết nguyên đán còn rất nhiều lễ tết khác, nhữngcông việc trong cuộc sống mà dân làng cùng cộng đồng gắn bó chia sẻ
2.2.1.2 Cưới hỏi
Lấy vợ, lấy chồng là đầu mối của nhân luân rất được coi trọng Tuy nhiênphong tục cưới xin ở mỗi dân tộc, mỗi khu vực rất đa dạng và có nhiều nét khácnhau
Cự Đà trước đây hôn nhân được tiến hành theo 3 lễ thức: Lễ dạm ngõ còngọi là lễ vấn danh; lễ hỏi hay lễ nạp tệ; lễ than nghênh hay rước dâu Việc hônnhân của đôi nam nữ chủ yếu do cha mẹ quyết định “ cha mẹ đặt đâu con ngồi