1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhập môn lịch sử Xã hội học

5 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 140,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Nhập môn lịch sử Xã hội học, phân biệt rõ ràng giữa tư tưởng xã hội với xã hội học. Lập trường này khiến người đọc lẫn lộn hai sự vật. Nhấn mạnh mối liên hệ giữa xã hội học với triết học,... Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

Thông tin xã hội học

Đọc sách

Lịch sử một ngành khoa học xã hội nói chung thường được viết theo một trong

ba cách sau đây Cách đầu tiên và lâu đời nhất đề cập đến bản thân các nhà nghiên cứu: Comte, Spencer, Marx, Simmel, Durkheim và Weber, v.v Thứ hai, lấy

đơn vị phân tích là các trường phái, chủ nghĩa mà thuật ngữ quốc tế tiếng Anh gọi

là những “ism”; và lịch sử xã hội học là lịch sử của các học thuyết: chủ nghĩa Marx, trường phái Chicago, v.v Và cuối cùng, cách thứ ba không bắt đầu từ tên tuổi hay học thuyết mà từ các ý tưởng, khái niệm vốn là thành tố của học thuyết như cộng đồng, quyền uy, vị thế, cái thiêng, và tha hóa, v.v

“Nhập môn lịch sử xã hội học” của Bùi Quang Dũng không thuộc cách viết

nào kể trên Nét khác biệt của cuốn sách là ở đó Trong một số trường hợp (các chương III, VI), tác giả cấu tạo chương theo tên tuổi như Marx và Weber Trong trường hợp khác (chương II, V và VIII), sách dựa trên thực chứng luận, triết học duy tâm mới và trường phái Frankfurt Còn ở các trường hợp khác nữa (chương IV, VII),

đó là sự cố gắng kết hợp tên tuổi với học thuyết; kết quả là chúng ta có Durkheim và thực chứng luận, trường phái Chicago và Parsons Làm như vậy tạo ra sự pha trộn

về phong cách viết sử xã hội học Giá như tác giả lý giải vì sao mình chọn như vậy thì người đọc sẽ bớt đi phần thắc mắc

Cái tốt trước hết của cuốn sách là tác giả phân biệt rõ ràng giữa tư tưởng xã hội với xã hội học (tr 8-9) Lập trường này khiến người đọc không thể lẫn lộn hai sự vật Điều ấy đúng và cần thiết Trong khi tư tưởng xã hội xuất hiện cùng lịch sử nhân loại, thì xã hội học - với tư cách một khoa học lý thuyết và thực nghiệm - chỉ

định hình từ cuối thế kỷ XIX ở Tây Âu Nghĩa là lịch sử xã hội học bắt đầu từ khi ấy, trước tiên ở những nơi mà điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và khoa học đã chín muồi để nảy sinh một ngành khoa học mới

Một đặc điểm nổi bật nữa của cuốn sách là nhấn mạnh mối liên hệ giữa xã hội học với triết học - một điều khiến không ít người bất ngờ và nhíu mày băn khoăn vì theo họ, xã hội học không liên quan gì với triết học Tác giả không giải

1

Bùi Quang Dũng: Nhập môn lịch sử xã hội học Nxb Khoa học xã hội Hà Nội - 2004

Trang 2

thích do đâu mình làm như thế, và lẽ ra tác giả nên làm điều này Là một môn khoa học hết sức rộng lớn, triết học xem xét hàng loạt các vấn đề có liên quan với nhau về bản chất sự hiểu biết, lôgic, tính nhân quả, ngôn ngữ, v.v mà nhiều khoa học khác (kẻ cả xã hội học) phải giải quyết Xã hội học dễ gặp phải những vấn đề triết học trong lĩnh vực tri thức luận (quá trình hình thành khái niệm, quan hệ giữa lý thuyết và bằng chứng, vị trí của các giá trị, động cơ, bản chất của bằng chứng, v.v ) và đạo đức Hơn thế nữa, triết học có quan hệ sâu xa và tác động mạnh mẽ đến xã hội học thông qua những tiên đề ngầm định mà nhiều nhà xã hội học coi là đương nhiên và dùng làm nền tảng cho tư duy, lý thuyết và đến cả phương pháp thu thập dữ liệu của mình Vì coi chúng là đương nhiên, họ không nhận ra cơ sở triết học chi phối mình, cũng như không hiểu mối liên hệ giữa điều mình làm và gốc rễ triết học ngầm ẩn đằng sau đó Việc tác giả tô đậm mối liên hệ giữa triết học với xã hội học là cần thiết, nhất là trong bối cảnh chủ nghĩa duy nghiệm đang nổi lên, khi có nhiều người chỉ làm xã hội học thực nghiệm mà không biết đến - và cho là không cần biết - những cơ sở triết học nào nằm đằng sau và chi phối phương pháp thu thập dữ liệu thực nghiệm của họ Hiểu như vậy, phải nói rằng: các phương pháp thu thập dữ liệu định lượng theo mô hình Durkheim và chịu

ảnh hưởng thực chứng luận chỉ là một trong những cách tiếp cận (chứ không phải duy nhất) để có thông tin xã hội học Bên cạnh nó ít nhất còn có xã hội học thấu hiểu của Weber, và cách tiếp cận dựa trên hành động xã hội này thường làm tiên

đề ngầm định cho các phương pháp định tính

Sách không chỉ gồm những giải trình, tóm tắt, nhận xét, bình luận, phân tích

và lý giải các tác giả, các trường phái xã hội học, mà ở cuối còn cung cấp trích đoạn tác phẩm tiêu biểu của ba bậc thầy được coi là cha đẻ của xã hội học: Marx, Durkheim và Weber Nói cách khác, sách kết hợp “hai trong một” cả loại tài liệu giảng dạy (mà thuật ngữ tiếng Anh gọi là textbook) với loại tuyển tập bài đọc (reader) Nhờ vậy sinh viên và học viên không chỉ được nghe nói về ba nhà xã hội học này, mà phần nào còn có thể đọc họ Mượn một câu nói quen thuộc (dù không thật khớp), tín đồ của môn xã hội học không chỉ biết Chúa qua lời thầy tu, mà còn được

đọc lời Chúa

Như tác giả đã lường trước trong lời nói đầu, người đọc rất có thể đặt câu hỏi vì sao sách thiếu tên tuổi này, trường phái nọ, hay trong những gì đã có, sao không thấy phần này phần khác? Ví dụ sao tác giả không cung cấp thông tin tối thiểu về tiểu sử (năm sinh năm mất, v.v ) của các nhà xã hội học? Sao không nói đến cống hiến lớn của Durkheim vào việc khẳng định vị thế một khoa học độc lập của xã hội học: với ông, không chỉ đối tượng và phương pháp nghiên cứu riêng của nó đã trở nên rõ ràng và rạch ròi, mà về mặt thể chế nó còn có ghế giáo sư tại trường đại học

và có cơ quan ngôn luận (tạp chí “Niên giám xã hội học”) của mình? Sao sách ít đề cập đến những nghiên cứu về tôn giáo của Durkheim và Weber? v.v Nhưng đây là một tài liệu nhập môn (như tiêu đề khiêm tốn của cuốn sách đã nói), không tham vọng sự đầy đủ, tỉ mỉ và sâu rộng, và trong khuôn khổ đó, những thiếu hụt là có thể hiểu được

Trang 3

Tác giả ý thức được yêu cầu đặt ra và thách thức đối với việc viết sử xã hội học là vừa phải trình bày rõ ràng những điểm chủ yếu của một tác giả hay học thuyết, vừa nêu lên được mối liên hệ lịch sử của từng khuynh hướng (trang 7-8) Nói cách khác, viết lịch sử xã hội học không chỉ là tập hợp, sắp xếp các tác gia, các trường phái theo trình tự thời gian hoặc cạnh nhau về không gian, mà còn vạch ra mối liên

hệ giữa họ Cuốn sách đã cố gắng nắm bắt và nêu lên mối liên hệ giữa Comte với Saint-Simon (tr 33), Durkheim với hai nhà học giả trên (tr 73, 78), Marx và Weber (tr 96, 110-111), Weber và Pareto (tr 97), Weber và Durkheim (tr 102, 106), Parsons và các tác giả trước đó (tr 123) Tuy nhiên, mối liên hệ không chỉ là những

điều giống và khác nhau có thể suy rút ra bằng phép so sánh, mà còn là sự tác động qua lại Lịch sử một ngành khoa học, theo nhà triết học khoa học T Kuhn, không chỉ diễn ra theo con đường tích lũy, tiệm tiến, trong đó mỗi sự tiến bộ được xây dựng trên tất cả những gì có trước, mà còn thông qua những thay đổi sâu sắc, những “cuộc cách mạng” Thực ra, sự tích lũy đóng vai trò nhất định trong tiến bộ khoa học, nhưng những biến đổi lớn thì diễn ra do kết quả của cách mạng theo nghĩa sau đây Một mô hình chuẩn trong ngành khoa học đó từng bước được xác lập, trở thành thống trị, nhưng sau một thời gian, nó dần dần bộc lộ những điểm yếu và thiếu sót, rồi rơi vào khủng hoảng, cho đến khi bị mô hình chuẩn khác bác bỏ và thay thế Mặc

dù Kuhn chủ yếu nói đến các khoa học tự nhiên, nhưng theo nhiều nhà nghiên cứu (trong đó có T Bottomore, R Nisbet và G Ritzer), cách tiếp cận của Kuhn áp dụng

được vào xã hội học, và xã hội học là một ngành khoa học có nhiều mô hình chuẩn Vậy ý kiến của cuốn sách đối với quan điểm này ra sao? Tác giả có tán đồng hay không? Nếu có, thì những mô hình chuẩn trong lịch sử xã hội học là gì? Quan hệ và

sự tác động qua lại giữa các mô hình chuẩn trong lịch sử xã hội học là như thế nào?

Đây là điều độc giả chờ đợi ở các nhà viết sử xã hội học Hi vọng lần xuất bản sau, những câu hỏi này sẽ được đặt ra và được giải đáp

Hơn nữa, khi xem xét một hiện tượng, một sự vật, xã hội học thường đặt đối tượng vào bối cảnh của nó, và đã có tác gia (như L Coser) vận dụng chính cách tiếp cận của bản thân xã hội học vào viết sử của ngành, nghĩa là vào phân tích, diễn giải sự phát triển của các ý tưởng xã hội học Lối viết sử này gắn tác phẩm của mỗi nhà xã hội học với tiểu sử, cuộc đời họ, với vị trí của họ trong cơ cấu xã hội, cũng như công chúng và những nhóm quy chiếu của họ Cách viết đó gắn những ý tưởng của Weber hay Durkheim với bối cảnh riêng trong tiểu sử từng người, lịch sử và cơ cấu xã hội, điều này giúp cho ta không những hiểu các nhân tố bên ngoài chi phối ý tưởng của các nhà xã hội học, mà còn chú ý tới những tiên đề ngầm định của họ

Trong “Nhập môn lịch sử xã hội học”, ở một chỗ ta có bắt gặp mấy dòng nói qua đến

điều đó: đấy là đoạn mở đầu chương về Weber (tr 95), nhưng nó quá vắn tắt, và quan trọng hơn, cách tiếp cận này chưa được áp dụng như một nguyên tắc chỉ đạo lối viết của sách

Tuy thế, “Nhập môn lịch sử xã hội học” là một cuốn sách cần thiết và bổ ích

Mai Huy Bích

Trang 4

Ly hương, bất ly nông, làm thủ công tại làng1

Sản xuất nông nghiệp, làm nghề phi nông và di chuyển phân công lại lao

động là một mô hình điển hình của nông thôn đồng bằng Bắc Bộ hiện nay Trong

điều kiện của nền kinh tế mở cửa nông hộ

đã biết kết hợp các nguồn thu nhập từ các hoạt động kinh tế khác nhau, phong phú

và đa dạng Sự lựa chọn nghề phi nông nghiệp, nông nghiệp, hoặc đi làm ăn xa và gửi tiền về cho gia đình đề đầu tư vào sản xuất, cung cấp thông tin thị trường và kỹ năng nghề nghiệp cho những người ở nhà

đã và đang làm thay đổi đáng kể cuộc sống ở nông thôn hiện nay

Công trình nghiên cứu “Ly hương, bất ly nông, làm thủ công tại làng” của các tác giả Đặng Nguyên Anh, Cecilia Tacoli, Hoàng Xuân Thành không chỉ tập trung vào vấn đề đi làm ăn xa mà còn đi sâu vào phân tích nền kinh tế hộ của gia đình nông thôn Trong cuốn sách này các tác giả đã phân tích cụ thể sự đa dạng sinh kế của các hộ gia đình cũng như những cơ hội và thách thức mà họ đang trải qua trong thời kinh tế mở Từ đó, các tác giả đưa ra kết luận và một số gợi ý chính sách nhằm khai thác tạo điều kiện để mô hình ly hương, bất ly nông, làm thủ công tại làng có tác động hiệu quả hơn

Được xây dựng trên một hướng tiếp cận lý thuyết mới, trong phần đầu của cuốn sách, các tác giả đã trình bày khái niệm về mối liên kết nông thôn- đô thị, được phản ánh bằng mối quan hệ dân số, lưu thông hàng hóa, tiền tệ và thông tin Trong bối cảnh đô thị hóa và công nghiệp hóa nông thôn hiện nay, các luồng di chuyển dân

số, lao động, hàng hóa, tiền, vốn, thông tin, lối sống đang diễn ra mạnh mẽ, liên kết chặt chẽ giữa hai khu vực nông thôn và đô thị Mối liên kết trên hiện có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xoá đói giảm nghèo của nông thôn, thông qua các hoạt động đa dạng hóa và kết hợp các nguồn thu nhập từ các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp trên một không gian không còn bó hẹp như trước Tiếp theo phần giới thiệu là phần mô tả khung cảnh và địa bàn nghiên cứu tại địa bàn 2 xã Hoàng Đông và xã Tiên Nội thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Lý do lựa chọn địa bàn nghiên cứu là

do Hà Nam là một tỉnh có nhiều người lao động đi làm ăn xa, có nhiều ngành nghề phi nông nghiệp truyền thống, phát triển khá đa dạng, thu hút được lao động tại chỗ của địa phương Có thể nhận thấy thu nhập chính của nhiều nông hộ hiện nay từ các hoạt động phi nông nghiệp Người nông dân thường xuyên ra các trung tâm đô thị để mua bán và trao đổi sản phẩm Ngoài ra, những thành viên đi làm ăn xa không chỉ

ra thành phố mà còn đến những tỉnh thành khác cũng như những vùng lân cận trong huyện và tỉnh để kiếm việc tăng thu nhập trong tháng nông nhàn

1

Đặng Nguyên Anh, Cecilia Tacoli, Hoàng Xuân Thành: Ly h ương, bất ly nông, làm thủ công tại làng Nxb

Trang 5

Các tác giả đã sử dụng phương pháp so sánh giữa hai mô hình kinh tế của

điểm nghiên cứu trên bình diện mô hình ngành nghề thủ công tại gia đình, làm nông nghiệp chăn nuôi và đặc biệt là đi làm ăn xa Trong kết quả nghiên cứu này các tác giả đã sử dụng kỹ thuật thu thập thông tin như phỏng vấn bảng hỏi hộ gia đình, thảo luận nhóm tập trung, phỏng vấn chuyên gia, đại diện hộ gia đình và một số cán

bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cấp khảo sát Ngoài ra, các tác giả còn sử dụng phương pháp phân tích chuỗi sản phẩm thị trường đối với nghề mây giang đan (là một trong những ngành nghề đặc thù của Duy Tiên, Hà Nam)

Kết quả cho thấy từ sự đa dạng hóa ngành nghề, người nông dân đã có điều kiện tiếp cận thị trường bên ngoài, thậm chí thị trường hàng mây giang đan ngoài nước để tiêu thụ những sản phẩm mà họ làm ra Đầu ra của sản phẩm được hệ thống

đại lý tư nhân (được gọi là các “Cai”) rất năng động đảm nhiệm Các thành phẩm

được sản xuất và tiêu thụ trên cơ sở thuận mua vừa bán, được tổ chức chặt và đặc biệt là không có sự ép giá hoặc khó tiêu thụ như thường thấy ở các địa phương khác Nhờ biết liên kết thị trường và thường xuyên thay đổi mẫu mã nên sản phẩm mây giang đan ở Hoàng Đông, Duy Tiên vẫn có vị trí cao trên thị trường mà các sản phẩm tương tự do các địa phương khác sản xuất không thể cạnh tranh được

Tìm hiểu mô hình đi làm ăn xa còn cho thấy người nông dân “thoát ly” có thu nhập cao hơn so với làm nghề nông Tuy nhiên trong suy nghĩ của mình, nông dân vẫn coi nông nghiệp là hoạt động kinh tế cơ bản Tại địa bàn nghiên cứu, không có gia đình nào đi làm ăn bên ngoài lại trả ruộng, trả đất canh tác Việc nhờ hoặc thuê lao động ở nhà làm nông nghiệp là phổ biến, khi đến cuối vụ họ trở về để thu hoạch nông sản, và

đóng góp nghĩa vụ đầy đủ “Ly hương, bất ly nông”- đó là sự kết hợp giữa các hoạt động phi nông nghiệp tại chỗ, làm nông và đi làm ăn xa đã trở nên phổ biến không chỉ ở Hà Nam mà còn thấy ở các tỉnh thành khác ở đồng bằng sông Hồng

Các tác giả đã phân tích những yếu tố làm kinh tế nông hộ tăng trưởng hay gặp trở ngại như: 1) đất đai 2) vốn và lao động 3) di cư và đi làm ăn xa 4) các vấn

đề cụ thể đối với nghề thủ công mây giang đan 5) tác động đến môi trường sinh thái Trong phần này, TS Đặng Nguyên Anh và các đồng tác giả đã đi sâu phân tích 5 yếu

tố điển hình trên địa bàn nghiên cứu Các yếu tố này có tương tác lẫn nhau, thể hiện sống động mối liên kết nông thôn - đô thị đang diễn ra ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay Trong phần cuối của cuốn sách, các tác giả đã đưa ra kết luận và một

số gợi ý chính sách nhằm hỗ trợ cho mô hình liên kết nông thôn - đô thị ngày càng năng động có hiệu quả cao hơn

Cuốn “Ly hương, bất ly nông, làm thủ công tại làng” là một công trình nghiên cứu bổ ích giúp tìm hiểu quá trình liên kết nông thôn - đô thị trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Vai trò của đa dạng sinh kế cần

được xem xét trong các chính sách phát triển nông thôn và xoá đói giảm nghèo hiện nay Đây là một công trình đáng tham khảo và có ý nghĩa cho những ai quan tâm

đến sự chuyển mình của nông thôn Đồng bằng sông Hồng hiện nay

Nghiêm Thị thủy

Ngày đăng: 12/05/2021, 22:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w