1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu Tâm lý học lao động

350 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 350
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu trình bày các nội dung sau: lao động và đối tượng của tâm lý học lao động, hệ thống người-máy-môi trường, sự thích ứng của con người với những yêu cầu của hệ thống, sự thích ứng hệ thống với con người, sự mệt mỏi-các trường hợp bất hạnh trong sản xuất và vấn đề an toàn lao động.

Trang 2

TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG

(In lần thứ 3)

Tác giả: ĐÀO THỊ OANH

Chương 1 LAO ĐỘNG VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA TÂM LÍ HỌC LAO ĐỘNG

Chương 2 HỆ THỐNG NGƯỜI - MÁY - MÔI TRƯỜNG Chương 3 SỰ THÍCH ỨNG CỦA CON NGƯỜI VỚI NHỮNG YÊU CẦU CỦA HỆ THỐNG

Chương 4 SỰ THÍCH ỨNG HỆ THỐNG VỚI CON NGƯƠI

Chương 5 SỰ MỆT MỎI, CÁC TRƯỜNG HỢP BẤT HẠNH TRONG SẢN XUẤT VÀ VẤN ĐỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Created by AM Word2CHM

TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG

Trang 3

TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG

1 Khái niệm lao động

2 Cấu trúc của hoạt động lao động

3 Định nghĩa, đối tượng, nhiệm vụ của Tâm lí học lao động

4 Tâm lí học lao động với các chuyên ngành tâm lí học khác và với các khoa học khác về lao động

5 Sơ lược lịch sử phát triển của tâm lí học lao động

6 Các phương pháp của tâm lý học lao động

Created by AM Word2CHM

Chương 1 LAO ĐỘNG VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA TÂM LÍ HỌC LAO ĐỘNG

Trang 4

TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG à Chương 1 LAO ĐỘNG VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA TÂM LÍ HỌC LAO ĐỘNG

Để hiểu rõ hơn đối tượng của tâm lí học laođộng (TLHLĐ) và quá trình phát triển của nó, trước hếtchúng ta phải định nghĩa khái niệm lao động và phântích nó một cách toàn diện

Hiểu theo nghĩa rộng, lao động là một hoạtđộng thực tiễn nào đó do con người tiến hành theomột nhiệm vụ xác định, nhằm đạt được một mục đíchnhất định Trong tác phẩm kinh điển "Vai trò của laođộng trong quá trình chuyển hoá từ vượn thành người",Ph.Ăngghen đã chỉ rõ rằng: "lao động là điều kiện cơbản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người laođộng đã sáng tạo ra bản thân con người [C Mác vàPh.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

1994, tr 20, 641]

C.Mác đã nêu ra một định nghĩa kinh điển vềlao động và vai trò của nó trong sự hình thành conngười như sau: "Lao động trước hết là một quá trìnhdiễn ra giữa con người với tự nhiên một quá trình trong

1 Khái niệm lao động

Trang 5

đó bằng hoạt động của chính mình con người làmtrung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ

và tự nhiên " [C Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập NxbChính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, tr 23, 266]

Có thể xem xét khái niệm "lao động" ở nhiềugóc độ khác nhau để hiểu rõ hơn nội dung của nó

Trước hết, lao động của con người có tínhchất xã hội Ngay từ đầu, lao động của con người đã làcông việc của những nhóm xã hội chứ không do một

cá nhân riêng lẻ thực hiện và mục đích của bất kỳ hìnhthức lao động nào cũng có tính chất xã hội Trong tácphẩm "Tư bản", C.Mác đã xác định bản chất xã hội vàmục đích chung của lao động như sau: "Lao động làmột hoạt động có mục đích để tạo ra những giá trị sửdụng"

Xét về phương diện sinh lí học, theo ý kiếncủa C.Mác: "Dù các dạng lao động có ích có khác nhaunhư thế nào, dù những hoạt động sản xuất có khácnhau đến đâu thì về phương diện sinh lí học, đó vẫn lànhững chức năng của cơ thể con người và mỗi mộtchức năng ấy, dù nội dung và hình thức của nó như thếnào về thực chất vẫn chỉ là sự tiêu hao não, thần kinh,

Trang 6

cơ bắp và các cơ quan cảm giác " [Phạm Tất Dong,Tâm lý học lao động - Tài liệu dùng cho học viên caohọc, viện KHGD, 1979]

Việc hiểu bản chất xã hội và bản chất sinh líhọc của lao động giúp chúng ta hiểu rõ hơn bản chấttâm lí của lao động bởi vì cái tâm lí trong lao độngkhông thể tách rời và cô lập với những hiểu biết vềnhững bản chất đó

Trong lao động cái tâm lí chung nhất đượcbộc lộ ra là tính tích cực, tính mục đích, là những hìnhảnh nảy sinh trong đầu con người mà nhờ nó conngười xác định được kết quả hoạt động của mình

Dù hoạt động lao động có khác nhau về mụcđích, đối tượng, công cụ và điều kiện như thế nàochăng nữa, bao giờ nó cũng gồm hai cơ chế đặc thù:trước hết đó là quá trình đối tượng hoá sức mạnh bảnchất của con người Nói cho cùng, mọi sản phẩm laođộng đều là những biểu hiện cụ thể của tài năng, đức

độ, tình cảm con người Cái tâm lí đã hoá thân vàotoàn bộ thế giới đồ vật do con người tạo ra Kết quảcủa quá trình đối tượng hoá sức mạnh bản chất conngười trong lao động là loài người có được một nền

Trang 7

văn hoá xã hội - lịch sử ngày càng phát triển Đến lượtmình, nền văn hoá đó lại là hiện thân trực tiếp của sựtiến hoá của loài người - một hình thức tiến hoá đặcthù ở loài người - sự tiến hoá theo quy luật xã hội – lịch

sử Lao động của con người cứ từng bước thay đổi thếgiới đồ vật xung quanh họ Cứ mỗi thay đổi được ghidấu trong thế giới đồ vật này đều có thể được coi như

là một điều kiện góp phần vào việc tạo ra những bướcphát triển của loài người

Song, để thực hiện được quá trình đối tượnghoá sức mạnh bản chất của mình, con người lại phải

sử dụng công cụ lao động (mà công cụ lại là kết quảcủa quá trình đối tượng hóa nói trên) Phải nắm đượccách thức sử dụng công cụ lao động thì lúc đó công cụmới tồn tại với đúng tư cách là một công cụ Người taphải học cách sử dụng công cụ Thực chất của quátrình học cách sử dụng công cụ là sự lĩnh hội cái tâm líchứa bên trong công cụ đó Ta gọi quá trình này là sựngười hoá sức mạnh bản chất của con người tronglao động

Created by AM Word2CHM

Trang 8

TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG à Chương 1 LAO ĐỘNG VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA TÂM LÍ HỌC LAO ĐỘNG

Hoạt động lao động là đối tượng nghiên cứucủa nhiều khoa học trong đó có tâm lí học Đối với cácnhà tâm lí học, điểm cơ bản trong lao động mà họquan tâm là tính mục đích, tính tự giác, tính tích cựccủa con người Hoạt động lao động là sự thống nhấtcủa cái tâm lí và cái sinh lí Trong khái niệm hoạt độnglao động, những hiện tượng tinh thần (động cơ, mụcđích, hứng thú, ) bạo giờ cũng ở trong một thể thốngnhất hữu cơ với những biểu hiện bề ngoài của chúng

là những vận động thực hiện Vì vậy, phải nghiên cứuhoạt động lao động với đầy đủ những thành phần nêutrong cấu trúc của nó

Hoạt động lao động là một dạng hoạt độngđặc biệt của con người Khi tiến hành lao động, conngười sử dụng công cụ, phương pháp, cách thức vànghệ thuật sử dụng công cụ được gọi là thuật laođộng Hoạt động lao động của con người bao giờcũng nhằm đạt được một mục đích nhất định do họ tự

2 Cấu trúc của hoạt động lao động

Trang 9

giác đặt ra.

Mục đích của hoạt động lao động là hình ảnh

về kết quả công việc sắp được tiến hành Hình ảnh đótồn tại trong đầu óc con người trước khi họ thực sự bắttay vào công việc Mục đích lao động nảy sinh trong ýthức trên cơ sở những nhu cầu tinh thần và nhu cầuvật chất của con người Sự nảy sinh mục đích lao độngcòn phụ thuộc vào kinh nghiệm lao động đã tích luỹđược Mục đích có thể là gần nhưng cũng có thể là xa.Song, nhìn chung hoạt động lao động bao giờ cũng cómục đích xa, bao trùm lên những mục đích gần có tínhchất bộ phận Quá trình tiến hành một hoạt động laođộng là quá trình đạt từ mục đích bộ phận này sangmục đích bộ phận khác cho đến khi đạt được mục đíchcuối cùng Như vậy, ta có được một sơ đồ giản lược,

mô tả một quá trình hoạt động như sau:

Mục đích có tính chất bao trùm các mục đích

bộ phận chính là động cơ của hoạt động Mục đích baotrùm (động cơ) có tác dụng thúc đẩy việc thực hiện cácmục đích bộ phận được kết lại thành một hệ thống.Chính vì vậy, khi nói đến một hoạt động, bao giờ người

ta cũng xét đến động cơ tương ứng với nó

Trang 10

Một hoạt động diễn ra trong từng giai đoạnđạt được những mục đích nhất định Quá trình hoạtđộng để đạt được mục đích bộ phận được gọi là hànhđộng.

Hành động là yếu tố của hoạt động, cụ thểhơn, đó là một đơn vị của hoạt động Kết quả của hànhđộng là đạt đến một

“Mục đích 1 -> Mục đích 2 -> … -> Mục đíchcuối cùng”

mục đích cụ thể nào đó mà con người đãnhận thức được Có thể nói, mỗi hành động bao giờcũng nhằm giải quyết một nhiệm vụ sơ cấp cơ bản,nghĩa là nhiệm vụ không thể phân nhỏ hơn được nữa.Như vậy là, muốn xem một hoạt động lao động có baonhiêu hành động, ta cần phải xác định có bao nhiêunhiệm vụ sơ cấp cơ bản trong đó, hoặc có bao nhiêumục đích cụ thể Vì vậy, khi tổ chức một hoạt động sảnxuất, điều quan trọng bậc nhất là phải chỉ ra cho đượcnhững mục đích bộ phận và trình tự đạt tới những mụcđích đó

Trong lao động sản xuất, muốn đạt tới mụcđích, người ta cần tính xem phải hành động theo

Trang 11

phương thức nào (bằng công cụ gì? với nhữngphương tiện nào? Cách thức sử dụng công cụ rasao? ).

Nói đến phương thức thực hiện hành động lànói đến thao tác Trong công nghiệp, thuật ngữ "thaotác" có khi được dùng để chỉ một yếu tố của một quátrình công nghệ được thực hiện trên một vị trí làm việc,

do một hoặc nhiều nhóm công nhân tiến hành để làm

ra một chi tiết hoặc một số các chi tiết được gia côngđồng thời, hoặc tạo ra một số bán thành phẩm chođến khi chuyển sang những chi tiết sau

Trong hoạt động lao động, thao tác là "đơn vi

cơ động" của hành động Một hành động có thể có mộthoặc nhiều thao tác Nhưng, để xác định được sốlượng những thao tác trong một hành động, ta phảicăn cứ vào công cụ và phương thức thực hiện hànhđộng đó Cùng một hành động, người ta có thể dùngmột hệ thống thao tác này hoặc một hệ thống thao táckhác Điều đó phụ thuộc vào điều kiện trang bị kỹ thuật.Như vậy là, một hành động được tiến hành thông quamột hoặc nhiều thao tác Nhiều thao tác khác nhau cóthể dẫn đến một mục đích như nhau Chính vì vậy tanói thao tác là đơn vị cơ động của hành động

Trang 12

Nội dung của mỗi thao tác là do đặc điểm cấutrúc của công cụ quy định Tuỳ thuộc vào hình dáng,kích thước và những đặc trưng cơ cấu của công cụ màxác định tư thế và những vận động (động tác) phù hợp.Như vậy, trong mỗi thao tác cụ thể có một hệ thốngnhững tư thế và vận động riêng Tư thế cũng có thể coi

là một dạng của động tác Hơn nữa, động tác cũngchưa phải là yếu tố hợp thành nhỏ nhất trong thao tác.Người ta còn phân động tác thành những "vi động tác"

Một hành động lao động được lặp lại nhiềulần trong quá trình luyện tập và trở nên tự động hoáđược gọi là kỹ xảo Tuy nhiên, khi người công nhânthực hiện thành thạo, điêu luyện các thao tác tronghành động không có nghĩa là ý thức của họ khôngkiểm tra lại cách thức tiến hành thao tác Ta gọi là sự

tự động hoá của kỹ xảo chỉ với nghĩa là thao tác đãthành thạo, không cần sự tập trung chú ý mà vẫn bảođảm độ tin cậy, độ chính xác

Created by AM Word2CHM

Trang 13

TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG à Chương 1 LAO ĐỘNG VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA TÂM LÍ HỌC LAO ĐỘNG

Như trên ta đã thấy, lao độnglà một hình thức

cơ bản của sự tác động qua lại có ý thức giữa conngười với hiện thực xung quanh Hiệu quả của laođộng phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố bên trong vàbên ngoài Thậm chí, các yếu tố bên ngoài (thiết bị kỹthuật, sự tổ chức, môi trường vật lí và xã hội v.v ) quyđịnh phần lớn hiệu quả lao động thông qua các yếu tốbên trong (năng lực, tri thức, kinh nghiệm, động cơ,hứng thú, thái độ, )

Như vậy, nghiên cứu lao động được đặt trênyếu tố trung tâm - con người, cần xuất phát từ việcnhận thức các quy luật điều khiển hành vi con ngườitrong lao động Theo nghĩa này, tâm lí học lao động làmột khoa học nhằm xây dựng một hệ thống tri thứcthống nhất và hệ thống hành động của con ngườitrong lao động A.Roger nhấn mạnh rằng bằng vai tròkhoa học của mình, nhà tâm lí học lao động quan sát,

mô tả và tìm cách giải thích hành động của con người

3 Định nghĩa, đối tượng, nhiệm vụ của Tâm lí học lao động

Trang 14

trong tư cách họ những người lao động.

Đồng thời, việc hiểu một hiện tượng khôngthể là một mục đích tự thân Hiểu biết về một hiệntượng là nhằm làm thay đổi nó cho phù hợp với nhữngmục đích nhất định Chính vì vậy, tâm lí học lao động

sử dụng những hiểu biết về hành động của còn ngườitrong lao động cùng với những tri thức của các chuyênngành khoa học khác nhằm làm thay đổi lao độngtheo nghĩa hoàn thiện nó

Nói cách khác, tâm lí học lao động vừa là mộtkhoa học vừa là một công nghệ kỹ thuật Việc phân biệthai thành phần đó trong hoạt động của nhà tâm lí họclao động là cần thiết nhưng không nên đối lập chúngvới nhau, trong khi những hiểu biết về lao động giúpchúng ta làm thay đổi lao động thì việc thay đổi đó sẽlàm tăng nhận thức của chúng ta về lao động Từ góc

độ thuần tuý tâm lí học, có thể quan tâm tới việc thiếtlập một số quan hệ giữa các chức năng tâm lí, tới việcphát hiện một số cơ chế tâm lí của những hành độnglao động Từ góc độ ứng dụng, có thể đưa các tri thứcthu được của tâm lí lao động vào nghiên cứu hoànthiện một số tiêu chuẩn đánh giá lao động Các tiêuchuẩn có thể rất khác nhau: sự an toàn, sự thuận tiện,

Trang 15

tốc độ thực hiện, thời gian học tập v.v Để hoàn thiệnđược các tiêu chuẩn này cần có sự góp phần của một

số ngành khoa học và kỹ thuật khác

Tâm lí học lao động đề cập tới hành động laođộng nói chung Do hoạt động của con người đượcdiễn ra trong các lĩnh vực rất khác nhau nên tâm lí họclao động cũng bao hàm một phạm vi rộng lớn, gồm:tâm lí học công nghiệp, tâm lí học giao thông, tâm líhọc nông nghiệp, tâm lí học kinh doanh, tâm lí họchành chính

Trong tài liệu này chúng ta chỉ quan tâm tớitâm lí học lao động công nghiệp Ở lĩnh vực này, hànhđộng lao động nằm trong phạm vi tác động tương hỗgiữa con người - các đối tượng và môi trường vật lí, xãhội của lao động, tức là trong hệ thống người - máy -môi trường Do đó, tâm lí học lao động công nghiệpnhằm nghiên cứu và hoàn thiện sự tác động qua lạinày với mục đích nhân bản hoá lao động, tăng năngsuất và chất lượng lao động, sự an toàn của các hệthống kỹ thuật xã hội, tăng hiệu quả và tăng sự thuậntiện trong lao động

Trong việc nghiên cứu sự tác động qua lại

Trang 16

giữa người - máy và môi trường, các chức năng tâm lícủa con người (tri thức, thói quen, ý muốn, chú ý, tìnhcảm, động cơ, hứng thú v.v ) đóng một vai trò đặc biệtquan trọng Nhưng, hiệu quả lao động không chỉ phụthuộc vào những khả năng hay những hạn chế củacon người, vào chất lượng các chức năng tâm lí củangười đó, mà phụ thuộc vào tất cả các yếu tố vật chất

và xã hội của môi trường lao động Vì vậy, tâm lí họclao động công nghiệp, trong khi nghiên cứu trước hết

là con người với tư cách là thành tố chủ yếu trong hệthống, đã xuất phát từ luận đề cho rằng: hiệu quả vậnhành của hệ thống người - máy - môi trường phụthuộc vào phương thức thích ứng lẫn nhau giữa cácthành phần của nó: người máy, môi trường vật lí và xãhội

Từ đó có thể rút ra được đối tượng của tâm líhọc lao động công nghiệp: nghiên cứu và áp dụng cáctri thức nhằm thích ứng, về mặt tâm lí học, con ngườivới máy móc, với môi trường tìm việc của mình, đồngthời thích ứng máy móc và môi trường làm việc vớinhững đặc điểm tâm lí của con người Các phươngtiện chủ yếu của sự thích ứng lẫn nhau này là: a) Địnhhướng, tuyển chọn, đào tạo và thích ứng nghề nghiệp

Trang 17

cho con người; b) Thích ứng các đặc điểm cấu trúc vàvận hành của máy móc, các yếu tố của môi trường vật

lí và xã hội, yếu tố tổ chức lao động với những đặcđiểm tâm lí của con người Như vậy, rõ ràng là, sựthích ứng lẫn nhau trong hệ thống sẽ chỉ được baoquát đầy đủ khi có sự tham gia của tất cả các bộ mônkhoa học nghiên cứu về lao động

Như vậy, hoạt động của nhà chuyên môntrong lĩnh vực tâm lí học lao động công nghiệp baogồm những vấn đề rất phong phú và đa dạng Nhà tâm

lí học cần phân tích bản chất thao tác và hành độngcủa các nhiệm vụ lao động, phân tích yêu cầu của cácchức năng tâm lí trong quá trình thực hiện các nhiệm

vụ đó Từ đây, phải nghiên cứu và xác định khả năngcũng như những giới hạn tâm lí của con người (đượchiểu như là một kênh truyền thông tin) Trong khi lưu ýđến cấu trúc và bản chất của các nguồn thông tin, củatất cả cá yếu tố vật chất và xã hội, nhà tâm lí học sẽ xácđịnh các cơ chế tâm lí của những hành động đúng vànhững hành động sai, xác định mức độ huy động tối

ưu, sự yêu cầu một cách hợp lí và cân bằng của cácchức năng tâm lí và những khả năng sáng tạo củangười lao động

Trang 18

Trên cơ sở những nghiên cứu này, chuyêngia tâm lí học lao động phải xác lập họa đồ tâm lí nghềnghiệp với những yêu cầu của công việc, xây dựng cácphương pháp đo nghiệm nhằm kiểm tra năng lực vànhân cách của những người dự tuyển để tuyển dụng

và đào tạo nghề nghiệp (hướng nghiệp, lựa chọn,hướng nghiệp lại, phân phối, huy động) Tương tự,phải đề ra các yêu cầu, phương pháp và những tiêuchuẩn đào tạo nghề nghiệp cũng như đánh giá việcđào tạo và hoà nhập nghề nghiệp

Đồng thời, cùng với những chuyên gia kháctrong lĩnh vực nghiên cứu lao động, nhà tâm lí học laođộng công nghiệp góp phần làm cho các thiết bị kỹthuật, các yếu tố môi trường và tổ chức phù hợp vànhững khả năng cũng như hạn chế của con người(trong giai đoạn thiết kế hoặc chỉnh sửa những hệthống hiện có, trong việc phân bố các chức năng thaotác giữa người và máy) Và, vì người công nhân làthành viên của một tập thể lao động cho nên cần thiếtphải nghiên cứu phân công nhiệm vụ một cách hợp lí,nghiên cứu tổ chức các mối quan hệ người - người,nghiên cứu sự tác động và giáo dục các động cơ, thái

độ cho người lao động

Trang 19

Trên đây đã trình bày về cơ bản các hướngchính của toàn bộ vấn đề mà nhà tâm lí học lao độngcông nghiệp quan tâm nghiên cứu.

Qua việc tìm hiểu đối tượng và những nhiệm

vụ cơ bản của tâm lí học lao động, ta có thể khẳngđịnh rằng, tri thức của khoa học này rất cần thiết chonhiều nhà chuyên môn của nhiều lĩnh vực khác nhaunhư tâm lí học, giáo dục học, y học, kỹ thuật Chính vìvậy, ở nước ta hiện nay, nghiên cứu tâm lí học laođộng là cần thiết đối với nhiều người Công việc đó cóliên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả lao độngnhằm xây dựng công nghiệp hiện đại, đẩy mạnh nhịp

độ sản xuất xã hội chủ nghĩa

Created by AM Word2CHM

Trang 20

TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG à Chương 1 LAO ĐỘNG VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA TÂM LÍ HỌC LAO ĐỘNG

4.1 Với các chuyên ngành tâm lí học khác

Trong hệ thống các khoa học tâm lí hiện đại,tâm lí học lao động thuộc vào một trong những chuyênngành phát triển mạnh nhất Những vấn đề lí luận vàthực tiễn mà tâm lí học lao động đề cập tới ngày càngđược mở rộng Tính chất ứng dụng của nó ngày càng

đa dạng Tuy nhiên, trong quá trình phát triển củamình, tâm lí học lao động luôn luôn nằm trong mộtquan hệ và tác động qua lại mật thiết với các chuyênngành tâm lí học khác cũng như với các khoa học lâncận

Tâm lý học lao động có quan hệ qua lại vớiTâm lí học đại cương Giữa chúng có sự chuyển đổilẫn nhau ở hai nghĩa: từ tâm lí học lao động đến tâm líhọc đại cương và ngược lại Đối với tâm lí học đạicương, tâm lí học lao động là một chuyên ngành đềcập thường xuyên và cụ thể tới một hoạt động chủ yếucủa con người - hoạt động lao động đến lượt mình,

4 Tâm lí học lao động với các chuyên ngành tâm lí học khác và với các khoa học khác về lao động

Trang 21

tâm lí học lao động lại sử dụng các phương phápnghiên cứu khác nhau của tâm lí học đại cương như:phương pháp lâm sàng (quan sát, phân tích trực tiếphành vi lao động), phương pháp thực nghiệm, chẩnđoán (bằng trắc nghiệm) Và, trong khi nghiên cứu cácchức năng tâm lí khác nhau (tri giác, trí nhớ, tư duy ),tâm lí học lao động góp phần làm phong phú thêmcho những tri thức của tâm lí học đại cương, làm chophần lí luận của tâm lí học đại cương được chứngminh chặt chẽ hơn.

Đối với vấn đề định hướng, tuyển chọn và hoànhập nghề nghiệp, tâm lí học lao động dựa trên nhữngtri thức của Tâm lí học sai biệt (là một chuyên ngànhnghiên cứu các đặc điểm tâm lí của cá nhân) và dựatrên Tâm lí học người già (là chuyên ngành nghiêncứu các đặc điểm tâm lí của quá trình lão hoá)

Trong việc đào tạo nghề nghiệp, tâm lí họclao động sử dụng các quy luật phát triển tâm lí ở cáclứa tuổi của Tâm lí học phát triển Chính nhờ tâm lí họcdạy lao động, những quy quật truyền thụ tri thức sảnxuất, tri thức kỹ thuật ngày càng được sáng tỏ và đó làtài liệu cần thiết cho tâm lí học phát triển Bởi vì, hoạtđộng lao động của con người được diễn ra trong một

Trang 22

tập thể, trong phạm vi của một tổ chức (hệ thống kỹthuật xã hội) và tổ chức này lại có liên quan với nhữngyếu tố bên ngoài cho nên tâm lí học lao động có quan

hệ chặt chẽ với Tâm lí học xã hội, Tâm lí học tổ chức vàTâm lí học kinh tế

Tâm lí học lao động và Tâm lí học xã hội cóvấn đề chung rất quan trọng: học thuyết về nhóm và tậpthể Ta biết rằng, về phương diện lịch sử, cả tập thểlẫn con người đều hình thành trong lao động Trongbất kỳ nhóm lao động nào, những mối quan hệ liênnhân cách cũng nảy sinh Đó là đối tượng nghiên cứucủa cả tâm lí học lao động lẫn tâm lí học xã hội Cùngvới việc nghiên cứu các loại nhóm và các mối quan hệliên nhân cách trong nhóm, tâm lí học lao động còn đềcập tới sự tương hợp nhóm (còn gọi là sự phù hợpnhóm), những hiện tượng tâm lí của đám đông tronglao động tập thể Những vấn đề ấy cũng được tâm líhọc xã hội quan tâm nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của tâm lí học tổ chức

là những vấn đề tầm lí học trong việc lãnh đạo và tổchức các tập thể lao động cũng là những khía cạnh

mà tâm lí học lao động quan tâm nhằm mục đíchhoàn thiện các quan hệ lao động, trên cơ sở đó tăng

Trang 23

năng xuất lao động Còn đối tượng của tâm lí học kinh

tế là những yếu tố tâm lí của các mối quan hệ giữangười sản xuất và người tiêu dùng (người tiêu thụ).Đây cũng là vấn đề TLHLĐ có đề cập đến

Tâm lí học lao động có quan hệ với Tâm líhọc quân sự trong mọi vấn đề lao động trong quânđội, nhất là lao động với những khí tài hiện đại Ngàynay, những vũ khí trong quân đội đã được hiện hoá.Các chiến sĩ đều phải tiếp xúc và điều khiển các loạimáy móc hết sức đa dạng Ở đây, cần nghiên cứuchiến sĩ sử dụng vũ khí hiện đại giống như đối với việcnghiên cứu thao tác viên bên những máy móc, thiết bịtối tân Quan hệ người - máy cần được đi sâu nghiêncứu Những quy luật tâm lí rút ra từ những công trìnhnghiên cứu tâm lí học lao động có nhiều tác động choviệc tiến hành nghiên cứu tâm lí học quân sự và giúptrực tiếp vào việc đào tạo, huấn luyện chiến sĩ mớitrong mối quan hệ với kỹ thuật Các lĩnh vực tâm lí họchàng không, tâm lí học vũ trụ đã gắn với tâm lí học laođộng bằng những mối liên hệ hợp tác chặt chẽ

Tâm lí học lao động cũng có những mối liên

hệ nhất định với Tâm lí học tội phạm Chẳng hạn, tâm

lí học tội phạm đề cập tới những hành động sai lầm và

Trang 24

những đặc điểm nhân cách trong mối liên hệ vớinhững hành động phạm pháp Đây cũng là vấn đề rấtgần với việc nghiên cứu các hành động sai và nhữngnguyên nhân gây ra hành động sai trong lao động.Nhưng, mối liên quan chặt chẽ hơn cả được thể hiện

ở chỗ, trong khi tâm lí học lao động nghiên cứu sựhoàn thiện nhân cách trong lao động nghề nghiệp, thìtâm lí học cải tạo phạm nhân lại nghiên cứu quá trìnhcải tạo nhân cách đang suy thoái bằng hình thức laođộng sản xuất

Tâm lí học lao động có rất nhiều vấn đề cầngiải quyết cùng với Tâm lí học y học Trước khi đi vàohàng loạt vấn đề của giám định lao động, tâm lí họclao động không thể tách rời khỏi tâm lí học y học: vấn

đề tuyển chọn người vào các nghề với các đặc điểmbệnh lí cụ thể Ở đây, cần có sự kết luận về nhữngbệnh mà nghề kiêng tránh, về sự phù hợp nghề củanhững người tàn tật, về những nguyên nhân gây ra tainạn lao động hoặc hỏng hóc kỹ thuật mà nguồn gốc là

từ những đặc điểm chịu sự chế ước sinh lý cụ thể ởmỗi người, về những liệu pháp y tế cần thiết chonhững trường hợp đi vào nghề

4.2 Với các khoa học khác về lao động

Trang 25

Bởi vì lao động không thể được nghiên cứuchỉ dưới khía cạnh tâm lí của nó, cho nên, cũng giốngnhư các chuyên ngành tâm lí học khác, tâm lí học laođộng có quan hệ cả với những khoa học khác về laođộng như: Sinh lí học và vệ sinh lao động, Nhân trắchọc, Kinh tế lao động và tổ chức, Kinh tế chính trị học,

Xã hội học (đặc biệt xã hội học công nghiệp) Mối liên

hệ giữa các ngành khoa học này được thể hiện rõtrong phạm vị của Công thái học (Ergonomie) Chính ởtrong công thái học - được định nghĩa như một khoahọc và kỹ thuật liên ngành về lao động sự thích ứng lẫnnhau một cách hoàn chỉnh giữa người, máy và môitrường có thể được thực hiện Công thái học sử dụngnhững tư liệu của tâm lí học lao động và các dữ liệucủa hàng loạt các khoa học khác để giải quyết việcthiết kế các trạm, các bộ phận điều khiển, bố trí nơilàm việc theo những thông số ánh sáng, độ ẩm, độthông gió, kích thước Có thể nói rằng, tâm lí học laođộng đã và đang góp phần không nhỏ vào việc địnhmức kỹ thuật, xác định nhịp độ tối ưu trong lao động,xác lập chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chống lại nhữngảnh hưởng tiêu cực của sự đơn điệu trong lao độngđến tâm lí và sinh lí con người cùng với nhiều vấn đề

Trang 26

khác nữa mà khoa học tổ chức lao động đề cập đến.

Created by AM Word2CHM

Trang 27

TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG à Chương 1 LAO ĐỘNG VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA TÂM LÍ HỌC LAO ĐỘNG

Tâm lí học lao động xuất hiện vào đầu thế kỷ

XX, khi đó được gọi là "kỹ thuật tâm lí học" gắn liền trựctiếp với thực tiễn, với nhu cầu giải quyết một số vấn đềcủa con người và xã hội Những tác phẩm công bố đầutiên về TLHLĐ đã xuất hiện không lâu trước chiếntranh thế giới I Phần lớn các sách này đều đề cập đếnnhững phương pháp và kết quả thu được trong quátrình hoạt động thực tiễn Các tác giả của những cuốnsách ấy đều nghiên cứu các vấn đề do xí nghiệp mà

họ làm việc ở đó đề ra như: những vấn đề về việc tuyểnchọn công nhân, vấn đề dạy nghề cho công nhân, sựsắp đặt nơi làm việc, vấn đề về các nhân tố gây ra cáctrường hợp bất hạnh hay những nhân tố có ảnh hưởngđến năng suất lao động kể từ sự chiếu sáng đến cácmối quan hệ của con người Theo nghĩa này năm

1959, H.Wallon đã nhấn mạnh rằng, những ứng dụngthực sự đầu tiên của tâm lí học vào lĩnh vực lao động

đã không xuất phát từ một chương trình lí thuyết mà

5 Sơ lược lịch sử phát triển của tâm lí học lao động

Trang 28

xuất phát từ những yêu cầu của nền công nghiệp vàlòng mong muốn nâng cao hiệu quả sản xuất

Để đạt được nguyện vọng này, tâm lí học laođộng công nghiệp đã phát triển theo ba hướng chủyếu: a) Định hướng và tuyển chọn nghề nghiệp; b) Hợp

lí hoá lao động; c) Tâm lí học của các mối quan hệ liênnhân cách

Đối với hướng thứ nhất, một trong những nhàsáng tạo ra tâm lí học lao động công nghiệp làH.Miinsterberg cho rằng, bằng việc thích ứng conngười với những điều kiện lao động (tức là bằng việctuyển chọn nghề nghiệp) những mục đích của chuyênngành khoa học mới này có thể đạt được Đó là tìm rađược người công nhân tốt nhất, tiến hành lao độngtrong những điều kiện tốt nhất và thu được những kếtquả tốt nhất có thể được Ông đã tiến hành kiểm tratuyển chọn trong hàng ngũ các sĩ quan hải quân, vôtuyến điện Các kỹ thuật kiểm tra đã phát triển và đượcphổ biến rộng rãi trong thời gian chiến tranh thế giớilần thứ nhất khi người ta tuyển lựa hơn một triệu rưỡitân binh cho quân đội Để phục vụ cho hướng nghiêncứu này, ở phương Tây và Liên Xô cũ đã xuất hiệnnhiều phòng hướng nghiệp Phòng hướng nghiệp đầu

Trang 29

tiên đã được thành lập ở Bostơn năm 1915 Từ 1916,những cơ quan chuyên môn về hướng nghiệp đãđược thành lập ở Đức, Pháp, Anh và Italy Chẳng hạn,

ở Đức năm 1925-1926 đã có 567 phòng tư vấn nghềnghiệp đặc biệt, đã nghiên cứu gần 400.000 thanhthiếu niên trong 1 năm Vào thời ký này, công tác tưvấn đã rất được chú ý ở Anh - nước đã thành lập mộtHội đồng Quốc gia đặc biệt nghiên cứu về vấn đề này

Về vấn đề hợp lí hoá lao động, khoảng cuốithế kỷ trước kỹ sư F.W.Taylor đã bắt đầu quan tâm đếnviệc tổ chức hoạt động lao động trên cơ sở chia cácthao tác lao động thành những đơn vị đơn giản để loại

bỏ những động tác thừa và như vậy sẽ làm giảm thờigian thực hiện các thao tác ("Phương pháp Taylor" hay

"Dây chuyền Taylor") Việc cải tiến thao tác, cải tiến tổchức, cải tiến công cụ, mặc dù phải chi thêm nhữngkhoản tiền để tạo ra các điều kiện lao động mới nhưngthời gian bốc dỡ một tấn hàng đã giảm từ 7 - 8 giờxuống 3 - 4 giờ, số công nhân trong một nhà kho từ

500 giảm xuống còn 140 người và tất nhiên tiền lãi mànhà tư bản thu được là rất lớn Cũng vào khoảng thờigian đó, F.B.Gilbreth (một kỹ sư) và vợ ông làM.Gilbreth (một nhà tâm lí học) trong khi nghiên cứu

Trang 30

việc hợp lí hoá các động tác lao động đã đưa ra một

số kỹ thuật phân tích mới: chụp ảnh và quay phim cácthao tác lao động Họ đã xác định được 17 yếu tố độngtác được bao hàm trong các thao tác lao động Năm

1911, F.B.Gilbreth đã xuất bản cuốn sách tại New York

có tiêu đề: "Nghiên cứu các động tác Kinh nghiệmtăng cường hiệu suất lao động của công nhân".Những nghiên cứu này đã được R.M.Barnes tiếp tục vànăm 1937, ông đã xác lập được các nguyên tắc tiếtkiệm động tác và 22 quy tắc hợp lí hoá động tác laođộng

Thuộc hướng này đã xuất hiện nhiều nghiêncứu đề cập tới sức làm việc của con người Chẳnghạn, trong khoảng thời gian từ 1901 - 1903, bằngnhững thực nghiệm của mình I.M Xêsênốp đã cốgắng nêu lên cơ sở sinh lý của các quá trình tâm líquyết định chất lượng của quá trình lao động Và saukhi xác định các tiêu chuẩn về thời gian tối ưu của mộtngày lao động, Xêsênốp đã đặt nền móng cho họcthuyết về sự nghỉ ngơi tích cực mà bây giờ sinh lí họclao động và TLHLĐ dựa vào đó để chống lại sự mệtmỏi

Năm 1905, F.Kraepelin đã sử dụng các

Trang 31

phương pháp thực nghiệm vào nghiên cứu lao động

và đề xuất việc đo đạc sự mệt mỏi Năm 1910,J.M.Lahy quan tâm đến các điều kiện lao động của cáccông nhân sắp chữ trong nhà in, tìm tòi các dấu hiệukhách quan của sự mệt mỏi trong lao động trí óc theotinh thần chống lại quan điểm Taylor

Để phục vụ cho các nghiên cứu về tâm lí họclao động, trong hầu hết các nhà máy lớn hoặc trongcác cơ sở công nghiệp thuộc các ngành lao độngcông nghiệp đều hình thành các phòng thí nghiệm tâm

- sinh lí của mình Ở đó đã tiến hành có kết quả nhiềucông trình về TLHLĐ Tuy nhiên, có một số phòng thínghiệm lại do những người không được đào tạo vềchuyên môn đảm nhận nên không đem lại những lợiích thiết thực (đặc biệt là ở Liên Xô cũ)

Vì vậy tiếp theo là thời kỳ người ta tỏ ra dè dặtđối với những nghiên cứu đó bởi vì chúng đã bỏ quanhững khía cạnh rất quan trọng của các quá trình trigiác, tư duy và xem con người thuần tuý như một

"động cơ sống" với những hậu quả tiêu cực về mặttâm lí xã hội

Sự phát triển nhanh chóng của các thiết bị

Trang 32

quân sự trong thời gian "Chiến tranh thế giới thứ II" đóngay lập tức lôi kéo sự chú ý của các nhà chuyên môn(các kỹ sư, các nhà tâm lí học, các nhà quân sự) bởi vìhiệu quả sử dụng và độ tin cậy của các thiết bị mớikhông đạt tới mức hoàn thiện về kỹ thuật Việc tuyểnchọn và đào tạo các thao tác viên trong quân đội chưađầy đủ, bởi vì các thiết bị quân sự đã không lưu ý tớikhả năng cũng như những giới hạn của con người đãđược quan tâm Lần này đặc biệt là vấn đề về nhữnggiới hạn của con người đã được quan tâm Con ngườikhông còn bị xem như một "động cơ sống" đơn giảnchỉ thực hiện những động tác mà như một kênh truyềnthông tin Từ đó, bắt đầu thời kỳ phối hợp chặt chẽgiữa các nhà tâm lí học và các nhà kỹ thuật trong cáclực lượng quân sự của Mỹ Tâm lí học kỹ sư đã ra đờinhư vậy Đó là chuyên ngành tâm lí học quan tâmnghiên cứu những khả năng, những giới hạn tâm lícủa con người và làm sao cho những đặc điểm cấutạo của máy móc phù hợp với những khả năng tâm lí

đó Tâm lí học kỹ sư là một nhánh crua tâm lí học laođộng và nó ra đời từ trong lòng tâm lí học thực nghiệmhơn là từ tâm lí học công nghiệp Ở giai đoạn đầu, tâm

lí học kỹ sư hầu như chỉ quan tâm đến việc thích ứngnhững thiết bị đo đạc, các bộ phận điều khiển, sự

Trang 33

phân bố các bộ phận này v.v

Vào cuối giai đoạn 1950 - 1960, xuất hiện một

sự thay đổi trong quan điểm của tâm lí học lao độngcông nghiệp, cũng như trong Công thái học Theonghĩa việc nghiên cứu phải được "tập trung vào hệthống", sự vận hành của hệ thống phụ thuộc vào sựvận hành của con người và của máy móc Như vậy, đốitượng của tâm lí học lao động công nghiệp được mởrộng và đặc biệt đa dạng cả trên bình diện lí luận lẫnthực tiễn

Đối với tâm lí học của các mối quan hệ người

- người, khởi đầu của những nghiên cứu này được biếtđến dưới tên gọi "các nghiên cứu của nhóm Harvard",

là các nghiên cứu được E.Mayo khởi xướng và lãnhđạo vào năm 1927 ở "Công ty điện lực miền Tây" (Mỹ).Nhân dịp này, người ta đã làm sáng tỏ một điều, rằng:ngoài những yếu tố vật lí, còn có những yếu tố tâm lí xãhội cũng ảnh hưởng tới hiệu suất lao động Cácnghiên cứu tiếp theo đã hoàn chỉnh danh sách nhữngyếu tố này và đã làm rõ vai trò của từng yếu tố như:động cơ; hứng thú; nhu cầu được khẳng định và đánhgiá thái độ; dư luận; sự thoả mãn trong lao động, cácmối quan hệ liên nhân cách (hấp dẫn - xa lánh, sự lịch

Trang 34

thiệp; sự thân thiện; sự bàng quan, thờ ơ); cấu trúccủa nhóm lao động (độ lớn, thành phần, tổ chức, giaotiếp, lãnh đạo, quyết định); việc tổ chức nhà máy nhưmột hệ thống kỹ thuật xã hội thống nhất và có liên quanvới các hệ thống khác v.v Trên cơ sở những nghiêncứu đó, năm 1933, Mayo đã viết cuốn "Những vấn đềcon người của nền văn minh công nghiệp" Trong đóông đã khẳng định rằng, lí thuyết hiện đại về công tácquản lý phải dựa trên nền tảng cua những thành tựutâm lý học Và cái gọi là học thuyết về "các mối quan

hệ của con người" do Mayo xây dựng từ những thựcnghiệm ở Hotoócnơ vẫn còn giá trị đến ngày nay

Như vậy, tất cả các hướng nêu trên bao hàmnhững vấn đề rộng lớn của tâm lí học cá nhân và tâm líhọc xã hội trong lao động công nghiệp Nghiên cứu líluận và ứng dụng tất cả những vấn đề đó cùng vớinhững nghiên cứu thuộc các chuyên ngành khoa họckhác có tác dụng tối ưu hoá và nhân bản hoá lao động

Ở việt Nam, ngành sinh lí học lao động mớibắt đầu hoạt động thực sự từ năm 1963 Tuy còn nontrẻ nhưng sinh lí học lao động Việt Nam đã có nhữngđóng góp đáng kể cho sản xuất và chiến đấu Trongmấy chục năm qua, chúng ta đã có hàng trăm công

Trang 35

trình nghiên cứu có giá trị về nhiều lĩnh vực như:

"Cường độ lao động từng lúc trong lao động" (Tô NhưKhuê, Bùi Thụ) "Đánh giá sự mệt mỏi trong và sau laođộng, chiến đấu (Bùi Thụ, Bùi Thu Nguyên, Phạm QuySoạn ); "Khả năng thích nghi của những người làmviệc lâu năm ở chỗ nóng" (Ngô Đức Hưởng, Bùi Thụ,Nguyễn Hùng )

Năm 1971, "Viện nghiên cứu khoa học kỹthuật bảo hộ lao động" được thành lập Trong chươngtrình nghiên cứu của viện có để cập tới tâm lí học laođộng (vấn đề hướng nghiệp, lao động sư phạm ).Năm 1975, cuốn sách đầu tiên, khá đầy đủ vềErgonomie ở nước ta ra đời - cuốn "Khoa học laođộng" của Nguyễn Văn Lê Trong đó có đề cập tới một

số khía cạnh tâm lí lao động Từ năm 1976, chuyên đềtâm lí học lao động bắt đầu được đọc tại khoa tâm lí –giáo dục, trường Đại học Sư phạm I Hà Nội, trườngcán bộ Công đoàn Trung ương và một số cơ sở sảnxuất tại Hà Nội (Đoạn đầu máy xe lửa Hà Nội) Có thểnói, những nghiên cứu thực sự về TLHLĐ chỉ được bắtđầu khoảng cuối những năm 70 đến nay và chủ yếu là

do tổ TLHLĐ - Hướng nghiệp của Ban tâm lý học(TLH) Viện Khoa học Giáo dục tiến hành (do GS

Trang 36

Phạm Tất Dong chỉ đạo khoa học) Các nghiên cứutập trung chủ yếu vào vấn đề dạy lao động kỹ thuật vàhướng nghiệp cho học sinh phổ thông (PT) Các cán

bộ nghiên cứu của tổ TLHLĐ - Hướng nghiệp đã tiếnhành những thực nghiệm dạy - học lao động kỹ thuậtnhằm thử hình thành ở học sinh một số phẩm chấtnhân cách của người lao động có kỹ thuật như: khảnăng tư duy kỹ thuật, khả năng đọc bản vẽ kỹ thuật vàtạo hình từ bản vẽ, khả năng kế hoạch hoá lao động,hứng thú lao động kỹ thuật v.v Những nghiên cứu cóthể đó là: "Khả năng sáng tạo của học sinh PTCStrong hoạt động học tập lao động kỹ thuật" (NguyễnKhánh Hà); "Phát triển hứng thú và năng lực kỹ thuậtthông qua hoạt động học lao động và hướng nghiệpnhằm hình thành lý tưởng nghề nghiệp cho học sinh"(Nguyễn Thế Trường) "Hình thành năng lực kỹ thuật

cơ khí ở học sinh PT" (Trần Ánh Tuyết); "Khả năng kếhoạch hoá lao động của học sinh PT" (Phạm NgọcLuận), "Hình thành tư duy kỹ thuật với tư cách là mộtthành tố của sự sẵn sàng tâm lí đi vào lao động chohọc sinh PTCS thông qua hoạt động học tập lao động

kỹ thuật (Phạm Ngọc Uyển) Các sản phẩm khoa học

đã được công bố trên các báo, tạp chí ở trong và ngoàingành giáo dục, đặc biệt trong một số kỷ yếu Hội nghị

Trang 37

toàn quốc những người làm công tác TLH (1974,

1978, 1982) và một số sách về tâm lí học lao động(Một số vấn đề về TLHLĐ - Phạm Tất Dong; Công táchướng nghiệp cho học sinh PT - Phạm Tất Dong ).Một điều quan trọng là kết quả nghiên cứu dạy laođộng kỹ thuật và hướng nghiệp đã góp phần tích cựcvào việc xây dựng cơ sở cho việc giáo dục lao động vàcông tác hướng nghiệp của nhà trường PTCS vàPTTH, triển khai cải cách giáo dục trong việc chuẩn bịtâm thế học nghề cho học sinh PT Ngoài ra, đã kiếnnghị với lãnh đạo Bộ Giáo dục đưa môn lao động kỹthuật theo hướng kỹ thuật tổng hợp (Bao gồm cácmôn: Vẽ kỹ thuật - cho Cấp I; Kỹ thuật cơ khí - cho CấpII; Kỹ thuật điện - cho Cấp III) để thay thế chương trìnhlao động hiện lúc đó ở PTCS đang theo hướng dạynghề đơn giản

Trong thời gian gần đây đã xuất hiện một sốnghiên cứu trong lĩnh vực sản xuất, đặc biệt sản xuấtcông nghiệp, thể hiện ở một số luận văn tốt nghiệpcủa sinh viên như: Thái độ đối với lao động của côngnhân nhà máy sản xuất thiết bị điện, Nghiên cứu bầukhông khí tâm lí của nhà máy chế tạo thiết bị điệnĐông Anh - Hà Nội Nghiên cứu các mối quan hệ liên

Trang 38

nhân cách trong tập thể công nhân nhà máy điệnUông Bí Các nghiên cứu này đã góp phần bổ sung,làm phong phú thêm vốn tri thức lý luận của TLHLĐ vàgiúp các nhà lãnh đạo tại các cơ sở sản xuất hiểu rõhơn các cơ sở tâm lí xã hội của việc xây dựng nhữngtập thể sản xuất tốt Trên cơ sở đó, tăng năng suất laođộng.

Trong nhiều năm qua, khi phát triển côngnghiệp, ta còn ít quan tâm tới tâm lí học lao động Việc

đó có ảnh hưởng nhất định đến những cố gắng đẩymạnh nhịp độ sản xuất và tăng năng suất lao động.Trong sự phát triển các khoa học lao động, có thể nóirằng, tâm lí học lao động ở nước ta đứng ở hàng saucùng Sự không đồng bộ như vậy đã đến lúc cần phảikhắc phục Chúng ta phải làm cho tâm lí học lao động

có một vị trí xứng đáng bên cạnh sinh lí học lao động,thẩm mĩ học lao động Đó là trách nhiệm chung củanhững cá nhân và những cơ quan, đoàn thể có nhiệm

vụ nghiên cứu và chỉ đạo sản xuất trong các lĩnh vựccủa nền kinh tế quốc dân

Created by AM Word CHM

Trang 39

2

Trang 40

TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG à Chương 1 LAO ĐỘNG VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA TÂM LÍ HỌC LAO ĐỘNG

Chúng ta hiểu khái niệm phương phápnghiên cứu khoa học là toàn bộ những cách thức vàcon đường để nghiên cứu một lĩnh vực nhất định

Có rất nhiều phương pháp và kỹ thuật phântích hệ thống người - máy - môi trường Chúng có thểđược phân chia và hợp thành nhóm theo các cáchkhác nhau Nhìn chung, có thể có hai nhóm lớn: cácphương pháp định tính và các phương pháp địnhlượng Ở đây, chúng ta sẽ quan tâm một số phươngpháp và kỹ thuật phân tích định tính

6.1 Nghiên cứu tư liệu

Việc phân tích thường được bắt đầu bằng việcnghiên cứu các tư liệu của hệ thống Ở đây là những

tư liệu của một hệ thống tương tự, bản thiết kế, tài liệuchuyên môn, các tiêu chuẩn, các hướng dẫn kỹ thuật,các số liệu thống kê có liên quan đến sản xuất, năngsuất lao động, các tai nạn, các hỏng hóc

6 Các phương pháp của tâm lý học lao động

Ngày đăng: 12/05/2021, 18:13

w