1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng Cộng sản Việt Nam chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình giai đoạn hiện nay.

198 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 183,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảng Cộng sản Việt Nam chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình giai đoạn hiện nay.Đảng Cộng sản Việt Nam chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình giai đoạn hiện nay.Đảng Cộng sản Việt Nam chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình giai đoạn hiện nay.Đảng Cộng sản Việt Nam chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình giai đoạn hiện nay.

Trang 1

ĐẶNG VĂN TIN

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CHỊU TRÁCH NHIỆM TRƯỚC NHÂN DÂN VỀ NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA MÌNH GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận

án này là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

TÁC GIẢ

Đặng Văn Tin

Trang 4

Trang

MỞ ĐẦU

Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN VẤN ĐỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CHỊU TRÁCH NHIỆM

1

TRƯỚC NHÂN DÂN VỀ NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA MÌNH 6 1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 6 1.2 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu các công trình có liên quan đến đề tài và

19

những vấn đề luận án sẽ tập trung giải quyết

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHỦ YẾU VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CHỊU TRÁCH NHIỆM TRƯỚC NHÂN DÂN VỀ NHỮNG

23

QUYẾT ĐỊNH CỦA MÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

2.1 Cơ sở lý luận Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định

25

của mình

2.2 Đảng Cộng sản Việt Nam chịu trách nhiệm trước nhân dân về những

25

quyết định của mình - khái niệm, nội dung và cơ chế

Chương 3: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CHỊU TRÁCH NHIỆM TRƯỚC

NHÂN DÂN VỀ NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA MÌNH TRONG GIAI ĐOẠN

NHÂN DÂN VỀ NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA MÌNH ĐẾN NĂM 2030

4.1 Bối cảnh mới và yêu cầu thực hiện tốt việc Đảng Cộng sản Việt Nam chịu

103

trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình

4.2 Những giải pháp chủ yếu thực hiện tốt việc Đảng Cộng sản Việt Nam chịu 103 trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình đến năm 2030 113

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN 153

QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 155

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 156

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

BCHTW: : Ban Chấp hành Trung ương

CB, CC : Cán bộ, công chức CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNXH : Chủ nghĩa xã hội

CTQG : Chính trị quốc gia CT-XH : Chính trị - xã hội ĐCSVN : Đảng Cộng sản Việt Nam HTCT : Hệ thống chính trị

KT-XH : Kinh tế - xã hội MTTQ : Mặt trận Tổ quốc NNPQ : Nhà nước pháp quyền

PTLĐ : Phương thức lãnh đạo XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) luôn gắn liềnvới dân tộc và nhân dân Những thắng lợi, những thành tựu mà cách mạng ViệtNam đạt được trong gần 90 năm qua đều gắn liền với vai trò lãnh đạo củaĐảng Vì vậy, ĐCSVN được nhân dân suy tôn là người lãnh đạo của mình, bởinhân dân thấy rõ chỉ có Đảng mới có khả năng lãnh đạo nhân dân đấu tranhgiành độc lập dân tộc, đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), xây dựng cuộc sống

ấm no, tự do, hạnh phúc Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích củanhân dân Mục đích, lý tưởng phấn đấu của Đảng cũng là mục đích, nguyệnvọng của nhân dân

Từ năm 1945, vai trò lãnh đạo của ĐCSVN đối với hệ thống chính trị(HTCT) và toàn xã hội đã được khẳng định và ghi nhận Tuy nhiên, trong cả lýluận và thực tiễn vẫn còn còn nhiều lúng túng và bất cập, như: sự phân địnhchức năng giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các tổ chứcchính trị - xã hội (CT-XH) vẫn chưa thật rõ ràng, còn có sự trùng lắp, chồngchéo về một số chức năng; vị trí, vai trò của Đảng, Nhà nước, MTTQ và các tổchức CT-XH chưa được xác định đúng mức, trên thực tế có lúc Đảng bao biện,làm thay, can thiệp không đúng chức năng, thẩm quyền vào công việc của Nhànước, các tổ chức CT-XH, nhưng không phải chịu trách nhiệm Ngược lại, bảnthân Nhà nước, MTTQ và các tổ chức CT-XH cũng có lúc, có việc còn thụđộng, phụ thuộc và dựa dẫm vào sự lãnh đạo của Đảng, nên chưa thực hiện tốtchức năng, vai trò của mình Trong quá trình lãnh đạo, có thời kỳ Đảng cũngphạm sai lầm, khuyết điểm do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luậtkhách quan Đảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổimới, tự chỉnh đốn để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng,tiếp tục lãnh đạo để đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên Hiện nay, một bộ phậnkhông nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống;chưa xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân, nhất

là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan chính quyền, khi sai sót khuyết điểm không

Trang 7

ai chịu trách nhiệm Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn

đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" đã thẳng thắn chỉ ra tình trạng này và

đề ra một hệ thống các giải pháp cấp bách để tiếp tục đổi mới, xây dựng Đảng,

đề cao trách nhiệm của Đảng trước nhân dân Việc kiểm điểm tự phê bình vàphê bình đã tạo sự chuyển biến bước đầu có tác dụng cảnh báo, răn đe vàphòng ngừa các biểu hiện thiếu trách nhiệm, hành vi tham nhũng, tiêu cực, gópphần ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tựdiễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, củng cố lòng tin của nhândân đối với Đảng Điều đó, thể hiện rõ Đảng ý thức trách nhiệm cao của mìnhtrước nhân dân, dân tộc

Vị trí, vai trò lãnh đạo của ĐCSVN không chỉ được xác lập trong thựctiễn đấu tranh cách mạng của đất nước, mà còn được ghi nhận nhất quán trongcác Hiến pháp Việt Nam (trong Lời nói đầu Hiến pháp năm 1959, trong Điều 4của các Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013).Như vậy, từ khi thành lập cho đến khi trở thành đảng cầm quyền, ĐCSVN luônđược Nhà nước và cả xã hội thừa nhận, tôn vinh Việc Hiến pháp năm 2013(khoản 2 Điều 4) lần đầu tiên quy định "Đảng phải chịu trách nhiệm trước nhândân về những quyết định của mình” thể hiện sự cam kết của Đảng trước nhândân, tinh thần trách nhiệm cao của Đảng, sự dũng cảm chính trị, dám chịu tráchnhiệm của Đảng, đồng thời cũng thể hiện đòi hỏi của nhân dân đối với Đảngtrong việc đề ra và tổ chức thực hiện những quyết định quan trọng liên quan tới

sự phát triển của đất nước Có thể khẳng định rằng, một trong những nội dungkhoản 2 Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 là hoàn toàn mới trong lịch sử lậphiến của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam Đồng thời, trongVăn kiện Đại hội XII của Đảng yêu cầu: "Quy định rõ hơn Đảng phục vụ nhândân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về nhữngquyết định của mình" [31, tr.215] Tuy nhiên, đây là một trong những vấn đềlớn, phức tạp cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc, sâu sắc cả về lý luận

và thực tiễn

Xuất phát từ tầm quan trọng và tính cấp thiết nêu trên, tác giả chọn vấn

đề " Đảng Cộng sản Việt Nam chịu trách nhiệm trước nhân dân về những

Trang 8

quyết định của mình giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên

ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về ĐCSVN chịutrách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình, luận án đề xuất cácyêu cầu và những giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt việc Đảng chịu tráchnhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình trong giai đoạn hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

- Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

- Làm rõ cơ sở lý luận vấn đề ĐCSVN chịu trách nhiệm trước nhân dân

về những quyết định của mình trong giai đoạn hiện nay; đưa ra quan niệm, nộidung Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình

- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng việc ĐCSVN chịu tráchnhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình qua các giai đoạn cáchmạng, trọng tâm là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa(CNH, HĐH) đất nước (từ năm 1996) đến nay

- Đề xuất những yêu cầu và giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt việc Đảngchịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình trong giai đoạnhiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu vấn đề ĐCSVN chịu trách nhiệm trước nhân dân vềnhững quyết định của mình giai đoạn hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án

Về nội dung: vấn đề ĐCSVN với tư cách là đảng duy nhất cầm quyền ở

nước ta có rất nhiều nội dung nghiên cứu khác nhau, chứa đựng nhiều vấn đềphức tạp cả về lý luận và thực tiễn Luận án chỉ tập trung nghiên cứu vấn đềĐảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình trong

Trang 9

giai đoạn hiện nay và đưa ra những yêu cầu, giải pháp chủ yếu để thực hiện tốtviệc Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mìnhtrong giai đoạn hiện nay

Khái niệm Đảng ở đây bao gồm: Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng,đại hội đại biểu các đảng bộ, đại hội đảng viên; các cơ quan lãnh đạo đảng(Ban Chấp hành Trung ương (BCHTW), Bộ Chính trị (BCT), Ban Bí thư(BBT), các cấp ủy đảng, ban thường vụ cấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng)

Về thời gian: nghiên cứu về ĐCSVN chịu trách nhiệm trước nhân dân về

những quyết định của mình trọng tâm là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐHđất nước (từ năm 1996 đến nay) Các giải pháp luận án đề xuất có giá trị đếnnăm 2030

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của ĐCSVN về trách nhiệm của Đảng trướcnhân dân về những quyết định của mình, về mối quan hệ giữa Đảng với nhân

-dân

4.2 Cơ sở thực tiễn

Cơ sở thực tiễn của luận án là thực trạng việc ĐCSVN chịu trách nhiệmtrước nhân dân về những quyết định của mình trong giai đoạn hiện nay

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaMác - Lênin, đồng thời sử dụng các phương pháp chuyên ngành và liên ngành

cụ thể: kết hợp lịch sử và lôgic, phân tích và tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, tổngkết thực tiễn

5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án

- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn việc ĐCSVN chịu trách nhiệmtrước nhân dân về những quyết định của mình trong giai đoạn hiện nay

Trang 10

- Đưa ra những yêu cầu và đề xuất một số giải pháp chủ yếu đề cao tráchnhiệm của ĐCSVN trước nhân dân về những quyết định của mình trong thựctiễn:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, cán bộ,

đảng viên về Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định củamình

Hai là, thể chế hóa, xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng;

xây dựng, hoàn thiện quy định của Đảng, Nhà nước về thẩm quyền, tráchnhiệm trước nhân dân của người đứng đầu

Ba là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng; giải

quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chấp hành Điều lệ Đảng với chấp hành phápluật của tổ chức đảng, đảng viên

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần hoàn thiện những vấn đề lýluận về trách nhiệm, chịu trách nhiệm trước nhân dân của ĐCSVN

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảocho các cấp ủy, tổ chức đảng trong hoạt động lãnh đạo, nhằm thực hiện tốttrách nhiệm trước nhân dân trong thực tiễn

- Luận án cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiêncứu, học tập và giảng dạy môn Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nướcthuộc Học viện Chinh trị quốc gia (CTQG) Hồ Chí Minh và các trường chínhtrị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mụccác công trình tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án và phụ lục,luận án gồm 4 chương, 9 tiết

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CHỊU TRÁCH NHIỆM

Trang 11

TRƯỚC NHÂN DÂN VỀ NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA MÌNH

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

1.1.1 Đề tài khoa học và sách

- Phùng Hữu Phú, Luận cứ khoa học và những giải pháp thực tiễn tăng

cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân ta hiện nay [114] Các tác giả tham

gia đề tài đã làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn sự cần thiết, khả năng tăngcường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân ở nước ta; đồng thời, trình bày có

hệ thống những quan điểm và giải pháp khả thi nhằm củng cố, phát triển mốiquan hệ giữa Đảng và nhân dân ở nước ta phù hợp với hoàn cảnh và điều kiệnmới Những kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo quý giá mà tácgiả luận án có thể kế thừa, phát triển, làm luận cứ có sức thuyết phục để đưa ra

cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân vềnhững quyết định của mình

- Nguyễn Văn Huyên, Đảng Cộng sản cầm quyền - nội dung và phương

thức cầm quyền của Đảng [63] Cuốn sách được kết cấu thành ba phần, với 12

chương: phần thứ nhất: tổng quát những vấn đề lý luận chung về Đảng cầm quyền và Đảng Cộng sản cầm quyền; phần thứ hai: nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng - thực trạng và những vấn đề đặt ra; phần thứ ba: những

điều kiện và yêu cầu đảm bảo sự cầm quyền của Đảng, nhằm góp phần giảiquyết những vấn đề đặt ra là nội dung và phương thức cầm quyền của Đảngcần được xác định như thế nào để không trái với Hiến pháp và pháp luật củaNhà nước, với nguyên tắc toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.Cuốn sách đã làm rõ những luận cứ khoa học về Đảng Cộng sản cầm quyền, vềnội dung và phương thức cầm quyền của Đảng trong bối cảnh xây dựng nhànước pháp quyền (NNPQ) XHCN, trong đó chú trọng đến quan điểm của chủnghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; thực trạng cầm quyền củaĐảng…, đồng thời đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao vaitrò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng

- Trần Đình Huỳnh, Phan Hữu Tích, Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về

Trang 12

Đảng cầm quyền [50] Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu, phân tích tư tưởng của

Chủ tịch Hồ Chí Minh về đảng cầm quyền qua 6 chương, trong đó chương VI

đề cập “Trong điều kiện lãnh đạo chính quyền, Đảng càng phải tăng cường mốiquan hệ gắn bó máu thịt với dân” [50, tr.149-171] Cuốn sách đã khai thác sâugiá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân và mối quan hệ giữa Đảng và dântrong điều kiện đảng cầm quyền Tuy nhiên, nội dung cuốn sách mới chỉ đi sâunghiên cứu lý luận, chưa đánh giá, tổng kết thực tiễn mối quan hệ giữa Đảng vànhân dân

- Lê Hữu Nghĩa, Hoàng Chí Bảo và Bùi Đình Bôn, Đổi mới quan hệ giữa

Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội [111] Các tác giả đã luận

giải cơ sở lý luận và thực tiễn để nghiên cứu đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhànước và các tổ chức CT-XH ở nước ta; đánh giá thực trạng quan hệ giữa Đảng,Nhà nước và các tổ chức CT-XH ở nước ta; nêu lên những quan điểm, nguyêntắc cơ bản và nội dung đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chứcCT-XH ở nước ta hiện nay; từ đó, các tác giả đề xuất một số giải pháp chủ yếunhằm tiếp tục đổi mới, hoàn thiện quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chứcCT-XH ở nước ta hiện nay Các tác giả đi đến kết luận: thực chất của quan hệgiữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức CT-XH là quan hệ với nhân dân, với xãhội Đổi mới quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và các tổ chức CT-XH là nộidung chủ yếu và căn bản của đổi mới HTCT ở nước ta hiện nay Đây cũng làthực chất của đổi mới chính trị nhằm xây dựng một nền chính trị thực sự củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững củanước ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế vì mụctiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đây là vấn đề

có tầm quan trọng chiến lược, lâu dài nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổimới, xây dựng CNXH ở Việt Nam

- Nguyễn Hữu Đổng, Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ

thống chính trị Việt Nam hiện nay [36] Các tác giả đã luận giải một số vấn đề

lý luận về đảng cộng sản, các tổ chức CT-XH trong HTCT Việt Nam hiện nay;xác định chức năng, vai trò của ĐCSVN và các tổ chức CT-XH trong HTCTViệt Nam hiện nay; khái quát thực trạng hoạt động và đề xuất những giải pháp

Trang 13

chủ yếu xác định rõ chức năng và nâng cao vai trò của ĐCSVN và các tổ chứcCTXH trong giai đoạn hiện nay Đây là nguồn tài liệu rất có giá trị cho việctham khảo của luận án

- Nguyễn Văn Giang, Đinh Ngọc Giang, Thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt

động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật [41] Cuốn sách kết cấu thành ba

chương: Chương 1: Thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật - những vấn đề lý luận và thực tiễn; Chương 2: Thực

trạng, nguyên nhân và những kinh nghiệm thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt

động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; Chương 3: Phương hướng và

giải pháp thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp vàpháp luật ở Việt Nam giai đoạn hiện nay Trong chương 3, tác giả đã đề xuất 5nhóm giải pháp để thực hiện tốt nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổHiến pháp và pháp luật; trong đó, nhóm giải pháp thứ hai “thực hiện mạnh mẽcuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị

và đường lối đúng đắn, là cơ sở để Nhà nước luật hóa một cách chính xác, xâydựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có chất lượng trực tiếp thực hiện có kết quảnguyên tắc” và nhóm giải pháp thứ ba “đẩy mạnh xây dựng nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa đủ sức thể chế hóa Cương lĩnh, đườnglối của Đảng thành hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, đồng bộ, hoạtđộng có hiệu lực, hiệu quả” rất hữu ích để tham khảo cho đề tài luận án

- Ban Dân vận Trung ương - Nguyễn Thế Trung, Tăng cường mối quan

hệ giữa Đảng và nhân dân trong thời kỳ mới [7] Cuốn sách được kết cấu thành

ba chương: Chương 1: Cơ sở khoa học của mối quan hệ giữa Đảng và nhân

dân trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế;

Chương 2: Thực trạng về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân; Chương 3:

Những giải pháp tăng cường xây dựng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dântrong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế Cáctác giả đã phản ánh được thực trạng, hạn chế, nguyên nhân, bài học kinhnghiệm về mối quan hệ Đảng - Dân hiện nay, đồng thời đã đưa ra các tiêu chíđánh giá mối quan hệ Đảng - Dân và những giải pháp xây dựng mối quan hệgắn bó “máu thịt” giữa Đảng và nhân dân trong điều kiện thực hiện kinh tế thị

Trang 14

trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế nhằm tập hợp nhân dân; xâydựng một xã hội đồng thuận, ổn định; củng cố mối quan hệ giữa Đảng, Nhànước với nhân dân; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu “dângiàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Những nội dung của cuốnsách là nguồn tư liệu bổ ích được tham khảo cho luận án

- Nguyễn Đăng Dung, Trịnh Quốc Toản và Đặng Minh Tuấn, Bình luận

khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 [12].

Các tác giả đã làm sáng rõ từng nội hàm của các quy định trong Hiến pháp năm

2013, từ lời nói đầu đến chương IX - Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổiHiến pháp, qua đó làm sáng tỏ các nội dung liên quan đến từng chương, chếđịnh, điều khoản cụ thể Đặc biệt, các tác giả đã phân tích những điểm mới và

ý nghĩa việc đổi mới trong Hiến pháp năm 2013 so với các bản Hiến pháptrước đây; trong đó, về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, các tác giả chorằng: khoàn 2 Điều 4 Hiến pháp năm 2013 đã hiến định mối quan hệ này vớinội dung phản ánh đúng phương châm lãnh đạo và triết lý cầm quyền củaĐảng: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhândân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về nhữngquyết định của mình” và khẳng định nội dung này là hoàn toàn mới trong lịch

sử Hiến pháp nước ta

- Vũ Trọng Lâm, Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện xây

dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam [83] Cuốn sách kết

cấu thành 03 chương Chương 1: Cơ sở lý luận về đổi mới sự lãnh đạo của

Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam;

Chương 2: Thực trạng sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà

nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam; Chương 3: Quan điểm và giải pháp chủ

yếu về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước phápquyền XHCN ở Việt Nam Trong chương 3, tác giả đã đề xuất 8 nhóm giảipháp chủ yếu về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện xây dựngNNPQ XHCN ở Việt Nam; trong đó, nhóm giải pháp thứ nhất “đổi mới nhậnthức, xác định và thực hiện đúng đắn chức năng, thẩm quyền, mối quan hệ giữaĐảng và Nhà nước, Đảng và các tổ chức xã hội” và nhóm giải pháp thứ bảy

Trang 15

“về đổi mới xây dựng, ban hành, học tập, nghiên cứu, tổ chức thực hiện nghịquyết của các cấp ủy đảng” rất hữu ích để tham khảo cho đề tài luận án

- Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự - Bộ Quốc phòng, Vấn đề xây

dựng chỉnh đốn Đảng [136] Cuốn sách được kết cấu thành 02 phần Phần thứ nhất: Nội dung cơ bản về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao

năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong Văn kiện Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ XII Phần thứ hai: Định hướng quán triệt và tổ chức thực

hiện Nghị quyết Đại hội XII về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nângcao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Nhằm góp phần đưa nhữngnội dung cơ bản về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lựclãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng đivào cuộc sống Đây là một tư liệu quý có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễnđối với mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, góp phầnxây dựng Đảng ta ngày càng vững mạnh, xây dựng một xã hội “dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

- Lê Hữu Nghĩa, Bùi Đình Bôn, Thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng

cầm quyền và Nhà nước trong việc thực hiện quyền lực của nhân dân [113].

Cuốn sách kết cấu thành 04 chương Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn để

xác định thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng cầm quyền và Nhà nước trong

việc thực hiện quyền lực của nhân dân; Chương 2: Thẩm quyền và trách nhiệm

của Đảng cầm quyền và Nhà nước ta trong 25 năm đổi mới - thực trạng,

nguyên nhân và vấn đề đặt ra Chương 3: Xác định tính chất, phạm vi thẩm

quyền và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước trong một số lĩnh vực trọng yếu

Chương 4: Hệ quan điểm và giải pháp để nâng cao hiệu quả thẩm quyền, tăng

cường trách nhiệm của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện quyền lực củanhân dân Trong chương 4, tác giả đã nêu ra 06 quan điểm cơ bản; đề xuất các

cơ chế và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả thẩm quyền, tăngcường trách nhiệm của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện quyền lực củanhân dân; trong đó, nhóm giải pháp thứ nhất “đổi mới hệ thống chính trị, xácđịnh đúng mối quan hệ, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng và

Trang 16

Nhà nước trong quá trình thực hiện quyền lực của nhân dân” rất hữu ích đểtham khảo cho đề tài luận án

- Hội đồng Lý luận Trung ương, Đảng Cộng sản Việt Nam trách nhiệm

trước dân tộc và lịch sử [59] Các bài viết trong cuốn sách đã khẳng định rõ

quan điểm: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng của giai cấp công nhân, của nhândân lao động và của cả dân tộc Việt Nam - là Đảng duy nhất cầm quyền trongđiều kiện CT-XH ở Việt Nam; về vai trò lãnh đạo không thể phủ nhận củaĐảng cả trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, cũngnhư trong thời kỳ đổi mới hiện nay Các bài viết cũng phản bác lại các luậnđiểm sai trái của các thế lực thù địch về vai trò cầm quyền của ĐCSVN, đồngthời cũng nêu ra những đề xuất về các vấn đề xây dựng Đảng với mong muốnĐảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, đủ sức thực hiện sứ mệnh lịch sửcao cả của mình trước dân tộc và lịch sử Đây là tài liệu tham khảo quý giá để

tham khảo cho đề tài luận án - Nguyễn Văn Giang, Các nguyên tắc tổ chức

và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam - lý luận và thực tiễn [43] Cuốn

sách kết cấu thành 06 chương Chương 1: Những vấn đề cơ bản về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam Chương 2: Nguyên tắc tập trung dân chủ Chương 3: Nguyên tắc tự phê bình và phê bình Chương 4: Nguyên tắc đoàn kết trong Đảng Chương 5: Nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân Chương 6: Nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến

pháp và pháp luật Trong chương 5, trên cơ sở làm rõ về lý luận, thực tiễn, nộidung và tình hình thực hiện nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tácgiả đã đề xuất bốn nhóm giải pháp nhằm để thực hiện tốt nguyên tắc Đảng gắn

bó mật thiết với nhân dân hiện nay rất hữu ích để tham khảo cho đề tài luận án

- Nguyễn Đăng Thành, Vũ Hoàng Công và Nguyễn An Ninh, Đổi mới bộ

máy của Đảng, bộ máy của Nhà nước trong điều kiện mới [124] Cuốn sách kết

cấu gồm 03 phần, 09 chương Phần thứ nhất: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đổi mới bộ máy Đảng, bộ máy Nhà nước trong điều kiện mới Phần thứ hai:

Thực trạng bộ máy của Đảng, bộ máy của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

-Những vấn đề cần tiếp tục đổi mới Phần thứ ba: Phương hướng, giải pháp tiếp

tục đổi mới bộ máy Đảng và bộ máy Nhà nước trong điều kiện mới Nội dung

Trang 17

bao trùm cuốn sách là nghiên cứu về đổi mới bộ máy đảng trong quan hệ vớiđổi mới bộ máy nhà nước để giữ vững quyền lãnh đạo của ĐCSVN, xây dựngNhà nước thật sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Vấn

đề mấu chốt là thiết kế bộ máy của Đảng và Nhà nước hiện nay như thế nào đểđảm bảo trên thực tế địa vị cầm quyền của Đảng được giữ vững và tăng cường

sự lãnh đạo của mình với NNPQ XHCN, để quyền lực nhà nước thực sự thuộc

về nhân dân, không ngừng phát huy quyền con người, quyền công dân, giảiquyết tốt mối quan hệ giữa quyền lực của Đảng và quyền lực của Nhà nước.Đây là tài liệu rất hữu ích để tham khảo cho đề tài luận án

1.1.2 Các bài báo khoa học trên tạp chí

Thứ nhất, nhóm các bài viết đề cập đến vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền và đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Trần Đình Huỳnh, Để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng phải biết

lắng nghe và học hỏi quần chúng nhân dân [51] Hồ Chí Minh đã từng nói:

giành chính quyền là Đảng trao chính quyền cho số đông nhân dân nắm giữ.Nhà nước ấy là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Vậy, khi đã có Nhànước dân chủ rồi thì trước nhân dân Đảng có tư cách gì; nhân dân cần gì ởĐảng? Trên cơ sở khai thác giá trị kinh điển trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tácgiả rút ra kết luận: suốt cuộc đời Hồ Chí Minh đã nói và đã gương mẫu thựchiện điều tâm niệm rằng, muốn làm cách mạng thì phải cách mạng bản thântrước đã, muốn lãnh đạo, giáo dục quần chúng thì mình phải khiêm tốn, siêngnăng học, học suốt đời, học trong công việc, học lẫn nhau và học ở quần chúng.Quần chúng nhân dân là người thầy vĩ đại, là nguồn tri thức không bao giờ vơicạn, không khi nào khô cứng

- Phạm Thế Lực, Những điều kiện cơ bản bảo đảm vai trò lãnh đạo của

Đảng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

[85] Khi đề cập đến các điều kiện cơ bản để đảm bảo cho vai trò lãnh đạo củaĐảng trong bối cảnh xây dựng NNPQ hiện nay, tác giả cho rằng, việc đảm bảotính chính đáng là điều kiện đầu tiên để Đảng giữ vững được vai trò cầmquyền Trong phương thức cầm quyền của Đảng, tác giả cho rằng, nội dung

Trang 18

của tính chính đáng của đảng cầm quyền thể hiện ở tính hợp pháp và tính hợp

lý Tính hợp pháp - theo tác giả - là đảng đó phải đảm bảo được tính hợp lý cho

sự cầm quyền và sự thừa nhận rộng rãi của xã hội; tính hợp lý của sự cầmquyền chính là nói đến hiệu quả trong phương thức cầm quyền của Đảng Cũngtheo tác giả, tính hợp pháp và tính hợp lý của đảng cầm quyền có mối quan hệchặt chẽ với nhau; tính hợp pháp là cơ sở, nền tảng để quy định vai trò cầmquyền của đảng, còn tính hợp lý lại củng cố vững chắc hơn cho sự cầm quyềncủa Đảng

- Phạm Ngọc Quang, Một đảng duy nhất cầm quyền - sản phẩm tất yếu

của thực tiễn chính trị - xã hội ở Việt Nam [119] Bằng lập luận khá thuyết

phục của mình, tác giả chứng minh rằng, ĐCSVN trở thành đảng duy nhất cầmquyền từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay là nhờ vào những thànhcông mà ĐCSVN đã dẫn dắt nhân dân trong suốt hơn 80 năm tồn tại và pháttriển của mình, kể cả trong thời chiến và thời bình Đặc biệt, tác giả đã chứngminh yếu tố “độc lập dân tộc gắn liền với CNXH” mà Đảng ta theo đuổi chính

là hệ giá trị mang tính xuyên suốt cho cách mạng Việt Nam cả trong quá khứ,hiện tại và tương lai Chính nhờ có hệ giá trị đúng đắn, cao cả này mà nhân dântin ở Đảng, quyết tâm thực hiện và cụ thể hóa những quan điểm, chủ trương,đường lối của Đảng Bằng lao động sáng tạo của mình, nhân dân biến đườnglối, chủ trương của Đảng thành hiện thực sinh động trong cuộc sống Tác giảcho rằng, việc ĐCSVN được trao quyền lănh đạo duy nhất, cầm quyền duynhất như một sự lựa chọn tất yếu, khách quan của lịch sử chứ không phải do ápđặt của Hiến pháp Bởi vì, Hiến pháp không tạo ra vị trí đó của Đảng, mà chỉ là

sự ghi nhận một thực tiễn CT-XH đã được xác lập trong thực tế Tác giả chorằng, ĐCSVN có được và giữ vững được vai trò cầm quyền một cách chính

đáng là nhờ có hệ giá trị đúng đắn mà nhân dân tin và làm theo

- Phan Thanh Hà, Lòng tin của nhân dân đối với Đảng - nền tảng vững

chắc cho vai trò lãnh đạo của Đảng và thành công của cách mạng Việt Nam

[44] Tác giả đã bước đầu nhìn nhận, đánh giá về lòng tin của nhân dân đối vớiĐảng hiện nay, chỉ ra nguyên nhân của sự suy giảm niềm tin của nhân dân đốivới Đảng Củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng trong bối cảnh hiện nay

Trang 19

không chỉ là một nhiệm vụ cấp bách, mà còn là sự sống còn đối với vai trò lãnhđạo của Đảng Nếu không ngăn chặn được sự suy giảm lòng tin của nhân dânđối với Đảng, thì đến một lúc nào đó nhân dân sẽ hoàn toàn mất niềm tin vàoĐảng

- Phạm Ngọc Quang, Cơ sở đánh giá năng lực của Đảng Cộng sản cầm

quyền [120] Trong bài viết này, tác giả cho rằng, là đảng cầm quyền, sứ mệnh

lịch sử quan trọng nhất trong lãnh đạo là đảng phải tạo ra được ba yếu tố cănbản: hoạch định được đường lối đúng đắn, thể hiện đúng nhu cầu và lợi ích củanhân dân, của dân tộc; lãnh đạo xây dựng được một Nhà nước thực sự củanhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, phát huy được vai trò của Nhà nước vàcác thành viên trong HTCT, làm cho Nhà nước thực sự là thiết chế bảo đảmquyền làm chủ của nhân dân; xây dựng được đội ngũ cán bộ cầm quyền cóphẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn - nghiệp vụ cao, có kỹ nănglãnh đạo và quán lý để làm cho đường lối đó thành hiện thực bằng sức mạnhcủa cả dân tộc Tác giả cũng cho rằng, sứ mệnh lịch sử trong lãnh đạo củaĐảng Cộng sản cầm quyền là phải đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhândân, làm cho nhân dân thực sự là chủ nhân đích thực của mọi quyền lực Đểgóp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, nhiệm vụ quan trọng là phảiđẩy mạnh dân chủ hóa sinh hoạt nội bộ đảng, kết hợp với dân chủ hóa mốiquan hệ giữa Đảng và nhân dân; mọi hoạt động của Đảng phải đặt dưới sựkiểm tra, giám sát của nhân dân

- Lê Minh Quân, Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực

nhân dân đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân [121] Tác giả bài viết cho

rằng: trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” ởnước ta hiện nay cần nhấn mạnh hơn nữa vai trò làm chủ của nhân dân vớinhững nội dung và hình thức ngày càng phong phú, thiết thực, hiệu quả Xâydựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhằm đảm bảo quyền làm chủcủa nhân dân là vấn đề khó khăn và phức tạp, vừa là yêu cầu bức xúc, trướcmắt, vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài; là vấn đề có ý nghĩa và tầm quan trọngsống còn đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta Từ góc độ Đảng lãnh đạo,Đảng cầm quyền, tác giả đề xuất: cần xây dựng và vận hành các cơ chế kiểm

Trang 20

soát quyền lực của Đảng từ trong Đảng cũng như từ HTCT và toàn xã hội.Kiểm soát quyền lực của Đảng là nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển Đảngtrong sạch, vững mạnh, bảo đảm năng lực và chất lượng cầm quyền của Đảng.Đảng ta lãnh đạo Nhà nước, các tổ chức CTXH và toàn thể xã hội, nhưng Đảngđược tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, mọi tổchức đảng và đảng viên phải tôn trọng và thực hiện đúng Hiến pháp, pháp luậthay phải chịu sự kiểm soát của Hiến pháp, pháp luật và sự giám sát của nhândân Những vấn đề liên quan đến vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; đổimới phương thức lãnh đạo (PTLĐ), cầm quyền của ĐCSVN trong giai đoạnhiện nay là tài liệu rất bổ ích cần được tham khảo cho đề tài luận án

Thứ hai, nhóm các bài viết đề cập đến mối quan hệ Đảng và nhân dân

- Thanh Tuyền, Thực hiện nguyên tắc Đảng liên hệ mật thiết với nhân

dân trong sự nghiệp đổi mới [132] Tác giả bài viết đã chỉ ra được một số ưu

điểm và hạn chế trong thực hiện nguyên tắc Đảng liên hệ mật thiết với nhândân, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường xây dựng mối quan hệ

Đảng - dân trong tình hình mới: một là, Đảng không ngừng hoàn thiện chủ

trương, đường lối và chính sách để xây dựng mối quan hệ Đảng - dân cho phùhợp hơn nữa với thực tiễn cơ chế kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường định

hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế; hai là, khi đường lối đúng đắn được

ban hành, phải đẩy mạnh tuyên truyền quán triệt sâu rộng đến tận người dân

Hình thức tuyên truyền cần phải đa dạng; ba là, đẩy mạnh phát triển KT-XH,

bảo đảm an ninh - quốc phòng, giữ vững ổn định CT-XH, đẩy mạnh CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn miền núi để tạo sự phát triển bền vững giữa các

vùng, miền, khu vực; bốn là, rà soát, bổ sung, thay thế nhằm hoàn thiện chủ

trương, đường lối của Đảng, cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước về

phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; năm là, tập trung xây

dựng HTCT trong sạch, vững mạnh, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động

của MTTQ và các đoàn thể CT-XH, các hội quần chúng; sáu là, tập trung đẩy

mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước theo hướng xây dựngNNPQ XHCN, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện đúng nguyên tắc tậptrung dân chủ trong sinh hoạt đảng; chú trọng thực hiện tốt quy chế dân chủ ở

Trang 21

cơ sở; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cho được một đội ngũ cán bộ có năng lực,phẩm chất đạo đức cách mạng, hết lòng phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân,thật sự là tấm gương tiêu biểu về dân chủ

- Hà Thị Khiết, Củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng,

Nhà nước với nhân dân - nhiệm vụ trọng tâm của công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới [66] Tác giả bài viết đã tập trung phân tích, làm rõ rõ một số

nội dung: một là, nhân dân là người sáng tạo ra mọi của cải vật chất và những

giá trị tinh thần, là người làm nên lịch sử, là nhân tố quyết định sự tồn tại và

phát triển của xã hội; hai là, mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân là mối quan

hệ hai chiều, gắn bó, tương hỗ như một lẽ tự nhiên; ba là, khi đã trở thành đảng

cầm quyền, mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trước hết và chủ yếu thể hiện

ở mối quan hệ giữa chính quyền với nhân dân; bốn là, mối quan hệ giữa Đảng

và nhân dân còn được thể hiện ở mối quan hệ giữa MTTQ Việt Nam và các

đoàn thể với nhân dân; năm là, quan tâm chăm lo lợi ích thiết thực của nhân

dân làm cho mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân ngày càng gắn bó, phong trào

quần chúng phát triển, HTCT không ngừng được củng cố, vững mạnh; bảy là,

nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác dân vận để phát huy sức mạnh đạiđoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng - vấn đề mấu chốt để tăngcường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân

- Trương Thị Thông, Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân

theo tinh thần Đại hội XI và vận dụng vào nghiên cứu, giảng dạy tại Học viện

[125] Bài viết đã tập trung làm rõ mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản

lý, nhân dân làm chủ Để thực hiện tốt hơn nữa mối quan hệ Đảng lãnh đạo,Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ theo quan điểm của Đại hội XI, theo quan

điểm của tác giả cần chú ý những vấn đề sau: một là, tăng cường tuyên truyền,

giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cấp ủy các cấp, cán bộ, đảngviên và nhân dân về mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân

làm chủ”; hai là, tiếp tục đổi mới PTLĐ của Đảng, phát huy vai trò người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp; ba là, thực hiện mạnh mẽ cuộc vận động xây

dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị và đường lối đúngđắn, là cơ sở để Nhà nước luật hóa một cách chính xác, xây dựng đội ngũ cán

Trang 22

bộ, đảng viên có chất lượng; bốn là, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; năm là, đẩy mạnh xây dựng NNPQ XHCN đủ sức thể chế

hóa Cương lĩnh, đường lối của Đảng thành hệ thống pháp luật ngày càng hoàn

thiện, đồng bộ và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; sáu là, tăng cường sự lãnh

đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhànước quản lý, nhân dân làm chủ

- Nguyễn Trọng Phúc, Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân - đạo lý,

trách nhiệm và niềm tin [115] Trên cơ sở phân tích những tư tưởng của Hồ

Chí Minh về dân vận, gắn liền với quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương

4 khóa XI, tác giả tập trung đề xuất các giải pháp đẩy lùi sự suy thoái về tưtưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng

viên: một là, thực hành dân chủ rộng rãi, đưa mọi vấn đề ra bàn bạc với dân,

hỏi ý kiến nhân dân, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp tới lợi ích và cuộcsống của nhân dân, trước khi đưa ra quyết định trong chính sách, pháp luật và

những chủ trương, biện pháp cụ thể; hai là, trong quá trình thực hiện đường lối

của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà tổ chức đảng, chính quyềnhay cá nhân cán bộ, đảng viên phụ trách mắc khuyết điểm, có việc làm khôngđúng, tổn hại tới lợi ích chính đáng và cuộc sống của nhân dân thì công khai, tự

phê bình, nhận lỗi trước dân và cùng với nhân dân tìm cách sửa chữa; ba là,

toàn Đảng và cả HTCT chăm lo công tác dân vận, tạo nên sự gắn bó đoàn kết,đồng thuận trong xã hội

- Nguyễn Thế Trung, Tăng cường mối quan hệ Đảng - Dân trong giai

đoạn hiện nay [131] Tác giả bài viết nêu ra một số tiêu chí cơ bản đánh giá

thực trạng về mối quan hệ Đảng - Dân qua 30 năm đổi mới; đồng thời, đề xuấtmột số giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, củng cố mối quan hệ Đảng

- Dân trong giai đoạn hiện nay Trong đó, tác giả đề xuất: Đảng lãnh đạo, chỉđạo Nhà nước tập trung giải quyết kịp thời, có hiệu quả một số bức xúc, kiếnnghị chính đáng của nhân dân - đây là một trong những biện pháp rất quantrọng để củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước Đảng banhành các chủ trương, đường lối, nghị quyết đúng đắn và kịp thời nhằm lãnhđạo Nhà nước, MTTQ và các đoàn thể CT-XH phát huy sức mạnh khối đại

Trang 23

đoàn kết toàn dân tộc Tăng cường giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảngviên, nhất là những cán bộ có chức, có quyền ở các cấp, các ngành, yêu cầusống gương mẫu, có trách nhiệm với nhân dân, nói đi đôi với làm để nhân dântin tưởng, noi theo Đảng lãnh đạo Nhà nước tiếp tục thể chế hóa cơ chế “Đảnglãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “dân biết, dânbàn, dân làm, dân kiểm tra” thành những chính sách, quy chế, quy định, luậtpháp kịp thời, hợp lòng dân để nhân dân được làm chủ, được phát huy quyền

làm chủ trên thực tế

- Thào Xuân Sùng, Giữ vững mối quan hệ máu thịt Đảng - Dân để nâng

cao vị thế, vai trò và trách nhiệm cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

[122] Tác giả bài viết cho rằng: giữ vững mối quan hệ máu thịt Đảng - Dân đểnâng cao vị thế, vai trò và trách nhiệm cầm quyền của ĐCSVN là một vấn đềrất lớn, hệ trọng và có ý nghĩa về lý luận cũng như thực tiễn trong điều kiệnmột đảng cầm quyền ở Việt Nam, giải quyết được vấn đề này sẽ góp phần vàothành công của sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam Phát huy vai trò củaĐảng và vai trò của Dân trong mối quan hệ Đảng - Dân để nâng cao vị thế củaĐảng Vai trò của Đảng thể hiện rõ ở chỗ, đi đôi với xây dựng đường lối đúngđắn, Đảng phải đặc biệt quan tâm chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụcủa một đảng cầm quyền, lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc xây dựngCNXH ở Việt Nam Trong giai đoạn hiện nay, phải thực hiện tốt các giải phápxây dựng Đảng về tiềm lực tư tưởng, lý luận, trí tuệ và tổ chức cán bộ; mở rộngcông khai và dân chủ trong Đảng; phát huy quyền làm chủ của nhân dân vàkhối đoàn kết liên minh công nhân - nông dân - trí thức; giải quyết kịp thời,hiệu quả những nhu cầu bức xúc chính đáng của nhân dân Những giải pháp

mà các tác giả bài viết đề xuất nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, củng cốmối quan hệ Đảng với nhân dân trong giai đoạn hiện nay là tài liệu rất bổ íchcần được tham khảo cho luận án

1.1.3 Các luận án tiến sĩ

Đảng Cộng sản Việt Nam chịu trách nhiệm trước nhân dân về nhữngquyết định của mình là một vấn đề mới được đưa vào Hiến pháp năm 2013,nên đến nay chưa có luận án tiến sĩ nào nghiên cứu vấn đề này Liên quan đến

Trang 24

vấn đề nghiên cứu, có thể kể đến một số luận án tiến sĩ chuyên ngành và liênngành đề cập đến việc thực hiện nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhândân hay nghiên cứu về tính chính đáng của Đảng Cộng sản cầm quyền ở ViệtNam

- Trần Quang Cảnh, Đổi mới phương thức lãnh đạo của huyện ủy đối với

chính quyền huyện ở đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện nay [11] Tác giả đã

luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về PTLĐ của huyện ủy đối vớichính quyền huyện; đánh giá thực trạng việc đổi mới PTLĐ của huyện ủy đốivới chính quyền huyện ở đồng bằng sông Hồng trong thời gian qua và đề xuấtnhững giải pháp chủ yếu để tiếp tục đổi mới PTLĐ của các huyện ủy đối vớichính quyền huyện ở đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn hiện nay

- Trần Thị Hương, Thực hiện nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân

dân trong giai đoạn hiện nay [52] Tác giả đã luận giải những vấn đề lý luận về

nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân; đánh giá thực trạng việc thựchiện nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân và đề xuất những giảipháp chủ yếu để thực hiện tốt nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân

- Nguyễn Văn Quang, Tính chính đáng của Đảng Cộng sản cầm quyền ở

Việt Nam [118] Tác giả đã luận giải những vấn đề lý luận về tính chính đáng

chính trị, tính chính đáng của ĐCSVN cầm quyền; phân tích, đưa ra nhữngnhận xét về tính chính đáng của ĐCSVN cầm quyền qua các thời kỳ lịch sử;nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng tính chính đáng trong cầm quyền của một sốđảng chính trị trên thế giới, từ đó rút ra một số bài học có giá trị tham khảo đốivới ĐCSVN; chỉ ra một số hạn chế trong duy trì tính chính đáng của ĐCSVNhiện nay và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao tính chính đáng trong cầmquyền của ĐCSVN thời gian tới

1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

- Hạ Quốc Cường, Không ngừng nâng cao trình độ lãnh đạo và trình độ

cầm quyền, tăng cường năng lực chống tha hóa, phòng biến chất và chống rủi

ro [60] Tác giả bài viết đã phân tích quá trình đổi mới công tác xây dựng Đảng

của Đảng Cộng sản Trung Quốc và chỉ rõ hai vấn đề lớn mang tính lịch sử cần

Trang 25

giải quyết, đó là: (1) Làm thế nào để nâng cao hơn nữa trình độ lãnh đạo vàtrình độ cầm quyền của Đảng (2) Làm thế nào để tăng cường hơn nữa năng lựcchống tha hóa, phòng biến chất và chống rủi ro? Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất

những giải pháp chủ yếu: một là, tuân theo đường lối cơ bản của Đảng, nắm

vững nhiệm vụ trung tâm của Đảng, kết hợp chặt chẽ với thực tiễn vĩ đại xâydựng CNXH mang đặc sắc Trung Quốc nhằm đẩy mạnh công trình vĩ đại mới

về xây dựng Đảng; hai là, đặt lên vị trí hàng đầu việc kiên trì tăng cường xây

dựng tư tưởng lý luận, không ngừng đẩy mạnh sáng tạo lý luận, dùng chủ

nghĩa Mác đang phát triển để chỉ đạo xây dựng Đảng; ba là, luôn luôn nắm

chắc khâu quan trọng là xây dựng đội ngũ cán bộ tố chất cao, coi trọng cao độviệc xây dựng đội ngũ nhân tài, ra sức tăng cường xây dựng ban lãnh đạo, cốgắng hình thành tầng lớp lãnh đạo các cấp hăng hái, sôi nổi, phấn đấu thành

đạt; bốn là, coi trọng cao độ việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng, kiên trì không

buông lỏng việc nắm cơ sở và đặt nền móng, không ngừng tăng cường cơ sở

giai cấp của Đảng và mở rộng cơ sở quần chúng của Đảng; năm là, xoay quanh

vấn đề hạt nhân là giữ gìn mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúngnhân dân, tăng cường và cải tiến toàn diện việc xây dựng tác phong của Đảng,

đi sâu xây dựng tác phong của Đảng, xây dựng liêm chính và đấu tranh chống

tham nhũng; sáu là, tăng cường xây dựng chế độ, kiên trì không mệt mỏi đẩy

mạnh cải cách chế độ trong Đảng, thúc đẩy và đảm bảo cho việc xây dựngĐảng bằng chế độ

- Chu Húc Đông, Kiên trì phương châm quản lý Đảng nghiêm minh, triển

khai cuộc xây dựng Đảng phong liêm chính và đấu tranh chống tham nhũng

[60] Tác giả đã phân tích nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hiện tượng tham nhũng

dễ nảy sinh và nảy sinh nhiều trên một số lĩnh vực trong giai đoạn hiện nay ởTrung Quốc Đồng thời, tác giả đề xuất các biện pháp chính và hiệu quả triển

khai xây dựng Đảng phong liêm chính và đấu tranh chống tham nhũng: một là,

đẩy mạnh xây dựng tư tưởng chính trị; không ngừng tăng cường tính tự giác

của cán bộ lãnh đạo, đảng viên về hành chính liêm khiết; hai là, điều tra và xử

lý các vụ án lớn và án quan trọng, chỉnh đốn nghiêm túc kỷ luật đảng và pháp

luật của Nhà nước, xử lý nghiêm theo pháp luật một loạt kẻ tham nhũng; ba là,

Trang 26

uốn nắn tác phong không lành mạnh; năm là, tăng cường xây dựng văn bản

pháp quy và quy chế liêm chính, đảm bảo việc chống tham nhũng được thực

hiện; sáu là, tăng cường công tác chữa trị từ đầu nguồn, từng bước xóa bỏ mảnh đất nảy sinh tham nhũng; bảy là, tăng cường giám sát dân chủ, thúc đẩy

quyền lực vận hành theo nền nếp quy phạm Đồng thời, tác giả rút ra nhữngkinh nghiệm chủ yếu về xây dựng Đảng phong liêm chính và công tác chống

tham nhũng với “bảy kiên trì”: một là, kiên trì sự lănh đạo của Đảng Cộng sản,

bám chặt nhiệm vụ phát triển - nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng cầm

quyền và chấn hưng đất nước; hai là, kiên trì quản lý Đảng nghiêm minh, trước hết phải quản lý tốt ban lãnh đạo và cán bộ lãnh đạo; ba là, kiên trì cục diện

chống tham nhũng với nội dung chính là cán bộ lãnh đạo liêm khiết, tự giác, kỷluật, điều tra và xử lý vụ án lớn và án quan trọng, uốn nắn tác phong không

lành mạnh; bốn là, kiên trì trị cả ngọn lẫn gốc, không ngừng xóa bỏ mảnh đất nảy sinh hiện tượng tham nhũng; năm là, kiên trì giữ thái độ thận trọng khi xử

lý người, thực sự cầu thị, phân biệt đối xử; sáu là, kiên trì đường lối quần

chúng của Đảng, phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường ràng buộc và

giám sát quyền lực từ quyết sách và thi hành; bảy là, kiên trì liêm chính xây

dựng pháp luật, giáo dục tuân thủ pháp luật và kiểm tra hành pháp, làm chocông tác xây dựng Đảng liêm chính và đấu tranh chống tham nhũng bước đivào con đường pháp chế hóa

- Khương Dược, Nghiên cứu vấn đề quy luật cầm quyền và xây dựng

Đảng cầm quyền [123] Tác giả đã lý giải một số vấn đề đặt ra đối với đảng

cầm quyền, đó là: một là, làm thế nào để củng cố và mở rộng nền tảng xã hội của Đảng, giành lấy sự ủng hộ rộng rãi hơn; hai là, làm thế nào để tăng cường

việc giành lấy lòng dân bằng chính sách và thành tích chính trị khi đứng trước

khó khăn về ý thức hệ; ba là, làm thế nào để tìm kiếm sự cân bằng giữa hiệu

quả và công bằng, nhằm thực hiện kinh tế phát triển bền vững và xã hội hài

hòa; bốn là, làm thế nào để mở rộng dân chủ trong Đảng và dân chủ xã hội, nâng cao sức cuốn hút và sức ảnh hưởng của Đảng; năm là, làm thế nào để

chống tham nhũng, đề xướng liêm khiết, duy trì hình tượng công chúng trong

sạch liêm khiết; sáu là, làm thế nào để ứng phó với thách thức của phương tiện

Trang 27

thông tin đại chúng, học biết kiếm tồn tại, tìm kiếm phát triển trong điều kiện

xã hội thông tin Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất: một chính đảng có thể duy trìđịa vị cầm quyền hay không là do năng lực quản lý và điều hành đất nước, cóđược sự tín nhiệm và ủng hộ của dân chúng hay không Giành lấy lòng dân,giành được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân cũng chính là vấn đề giải quyếttính hợp pháp chính trị của đảng cầm quyền

- Lưu Văn Sơn, Kiên trì quan điểm nhân dân là tối thượng, thiết thực làm

tốt công tác quần chúng trong tình hình mới [60] Tác giả cho rằng, trước tình

hình mới và nhiệm vụ mới, cần nắm vững quy luật của công tác quần chúng, kếthừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của Đảng Cộng sản Trung Quốc, kiên trìquan điểm nhân dân là tối thượng, quan điểm duy vật lịch sử nhân dân là anhhùng chân chính, quan điểm xây dựng Đảng vì công bằng, cầm quyền vì nhândân, trả lời tốt ba câu hỏi “vì ai”, “dựa vào ai” và “tôi là ai”, tạo dựng cơ sởquần chúng và cội nguồn sức mạnh rộng rãi nhất, đáng tin cậy nhất, vững chắcnhất cho sự nghiệp chung của Trung Quốc Đồng thời, tác giả đưa ra các quan

điểm: một là, xây dựng quan điểm quần chúng đúng đắn, thắc chặt sợi dây tình

cảm gắn kết với quần chúng nhân dân, tạo nền tảng tư tưởng vững chắc để làm

tốt công tác quần chúng; hai là, luôn giữ vững lập trường quần chúng, đề cao

tôn chỉ phục vụ nhân dân, tập trung giải quyết những vấn đề liên quan đến lợi

ích thiết thân của quần chúng nhân dân; ba là, phải đi sâu quán triệt đường lối

quần chúng, kiên trì phương châm chính sách hợp lòng dân, đáp ứng nhu cầuchính đáng của nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, phát huy nguồn lực

trí tuệ và sức mạnh của quần chúng nhân dân để phát triển sự nghiệp; bốn là,

phải cải tiến và đổi mới phương thức và phương pháp, sử dụng các hình thức

và biện pháp mà quần chúng ưa thích, nỗ lực tăng cường tính hướng đích và

tính hiệu quả của công tác quần chúng; năm là, phải xây dựng và kiện toàn chế

độ công tác, nâng cao sức ràng buộc và thực thi của chế độ, tăng cường mức độquy phạm hóa và chế độ hóa của công tác quần chúng

- Tổ chuyên đề Ban Nghiên cứu - giảng dạy Xây dựng Đảng, trường

Đảng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Kinh nghiệm của Đảng Cộng

sản Cu ba về tăng cường mối quan hệ với quần chúng [144] Các tác giả đã đặt

Trang 28

ra và trả lời câu hỏi: là Đảng Cộng sản duy nhất cầm quyền ở Tây bán cầu, vìsao Đảng Cộng sản Cu ba vẫn bảo vệ được CNXH, vẫn duy trì được vị trí cầmquyền của Đảng trong điều kiện hết sức khó khăn Nguyên nhân căn bản nhất

là Đảng Cộng sản Cu ba đã biết coi trọng mối liên hệ với quần chúng nhân dân,không ngừng củng cố địa vị cầm quyền của Đảng, làm cho Đảng tràn đầy sứcsống Đảng Cộng sản Cu ba đã đề ra nguyên tắc “bốn tất cả” và định ra mộtloạt chính sách và biện pháp đảm bảo chắc chắn cho sự liên hệ mật thiết giữaĐảng với quần chúng nhân dân Những chính sách cụ thể của Đảng Cộng sản

Cu ba cùng với nguyên tắc “bốn tất cả” đã tạo ra sự gắn bó,liên hệ chặt chẽgiữa Đảng Cộng sản và nhân dân Cu ba, là bài học kinh nghiệm quý giá đối với

các đảng cộng sản cầm quyền

- Trương Văn Hồng, Kinh nghiệm của Đảng Dân chủ - xã hội Đức trong

xử lý quan hệ với quần chúng [48] Bài viết chia thành ba phần lớn: 1 Tư

tưởng và đặc điểm tổ chức của Đảng Dân chủ - xã hội Đức (SPD); 2 Duy trìđoàn kết trong Đảng và hình thức liên hệ giữa Đảng với cử tri; 3 Quan hệ giữaSPD với quần chúng truyền thống của Đảng trước những thách thức Để duy trìđoàn kết trong Đảng và hình thức liên hệ giữa Đảng với cử tri, SPD áp dụng

các biện pháp sau: một là, ra sức tận dụng các phương tiện truyền thông để tuyên truyền chủ trương, chính sách, rút ngắn khoảng cách với dân chúng; hai

là, triển khai thảo luận rộng rãi Cương lĩnh của Đảng, nhằm làm cho Cương

lĩnh và chính sách phù hợp với yêu cầu của thời đại; ba là, khởi xướng và thực hiện “mạng internet của Đảng” và “chế độ đảng viên theo hạng mục”; bốn là,

thiết lập quan hệ bạn bè với công đoàn, tìm kiếm sự ủng hộ của công đoàn Vềmối quan hệ giữa SPD và quần chúng truyền thống của Đảng trước nhữngthách thức, bài viết đánh giá các biện pháp cải cách triệt để đối với chế độ phúclợi của Chính phủ “liên minh Đỏ - Xanh” giữa SPD và Đảng Xanh đã đụngchạm đến lợi ích của đa số dân cư trong xã hội Đức, đồng thời đặt ra thách thứckhông nhỏ đối với “nhà nước phúc lợi chung” Để giành được sự ủng hộ rộngrãi hơn đối với cải cách, ban lãnh đạo SPD không ngừng sử dụng các phươngthức đối thoại trên truyền hình, tranh luận ở nghị viện, trả lời phỏng vấn chogiới truyền thông đại chúng, hiệu triệu đảng viên của SPD Ngoài ra, SPD còn

Trang 29

tăng cường quan hệ gắn bó với tổ chức công đoàn, từng bước thuyết phục côngđoàn không trương biều ngữ phản đối cải cách Đến đầu năm 2005, đại bộ phậndân chúng Đức đã cơ bản chấp nhận cải cách phúc lợi và chính sách cải cáchthị trường lao động việc làm của Chính phủ liên minh Đỏ - Xanh Tuy nhiên,

kế hoạch cải cách đã làm suy làm cơ sở quần chúng của SPD, từ đó đặt ra vấn

đề đối với SPD cầm quyền là phải làm thế nào để tuyên truyền tốt chính sáchcủa mình, đồng thời tăng cường gắn kết với tầng lớp xã hội bị ảnh hưởng tiêu

cực từ cải cách

1.3 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN SẼ TẬP

TRUNG GIẢI QUYẾT

1.3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu các công trình có liên quan đến

đề tài

Các đề tài khoa học, các công trình nghiên cứu, bài viết được công bố đãnghiên cứu dưới nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau, đạt được nhiều kếtquả lý luận và thực tiễn quan trọng

Một là, về mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân;

Hai là, về Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật;

Ba là, về vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền và đổi mới PTLĐ, cầm

quyền của ĐCSVN

Mỗi công trình, do xuất phát từ mục tiêu, phương pháp tiếp cận và giớihạn phạm vi của mình, nên chỉ giải quyết một số nội dung nhất định Hầu hếtcác công trình nghiên cứu chỉ đề cập đến mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân;nội dung, PTLĐ, cầm quyền của Đảng Đây là nguồn tư liệu quý được kế thừakhi triển khai nghiên cứu đề tài luận án Tác giả cầu thị, nhưng cũng luôn bámsát đề tài và cách tiếp cận khoa học riêng để tiếp thu các giá trị có thể thamkhảo được từ các công trình đã khảo cứu này trong quá trình triển khai đề tàiluận án

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu vấn

đề ĐCSVN chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình

Trang 30

dưới góc nhìn của khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chínhquyền nhà nước

1.3.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Một là, làm rõ cơ sở lý luận việc ĐCSVN chịu trách nhiệm trước nhân

dân về những quyết định của mình trong giai đoạn hiện nay, từ đó đưa ra quanniệm, nội dung và cơ chế Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về nhữngquyết định của mình

Hai là, nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng việc ĐCSVN chịu

trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình qua các giai đoạncách mạng, trọng tâm là thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay

Ba là, nêu ra những yêu cầu và giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt việc

ĐCSVN chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình tronggiai đoạn hiện nay

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHỦ YẾU VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

CHỊU TRÁCH NHIỆM TRƯỚC NHÂN DÂN VỀ NHỮNG QUYẾT ĐỊNH

CỦA MÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢNG CHỊU TRÁCH NHIỆM TRƯỚC NHÂN DÂN VỀ NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA MÌNH

2.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về đảng cộng sản chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình

2.1.1.1 Quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen về trách nhiệm trước nhân dân của đảng cộng sản đối với những quyết định của mình

C Mác và Ph Ăngghen là những nhà sáng lập CNXH khoa học, đồngthời là người đặt nền móng lý luận về Đảng Cộng sản Tuy nhiên, học thuyếtcủa C Mác và Ph Ăngghen được xây dựng trong điều kiện chủ nghĩa tư bản

Trang 31

phát triển ở giai đoạn tự do cạnh tranh và giai cấp vô sản chưa nắm được chínhquyền ở bất cứ quốc gia nào, đảng cộng sản chưa trở thành đảng cầm quyền.Trong điều kiện lịch sử ấy, hệ thống lý luận của các ông chỉ giới hạn ở các vấn

đề sau: một là, xây dựng đảng cộng sản trở thành đội tiên phong của giai cấp

vô sản, vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính quốc tế; hai là, chỉ ra sứ mệnh

của Đảng là tổ chức những người vô sản thành một giai cấp và tổ chức giai cấp

ấy thành giai cấp thống trị thông qua cuộc đấu tranh giai cấp nhằm lật đổ nhànước tư sản, xây dựng nhà nước của giai cấp vô sản, nhà nước kiểu mớiXHCN, khi trở thành đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo nhà nước xây dựngCNXH và chủ nghĩa cộng sản

Trong tác phẩm Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, C Mác đã

trình bày có hệ thống quan điểm của ông về dân chủ và nhà nước, trong đónhân dân là chủ thể đích thực của nhà nước Do vậy, xét về thực chất, nhà nước

không có chủ quyền mà chỉ nhân dân mới có chủ quyền Trong Tuyên ngôn

của Đảng Cộng sản, hai ông đã đề cập sứ mệnh của đảng cộng sản là phải tổ

chức giai cấp vô sản thành giai cấp thống trị Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức,

hai ông đã đề cập hình thức tổ chức như vậy - hình thức mà nhờ đó những cánhân thống trị về mặt kinh tế được tổ chức thành giai cấp và bảo đảm cho giaicấp này trở thành giai cấp thống trị xã hội Đó chính là nhà nước vô sản Song,vào thời các ông, nhà nước vô sản chưa trở thành một hiện thực xã hội, chỉ làmột xu hướng tất yếu, là vấn đề có tính quy luật, kết quả của sự thay thế chế độ

tư bản chủ nghĩa bằng chế độ XHCN Ngày 18-3-1871, Công xã Pari ra đời sau

khi C Mác và Ph Ăngghen viết Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản 23 năm, nhưng chỉ tồn tại trong 72 ngày Trong tác phẩm Nội chiến ở Pháp được C.

Mác viết để tổng kết kinh nghiệm Công xã và đi đến khẳng định: Công xã làhình thức nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, với những đặc trưng kiểu mới

mà bất kỳ nhà nước nào từng tồn tại trong lịch sử đều không thể có được Tổng

kết của C Mác về Công xã Pari tập trung vào các vấn đề chủ yếu, đó là: Một

là, Công xã là việc xã hội đoạt lại quyền lực nhà nước, tức là việc bản thân

quần chúng nhân dân đoạt lại quyền lực nhà nước; tổ chức công xã là một cơcấu có quy mô của quyền lực nhà nước, với sự phân công lao động một cách có

Trang 32

hệ thống và có cấp bậc Hai là, Công xã đã để lại một bài học kiểu mẫu về nhà

nước của giai cấp vô sản: bài học về thực hành nền chuyên chính vô sản Công

xã là hình thức chính trị của sự giải phóng xã hội của người lao động Về bảnchất, Công xã là chính phủ của giai cấp công nhân, chính phủ quốc dân chânchính và mang tính chất quốc tế, đại diện cho toàn thể lợi ích dân tộc; là hìnhthức chính trị rốt cuộc đã tìm ra được khiến cho có thể thực hiện được việc giảiphóng người lao động về mặt kinh tế Về nguyên tắc tổ chức, Công xã để lạihai kinh nghiệm lớn là: xây dựng trên nguyên tắc phổ thông đầu phiếu và tổchức theo nguyên tắc tập trung dân chủ Về chức năng, nhiệm vụ, Công xã đã

để lại bài học về tổ chức xây dựng xã hội mới và về chức năng bạo lực, trấn áp.Công xã không phải là một cơ quan đại nghị, mà là một tập thể hành động, vừalập pháp, vừa hành pháp Về hình thức nhà nước, Công xã là một hình thức

chính trị linh hoạt đến cao độ Ba là, các thành viên của Công xã đều là đại

biểu của giai cấp công nhân, nếu không phải là công nhân thì phải được côngnhân thừa nhận Công xã phải tổ chức lực lượng trên cơ sở đoàn kết công nông,dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân để tạo ra bạo lực cách mạng giữ vững

và củng cố thành quả cách mạng Công xã đã nêu lên một bài học về sự tất yếuphải có sự lãnh đạo thống nhất của chính đảng của giai cấp công nhân, sự tấtyếu phải xây dựng được khối liên minh công - nông và sự đoàn kết quốc tế,

Công xã thất bại vì nó không có một đảng thống nhất lãnh đạo Bốn là, xóa bỏ

chế độ phổ thông đầu phiếu tư sản, chế độ đại nghị tư sản, là những hình thứcdân chủ nô dịch quần chúng lao động, bởi nó chỉ cho phép nhân dân “cứ sau banăm hoặc năm năm lại phải đi lựa chọn ai là người thống trị mình”, xây dựngnghị viện vô sản, trong đó các đại biểu vừa lập pháp, vừa hành pháp, thực sự làđại diện chân chính của mọi tầng lớp; áp dụng đồng bộ các biện pháp cải biến

xã hội, cải tạo kinh tế, giữ gìn an ninh công cộng, bảo vệ lợi ích của giai cấp

công nhân, nông dân và những người lao động Năm là, Công xã thực hiện

nguyên tắc công khai, công bố tất cả những báo cáo hội nghị của mình, thôngbáo tất cả các hoạt động của mình, nói cho công chúng tất cả những khuyếtđiểm của mình; đồng thời, đặc quyền quản lý nhà nước của những kẻ có của,

lôi cuốn tất cả những người lao động tham gia quản lý Sáu là, những ủy viên

công xã - những đảng viên cộng sản - là những người kiên quyết cách mạng

Trang 33

nhất, thông minh nhất, trung thực nhất, dũng cảm nhất, là linh hồn của Công

xã, là lãnh tụ của đảng

Những tổng kết nêu trên của C Mác về Công xã Pari và những vấn đề lýluận khác trong ba bộ phận cấu thành học thuyết khoa học của C Mác và Ph.Ăngghen đã đặt cơ sở lý luận gốc cho việc xây dựng đảng cộng sản, xây dựngnhà nước vô sản, xác lập thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng và Nhà nướctrong việc thực hiện quyền lực của nhân dân sau khi giai cấp vô sản giành đượcchính quyền

2.1.1.2 Quan điểm của V.I Lênin về trách nhiệm trước nhân dân của đảng cộng sản đối với những quyết định của mình

Một là, trách nhiệm trước hết của đảng cộng sản là đề ra Cương lĩnh, đường lối đúng đắn, nhưng không quyết định thay những công việc của Nhà nước

Thời đại của V.I Lênin là thời đại mà chủ nghĩa tư bản phát triển thànhchủ nghĩa tư bản độc quyền, chủ nghĩa đế quốc, thời đại quá độ lên CNXH mởđầu là Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga vĩ đại V.I Lênin có điều kiện thực

tế để nêu ra quan điểm của mình về quan hệ giữa Đảng với nhân dân, tráchnhiệm của Đảng trước nhân dân khi đã có chính quyền của nhân dân Với quan

niệm tổng quát đảng là “trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại chúng ta”

[72, tr.122], Người xác định, trách nhiệm trước hết của Đảng là đề ra Cươnglĩnh, đường lối đúng đắn: “trong nước cộng hòa của chúng ta, không có mộtvấn đề chính trị hay tổ chức quan trọng nào do một cơ quan nhà nước giảiquyết mà lại không có chỉ thị của Ban chấp hành trung ương đảng" [77, tr.38];

“Đảng ta là một đảng cầm quyền và những quyết định do đại hội của đảngthông qua là những điều mà toàn nước Cộng hòa phải tuân theo” [79, tr.74].Đối với Nhà nước, Đảng phải "đưa ra Cương lĩnh của Chính quyền Xô viết.Việc nói rõ đặc điểm của kiểu nhà nước mới phải chiếm một địa vị quan trọngtrong cương lĩnh của chúng ta" [73, tr.69]

Tuy nhiên, trong điều kiện có chính quyền, trách nhiệm của Đảng chỉ thểhiện quan điểm, đường lối chính trị chung, cơ bản, còn việc quyết định cụ thể

Trang 34

các vấn đề về kinh tế - xã hội (KT-XH), luật pháp thuộc thẩm quyền, tráchnhiệm của các cơ quan nhà nước V.I Lênin viết: “nếu tưởng rằng đại hội này

có thể giải quyết được vấn đề thì lầm mất Những quy định về pháp luật củachúng ta sẽ giải quyết vấn đề ấy, nhiệm vụ của chúng ta chỉ là định đường lốinguyên tắc và nêu ra khẩu hiệu…; cho nên, ở đây, chúng ta cần phải giải quyếtvấn đề ấy về nguyên tắc” [79, tr.74] Đảng có trách nhiệm nặng nề, nhưngĐảng không làm thay trách nhiệm của Nhà nước:

Cần phân định một cách rõ ràng hơn nữa những nhiệm vụ của đảng(và của Ban Chấp hành Trung ương của nó) với nhiệm vụ của Chínhquyền Xô viết; tăng thêm trách nhiệm và tính chủ động cho các cán

bộ Xô viết và các cơ quan Xô viết, còn về đảng thì dành quyền lãnhđạo chung công tác của tất cả các cơ quan nhà nước gộp chung lại,

mà không can thiệp một cách quá thường xuyên, không chính quy vàthường là nhỏ nhặt, như hiện nay [81, tr.75]

Hai là, bố trí cán bộ chủ chốt của các cơ quan nhà nước là trách nhiệm quan trọng của đảng cộng sản

Trong công tác cán bộ, Đảng có trách nhiệm bố trí cán bộ chủ chốt của

cơ quan nhà nước, coi đó là trách nhiệm quan trọng bậc nhất: “Chừng nào mộtđảng cầm quyền còn quản lý, chừng nào đảng ấy còn phải giải quyết tất cả mọivấn đề và những sự bổ nhiệm khác nhau, thì anh không thể để có tình trạng làviệc bổ nhiệm các chức vụ nhà nước quan trọng nhất lại do một đảng khônglãnh đạo tiến hành” [78, tr.204-205] Trách nhiệm của Đảng là phát hiện, lựachọn, đào tạo, rèn luyện, thử thách và bố trí cán bộ đảng tham gia quản lý nhànước

V.I Lênin đặc biệt quan tâm đến vấn đề trách nhiệm cá nhân của các cán

bộ lãnh đạo đảng, của các đảng viên công tác trong các cơ quan chính quyền.Trách nhiệm của đảng viên là phải thể hiện được tính tiên phong trước quầnchúng trong công việc được đảm nhiệm, phải nhận và hoàn thành tốt nhấtnhiệm vụ của mình:

Trang 35

Không có gì có thể làm tăng thêm uy tín của đảng cộng sản ở thànhthị, nâng cao lòng kính phục của những công nhân ngoài đảng đốivới những người cộng sản,… một khi những người công nhân ngoàiđảng trên thực tế đã thấy rằng các đảng viên của đảng cộng sản đangcầm quyền đã giành lấy những nghĩa vụ của mình, rằng việc nhữngngười cộng sản kết nạp những đảng viên mới vào đảng, không phải

là để cho những đảng viên này lợi dụng địa vị của một đảng đangchấp chính để được hưởng những lợi lộc nào đó, mà để họ nêu lênnhững tấm gương lao động thật sự cộng sản chủ nghĩa, tức là laođộng không công [76, tr.428-429]

Ba là, Đảng đề cao trách nhiệm cá nhân của người lãnh đạo

Là người đề xướng và kiên định thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ,nhưng V.I Lênin đặc biệt chú trọng vấn đề trách nhiệm cá nhân của người lãnhđạo và phê phán nghiêm khắc tình trạng trách nhiệm chung chung Người phêphán: “Đáng lẽ phải chịu trách nhiệm về công việc của mình…, với ý thức rằngchính mình là người chịu trách nhiệm, thì người ta lại nấp sau các ban Đếnthánh cũng không biết đâu mà lần trong các ban đó, không thể nào mà tìm rađược người chịu trách nhiệm cả; mọi cái đều rối tung và cuối cùng người tađưa ra một nghị quyết trong đó tất cả mọi người đều chịu trách nhiệm” [81,tr.138] Rốt cuộc theo V.I Lênin - “điều quan trọng nhất là phải đạt bằng đượcviệc cá nhân chịu trách nhiệm” [82, tr.399]

Trong tác phẩm Về công đoàn, về tình hình trước mắt và về những sai

lầm của đồng chí Tơ-rốt-xki viết ngày 30-12-1920, V.I Lênin khẳng định:

Một người lãnh đạo chính trị không những phải chịu trách nhiệm vềcách mình lãnh đạo, mà còn phải chịu trách nhiệm về hành động củanhững người dưới quyền mình nữa Đôi khi người lãnh đạo khôngbiết những hành động đó, thường là không muốn cho những hànhđộng đó xảy ra, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm về những hànhđộng đó [78, tr.269]

Trang 36

Theo V.I Lênin, cán bộ lãnh đạo đảng không phải không có trách nhiệmtrước những hạn chế, sai lầm của cơ quan nhà nước: “Cần phải nhớ rằng mộtngười lãnh đạo chính trị không những phải chịu trách nhiệm về chính sách củachính mình, mà còn phải chịu trách nhiệm về hành động của những người dướiquyền mình nữa” [78, tr.273]

Trong bản sơ thảo lần đầu bài “Những nhiệm vụ trước mắt của chính

quyền Xô viết” viết tháng 3-1918, V.I Lênin đề xuất: “muốn tránh được cái

tình trạng hiện nay khiến chúng ta rất khổ tâm là người lãnh đạo nhiều nhưngkhông có ai chịu trách nhiệm, thì chúng ta phải biết thật rõ ràng xem, đối vớimỗi chức vụ, thì cụ thể những ai đã được bầu lên giữ chức vụ lãnh đạo và phảichịu trách nhiệm về sự hoạt động của toàn bộ bộ máy kinh tế” [73, tr.193-194]

Bốn là, đảng cộng sản phải công khai nhận sai lầm, khuyết điểm của mình trước nhân dân

Theo V.I Lênin, một trong những trách nhiệm của Đảng trước nhân dân

là Đảng phải dũng cảm, công khai nhận sai lầm, khuyết điểm của mình Hầunhư trong phần lớn trường hợp, những nhà chính trị, khi đã thấy rằng đường lốicủa mình là sai lầm, đều tìm hết cách để che đậy, giấu giếm sự chuyển hướngcủa họ, để “bịa ra” những lý do ít nhiều chẳng ăn nhập gì với vấn đề cả, Công khai và thành thực thú nhận sai lầm chính trị của mình, bản thân việc đó

đã là một hành vi chính trị lớn rồi… Thành thực thừa nhận một sai lầm chínhtrị là hết sức có lợi về mặt chính trị cho nhiều người, nếu đó là sai lầm chungcủa toàn bộ những đảng trước kia có ảnh hưởng đối với quần chúng [74,tr.224-225]

Trong tác phẩm Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản,

V.I Lênin khẳng định rõ: “Thái độ của một chính đảng trước những sai lầmcủa mình là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất và chắc chắn nhất để

xét xem đảng ấy có nghiêm túc không và có thực sự làm tròn nghĩa vụ của mình đối với giai cấp mình và đối với quần chúng lao động không Công khai

thừa nhận sai lầm, tìm ra nguyên nhân sai lầm, phân tích hoàn cảnh đã đẻ ra sailầm, nghiên cứu cẩn thận những biện pháp để sửa chữa sai lầm ấy, đó là dấu

Trang 37

hiệu chứng tỏ một đảng nghiêm túc, đó là đảng làm tròn nghĩa vụ của mình”[77, tr.51] Không nên che giấu sai lầm, trái lại Đảng tuyên bố công khai làĐảng đã phạm sai lầm có nghĩa là từ nay về sau Đảng chúng ta sẽ không táiphạm những sai lầm tương tự nữa Đảng cũng không ngại phải thừa nhận cácthất bại của mình, vì điều đó sẽ cung cấp cho Đảng những bài học bổ ích:

“Hôm nay chúng ta sẽ không bao giờ học được cách giải quyết những nhiệm

vụ của mình bằng những phương pháp mới, nếu như kinh nghiệm ngày hômqua đã không mở mắt cho chúng ta thấy những sai lầm của những phương phápcũ” [80, tr.255]; “không nên sợ phải thừa nhận những thất bại, mà ngược lạimới đúng; chỉ khi nào chúng ta không sợ thừa nhận những thất bại và nhữngthiếu sót của mình, chỉ khi nào chúng ta nhìn thẳng vào sự thật, dù là sự thậtđáng buồn đi nữa, chỉ khi đó chúng ta mới học được cách chiến thắng” [80,tr.376]

Vấn đề phức tạp nhất là trách nhiệm pháp lý của đảng viên khi có saiphạm Chính V.I Lênin đã đưa ra câu trả lời: “Tòa án phải trừng phạt các đảng

viên cộng sản một cách nghiêm khắc hơn là đối với những người không phải là

đảng viên cộng sản Nếu không chấp hành chỉ thị này, các thẩm phán nhân dân

và các ủy viên ban lãnh đạo Bộ dân ủy tư pháp sẽ bị đuổi ra khỏi cơ quan làm

việc [81, tr.64] Thậm chí, V.I Lênin còn thể hiện rõ thái độ: “Thật quá ư nhục

nhã và kỳ quái: một đảng cầm quyền lại bảo vệ những tên vô lại “của mình””[81, tr.65]

2.1.2 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về trách nhiệm trước nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với những quyết định của mình

Một là, Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân vì Đảng là của dân tộc

Quan điểm của Hồ Chí Minh về ĐCSVN là Đảng của giai cấp côngnhân, đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam vừa khẳng định bản chất giaicấp công nhân của Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa thể hiện được nétđặc thù của Đảng ta - một Đảng ra đời từ phong trào công nhân và phong tràoyêu nước của dân tộc ở một nước thuộc địa nửa phong kiến Ngay từ khi mới

Trang 38

ra đời, ĐCSVN đã gắn bó mật thiết với nhân dân lao động và dân tộc, hòamình cùng dân tộc, gắn bó với sứ mệnh của dân tộc; kết hợp giữa giai cấp vàdân tộc, dân tộc với thời đại, giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩaquốc tế vô sản

Hai là, Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân vì toàn bộ quyền lực là của nhân dân, Nhà nước là của nhân dân

Những tư tưởng của Hồ Chí Minh về trách nhiệm của Đảng đối vớinhững quyết định của mình xuất phát từ nguyên tắc toàn bộ quyền lực là củanhân dân, thuộc về nhân dân, thể hiện tập trung ở nhiều nội dung quan trọng

Trước hết, toàn bộ quyền lực là của nhân dân; sức mạnh, lực lượng là ở nơi

dân; sự nghiệp cách mạng thành công hay thất bại cũng là do dân; trọng dân,học dân, lấy trí và lực của dân để lo cho dân; lo dân sinh, dân trí, dân quyền, locho dân tộc độc lập, đất nước hùng cường là sự nghiệp, trách nhiệm của Đảng,

Nhà nước và nhân dân Thứ hai, trách nhiệm của Đảng và Nhà nước được thực

hiện bằng một đội ngũ cán bộ có đức, có tài, trong đó đức là gốc; đó là nhữngcông bộc của dân, tận tâm tận lực phục vụ nhân dân, việc gì có lợi cho dân phải

ra sức làm, việc gì có hại cho nhân dân phải ra sức tránh; nhân dân không tin,

không dùng thì phải từ chức Thứ ba, thẩm quyền của Đảng là thẩm quyền của

“người chèo lái con thuyền cách mạng”, còn thẩm quyền của Nhà nước lànhững việc cụ thể mà Nhà nước phải làm để phục vụ nhân dân, để thực hiện

thẩm quyền của Đảng cầm quyền, theo định hướng của Đảng Thứ tư, trách

nhiệm của Đảng và Nhà nước phải trên cơ sở một nền pháp trị dân chủ, làmcho pháp luật bảo hộ hiệu quả quyền con người, thực hiện quyền tự do dân chủcủa công dân; thực hiện một đảng, một nhà nước hợp hiến, hợp pháp, vừachăm lo xây dựng và hoàn thiện pháp luật theo đường lối của Đảng, vừa làmcho mọi việc đảng, mọi việc nhà nước đều phải tuân thủ luật pháp

Nhân dân - theo quan niệm của Hồ Chí Minh - là toàn thể nhân dân ViệtNam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo HồChí Minh cho rằng: “Trong bầu trời không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kếtcủa nhân dân” [105, tr.453]

Trang 39

Hồ Chí Minh quan niệm: nhân dân là nguồn gốc của quyền lực Chính từquan niệm ấy mà trong Hiến pháp đầu tiên của nước ta (Hiến pháp năm 1946)

do Chủ tịch Hồ Chí Minh đích thân soạn thảo đã khẳng định: Tất cả quyền bínhtrong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gáitrai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo [100, tr.6] Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa

tư tưởng “dân là gốc” trong truyền thống ở Việt Nam và những tư tưởng hiệnđại về dân chủ, đặc biệt là kế thừa về dân chủ của chủ nghĩa Mác - Lênin Kếthừa tư tường của các nhà sáng lập CNXH khoa học, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãchỉ rõ: “Nước ta là một nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ”[104, tr.258] Giải thích rõ nước ta là nước dân chủ, Hồ Chí Minh đã viết:

… Nước ta là nước dân chủ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân

Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra

Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân [101, tr.232]

Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngay khi rađời là nhà nước dân chủ kiểu mới - nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vìnhân dân Nhà nước của dân - theo Hồ Chí Minh - nghĩa là: tất cả quyền bínhđều thuộc về nhân dân, những vấn đề quan hệ vận mệnh quốc gia do nhân dânphán quyết, nhân dân phải là người thực hiện quyền lực, hoặc trực tiếp, hoặcgián tiếp thông qua các đại biểu của mình Nhân dân bầu ra người đại diện chomình và có quyền bãi miễn nếu họ không còn xứng đáng Theo Người, để nhândân thực hiện được quyền lực của mình thì Nhà nước ta phải phải phát triểnquyền dân chủ sinh hoạt chính trị toàn diện, làm cho mọi công dân Việt Namthực sự tham gia vào công việc của Nhà nước

Nội dung quan trọng của NNPQ là khẳng định cội nguồn quyền lực nhànước là ở nhân dân, trong đó nhà nước là của nhân dân, chứ không phải nhân

Trang 40

dân là của Nhà nước Trong bài nói chuyện với các đại biểu thân sĩ, trí thức,phú hào tỉnh Thanh Hóa ngày 20-02-1947, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chính phủCộng hòa dân chủ là gì? Là đầy tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đếnlàng, Dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ… Nếu Chính phủ làm hại đếndân thì dân có quyền đuổi Chính phủ” [100, tr.74-75] Đó là cách diễn đạt ngắngọn, đơn giản, nhưng đẩy đủ quan điểm “quyền lực nhà nước thuộc về nhândân”

Ba là, Đảng phải chịu trách nhiệm toàn diện, đến cùng trước nhân dân

Trách nhiệm của Đảng trước nhân dân - theo Hồ Chí Minh - trước hết vàcao cả nhất là Đảng lãnh đạo cuộc cách mạng của nhân dân đi tới thắng lợigiành lại được độc lập cho Tổ quốc, quyền làm chủ, tự do, ấm no, hạnh phúccủa nhân dân Sau khi lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền, Đảng cótrách nhiệm lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc xây dựng xã hội mớiXHCN Trong công cuộc kiến thiết đất nước, Đảng có trách nhiệm trước nhândân từ việc lớn đến việc nhỏ, từ việc đề ra đường lối đúng, tổ chức nhân dântiến hành các phong trào hành động cách mạng đến chăm lo việc ăn ở, đi lại,học hành, thậm chí đến cả chuyện tương, cà, mắm, muối của nhân dân

Bốn là, Đảng phải nghiêm khắc nhận và sửa chữa khuyết điểm của mình

Đặc biệt, Đảng phải nhận trách nhiệm trước nhân dân về những khuyếtđiểm của mình Người nghiêm khắc nhắc nhở: “Một Đảng mà giấu giếmkhuyết điểm của mình là một Đảng hỏng Một Đảng có gan thừa nhận khuyếtđiểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, rồi tìmmọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn,chắc chắn, chân chính” [100, tr.301] Muốn tránh được khuyết điểm, quantrọng nhất là phải nghiêm túc, tự giác thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phêbình: “Người cách mạng và đoàn thể cách mạng cần phê bình và tự phê bìnhthiết tha như người ta cần không khí” [102, tr.114]; “nếu không kiên quyết sửachữa khuyết điểm của ta, cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dámuống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh” [100, tr.273].Với cương vị là người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Người nêu gương: “Tôilàm điều xấu, các đồng chí trông thấy, phải phê bình cho tôi sửa chữa ngay

Ngày đăng: 11/05/2021, 17:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2012), Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07- 62012 về trách nhiệm nêu gương của đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07-62012 về trách nhiệm nêu gương của đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạochủ chốt các cấp
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 2012
3. Ban Tuyên giáo Trung ương (2011), Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo phục vụ nghiêncứu các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2011
4. Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo phục vụ nghiêncứu các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2016
5. Bộ Chính trị (2017), Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15-11-2017 về xử lý đảng viên vi phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15-11-2017 về xử lý đảng viên vi phạm
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2017
6. Bộ Chính trị (2018), Quy định 07-QĐi/TW ngày 28-8-2018 về xử lý tổ chứcđảng viên vi phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định 07-QĐi/TW ngày 28-8-2018 về xử lý tổchức "đảng viên vi phạm
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2018
7. Ban Dân vận Trung ương - Nguyễn Thế Trung (Chủ biên) (2014), Tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăngcường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Ban Dân vận Trung ương - Nguyễn Thế Trung (Chủ biên)
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2014
8. Hoàng Chí Bảo (2013), “Truyền thống và giá trị của Đảng nhìn từ mối quan hệgiữa Đảng với Nhân dân”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống và giá trị của Đảng nhìn từ mốiquan hệ giữa Đảng với Nhân dân”, Tạp chí" Lịch sử Đảng
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2013
9. Hoàng Chí Bảo (2014), “Nghị quyết 25 khóa XI và vấn đề tăng cường mối quan hệgắn bó máu thịt Đảng - Dân hiện nay”, Tạp chí Dân vận, (1+2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 25 khóa XI và vấn đề tăng cường mốiquan hệ gắn bó máu thịt Đảng - Dân hiện nay”, Tạp chí" Dân vận
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2014
10. Ôn Gia Bảo (2007), “Một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn Trung Quốc hiện nay”, Tạp chí Thông tin những vấn đề lý luận, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thônTrung Quốc hiện nay”, Tạp chí "Thông tin những vấn đề lý luận
Tác giả: Ôn Gia Bảo
Năm: 2007
12. Nguyễn Đăng Dung, Trịnh Quốc Toản và Đặng Minh Tuấn (đồng chủ biên) (2016), Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam năm 2013
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Trịnh Quốc Toản và Đặng Minh Tuấn (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
14. Đảng Cộng sản Việt Nam - Ban Chấp hành Trung ương - Ban Chỉ đạo tổng kết (2015), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016), lưu hành nội bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30năm đổi mới (1986 - 2016)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam - Ban Chấp hành Trung ương - Ban Chỉ đạo tổng kết
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2015
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NxbSự thật
Năm: 1991
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NxbSự thật
Năm: 1996
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2)Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2001
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w