1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

GIÁO TRÌNH NGUYÊN LÝ BẢO HIỂM

186 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 186
Dung lượng 2,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là một sự kiện quan trọng trong lịch sử của Lloyd’s không phải vì lý do bảo hiểm thời gian này không ai bảo hiểm cho tài sản cá nhân - personal effects- nhưng do ông Branby đã quảng c

Trang 1

GIÁO TRÌNH 01

BIÊN SOẠN: NGUYỄN NAM CƯỜNG

PHIÊN BẢN 03 CÓ SỬA ĐỔI VÀ BỔ SUNG (THIRD EDITION) - 2016

Trang 2

CHƯƠNG I

LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI

I LỊCH SỬ BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

1 NHỮNG PHƯƠNG PHÁP BẢO HIỂM SƠ KHAI (EARLY METHODS)

Ý niệm về bảo hiểm đã phát sinh từ lâu trong cuộc sống lao động của con người Những phương pháp bảo hiểm đầu tiên là xây dựng quỹ bảo hiểm tự nguyện chung Năm 4.500 TCN tại Hạ Ai cập, những người thợ đẽo đá đã biết hình thành quỹ tương hỗ để giúp nhau những khi chẳng may có ai bị tai nạn trong quá trình lao động

Phương pháp chuyển giao hoặc phân phối rủi ro được thực hiện bởi thương nhân Trung Quốc

và Babylon Năm 3000 TCN tại Trung quốc các lái buôn đã biết phân chia hàng ra nhiều thuyền thay vì tập trung vào một thuyền để giảm tổn thất Năm 2250 TCN tại Babylon các nhà buôn đã thuê những người chuyên chở bằng lạc đà (gọi là Darmathe) vận chuyển hàng hoá với điều kiện không xảy ra tổn thất gì thì được chia nửa tiền lãi, còn để tổn thất phải đền bù

Babylon đã phát triển một hệ thống mà được ghi nhận trong Bộ luật nổi tiếng của Hammurabi,

1750 TCN và được thực hiện bởi các thương gia đầu thuyền Địa Trung Hải Nếu một thương gia nhận được khoản vay để tài trợ cho lô hàng của mình, anh sẽ phải trả cho người cho vay một số tiền thêm để đổi lấy bảo lãnh của bên cho vay để hủy bỏ khoản vay trên các lô hàng bị đánh cắp hoặc bị mất trên biển

Năm 916 TCN tại Rhodes, Hoàng đế xứ này để bảo vệ các thương gia đã ban hành luật quy định

về “tổn thất chung” Luật này cho phép nhóm thương nhân có hàng hóa hy sinh tổn thất chung được nhận lại một số tiền từ nhóm thương nhân có tài sản được cứu vãn Phí bảo hiểm thu thập sẽ được sử dụng để hoàn trả bất kỳ thương gia có hàng hoá bị vứt bỏ để cứu chuyến hành trình do nguy cơ của bão hoặc mắc cạn của tàu

Tại Athens cổ "cho vay hàng hải " ứng trước tiền cho chuyến đi với điều kiện việc trả nợ bị hủy

bỏ nếu tàu đã bị đắm Trong thế kỷ 4 TCN, giá cho các khoản vay khác nhau theo thời gian an toàn hay nguy hiểm của năm, có nghĩa là việc định giá vay theo rủi ro với một hiệu ứng tương

tự như bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm riêng biệt (hợp đồng bảo hiểm không đi kèm với các khoản vay hoặc các loại hợp đồng khác) được phát hành ở Genoa (Ý) trong thế kỷ 14, cũng như hiệp hội bảo hiểm được hỗ trợ bởi việc thế chấp bất động sản Ngày hợp đồng bảo hiểm được biết đến đầu tiên

từ Genoa (Ý) ngày 23/10/1347 Bảo hiểm hàng hải phát triển rộng rãi trong những thế kỷ tiếp theo và phí bảo hiểm được tính trên cơ sở rủi ro Những hợp đồng bảo hiểm mới cho phép bảo hiểm được tách ra khỏi đầu tư, đã chứng minh tính hữu ích của bảo hiểm hàng hải

Trang 3

Quốc Vương Achaemenian Ba Tư cổ đại đã được dâng các lễ vật hàng năm từ các nhóm dân tộc khác nhau dưới sự kiểm soát của ông Đây như là hình thức đầu tiên của bảo hiểm chính trị, và chính thức bị ràng buộc quốc vương Ba Tư để các nhóm được bảo vệ khỏi nguy hiểm

2 BẢO HIỂM HIỆN ĐẠI (MODERN INSURANCE)

Bảo hiểm tài sản như chúng ta biết ngày nay có thể được truy nguồn từ đại hỏa hoạn ở

London, năm 1666 phá hũy hơn 13.000 ngôi nhà Những tác động tàn phá của ngọn lửa chuyển đổi quan niệm của con người về bảo hiểm từ coi hoạt động bảo hiểm chỉ là vấn đề thuận tiện trở thành vấm đề cấp bách Năm 1681, nhà kinh tế Nicholas Barbon và mười một công ty liên kết thành lập công ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên, "Văn phòng bảo hiểm nhà" Ban đầu, 5.000

hộ gia đình được bảo hiểm tại Văn phòng bảo hiểm này Các chương trình bảo hiểm đầu tiên cho hoạt động kinh doanh cũng bắt đầu triển khai

Các công ty bảo hiểm đầu tiên tại Hoa Kỳ khai thác bảo hiểm cháy, được thành lập vào Charles Town, South Carolina năm 1732

Vào cuối thế kỷ XVII, London trở thành một trung tâm thương mại quan trọng dẫn đến nhu cầu bảo hiểm hàng hải ngày càng tăng Trong những năm cuối thập niên 1680, Edward Lloyd mở một quán cà phê, và trở thành nơi gặp gỡ cho giữa các bên trong ngành công nghiệp vận

chuyển có nhu cầu bảo hiểm hàng hoá, tàu Từ những ngày khởi đầu không chính thức tại đây dẫn đến việc thành lập thị trường bảo hiểm Lloyd's of London

Lloyd’s không phải là một công ty bảo hiểm Về bản chất Lloyd’s là một tòa nhà quần tụ số lớn các nhà khai thác bảo hiểm (underwriters), mỗi người tự nhận phần dịch vụ của riêng mình và thay mặt cho nhóm bạn bè đóng góp tiền cùng thành lập Nghiệp đoàn (Syndicate)

Tìm hiểu Lịch sử Lloyd’s là rất quan trong để thấy được toàn cảnh bảo hiểm, tái bảo hiểm quốc

tế

Ngày 18 tháng 03 năm 1668, ông Edward Bransby bị mất cắp 5 đồng hồ có giá trị tại Derby Đó

là một sự kiện quan trọng trong lịch sử của Lloyd’s không phải vì lý do bảo hiểm (thời gian này không ai bảo hiểm cho tài sản cá nhân - personal effects-) nhưng do ông Branby đã quảng cáo trên báo “London Gazette” rằng: “Bất cứ người nào chỉ ra được những chiếc đồng hồ đó cho ông Edward Lloyd’s ở quán cà phê tại Tower Streeet sẽ được thưởng tiền” Đây là sự kiển đầu tiên ghi lại sự thành lập của Lloyd’s London

Trong những năm của thế kỹ 17, bảo hiểm tàu, hàng thường được đảm bảo bởi các thương nhân (merchants), họ nhận rủi ro cho chuyến hành trình bằng trao đổi tiền Các thương nhân này thường gặp nhau ở các quán rượu, cà phê ở London với mọi thương vụ Trong các thương

vụ đó có vấn đề bảo hiểm Trong số các quán cà phê dọc theo sông Thames có quán của Edward Lloyd nơi gặp gỡ của chủ tàu, thương nhân bàn về thương vụ trên biển (overseas trade)

Edwasd Lloyd khuyến khích các thương nhân và các nhà bảo hiểm (underwriters) thương thảo với nhau Ông thường cung cấp tin tức về tàu, hàng và năm 1696 ra bản tin với tiêu đề là

“LLOYD’s NEWS” Bản tin này được thay thế bằng “LLOYD’s LIST”, đó là tờ báo London cổ xưa, sau khi ông chết vài năm

Trang 4

Trạng thái của Lloyd’s hiện nay bắt nguồn từ đạo luật quốc hội 1871, sau đó có một vài sửa đối,

bổ sung phù hợp với công nghiệp bảo hiểm hiện đại và nhu cầu của thị trường Từ 1968 Lloyd’s hoạt động trong một cơ ngơi mới và hiện đại ở trung tâm London

Ngày nay Lloyd’s có hơn 25,000 thành viên (Names) nằm trong khoảng 350 nghiệp đoàn

(Syndicates), Các nghiệp đoàn bổ nhiệm các đại lý (đại lý khai thác bảo hiểm) Các đại lý tuyển chọn những khai thác bảo hiểm chuyên nghiệp (Professional underwriters) để thay mặt mình khai thác bảo hiểm

Tổng doanh thu hàng năm của Lloyd’s vào khoảng 5.5 tỷ pounds

Các thành viên (Names) không phải là người bảo hiểm, họ đến từ nhiều lĩnh vực khác nahu như: các chuyên gia, doanh nhân, giới quý tộc (Aristocracy), v v… Họ chịu trách nhiệm cá nhân đến

số vốn góp về công việc của mình nhân danh Syndicate

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đầu tiên được đưa ra vào những năm đầu thế kỷ 18 Công ty đầu tiên cung cấp bảo hiểm nhân thọ là Hiệp hội thân thiện cho một văn phòng bảo hiểm suốt đời, (Amicable Society for a Perpetual Assurance Office) được thành lập tại London vào năm 1706 bởi William Talbot và Sir Thomas Allen

Trong những năm cuối thế kỷ 19, "bảo hiểm tai nạn" bắt đầu được triển khai Hoạt động giống như bảo hiểm thương tật hiện đại Các công ty đầu tiên cung cấp bảo hiểm tai nạn là Công ty bảo hiểm hành khách đường sắt (Railway Passengers Assurance Company), được thành lập vào năm 1848 tại Anh để làm giảm thiểu sự gia tăng số trường hợp tử vong trên hệ thống đường sắt mới ra đời

Vào cuối thế kỷ 19, các chính phủ đã bắt đầu chương trình bảo hiểm quốc gia phòng chống bệnh tật và tuổi già đầu tiên Đức xây dựng trên một truyền thống của các chương trình phúc lợi ở Phổ và Saxony bắt đầu sớm nhất là vào những năm 1840 Trong những năm 1880 tướng Otto von Bismarck giới thiệu lương hưu tuổi già, bảo hiểm tai nạn và chăm sóc y tế được hình thành trên cơ sở nhà nước phúc lợi Đức Chính phủ tự do Anh, với pháp luật pháp luật thông thoáng hơn đã đưa ra Đạo luật Bảo hiểm Quốc gia năm 1911 Đạo luật này, này đã cho tầng lớp lao động Anh hệ thống đóng góp đầu tiên của bảo hiểm chống lại bệnh tật và thất nghiệp Hệ thống này được mở rộng đáng kể sau chiến tranh thế giới thứ hai dưới ảnh hưởng của các Báo cáo Beveridge, để hình thành nhà nước phúc lợi hiện đại đầu tiên

Dựa theo en.wikipedia.org/wiki/History_of_insurance

Trang 5

3 LỊCH SỬ TÁI BẢO HIỂM (HISTORY OF REINSURANCE)

Hợp đồng tái bảo hiểm đầu tiên được ký cho bảo hiểm hàng hải vào năm 1370 Nhưng tái bảo hiểm được cho là thành văn bản pháp luật (Legal texts) không trực tiếp vào năm 1681 thông qua sắc lệnh (Ordinances) của vua Louis XIV và trực tiếp vào năm 1746 Luật pháp Anh quốc ngăn cấm tái bảo hiểm hàng hải trừ khi công ty bảo hiểm mất khả năng thanh toán (Insolvent), phá sản (Bankrupt), hoặc chết (Died) Sự cấm đoán này kéo dài đến năm 1864

Nghiệp vụ bảo hiểm cháy cũng không có tái bảo hiểm đến năm 1778 Hợp đồng tái bảo hiểm đầu tiên được ký cho nghiệp vụ này vào cuối năm 1821 giữa công ty La Nationale Cie

D’assurances Contre L’incendie de Paris và Compagnie des Proprietaires Reunis de Bruxelles Loại tái bảo hiểm đầu tiên được thực hiện trên cơ sở tùy chọn (a facultative basic) Đến thế kỷ

19 với sự phát triển nhanh chóng của thương mại và công nghiệp, ngành bảo hiểm phát triển mạnh đòi hỏi nhiều biện pháp bảo đảm linh hoạt và hiệu quả hơn Nó thúc đẩy cho loại hợp đồng tái bảo hiểm tự động/bắt buộc ra đời, một phương thức bảo hiểm không thể thiếu nhằm đảm nhận mọi hoạt động thực tế

Từ đây các công ty bảo hiểm thực hiện trực tiếp việc khai thác bảo hiểm và tái bảo hiểm Nhu cầu bảo hiểm tăng trưởng thúc đẩy sự cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm đưa đến sự hình thành của các công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp (Professional companies) Công ty tái bảo hiểm Cologne được thành lập 1852 là một trong những công ty tái chuyên nghiệp lâu đời Công ty tái bảo hiểm đầu tiên của Thụy sĩ là Swiss Reinsurance Company thành lập năm 1863 Munich Reinsurance company ra đời năm 1880 Do vai trò đặc biệt của Lloyd’s nên việc hình thành ra đời các công ty tái ở Anh chậm hơn, mãi đến năm 1907 công ty tái bảo hiểm

Mercantile & General mới được thành lập

Các công ty tái, nhận thấy rằng họ khó có thể tạo sự cân bằng nghiệp vụ nếu không triển khai rộng khắp dịch vụ và họ đã cố gắng mỡ rộng quan hệ của họ đến nhiều nước trên thế giới Quá trình phát triển của tái bảo hiểm đến ngày nay tăng trưởng theo nhịp tăng trưởng của thị trường bảo hiểm trực tiếp

Đầu thế kỷ 19 cả thế giới chỉ có 30 công ty bảo hiểm (Anh: 14, USA: 5, Đức: 3, Đan mạch: 3, Pháp: 2, Úc: 1, Tây ban nha: 1, Cuba: 1) Năm 1850 tăng lên 306 công ty bảo hiểm trên 14 nước

và năm 1900 là 1,272 công ty trên 26 nước Năm 1910 là 2,540 công ty trên 29 nước và ngày nay là trên 10,000 công ty trên hơn 100 nước với khoảng 2,600 đại lý bảo hiểm nước ngoài Tính theo tỷ lệ thì 41% thuộc nước Mỹ, 39% thuộc châu Âu, 7% thuộc châu Mỹ Latinh, 6% thuộc châu Á, 4% thuộc Úc và 3% thuộc châu Phi

Quá trình phát triển của tái bảo hiểm còn do sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, kỹ thuật dẫn đến sự tích tụ những rủi ro tiềm năng mà các công ty bảo hiểm không thể đảm đương được

Sự trao đổi (Reciprocity cession) giữa công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho các rủi ro Tuy nhiên kết quả phối hợp này cũng có những hạn chế Do vậy sau đại chiến II và nhất là thời gian gần đây, một số công ty bảo hiểm cũng như tái bảo hiểm

Trang 6

ở trong nước hay những vùng quan trọng gồm các công ty tư nhân và nhà nước thành lập thành các hội bảo hiểm và tái bảo hiểm (Pools)

II LỊCH SỬ BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI VIỆT NAM (COMMERCIAL INSURANCE HISTORY OF VIETNAM)

1 TRƯỚC 30/4/1975

Đầu thế kỷ 20: có các văn phòng, chi nhánh bảo hiểm nước ngoài tại Việt nam như AIG

Từ 1954 - 1975: Miền Nam có 52 công ty bảo hiểm Tổ chức bảo hiểm tương đối hoàn chỉnh, nghiệp vụ bảo hiểm khá phát triển Miền Bắc: năm 1964 thành lập công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) nay là Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam

2 TỪ 1975 - 1994

Sự phát triển của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt)

Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 và sự chấm dứt tình hình độc quyền bảo hiểm

3 TỪ 1994 ĐẾN NAY

Sự ra đời của các công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm ( Xem Danh sách công ty bảo hiểm tr.5 )

Ngày 3/5/2000 Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam được thành lập

1/4/2001 Luật kinh doanh bảo hiểm có hiệu lực

Quá trình hoàn chỉnh luật pháp bảo hiểm (xem phần Pháp luật kinh doanh bảo hiểm)

III DANH SÁCH CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM TẠI VIỆT NAM (TÍNH ĐẾN NĂM 2013)

Đơn vị tính: 1,000,000 VND

Số

T.T DOANH NGHIỆP COMPANIE

NĂM THÀNH LẬP

PHÍ BẢO HIỂM GỐC DIRECT INSUR

PREMIUM

THỊ PHẦN MARKET SHARE

I CÔNG TY BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ NON-LIFE INSURANCE COMPANIES

A TRONG NƯỚC: 17

01 T.CTY Bảo việt Việt nam (BAO VIET) 1964 5,673,151 23.14%

02 T.C.TY Bảo minh (BAO MINH) 1994 2,306,343 9.41%

03 C.TY B.H Petrolimex (PJICO) 1995 1,984,459 8.09%

04 C.TY B.H Dầu khí (PVI) 1996 5,099,968 20.80%

05 C.TY B.H Bưu điện (PTI) 1998 1,478,444 6.03%

Trang 7

06 C.TY B.H Nhà rồng (Bảo long) 1995 432,410 1.76%

07 C.TY B.H Viễn đông (VASS) 2003 339,334 1.38%

09 C.TY BH NHĐT&PTVN (BIC) 2005 792,263 3.23%

12 C.TY BH NH NÔNG NGHIEP(ABIC) 2006 530,849 2.16%

13 C.TYBH Hàng không Việt nam (VNI) 2008 440,797 1.80%

B CÔNG TY CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI: 13

18 C.TY LD Bảo việt-Tokio-marine (BVTM) 1996 286,253 1.17%

20 C.TY LD Sam sung-Vina (SVI) 2002 919,910 3.75%

30 Seoul Guarantee Insurance Co Ha noi

Branch Office (SGI Hà nội)

II CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ - LIFE INSURANCE COMPANIES

A TRONG NƯỚC: 1

B CÔNG TY CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI: 16

Trang 8

III CÔNG TY TÁI BẢO HIỂM 2 CÔNG TY (REINSURANCE COMPANIES)

48 TBH Quốc gia Việt nam (VINARE) 1994 1,450,054

Trang 9

IV DANH SÁCH CÁC VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN CÔNG TY BẢO HIỂM VÀ CÔNG TY MÔI GIỚI BẢO HIỂM NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM (TÍNH ĐẾN NĂM 2014)

SỐ

NĂM THÀNH LẬP

TỌA LẠC

I PHI NHÂN THỌ: 14

01 Aioi Nissay Dowa General Insurance Co ,

03 Hyundai Marine & Fire Insurance Co , Ltd South Korea 1996 HCM city

04 LIG Insurance Co , Ltd South Korea 2001 HCM city

05 Korea Trade Insurance Coporation South Korea 2004 HCM city

06 Nipponkoa Insurance Co , Ltd Japan 2005 HCM city

07 Nipponkoa Insurance Co , Ltd Japan 2006 HCM city

09 Chevalier Insurance Co , Ltd Hong Kong 2006 HCM city

10 Seoul Guarantee Insurance Co South Korea 2007 Hà nội

13 Dongbu Insurance Co., Ltd South Korea 2011 HCM city

II NHÂN THỌ: 8

16 Nan Shan Life Insurance Co , Ltd Taiwan 2005 Hà nội

17 Shin Kong Life Insurance Co , Ltd Taiwan 2006 Hà nội

18 Taiwan Life Insurance Co , Ltd Taiwan 2006 Hà nội

20 Samsung Life Insurance Co , Ltd South Korea 2008 Hà nội

22 Sumitomo Life Insurance Company Japan 2011 Hà nội

III TÁI BẢO HIỂM: 1

23

Asia capital reinsurance groupe pte Ltd Singapore 2012 HCM city

IV MÔI GIỚI BẢO HIỂM: 2

24 Malakut Insurance Brokers CJSC Russia 2006 Hà nội

25 Alexander Leed Risk Services Taiwan 2008 HCM city

GHI CHÚ: Số liệu trích từ “Thị trường bảo hiểm Việt nam 2014” của Bộ Tài chính Việt nam

Trang 10

CHƯƠNG II NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI THEORETICAL ISSUES ON GENERAL COMMERCIAL INSURANCE

I KHÁI NIỆM VỀ BẢO HIỂM (INSURANCE CONCEPTS)

1 ĐỊNH NGHĨA (DEFINITION)

Hiện nay có rất nhiệu định nghĩa của những người, những tổ chức nổi tiếng trên thế giới về bảo hiểm, nhưng hầu hết các định nghĩa này chỉ nêu lên vấn đề bản chất của sự việc, chưa có một định nghĩa nào nêu được đầy đủ nội dung của bảo hiểm thương mại, vì nếu muốn đạt được điều đó sẽ quá dài

Thí dụ một số định nghĩa:

Bảo hiểm có thể được định nghĩa là một công cụ xã hội cung cấp bồi thường tài chính cho những tác động của sự bất hạnh, các thanh toán được thực hiện từ tích lũy đóng góp của tất cả các bên tham gia bảo hiểm - D.S Hansell

Bảo hiểm là hợp đồng mà theo đó một bên, phải trả một số tiền được gọi là phí bảo hiểm

để đổi lấy một rủi ro cá biệt của bên kia và được hứa hẹn sẽ trả cho bên kia hoặc người được chỉ định một số tiền nhất định hoặc có thể xác định được trong một tình huống bất ngờ dự kiến - E.W Patterson

Bảo hiểm là một công cụ phân phối tổn thất cho một số ít trong số đông – Disnadle

2 NỘI DUNG ĐẦY ĐỦ CỦA ĐỊNH NGHĨA BẢO HIỂM (THE FULL TEXT OF THE DEFINITION OF INSURANCE)

(1) Một sự tự nguyện đóng góp một số tiền nhỏ (nộp ngay) vào quỹ chung để hoán chuyển một rủi ro lớn dự định trước có thể xảy ra cho mình trong tương lai

(2) Một sự kết hợp số lớn đối tượng giống nhau để biến tổn thất cá thể khó tiên đoán thành

tổn thất cộng đồng có thể dự đoán được

(3) Sự đóng góp phải công bằng và hợp lý

(4) Phải là một hợp đồng trung thực tối đa

(5) Phải đảm bảo được sự phân tán và giảm thiểu rủi ro

(6) Sự cam kết của người bảo hiểm phải rõ ràng và có đảm bảo

(7) Việc bồi thường / hay trả tiền chủ yếu bằng tiền

(8) Phải phù hợp với luật lệ cộng đồng

Trang 11

3 ĐẶC ĐIỂM CỦA BẢO HIỂM (CHARACTERISTICS OF INSURANCE)

(1) Đây là một hợp đồng bồi thường / trả tiền thiệt hại

(2) Phí bảo hiểm được tính cho Hợp đồng bảo hiểm theo mức độ rủi ro

(3) Việc thanh toán cho người được bảo hiểm theo các điều khoản của thỏa thuận trong

trường hợp tổn thất

(4) Đây là một hợp đồng trung thực tối đa (contract of good faith)

(5) Đây là một hợp đồng cùng có lợi (mutual benefit)

(6) Đây là một hợp đồng tương lai (a future contract) về bồi thường thiệt hại

(7) Đây là một công cụ phân phối tổn thất cho một số ít trong số nhiều

(8) Sự xuất hiện tổn thất phải là tình cờ (must be accidental)

(9) Bảo hiểm phải phù hợp với luật lệ cộng đồng (must be consistent with public policy)

4 BẢO HIỂM HOẠT ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO (HOW INSURANCE WORKS)

Bảo hiểm hoạt động thông qua các bước sau:

(1) Rủi ro được chuyển từ một cá nhân hoặc tổ chức (người được bảo hiểm) cho người bảo hiểm (công ty bảo hiểm)

(2) Công ty bảo hiểm hợp nhất các rủi ro để tính toán tổn thất tiềm năng trong tương lai với một mức độ chính xác cao Các công ty bảo hiểm sử dụng các kỹ thuật dự báo khác nhau, tùy thuộc vào sự phân bố tổn thất

(3) Dự đoán rủi ro của công ty bảo hiểm càng cao khi số lượng rủi ro tập hợp càng lớn theo quy luật số đông

(4) Công ty bảo hiểm kết hợp rủi ro trên nguyên tắc những rủi ro tương tự (similar risks) để có

(Reinsurance) và / hoặc đưa vào các hội bảo hiểm (Pool of Insurance)

(7) Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, công ty bảo hiểm tổ chức giám định, làm công tác giảm thiểu tổn thất, bảo vệ thân chủ trước tòa và bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo quy định hợp đồng

II BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG VÀ LỢI ÍCH CỦA BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI (NATURE, FUNCTION

AND BENEFITS OF COMMERCIAL INSURANCE)

1 SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI (THE ESSENTIAL OBJECTIVE OF COMMERCIAL INSURANCE)

Trang 12

Rủi ro và tổn thất là một sự thực khách quan không thể nào triệt tiêu hết Bảo hiểm là một trong những biện pháp quan trọng, hữu hiệu bảo vệ về mặt tài chính trước những hiểm họa có thể xảy ra và góp phần làm giảm thiểu, ngăn ngừa tổn thất

Bảo hiểm thương mại là biện pháp quan trọng để hoán chuyển rủi ro và góp phần giảm thiểu rủi

ro nhằm ổn định sản xuất và đời sống xã hội

Bảo hiểm thương mại là phương pháp duy nhất đảm bảo được mục tiêu tiết kiệm trong mọi tình huống

2 BẢN CHẤT CỦA BẢO HIỂM (NATURE OF INSURANCE)

(1) Chia sẻ rủi ro (Sharing of Risks)

(2) Phương thức cùng hợp tác (Co-operative)

(3) Định giá rủi ro (Valuation of Risk)

(4) Bồi thường được thực hiện trên cơ sở sự việc bất ngờ (Payment made on contingency) (5) Bổi thường, trả tiền chủ yếu bằng tiền (Amount of Payment)

(6) Số lượng người tham gia bảo hiểm phải đủ lớn (Large Number of Insured Persons)

(7) Bảo hiểm không phải là cờ bạc (Insurance is not gambling)

(8) Bảo hiểm không phải là hoạt động từ thiện (Insurance is not charity)

3 CHỨC NĂNG CỦA BẢO HIỂM (FUNCTIONS OF INSURANCE)

3.1 Chức năng chính: Cung cấp sự bảo vệ (Providing Protection)

Mục đích cơ bản của bảo hiểm là cung cấp sự đảm bảo chống lại rủi ro, tai nạn và sự không chắc chắn trong tương lai Bảo hiểm không thể ngăn chặn các rủi ro đang diễn ra, nhưng nó chắc chắn có thể cung cấp bồi thường các rủi ro phát sinh Bảo hiểm là một đảm bảo thiết thực chống lại thiệt hại kinh tế, đời sống bằng cách cộng đồng và chia sẻ rủi ro

Các biện pháp bảo vệ của bảo hiểm là:

(1) Phân bổ rủi ro (Risk Allocation)

Công ty bảo hiểm thiết lập một mức phí tỷ lệ thuận với mức độ rủi ro của từng người tham gia bảo hiểm, từng loại hình bảo hiểm

(2) Hoán chuyển rủi ro (Shifting risk / Risk transfer)

Đây là biện pháp chính của bảo hiểm thương mại Người được bảo hiểm chịu một tổn thất nhỏ nhất định dưới hình thức phí bảo hiểm để được người bảo hiểm đảm bảo cho một tổn thất lớn

có thể xảy ra cho hệ thống qua một hợp đồng bảo hiểm Hoán chuyển rủi ro là biến từ trạng thái lo sợ rủi ro sang trạng thái ít lo sợ hơn và an tâm

(3) Bảo vệ (Protection)

1- Là sự bảo đảm bằng tiền của người bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm trong phạm vi rủi ro bảo hiểm liệt kê tại địa điểm và thời điểm thoả thuận

Trang 13

2- Đối với tài sản, việc bảo vệ là sự bồi hoàn lại một tài sản khác tương tự

3- Đối với con người, bảo vệ là sự chi trả bằng tiền giúp người bị nạn phục hồi sức khoẻ

và/hoặc để an ủi người tàn phế

4- Bảo vệ còn là những chi phí bào chữa bất kỳ khiếu kiện nào chống lại người được bảo hiểm đối với những tổn thất thuộc trách nhiệm của hợp đồng bảo hiểm bao gồm:

a) Chi phí trả cho luật sư do người bảo hiểm chỉ định;

b) Tất cả các lệ phí, chi phí và phí tổn phát sinh từ việc điều tra, chỉnh lý, bào chữa và phúc thẩm một khiếu nại, nếu được người bảo hiểm chấp nhận; hoặc

c) Chi phí trả cho luật sư do người được bảo hiểm chỉ định với sự đồng ý bằng văn bản của người bảo hiểm;

d) Chi phí đề phòng hoặc ngăn ngừa tổn thất; hoặc

e) Chi phí giảm thiểu, giảm bớt hay hạn chế tổn thất

Sự bảo vệ được thực hiện trên cơ sở tập hợp hoặc đa dạng hóa rủi ro (Risk Pooling or

Diversification) dựa trên luật số đông (Law of Large Numbers)

(4) Bồi thường (Indemnity)

Bồi thường là sự bảo vệ hoặc đảm bảo cho thiệt hại hoặc tổn thất phát sinh từ trách nhiệm của hợp đồng bảo hiểm

Bồi thường nhằm phục hồi lại tình trạng tài chính của người được bảo hiểm như ban đầu khi chưa xảy ra tổn thất

Đối với bảo hiểm nhân thọ, tai nạn con người, bồi thường là khoản trả tiền cho người bảo hiểm theo thoả thuận nhằm an ủi, ổn định cuộc sống của người được bảo hiểm

3.2 Chức năng thứ hai: Đề phòng hạn chế tổn thất (Loss Prevention);

Bảo hiểm cảnh báo các cá nhân và doanh nghiệp nắm các phương cách thích hợp để ngăn chặn hậu quả không may của rủi ro thông qua các hướng dẫn an toàn Bảo hiểm thực hiện công tác

đề phòng hạn chế tổn thất qua cả ba giai đoạn: Xét nhận bảo hiểm, theo dõi thực hiện hợp đồng và khi giải quyết sự cố rủi ro

(1) Trước khi nhận bảo hiểm:

 Điều tra rủi ro;

 Áp dụng những hạn chế,…

 Xác định mức phí phù hợp với rủi ro

(2) Trong thời gian hợp đồng có hiệu lực:

 Kiểm tra rủi ro, kiểm soát quy trình quản lý rủi ro;

 Hội thảo;

Trang 14

 Trao đổi thông tin;

Phần lớn con người lo sợ trược rủi ro Chính sự lo sợ này ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống

và kết quả lao động Người ta không giám sáng tao cái mới vì nhiều rủi ro Bảo hiểm tạo sự yên tâm cho các chủ doanh nghiệp khi kinh doanh, tạo sự yên tâm cho những người chủ gia đình

và tạo sự yên tâm cho quan hệ kinh doanh, quan hệ xã hội

(2) Công cụ tiết kiệm và đầu tư (Saving and Investment Tool)

Ngoài chức năng bảo vệ và đề phòng hạn chế tổn thất, bảo hiểm còn là công cụ huy động tiết kiểm hữu hiệu Phí bảo hiểm được trả ngay khi hợp đồng vừa kết lập tạo một quỹ nhàn rỗi cho đầu tư của các công ty bảo hiểm Tiền lãi đầu tư sẽ được dùng để giảm phí cho người tham gia bảo hiểm Người tham gia bảo hiểm không cần phải để dành một số tiền lớn để phòng chống những rủi ro lớn có thể xảy ra cho mình Người tham gia bảo hiểm nhân thọ không phải nộp thuế thu nhập đối với khoản tiền thu về từ công ty bảo hiểm

Đối với công ty bảo hiểm, nguồn vốn nhàn rỗi từ các quỹ dự phòng được sử dụng như sau:

Nguồn vốn đầu tư:

 Vốn điều lệ;

 Quỹ dự trữ bắt buộc;

 Quỹ dự trữ tự nguyện;

 Lãi chưa sử dụng;

 Vốn nhàn rỗi từ các quỹ dự phòng nghiệp vụ

Các khoản được đầu tư:

 Mua trái phiếu chính phủ, doanh nghiệp có bảo lãnh, gửi tiền tại các tổ chức tín dụng: Không hạn chế

 Mua cổ phiếu, trái phiếu các doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào doanh nghiệp ( 35% vốn nhàn rỗi dự phòng nghiệp vụ)

 Kinh doanh bất động sản, cho vay, uỷ thác đầu tư ( 20%)

Trang 15

4 VAI TRÒ VÀ LỢI ÍCH CỦA BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI (ROLE AND BENEFITS OF INSURANCE)

4.1 Góp phần ổn định đời sống và hoạt động kinh tế

Rủi ro phát sinh ngoài khả năng của con người và luôn luôn tồn tại Bảo hiểm thương mại là biện pháp hữu hiệu nhất để hoán chuyển rủi ro và phân tán rủi ro, góp phần ổn định đời sống

và hoạt động kinh tế

 Đưa ra những quy định an toàn trong vận hành xe cơ giới, trong lao động đối với những người tham gia bảo hiểm;

 Đề xuất các biện pháp an toàn cho khách hàng tuân thủ;

 Đưa ra các khuyến cáo và những phân tích sự cố tai nạn chung cũng như những trường hợp điển hình để khách hàng rút kinh nghiệm;

 Bồi thường kịp thời, đầy đủ chi phí phục hồi tổn thất cho các đối tượng được bảo hiểm

 Áp dụng chế tài hoặc từ chối bồi thường nếu khách hàng không thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng

4.2 Động lực đẩy mạnh phát triển kinh tế và hoạt động xã hội

Tạo niềm tin cho các nhà đầu tư Tạo niềm tin cho các hoạt động xã hội Tạo sự tin tưởng lẫn nhau trong quan hệ giao dịch kinh doanh và hoạt động xã hội Hầu hết các nước trên thế giới đều quy định: Hoạt động hàng không, tàu biển phải có bảo hiểm về trách nhiệm và hành khách thì mới được vào các cảng của của các nước đó Chủ xe cơ giới phải có bảo hiểm trách nhiệm

xe cơ giới mới được phép lưu hành trên công lộ Người vay tiền có thế chấp phải bảo hiểm vật thế chấp mới được vay

Các doanh nghiệp nhỏ khó hoạt động nếu phải dành ra một số tiền khá lớn để phòng chống rủi

ro Thông qua bảo hiểm, họ chỉ cần nộp một số tiền nhỏ cho công ty bảo hiểm đã có thể yên tâm cho hoạt động kinh doanh của mình vì rủi ro đã có công ty bảo hiểm đảm bảo Hơn nữa ngân hàng chỉ sẵn sàng cho vay khi các doanh nghiệp có bảo hiểm về trách nhiệm, tài sản của mình Một người chủ gia đình nếu có bảo hiểm sinh mạng, đở lo cho gia đình nếu chẳng may minh bị tai nạn

Bảo hiểm nâng cao sự tư do của con người trong mọi hoạt động bằng cách chuyển đổi những hiểm họa tiềm năng (potential catastrophes) khó quản lý thành những rủi ro có thể kiểm soát được (manageable risks) Ví dụ, Bảo hiểm cho phép công nghệ và sản phẩm mới được thử nghiệm mà không sợ thất bại dẫn đến phá sản

4.3 Góp phần cho luật pháp thực hiện có hiệu quả

Thay mặt người được bảo hiểm bồi thường cho người bị hại về trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm để thục hiện các quyết định của tòa Hỗ trợ khách hàng trong tranh tụng trước tòa bằng các luật sư của công ty hay thuê ngoài Góp phần phổ biến kiến thức pháp luật và đóng góp vào việc bổ sung, sửa đổi pháp luật cho phù hợp với thực tế xã hội

Trang 16

4.4 Góp phần làm giảm thiểu rủi ro

Kiểm soát tổn thất thông qua thống kê tổn thất Công tác đề phòng hạn chế tổn thất Phí bảo hiểm được tính trên cơ sở mức độ rủi ro (gồm tầng số rủi ro và mức độ nghiêm trong của rủi ro) Rủi ro càng lớn thì phí bảo hiểm càng cao Công ty bảo hiểm thường cung cấp những biện pháp giảm rủi ro để khách hàng nhận được mức phí hạ giảm Đối với bảo hiểm hỏa hoạn: Việc ngăn cách thành nhiều đơn vị rủi ro, tách rời những đơn vị rủi ro cao như xăng dầu khỏi những rủi ro thấp, trang bị đầy đủ phương tiện phòng cháy chữa cháy và có phương án phòng cháy, chữa cháy sẽ được giảm phí bảo hiểm Ví dụ, Có hệ thống Springkler giảm tối đa 35% phí, Có hệ thống phun nước bằng tay giảm tối đa 10%, tự động giảm tối đa 20%

Mức phí sẽ được giảm, hoặc khách hàng được thưởng khi không để xảy ra tổn thất hoặc tổn thất ít trong nhiều năm Chính những biện pháp trên làm tăng ý thức và trách nhiệm của người bảo hiểm trong giảm thiểu rủi ro

Mặt khác, bảo hiểm sẽ có trách nhiệm với cá nhân và tổ chức tham gia bảo hiểm phục hồi những tổn thất đã xảy ra làm giảm nhẹ tác hại của rủi ro

Bảo hiểm cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc cảnh báo xã hội về những thay đổi tự nhiên của rủi ro như bão tố, lụt lội, ô nhiễm môi trường ngày càng tăng, thông qua tăng phí bảo hiểm và thu hẹp điều khoản bảo hiểm Đây là những tín hiệu khiến cho chinh phủ, xã hội phải quan tâm để tìm biện pháp khắc phục

4.5 Kênh huy động tiết kiệm quan trọng phục vụ cho phát triển sản xuất

Bảo hiểm là kênh huy động vốn linh động và hiệu quả Bảo hiểm nhân thọ với sản phẩm dài hạn (thời gian bảo hiểm 5, 10 năm hoặc suốt đời) có một số vốn dài hạn để đầu tư vào sản xuất Bảo hiểm phi nhân thọ có các quỹ dự phòng nghiệp vụ dùng cho đầu tư trung và ngắn hạn Do đó bảo hiểm có chức năng đầu tư được luật pháp quy định

4.6 Tạo việc làm

Ngành công nghiệp bảo hiểm là một yếu tố quan trọng trong lực lượng lao động địa phương Ngoài các nhân viên cần tuyển chọn, bảo hiểm (nhất là bảo hiểm nhân thọ) có một hệ thống đại

lý rất lớn phủ khắp cả nước

5 GIÁ TRỊ XÃ HỘI CỦA BẢO HIỂM (THE SOCIAL VALUE OF INSURANCE)

Bảo hiểm cung cấp năm lợi ích chiến lược cho xã hội

5.1 Nâng mức tự do của con người (Enhancing Freedom)

Bảo hiểm nâng cao mức độ tự do của con người trước hiểm họa thiên nhiên và đời sống bằng cách chuyển đổi các thảm họa tiềm năng (potential catastrophes) thành rủi ro có thể kiểm soát được (manageable risks) Nhờ đó con người sẳn sàng chấp nhận rủi ro để có sáng tạo mới Đó là nguồn gốc của tất cả các tiến bộ kinh tế, xã hội ngày nay

Trang 17

5.2 Tạo an ninh (Creating security)

Tội phạm là một gánh nặng rất lớn đối với xã hội cũng như đối với người được bảo hiểm Bảo hiểm luôn đồng hành chặt chẽ với cảnh sát điều tra và qua việc giải quyết bồi thường cho khách hàng của mình, góp phần nghiên cứu cách phòng chống tội phạm

Bảo hiểm kết hợp chặt chẽ với cảnh sát phòng cháy chữa cháy trong công tác phòng cháy chữa cháy Qua công tác kiểm tra, tư vấn và giải quyết bồi thường cho khách hàng, bảo hiểm đã góp phần an toàn cho sản xuất

Đối với sự an toàn trong lao động, thực tế ngành bảo hiểm trên thế giới đã đi đầu trong việc nghiên cứu cải thiện sự an toàn của mọi người tại nơi làm việc và các thiết bị mà họ sử dụng, khuyến khích cải tiến liên tục trong máy móc, thiết bị bảo vệ và phương pháp sản xuất sạch

5.3 Làm cho sức khỏe tốt hơn (Better Health)

Thông qua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm đóng góp cho chiến lược phát triển sức khỏe quốc gia thông qua sự nhấn mạnh vào phục hồi chức năng, hỗ trợ khu vực y tế tư nhân và đầu tư bổ sung trong chăm sóc y tế

5.4 Gia tăng sự thịnh vượng (Increasing prosperity)

Bảo hiểm phá vỡ rào cảng đối với các doanh nghiệp bằng cách cung cấp sự an toàn cho doanh nhân thông qua: (1) Bảo hiểm sinh mạng cho các chủ doanh nghiệp (2) Bảo hiểm cho các hoạt động kinh doanh mạo hiểm, nghiên cứu sản phẩm mới v v (3) Bảo hiểm trách nhiệm cho các doanh nghiệp trong hoạt động của họ

5.5 Tính linh hoạt (Flexibility)

Ở các nước phát triển, bảo hiểm cung cấp rất nhiều dịch vụ đảm bảo cho đời sống con người kể

cả bảo hiểm hưu trí Khi người dân có bảo hiểm, họ ít phụ thuộc vào các doanh nghiệp và chính phủ Đối với các doanh nghiệp, nếu không có bảo hiểm trách nhiệm và phúc lợi cho người công nhân thì người lao động có thể gặp khó khăn khi doanh nghiệp phá sản hoặc không lợi nhuận Đối với chính phủ, nếu tất cả các quỹ phúc lợi đều do chính phủ quản lý thì việc giải quyết quyền lợi cho người lao động sẽ kém linh hoạt và khi xảy ra xung đột quyền lợi, khó kiện chính phủ Trái lại, dịch vụ bảo hiểm sẽ linh hoạt hơn bởi có nhiểu sản phẩm phù hợp với mọi đối tượng trong xã hội Hơn nữa, trong dịch vụ này người được bảo hiểm có quyền thương lượng

để đạt được một sản phẩm phù hợp và khi có phát sinh xung đột quyền lợi họ dễ dàng khởi kiên công ty bảo hiểm và chính phủ thường có khuynh hướng bảo vệ quyền lợi người dân Một điểm quan trọng nữa là với sự chuyên nghiệp (do chỉ tập trung vào chuyên môn bảo hiểm) chi phí quản lý sẽ thấp cộng với sức ép cạnh tranh, sản phẩm dịch vụ sẽ có giá thành hợp lý và linh hoạt nhất khác với chính phủ với tư thế một mình

III RỦI RO HIỂM HỌA VÀ NGUY CƠ (RISKS PERILS AND HAZARDS)

1 RỦI RO (RISKS)

1.1 Khái niệm về rủi ro (Concept of Risks)

Trang 18

1.1.1 Khái niệm rủi ro chung

Rủi ro là hậu quả của sự không chắc chắn (a consequence of uncertainty) Không chắc chắn có hai kết quả tiềm năng của một sự kiện hoặc tình huống (an event or situation) Sự kiện có thể là

sự kiện tích cực- cơ hội (sự thành công, có lợi nhuận ) và có thể là tiêu cực (tổn thất, tổn hại, mất mát ) Tình huống là hành vi tâm lý như sung sướng, đau buồn, kinh sợ

Sự không chắc chắn như một điều kiện tiên quyết của rủi ro Khái niệm rủi ro không có nghĩa luôn dẫn đến sự kiện tiêu cực là tổn thất Rủi ro cũng có thể là sự kiện tích cực coi như cơ hội

Ví dụ, thành công trong đầu tư vốn mạo hiểm, trong kinh doanh, trong bài bạc

Rủi ro là một hậu quả của sự không chắc chắn Tuy nhiên, rủi ro không đồng nghĩa với sự không chắc chắn Sự không chắc chắn xảy ra ngoài sự kiểm soát của con người nhưng hậu quả rủi ro

có thể được xác định

Ví dụ, Tình huống không chắc chắn: Một lái xe thường uống rượu có thể bị cảnh sát phạt và có thể không (nếu không bị phát hiện) Nhưng hậu quả dẫn đến: Mất sự tôn trọng của bạn bè, giá phí bảo hiểm xe cao hơn và có thể mất việc

Thái độ của chúng ta là phải coi rủi ro là một thành phần được xem xét với mục tiêu chung là tối

đa hóa giá trị của liên kết với rủi ro Nói cách khác, chúng ta tối đa hóa giá trị từ các cơ hội thể hiện qua sự không chắc chắn

1.1.2 Khái niệm rủi ro trong bảo hiểm

Rủi ro là sự không chắc chắn về một tổn thất tiềm năng có thể xảy ra trong tương lai

Như vậy, khái niệm rủi ro trong bảo hiểm chỉ nhấn mạnh đến hậu quả tiêu cực của rủi ro là tổn thất tiềm năng Tuy nhiên không phải bất cứ rủi ro tiêu cực nào cũng là rủi ro có thể được bảo hiểm (Insurable risks) Rủi ro có thể được bảo hiểm phải có các đặc điểm sau:

1.2 Đặc điểm của rủi ro bảo hiểm (features of insurance risks)

Một rủi ro bảo hiểm phải bao gồm các đặc điểm sau:

1.2.1 Tổn thất phải có khả năng xảy ra (Potential loss)

Tổn thất tiềm năng của rủi ro có thể là:

(1) Tài chính (Financial): Tổn thất có thể đo lường bằng tiền (ví dụ: Bị trộm điện thoại di động); (2) Vật chất (Physical): Tử vong hoặc thương tật, tài sản bị phá hũy (dẫn đến tổn thất tài chính như chi phí mai táng, sửa chữa, mất thu nhập );

(3) Cảm xúc (Emotional): Cảm xúc đau buồn, sợ hãi

Ghi chú: Chỉ hai loại rủi ro tài chính và vật chất là rủi ro có thể được bảo hiểm (Insurable risks) 1.2.2 Phải có tính chất không chắc chắn (Uncertainty)

(1) Về hậu quả (Consequence), Dẫn đến những loại tổn thất gì? Ví dụ, Chết người, hư hỏng tài sản, mất thu nhập

(2) Về thời gian (time) Sự cố sẽ xảy ra khi nào?;

Trang 19

(3) Về mức độ tổn thất (Extent of the loss) Tổn thất lớn bao nhiêu và bao gồm những tổn thất gi?

Những rủi ro có thể dự đoán được không thể bảo hiểm như hao mòn (wear and tear), nội tỳ (inherent vice), những tổn thất có sẵn trước đó

1.2.3 Phải có tính chất trong tương lai (Future)

(1) Sự kiện bảo hiểm phải xảy ra sau hiệu lực của hợp đồng;

(2) Sự kiện bảo hiểm phải xảy ra sau thời gian chờ;

(3) Sự kiện bảo hiểm có thể xảy ra trước hiệu lực hợp đồng với điều kiện người được bảo hiểm ngay tình và không biết được rủi ro như thế (chỉ được áp dụng trong một số ít loại hợp đồng bảo hiểm như bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm trách nhiệm theo khiếu nại phát sinh (Claim-made basis) với điều kiện khiếu nại bồi thường phải là khiếu nại lần đầu tiên nhằm chống lại người được bảo hiểm trong thời hiệu bảo hiểm hoặc thời gian mở rộng

1.3 Phân loại rủi ro (Types of risks—risk exposures)

1.3.1 Theo đối tượng rủi ro (Risk subjects)

(1) Rủi ro cá nhân (Personal risks)

Là rủi ro ảnh hưởng trực tiếp đến một cá nhân Ví dụ, rủi ro tử vong sớm, bệnh tật, tàn tật, tai nạn, thất nghiệp, và tuổi già phụ thuộc;

(2) Rủi ro tài sản (Property risks)

Rủi ro tài sản là rủi ro ảnh hưởng đến tài sản Ví dụ, tài sản thiệt hại do hỏa hoạn, lũ lụt, tai nạn

xe cộ Rủi ro tài sản thường bao gồm tổn thất trực tiếp (a direct loss) và tổn thất hậu quả (consequential losses) Tổn thất trực tiếp là tổn thất cho chính tài sản đó như xe bị hư, nhà bị

cháy Tổn thất hậu quả (còn được gọi là tổn thất gián tiếp - indirect loss) là tổn thất tiếp sau tổn

thất trực tiếp như nhà cháy phải thuê nhà khác ở trong thời gian sửa khôi phục lại nhà bị cháy

(3) Rủi ro pháp lý (Legal risks)

Rủi ro pháp lý hay còn gọi là rủi ro trách nhiệm (Liability risks) là rủi ro một cá nhân hoặc tổ chức khi cá nhân hay tổ chức đó bị kiện do hành vi sơ suất (neglect) sai trái (malpractice) hoặc

cố ý (willful) gây thương tích cho người khác hoặc tài sản của người khác Ví dụ, trách nhiệm

của chủ xe cơ giới khi gây tai nạn, trách nhiệm của chủ xí nghiệp đối với người làm công, trách nhiệm của một người gây thiệt hại cho người khác vì hành vi của mình

Trang 20

1.3.2 Theo nguồn gốc phát sinh (Source)

(1) Rủi ro khách quan (Objective risks)

Rủi ro khách quan (hay còn gọi là mức độ rủi to - degree of risk) là tổn thất thực tế cho một mẫu trong một khoảng thời gian nhất định (a sample in a given period), và có thể khác nhau đáng kể so với tổn thất dự kiến của con người Tuy nhiên nếu mẫu càng lớn và thời gian càng dài thì tổn thất kỳ vọng có thể gần đến mức trung bình

(2) Rủi ro chủ quan (Subjective risks)

Rủi ro chủ quan phát xuất từ suy nghĩ cảm nhận của con người về một sự kiện không mong

muốn có thể xảy ra như: hạnh phúc gia đình, nỗi buồn, tương lai, may rủi … Rủi ro chủ quan

còn là những cảm nhận cá nhân về một sự kiện mong muốn hoặc không mong muốn có thể xảy

ra cho mình Sự cảm nhận này không dựa trên sự thống kê sự kiện theo luật số lớn (The law of

large numbers)

(3) So sánh

Rủi ro khách quan là tổn thất thực tế được dự đoán trên cơ sở luật số lớn, còn rủi ro chủ quan

là những cảm nhận cá nhân về những tổn thất có thể xảy ra dựa vào cảm tính

Nhận thức về rủi ro khách quan, con người nắm được mức độ rủi ro (degree of risk) mà mình có thể bị ảnh hưởng và để chống lại rủi ro này họ mua bảo hiểm Trái lại, những người có nhận thức về rủi ro chủ quan thường có hai xu hướng: Đối với những người bi quan, thường lo lắng, thận trọng, không giám đầu tư mạo hiểm, ít sáng kiến Đối với người lạc quan thường mạnh

bạo trong các hành động mạo hiểm như bài bạc, mua sổ số, đầu tư mạo hiểm, lái xe tốc độ cao

Ghi chú: Chỉ có rủi ro khách quan mới có thể được bảo hiểm (Insurable risks)

1.3.3 Theo bản chất (Nature)

(1) Rủi ro cơ bản (Fundamental risks)

Là những rủi ro phát sinh ngoài tầm kiểm soát của con người và kết quả ảnh hưởng đến nhiều người, nhiều đối tượng cùng một lúc, như bão, lụt, động đất, phóng xạ nguyên tử, chiến tranh, khủng bố, thất nghiệp … Rủi ro cơ bản thường dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng mà con người có thể cảm nhận được Khái niệm về rủi ro cơ bản không chỉ là những rủi ro ngoài tầm kiểm soát của con người mà nó còn là những rủi ro có thể gây ra những thiệt hại đến một số lớn đối tượng Ví dụ, hỏa hoạn nói chung là một rủi ro thuần, nhưng nếu rủi ro hỏa hoạn trong

những khu vực có những đối tượng dễ cháy như các kho xăng dầu xây dựng tập trung có thể gây ra tổn thất đồng loạt (tổn thất thảm họa - Catastrophic Loss) với giá trị tổn thất lớn cũng bị liệt vào rủi ro cơ bản Bệnh hoạn là rủi ro riêng biệt nếu chỉ xảy ra cho một người nào đó Nếu

nó là dịch bệnh xảy ra cho nhiều người, nhiều vùng lại là rủi ro cơ bản Rủi ro thất nghiệp là rủi

ro cơ bản vì thường xảy ra ở diện rộng Rủi ro này thường được bảo đảm bởi chính phủ, vì

chính phủ có thể kiểm soát các rủi ro kinh tế thông qua các chính sách cụ thể, chẳng hạn như chính sách tiền tệ, và pháp luật

Trang 21

(2) Rủi ro riêng biệt (Particular risks)

Là những rủi ro thuần (pure risks) phát sinh bất ngờ tạo ra những tổn thất tương đối hạn chế,

và ảnh hưởng đến một cá nhân hay một số lượng nhóm nhỏ người dân Những hậu quả có thể

nghiêm trọng, thậm chí gây tử vong cho những người tham gia, nhưng tương đối cục bộ và

thường liên quan đến hành vi của con người như hỏa hoạn, trộm cắp, tai nạn giao thông,

Ghi chú: Chỉ có rủi ro riêng biệt mới có thể được bảo hiểm Rủi ro cơ bản như bảo lụt có thể

được bảo hiểm khi được xem xét từng trường hợp cụ thể và phải có điều khoản bổ sung giới

hạn mức trách nhiệm bảo hiểm và/hoặc giới hạn bảo hiểm trong một khu vực địa lý cụ thể và

sử dụng tái bảo hiểm

1.3.4 Theo quan điểm kinh tế

(1) Rủi ro đầu cơ (Speculative risks)

Rủi ro đầu cơ là những rủi ro dẫn đến lời hoặc lỗ như rủi ro quản lý, rủi ro thị trường, đầu tư

chứng khoán, rủi ro cờ bạc, Đây là loại rủi ro cung cấp cơ hội kiếm lời hoặc lỗ Ngoài ra, rủi

ro đầu cơ thường là những rủi ro có tần số tổn thất lớn hơn rủi ro thuần vì động cơ kiếm lời

(2) Rủi ro thuần (Pure risks)

Rủi ro thuần là những rủi ro thể hiện tiềm năng chỉ có tổn thất (có thể xảy ra tổn thất hoặc

không) nhưng không đưa đến khả năng kiếm lời Hậu quả có thể bất lợi cho người được bảo

hiểm hoặc đưa người được bảo hiểm trở lại trạng thái ban đầu Rủi ro do tai nạn giao thông,

hỏa hoạn, tai nạn lao động, là những rủi ro thuần không có yếu tố thu lợi qua tai nạn Rủi ro

thuần có thể được phân loại như tai nạn cá nhân, tài sản, hoặc rủi ro pháp lý

Ghi chú:

Chỉ rủi ro thuần mới có thể bảo hiểm được Rủi ro trong kinh doanh có thể được bảo hiểm chỉ

trong trường hợp mất thu nhập do hậu quả hư hại tài sản, ngừng sản xuất nhưng phải có

bảo hiểm tài sản là điều kiện tiên quyết cho bảo hiểm mất thu nhập

Rủi ro đầu cơ không được bảo hiểm cho nên đối với những rủi ro xấu như cờ bạc nên tránh Tuy

nhiên cũng có những rủi ro đầu cơ cần được khuyến khích như đầu tư mạo hiểm, đầu tư vào thị

trường chứng khoán, có thể đem lại lợi nhuận, tạo ra sản phẩm mới, tạo việc làm, tăng thuế…

Đối với những rủi ro này người ta có các biện pháp đảm bảo khác

(3) Các ví dụ về rủi ro thuần và rủi ro đầu cơ

RỦI RO THUẦN CHỈ CÓ TỔN THẤT HOẶC KHÔNG

RỦI RO ĐẦU CƠ

CÓ THỂ THU LỢI HOẶC TỔN THẤT

Rủi ro thiệt hại vật lý liên quan đến tài sản (ở

cấp độ doanh nghiệp) như do hỏa hoạn, lũ lụt,

thiệt hại thời tiết

Rủi ro thị trường: rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro chứng khoán

Trang 22

Rủi ro trách nhiệm (chẳng hạn như trách nhiệm

sản phẩm, trách nhiệm tài sản, trách nhiệm

người lao động)

Rủi ro về danh tiếng (Reputational risk)

Rủi ro đổi mới hay lạc hậu kỹ thuật Rủi ro thương hiệu (Brand risk)

Rủi ro hoạt động: Sai lầm trong quá trình, quy

trình dẫn đến tổn thất

Rủi ro tín dụng (ở cấp độ doanh nghiệp

cá nhân) Rủi ro tử vong và nguy cơ mắc bệnh (ở mức độ

cá nhân)

Rủi ro thành công sản phẩm (Product success risk)

Rủi ro vi phạm sở hữu trí tuệ (Intellectual

property violation risks)

Rủi ro quan hệ công chúng (Public relation risk)

Rủi ro môi trường: nước, không khí, hóa chất

độc hại, ô nhiễm khác; cạn kiệt tài nguyên;

Thay đổi dân số (Population changes)

Thiệt hại thiên tai: lũ lụt, động đất, gió bão Rủi ro thị trường

Rủi ro xét nghiệm ro kỹ thuật di truyền Rủi ro đầu tư

Rủi ro nghiên cứu và phát triển

HÌNH 01 RỦI RO THUẦN VÀ RỦI RO ĐẦU CƠ

1.3.5 Theo sự tích tụ rủi ro

(1) Rủi ro có thể đa dạng hóa (Diversifiable risks)

Rủi ro có thể đa dạng hóa là những rủi ro có thể có những hậu quả bất lợi được đơn giản giảm nhẹ bằng việc có một danh mục đa dạng hóa tốt các rủi ro Những rủi ro này độc lập và không ảnh hưởng lẫn nhau trong một sự cố Ví dụ, những ngôi nhà xây cách nhau bằng một đơn vị rủi

ro quy định không thể ảnh hưởng lẫn nhau khi có hỏa hoạn Hoặc bạn có thể xây tường ngăn lửa giữa các ngôi nhà gần nhau Những nhà máy trên những vùng ít động đất hoặc bão tố nên không gây ra tổn thất thảm họa

Đa dạng hóa là cốt lõi của lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại về tài chính và bảo hiểm Khi xét nhận bảo hiểm, người bảo hiểm chú ý đến rủi ro có thể đa dạng hóa được không

(2) Rủi ro không thể đa dạng hóa (Nondiversifiable risks)

Rủi ro không thể đa dạng hóa là những rủi ro không thể phân tán thành những rủi ro độc lập hoặc luôn làm ảnh hưởng đến nhiều người, nhiều tổ chức, doanh nghiệp và thường dẫn đến tổn thất thảm họa Ví dụ, rủi ro chiến tranh, rủi ro tài sản trên những khu vực núi lửa, động đất, hoặc rủi ro mất giá đồng tiền mạnh như đôla là rủi ro hệ thống cho tất cả các doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu Những rủi ro không thể đa dạng hóa nếu không thể hạn chế được mức độ tổn thất thì không bảo hiểm được

Rủi ro có thể đa dạng hóa là những rủi ro mang phong cách riêng (Idiosyncratic Risk) Tổn thất

nếu có xảy ra chỉ ảnh hưởng cho cá nhân đó Ví dụ, Rủi ro về mất danh tiếng của một công ty

Trang 23

nào đó chỉ ảnh hưởng đến chính công ty đó thôi Trái lại rủi ro không thể đa dạng hóa là rủi ro

có tính chất hệ thống (Systemic Risk) có ảnh hưởng lan rộng Ví dụ, rủi ro của cư dân trong

vùng thường xuyên có động đất hay bão tố Mặt khác, cùng một loại rủi ro nhưng ở cấp độ khác

nhau lại được coi như loại rủi ro khác nhau Ví dụ, rủi ro tín dụng của riêng một doanh nghiệp

được coi là rủi ro có thể đa dạng hóa, nhưng nếu rủi ro tín dụng ở cấp thị trường thì đó là rủi ro

không thể đa dạng hóa

(3) Các ví dụ về Rủi ro có thể đa dạng hóa và không thể đa dạng hóa

RỦI RO CÓ THỂ ĐA DẠNG HÓA -

RỦI RO MANG PHONG CÁCH RIÊNG

RỦI RO KHÔNG THỂ ĐA DẠNG HÓA RỦI RO HỆ THỐNG (SYSTEMIC RISK)

Rủi ro về danh tiếng (Reputational risk) Rủi ro thị trường (Market risk)

Rủi ro thương hiệu (Brand risk) Rủi ro thị trường (Market risk)

Rủi ro tín dụng (ở cấp độ doanh nghiệp cá nhân) Rủi ro môi trường (Environmental risk)

Rủi ro sản phẩm (Product risk) Rủi ro chính trị (Political risk)

Rủi ro pháp lý (Legal risk) Rủi ro Lạm phát và suy thoái kinh tế

Rủi ro thiệt hại vật chất (Physical damage risk) Rủi ro kế toán (Accounting risk)

Rủi ro trách nhiệm (Liability risk ) Rủi ro tuổi thọ ở cấp xã hội (Longevity risk

at the societal level) Rủi ro đổi mới hoặc lạc hậu kỹ thuật

(Innovational or technical obsolesce risk)

Rủi ro tử vong và nguy cơ mắc bệnh ở mức

độ xã hội và toàn cầu (Mortality and morbidity risk at the societal and global level)

Rủi ro Tuổi thọ ở cấp độ cá nhân (Longevity risk

at the individual level)

Rủi ro tử vong và nguy cơ mắc bệnh ở mức độ cá

nhân (Mortality and morbidity risk at the

individual level)

HÌNH 02 RỦI RO CÓ THỂ ĐA DẠNG HÓA VÀ KHÔNG THỂ ĐA DẠNG HÓA

1.3.6 Rủi ro của doanh nghiệp (Enterprise risk)

Rùi ro doanh nghiệp là tập hợp của tất cả các rủi ro ảnh hưởng đến một doanh nghiệp kinh

doanh Rủi ro doanh nghiệp bao gồm rủi ro thuần có thể bảo hiểm và rủi ro đầu cơ khó bảo

hiểm Rủi ro có thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp thường được chia thành rủi ro chiến lược, rủi

ro hoạt động và rủi ro tài chính

(1) Rủi ro chiến lược (Strategic risk)

Rủi ro chiến lược là tổn thất có thể xảy ra từ chiến lược không hợp lý của doanh nghiệp Ví dụ,

doanh nghiệp xây dựng chiến lược tạo ra một sản phẩm mới cạnh tranh nhưng không phù hợp

yêu cầu thị trường nên thất bại

Trang 24

(2) Rủi ro hoạt động (Operational risks)

Đây là những rủi ro có thể phát sinh trong quá trình kinh doanh như tai nạn cho công nhân, cháy nổ, tai nạn xe cơ gới Phần lớn các rủi ro trong hoạt động là những rủi ro thuần có thể được bảo hiểm

(3) Rủi ro tài chính (Financial risks)

Đây là những rủi ro về đầu tư của doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể thua lỗ vì chính sách đầu

tư vốn sai lầm của mình

Kết luận: Rủi ro của một doanh nghiệp bao gồm rủi ro thuần có thể bảo hiểm, rủi ro cơ bản, khó

bảo hiểm và rủi ro đầu cơ không thể bảo hiểm Trong đó, rủi ro đầu cơ lại là rủi ro chủ yếu của doanh nghiệp vì một doanh nghiệp muốn vượt trên các đối thủ cạnh tranh phải dám mạo hiểm,

có sáng tạo, hướng vào cái mới Đây là những hành động có tính chất đầu cơ cần thiết Để đảm bảo an toàn cho hoạt động của mình doanh nghiệp ngoài việc tham gia bảo hiểm, đều thành lập Phòng quản lý rủi ro để giảm thiểu rủi ro của doanh nghiệp bằng các phương thức khác

1.3.7 Rủi ro có thể bảo hiểm (Insurable Risks)

Dịch vụ bảo hiểm là hoạt động kinh doanh có tính đến lợi nhuận Dịch cụ này không phải là trò chơi may rủi hoặc có lãi rất lớn hoặc lỗ như cờ bạc Do đó bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm đối với những rủi ro có thể bảo hiểm như:

(1) Rủi ro khách quan (Objective risks) Rủi ro bất ngờ, thực tế và có thể dự đoán được trên

cơ sơ luật số lớn

(2) Rủi ro riêng biệt (Particular risks) Rủi ro chỉ có thể gây tổn thất cho một nhóm người hoặc

một địa điểm hạn chế

(3) Rủi ro thuần (Pure risks) Rủi ro có thể gây tổn thất hay không tổn thất nhưng không có

khả năng kiếm lời cho người được bảo hiểm

(4) Rủi ro có thể đa dạng hóa (Diversifiable risks) Rủi ro có thể đa dạng thành những đơn vị

rủi ro riêng biệt khi tổn thất xảy ra không ảnh hưởng lẫn nhau

RỦI RO CÓ THỂ ĐƯỢC BẢO HIỂM (INSURABLE RISKS)

KHÁCH QUAN CHỦ QUAN CƠ BẢN RIÊNG BIỆT ĐẦU CƠ THUẦN ĐA DẠNG KHÔNG ĐA DẠNG

HÌNH 03 RỦI RO CÓ THỂ ĐƯỢC BẢO HIỂM

Ghi chú: Ký hiệu: X rủi ro có thể được bảo hiểm; O rủi ro loại trừ

Theo nguyên tắc chung, rủi ro loại trừ là rủi ro không được tự động đưa vào hợp đồng bảo hiểm Tuy nhiên trong số này có những rủi ro có thể nhận bảo hiểm tùy vào hoàn cảnh môi trường cụ thể, đối tượng bảo hiểm với những cam kết, hạn chế nhất định

Trang 25

1.4 Thái độ của con người đối với rủi ro (Attitude of people toward risks)

1.4.1 Những người sợ rủi ro, muốn được an toàn

Hầu hết mọi người đều sợ rủi ro (rủi ro gây tác hại), mong muốn cuộc sống được yên bình, đầu

óc thảnh thơi không phải lo nghĩ về những rủi ro luôn rình rập Đối với những người này, họ cố gắng sống một cách chuẩn mực, tránh xa những phiền toái và sẵng sàng trả tiền cho những dịch

vụ đảm bảo cho cuộc sống an toàn của họ

1.4.2 Những người thích đương đầu với rủi ro để tìm cơ hội

Trái lại, có một số người lại thích đương đầu với rủi ro để tìm cơ hội may mắn cho mình Họ hăng hái tham gia vào chứng khoán, mua sổ số, đánh bạc với hy vọng sẽ thu về một số tiền lời lớn cho tương lai Một số khác thích tham gia vào các trò chơi, hoạt động mạo hiểm Đối với những hạng người này, cần thận trong khi xét nhận bảo hiểm

1.4.3 Những người trung tính với rủi ro (Risk neutral individuals)

Đây là những người nẳm giữa hai loại trên Những loại người này, không quan tâm đến rủi ro và cũng không trả tiền để tham gia vào những hoạt động nguy hiểm Đối với họ, tiền là tiền Họ không phải trả cho bảo hiểm, cũng không đánh bạc

Đối với bảo hiểm, những người sẵn lòng trả đúng phí bảo hiểm quy định (do phí bảo hiểm thường cao hơn tổn thất dự kiến do công thêm chi phí quản lý và lãi) là người lo lắng về rủi ro Những người chỉ chịu trả với mức thấp hơn mức phí trung bình có thể là loại trung tính Và những người chỉ chịu trả với mức thấp hơn tổn thất trung bình là người muốn đương đầu với rủi ro

1.5 Mức độ rủi ro, tần số và mức độ nghiêm trọng (Level of risk , frequency and severity)

1.5.1 Mức độ rủi ro

Là khả năng nguy cơ xảy ra rủi ro cho một đối tượng cụ thể nào đó Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá rủi ro khi xét nhận bảo hiểm

1.5.2 Tần số và Mức độ nghiêm trọng (Frequency and Severity)

Tần số và mức độ nghiêm trọng của rủi ro có mối quan hệ với nhau Thường những rủi ro

MỨC ĐỘ NGHIÊM TRỌNG

Trang 26

HÌNH 04 TẦN SỐ VÀ MỨC ĐỘ NGHIÊM TRỌNG

1.6 Sự khác nhau giữa bảo hiểm và cá cược (Differences between insurance and wager)

 Hợp đồng bồi thường

 Mục đích bù đắp tổn thất

 Phải có quyền lợi có thể bảo hiểm

 Trung thực tối đa được yêu cầu

 Có hiệu lực pháp luật

 Tính toán khoa học về rủi ro và phí bảo

hiểm

 Có nguyên nhân và mức độ khác nhau

về tổn thất hoặc thiệt hại

 Không có vấn đề bồi thường

 Mục đích kiếm được lợi nhuận, đầu cơ

 Không cần có quyền lợi có thể bảo hiểm

 Không cần trung thực tối đa

 Không được luật pháp chấp nhận

 Chỉ là cờ bạc

 Hoặc thắng hoặc thua

HÌNH 05 SỰ KHÁC NHAU GIỮA BẢO HIỂM VÀ CÁ CƯỢC

2 HIỂM HỌA VÀ NGUY CƠ (PERILS AND HAZARDS)

2.1 Hiểm họa

(1) Định nghĩa

Hiểm họa là những nguy hiểm lớn (great dangers) có thể xảy ra, là khả năng tổn thất, tổn hại liên quan đến rủi ro Nếu rủi ro là khả năng của tổn thất thì hiểm họa là nguyên nhân trực tiếp của tổn thất

Hiểm họa được chia thành loại do thiên nhiên và loại do con người tạo ra Thông thường hiểm họa nằm ngoài tầm kiểm soát của những người liên quan

Tam giác Heinrich cho thấy cứ một vụ thương tích nghiệm trọng xảy ra thì có 30 vụ thương tích ít nghiễm trọng hơn và 300 vụ tai nạn không gây thương tich Kết quả này rút ra từ thông kê thực tế tai nan Nó cho biết rằng tai nạn nhỏ thường nhiều hơn tai nạn nghiệm trong nhiều lần

300

30

1 THƯƠNG TÍCH NGHIÊM TRỌNG

THƯƠNG TÍCH NGHIÊM ÍT TRỌNG TAI NẠN KHÔNG GÂY THƯƠNG TÍCH TAM GIÁC HEINRICH

Trang 27

Ghi chú: Chỉ hiểm họa phát sinh trong hoạt động con người không tạo ra những tổn thất lớn,

tổn thất hệ thống là có thể bảo hiểm Đối với hiểm họa thiên nhiên phải tùy từng trường hợp cụ thể công ty bảo hiểm có nhận bảo hiểm hay không và với những điều khoản hạn chế thích hợp

và mức phí nào được áp dụng

(3) Các loại hiểm họa có thể bảo hiểm

CÓ THỂ BẢO HIỂM KHÓ BẢO HIỂM CÓ THỂ BẢO HIỂM KHÓ BẢO HIỂM

Gió bão (Windstorm) Lũ (Flood) Mất cắp Chiến tranh

Băng giá Lửa và khói

Thương mại điện tử

HÌNH 06 CÁC LOẠI HIỂM HỌA CÓ THỂ BẢO HIỂM

2.2 Nguy cơ (Hazard)

Nguy cơ có thể do thiên nhiên nhưng chủ yếu thường do con người tạo ra

Trang 28

(3) Các kiểu nguy cơ (Modes of a hazard)

Nguy cơ có thể được phân loại thành ba kiểu:

1- Không hoạt động (Dormant)

Đây là nhũng nguy cơ tiềm năng (a potential hazard) nhưng không có đối tượng để gây hại như người, tai sản hoặc môi trường Ví dụ, Một thân cây mục có thể gãy đổ bất cứ lúc nào nhưng không có người, tài sản ở gần đó

2- Vũ trang (Armed)

Người, tài sản, môi trường đang trong tình huống nguy hiểm tiềm năng

3- Chủ động (Active)

Sự cố có hại liên quan đến nguy cơ đã thực sự xảy ra Ví dụ bão, lụt đang hoành hành

(3) Các loại nguy cơ (Types of hazards)

1- Nguy cơ vật thể (Physical hazards)

Là nguy cơ gắn liền với điều kiện hoặc tình huống và môi trường xung quanh làm tăng hoặc giảm tần số và / hoặc mức độ nghiêm trọng của tổn thất Nguy cơ này, có thể do con người hoặc thiên nhiên tạo ra Ví dụ, hệ thống dây điện trong một nhà máy cũ kỹ, tạo ra nguy cơ cao

về cháy nổ Nhà xây bên sông thường lũ lụt làm nguy cơ về lũ lụt tăng Nhưng nếu một ngôi nhà xây ở gần trạm cứu hỏa, đường ra vào thuận tiện sẽ giảm nguy cơ thiệt hại do cháy nổ gây

ra Nguy cơ vật chất còn bao gồm:

 Nguy cơ hóa học (Chemical hazards) Là nguy cơ có thể gây tổn hại hoặc thiệt hại cho cơ thể, tài sản hoặc môi trường Nguy cơ này, có thể do con người hoặc thiên nhiên tạo ra Ví

dụ, nhà máy hóa chất mà kho dự trữ hóa chất không đạt yêu cầu kỹ thuật thì tiềm tàng nguy

cơ cháy nổ

 Nguy cơ sinh học (Biological hazards) Là các tác nhân sinh học có thể gây hại cho con người

Những tác nhân sinh học có thể là virus, ký sinh trùng, vi khuẩn, thực phẩm, nấm, và các độc

tố

2- Nguy cơ vô hình (Intangible Hazards)

Bên cạnh nguy vật thể còn có nguy cơ phi vật thể như: thái độ và điều kiện văn hóa phi vật thể ảnh hưởng đến xác suất và mức độ nghiêm trọng của tổn thất Sự tồn tại của chúng có thể dẫn đến nguy cơ vật thể Nguy cơ này bao gồm:

(i) Nguy cơ tâm lý (Psychological hazards)

Nguy cơ được tạo ra trong quá trình làm việc trong môi trường căng thẳng liên quan stress hoặc môi trường căng thẳng Nguy cơ này cũng có thể xảy ra đối với một người ảnh hưởng của rượu, bệnh tật và thiếu đào tạo

Trang 29

(ii) Nguy cơ đạo đức (Moral hazards)

Nguy cơ đạo đức là trường hợp làm tăng xác suất tổn thất do sự thiếu trung thực của người được bảo hiểm Ví dụ, người được bảo hiểm có thói lừa đảo, không trung thực trong khai báo yêu cầu bảo hiểm và trong tai nạn Nguy cơ này, không thể được quản lý nhưng có thể tránh được bằng cách từ chối bảo hiểm Nguy cơ đạo đức có thể từ người được bảo hiểm như ví dụ trên nhưng cũng có thể từ người bảo hiểm Ví dụ, việc hứa hẹn không đúng sự thật khi chào bán bảo hiểm hay đưa ra những điều khoản có lợi cho người được bảo hiểm như áp dụng điều khoản mới thay cũ cho bất cứ tài sản nào tham gia bảo hiểm, khiến người được bảo hiểm phát sinh ý định tạo tai nạn để nhận được tài sản mới

Nguy cơ đạo đức cũng có thể từ những sai lầm của pháp luật khuyến khích và tạo điều kiện cho người được bảo hiểm kiện công ty bảo hiểm chỉ vì chi phí kiện tụng sẽ ít hơn nhiều so với nếu công ty bảo hiểm phải bồi thường Một ví dụ điển hình là các vụ kiện amiăng (asbestos) đã làm phá sản nhiều công ty, mặc dù rất ít nguyên đơn cho thấy bất kỳ bằng chứng thực sự của bệnh, bởi các bằng chứng đầy đủ, có kết quả từ tiếp xúc với amiăng

(iii) Nguy cơ tinh thần (Morale hazards)

Nếu nguy cơ đạo đức liên quan đến sự trung thực thì nguy cơ tinh thần lại không liên quan đến vấn đề này Nó liên quan tới thái độ của người được bảo hiểm Các trường hợp phổ biến của nguy cơ tinh thần là:

 Thái độ thờ ơ, không thận trọng do đã có bảo hiểm Ví dụ, người hay quên hoặc không quan tâm đến nghĩa vụ bảo vệ tài sản, thân thể vì đã có bảo hiểm

 Những người thường xuyên khiếu nại, khiếu kiện vì họ luôn nghĩ đến việc thu hồi lại số tiền

từ bảo hiểm nhiều hơn những gì họ đã đóng

 Người có tật xấu như hút thuốc hay vứt bừa bãi, đồ đạc trong nhà không ngăn nắp, sạch sẽ, không thận trọng trong đốt nhang cúng bái

Nguy cơ rất nguy hiểm Nếu chúng ta giảm bớt được tác động của chúng sẽ làm giảm chi phí tổng thể Quản lý nguy cơ do đó, có thể là một công cụ quản lý rủi ro hiệu quả cao Luật lệ nhà nước, điều khoản bảo hiểm phải chặt chẽ không tạo cơ hội cho những người có nguy cơ tinh thần có thể lợi dụng để cầu lợi

Hiện nay trên thế giới nhiều chính phủ, công ty nhấn mạnh đến việc quản lý kiểm soát thảm họa thiên nhiên đang ngày càng nghiêm trọng chủ yếu do con người gây ra

IV QUẢN LÝ RỦI RO (RISK MANAGEMENT)

1 KHÁI NIỆM (CONCEPT)

Quản lý rủi ro cung cấp một khuôn khổ để đánh giá các cơ hội để thu lợi nhuận (opportunities for profit), cũng như để đánh giá các mối đe dọa của tổn thất (threats of loss) Nếu không đo lường rủi ro, chúng ta không thể xác định hành động của các lựa chọn thay thế có sẵn của doanh nghiệp nên làm để tối ưu hóa sự cân bằng rủi ro-phần thưởng (the risk-reward tradeoff)

Trang 30

Điều đặc biệt này đúng đối với các công ty bảo hiểm và ngân hàng nơi các cơ hội kinh doanh mà

họ theo đuổi chủ yếu dựa trên tính toán và xét đoán rủi ro

Trong hoạt động ngân hàng và dịch vụ tài chính, quản lý rủi ro là những biện pháp hướng dẫn các hoạt động đầu tư (Investment), chống lại các rủi ro đầu cơ (Speculative risks), khác với biện pháp quản lý rủi ro của bảo hiểm là loại bỏ rủi ro đầu cơ và các rủi ro khác nêu ở trên

Công ty bảo hiểm chỉ tập trung quản lý các rủi ro thuần (Pure risks) Ngoài ra họ còn loại bỏ nhiều rủi ro trong loại rủi ro thuần để trở thành rủi ro có thể được bảo hiểm nêu tại Chương III, Mục I, Tiết 2 bên dưới

2 TẦN SỐ, MỨC ĐỘ NGHIÊM TRỌNG VÀ XÁC SUẤT (FREQUENCY, SEVERITY AND

Ví dụ: Tình hình nghiệp vụ bảo hiểm hỏa hoạn của công ty bảo hiểm X như sau Tính tần số, mức độ rủi ro và xác suất bình quân 3 năm của nghiệp vụ bảo hiểm hỏa hoạn của công ty bảo hiểm X

RỦI RO

SỐ LƯỢNG KHIẾU NẠI

SỐ TIỀN BỒI THƯỜNG

XÁC SUẤT TỔN THẤT

BÌNH QUÂN TỔN THẤT / KHIẾU NẠI

Trang 31

3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO (THE RISK MANAGEMENT MEASURES)

Quản lý rủi ro chủ yếu qua 3 hình thức: (1) Nhận diện (Identify); (2) Đánh giá chất lượng

(Quantify) và (3) đối phó với rủi ro (Deal with risks) Ở đây chúng ta chỉ tập trung biện pháp đối

phó với rủi ro của bảo hiểm

3.1 Biện pháp đối phó với rủi ro của bảo hiểm (Deal with risks)

(1) Tránh rủi ro (Risk avoidance)

Tránh là việc loại bỏ rủi ro Người ta thường từ bỏ những rủi ro mà tần số và mức độ nghiêm

trọng (Frequency and Severity) tổn thất lớn Ví dụ, người ta từ bỏ không xây dựng hoặc không

nhận bảo hiểm công trình thủy điện có thể gây hậu qủa nghiêm trọng cho khí hậu và môi

trường, dân cư ở đó có thể biểu tình chống đối Tránh nguy cơ mắc bệnh hoa liễu có bằng cách không quan hệ tình dục bừa bãi

Tránh rủi ro là biện pháp dễ dàng nhất, tuy nhiên biện pháp này chỉ thích hợp với một số người hoặc trường hợp nhất định Hơn nữa tránh rủi ro có thể làm giảm chất lượng cuộc sống Ví dụ,

vì sợ tai nạn giao thông bạn không sử dụng xe gắn máy sẽ bất tiện cho mọi sinh hoạt của cá nhân Tránh rủi ro không hợp lý có thể ảnh hưởng đến phát triển kinh tế Ví dụ, không dám kinh doanh, không giám đầu tư mạo hiểm hoặc phát triển sản phẩm mới Do đó hành động tránh rủi ro, chấp nhận rủi ro hay chuyển giao rủi ro đó là nghệ thuật của quản lý rủi ro

(2) Chấp nhận rủi ro / tự bảo hiểm / giữ lại rủi ro (Accepting risks / self-insurance / Risk retention )

Chấp nhận rủi ro / tự bảo hiểm / giữ lại rủi ro thường được áp dụng với những rủi ro chỉ có thể xảy ra những tổn thất nhỏ mà một cá nhân, một tổ chức có thể chịu được, không ảnh hưởng đến cuộc sống hay kinh doanh Đó cũng có thể là những rủi ro mà giá phí bảo hiểm quá cao hoặc bảo hiểm không nhận đảm bảo Thông thường rủi ro được giữ lại là rủi ro có tầng số lớn (greater frequency) nhưng mức độ nghiêm trọng thấp (a lower severity) Vì đối với những rủi ro này biện pháp làm giảm thiểu rủi ro có hiệu quả hơn Cần lưu ý là để quyết định mức giữ lại hợp

lý cần có sự dự đoán tổn thất chính xác và lập quỹ dự phòng đầy đủ cho tổn thất

Việc giữ lại rủi ro (Risk retention), là mối quan tâm đặc biệt của các tập đoàn lớn Các tập đoàn này thường thành lập công ty bảo hiểm tử hệ (captives insurance) của mình để thực hiện việc giữ lại rủi ro và họ cũng sẽ tái ra ngoài những rủi ro vượt mức

Để quản lý rủi ro đối với những công ty nhỏ, nhóm giữ lại rủi ro (a risk retention group) được thành lập phục vụ cho một số công ty nhỏ trong cùng ngành do không thể thực hiện riêng cho mình

Bên cạnh việc giữ lại rủi ro một cách chủ động (Active risk retention) trên, còn có loại rủi ro

được giữ lại một cách thụ động (Passive risk retention) Đó là những rủi ro mà người nào đó không biết hoặc vì họ thích mạo hiểm hoặc có biết nhưng họ cho rằng hiểm họa này không đáng kể Ví dụ, điều khiển xe chạy với tốc độ cao là giữ lấy rủi ro nhưng một số người cho rằng

đó là phong độ tuổi trẻ Hút thuốc, uống rượu nhiều là có hại cho sức khỏe nhưng họ cho rằng chẳng ảnh hưởng gì trái lại càng làm cho tinh thần thêm minh mẫn

Trang 32

Ưu điểm:

 Chi phí bảo hiểm sẽ thấp do không phải chi hoa hồng, chi quản lý và lợi nhuận của công ty bảo hiểm;

 Nhờ đầu tư quỹ tự bảo hiểm, NĐBH sẽ giảm bớt chi phí bảo hiểm;

 Không phải tăng thêm phí bảo hiểm do ảnh hưởng kết quả xấu của các NĐBH khác;

 Tăng cường trách nhiệm, không ỷ lại;

 Không phát sinh tranh chấp với công ty bảo hiểm;

 Lợi nhuận thu được từ quỹ sẽ thuộc về NĐBH

Nhược điểm:

 Nếu xảy ra tổn thất thảm họa thì doanh nghiệp có thể bị phá sản;

 Trong trường hợp quản lý rủi ro không tốt có thể dẫn tới lỗ ảnh hưởng đến kinh doanh;

 Có thể phải tổ chức một bộ máy chuyên môn bảo hiểm làm tổ chức công kềnh;

 Năng lực nhân viên bảo hiểm hạn chế do không chuyên và không có trao đổi kinh nghiệm với các công ty bảo hiểm chuyên nghiệp nên sẽ có thể có nhiều sai sót trong giải quyết sự cố tai nạn và tranh chấp với người thứ ba;

 Không áp dụng được nguyên tắc tối ưu của bảo hiểm là phân tán rủi ro do có số đông;

 Nếu giữ quá nhiều rủi to sẽ ảnh hưởng đến hoạt động tự do và làm cho cuộc sống không thoải mái vì luôn trong tình trạng lo lắng

 Đối với hành vi giữ rủi ro bị động, những người này cần phải được đào tạo để hiểu được tác hại của chúng

(3) Giảm thiểu nguy cơ tổn thất (Minimize the chance of loss)

Biện pháp này nhằm hạ thấp tần số và mức độ nghiêm trọng của tổn thất có thể xảy ra Phòng chống tổn thất (Loss prevention) đòi hỏi phải xác định các yếu tố làm tăng khả năng xảy ra tổn thất, sau đó hoặc loại bỏ các yếu tố đó hoặc giảm thiểu ảnh hưởng của nó

Các biện pháp đã được nêu trên phần khái niệm về rủi ro Ví dụ, để giảm thiểu nguy cơ cháy nổ,

xí nghiệp có thể gắn thêm hệ thống phun nước tự động (Sprinkler) hoặc làm tường ngăn lửa Tổ chức đội phòng cháy chữa cháy, có nội quy, phương án phòng cháy chữa cháy

Đây là biện pháp quan trọng đòi hỏi mọi người, mọi tổ chức phải tích cực thực hiện Nó có chi phí hiệu quả (cost-effective) và hiệu quả lâu dài trong việc ngăn ngừa tổn thất vì họ có thể rút nhiều kinh nghiệm từ sai lầm của mình

Tác dụng của hành động giảm thiểu rủi ro không chỉ giúp cho giảm thiểu tổn thất mà còn làm giảm chi phí bảo hiểm vì rủi ro tốt

(4) Chuyển rủi ro (Risk transfer)

Đây là biện pháp chuyển rủi ro có thể xảy ra của người này cho một người khác Có hai hình thức chủ yếu về chuyển rủi ro

Trang 33

1- Chuyển rủi ro không qua bảo hiểm (Noninsurance transfers)

Rủi ro có thể được quản lý thông qua chuyển giao không qua bảo hiểm bằng 3 hình thức:

a) Thông qua hợp đồng (by contract)

Một cách phổ biến để chuyển rủi ro bằng hợp đồng là mua thêm phần cam kết mở rộng

(warranty extension) mà nhiều nhà bán lẻ bán Cam kết tự nó chuyển rủi ro về khuyết tật của

sản phẩm từ người mua sang nhà sản xuất

Chuyển rủi ro qua hợp đồng còn có thể bằng các thỏa thuận thuê, cho thuê, sử dụng điều khoản miễn trách nhiệm (a hold-harmless clause), trái phiếu bảo lãnh (surety bonds) để giới hạn trách nhiệm của mình đối với bên đối tác

b) Lập hàng rào (Hedging)

Lập hàng rào là phương pháp làm giảm danh mục rủi ro đầu tư (portfolio risk) hoặc một số rủi

ro kinh doanh (business risks) liên quan đến các giao dịch trong tương lai

Đây là một chiến lược được thiết kế để giảm thiểu rủi ro đầu tư bằng cách sử dụng hợp đồng mua trước (call options), hợp đồng bán trước (put options), bán khống (short-selling) hoặc hợp đồng tương lai (futures contracts)

Lập hàng rào là việc giảm thiểu sự không chắc chắn về tương lai của sự biến động giá cả hàng hoá (cao su, chè, v.v .), tài chính (cổ phiếu, chứng khoán, v.v .) hoặc ngoại tệ Điều này có thể được thực hiện bằng cách thực hiện bán hoặc mua trước hàng hóa, chứng khoán hoặc tiền tệ trên thị trường tương lai, hoặc bằng cách lấy ra một quyền chọn để giới hạn biến động giá cả của người nắm giữ quyền chọn

Mục đích của lập hàng rào (hedging) là làm giảm sự biến động của một danh mục đầu tư bằng cách giảm rủi ro tổn thất Tuy nhiên nó cũng có thể làm giảm lợi nhuận tiềm năng nếu nhận định sự việc không đúng với thực tế

c) Lập công ty cổ phần hoặc trách nhiệm hứ trung bữu hạn (Establish a joint stock company

or limited liability)

Các nhà đầu tư cũng có thể giảm bớt trách nhiệm kinh doanh của mình bằng cách lập các công

ty theo hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn vì các công ty loại này chỉ

có trách nhiệm đến mức vốn đóng góp

2- Chuyển rủi ro cho công ty bảo hiểm (Insurance)

Bảo hiểm là một phương pháp chính mà hầu hết mọi người, mọi doanh nghiệp, và các tổ chức khác có thể sử dụng để chuyển các rủi ro thuần (pure risks) bằng cách trả một phí bảo hiểm nhỏ cho công ty bảo hiểm để đổi lấy một khoản bồi thường lớn tiềm năng Bằng việc sử dụng luật số lớn, một công ty bảo hiểm có thể ước tính khá chính xác số tiền bồi thường cho một số lượng khách hàng nhất định trong một thời gian cụ thể

Để đảm bảo trách nhiệm của mình đối với khách hàng công ty bảo hiểm phải: Quản lý chặt chẽ tiền phí thu được và đầu tư chúng (chủ yếu dưới hình thức tiền gửi) để sinh lời Hợp tác giữa

Trang 34

các công ty bảo hiểm trong các hội (pools) để có thể nhận những rủi ro lớn Thực hiện tái bảo hiểm, đồng bảo hiểm để san sẻ rủi ro v v

Công ty bảo hiểm còn cung cấp cho khác hàng các dịch vụ quản lý rủi ro

Lưu ý Rủi ro không chuyển qua bảo hiểm chủ yếu là những rủi ro đầu cơ hoặc rủi ro không thể

bảo hiểm Các rủi ro chuyển cho bảo hiểm phải là những rủi ro thuần, những rủi ro có thể bảo hiểm Do đó các phương pháp chuyển rủi ro đều hết sức cần thiết và bổ sung cho nhau nhằm đảm bảo an toàn cho kinh doanh, sản xuất và đời sống xã hội

(5) Chương trình rủi ro tài chính (A risk financing programme)

Quản lý rủi ro tài chính là vấn đề phức tạp cần áp dụng nhiều biện pháp khác nhau ngoài bảo hiểm Chương trình rủi ro tài chính là để giảm thiểu tác động của tổn thất cho một tổ chức Nó

sử dụng các công cụ như: bảo hiểm, chuyển giao rủi ro khác hơn bảo hiểm, tự bảo hiểm, v.v

4 PHÂN LOẠI RỦI RO (RISK CATEGORY)

4.1 Rủi ro tự nhiên và nhân tạo (Natural and man-made risks)

Đây là những rủi ro do thiên nhiên và con người gây ra Những rủi ro này thường có tần số thấp (sự cố xảy ra trong một khoản thời gian nào đó không nhiều), nhưng mức độ nghiêm trọng thường rất cao Ví dụ, bão tố, động đất ít khi xảy ra nhưng khi xảy ra thì gây tổn thất lớn Khi xét nhận bảo hiểm cần thu thập đầy đủ thông tin để có một quyết định chính xác

4.2 Rủi ro tài chính (Financial risks)

Rủi ro tài chính phát sinh từ việc thay đổi điều kiện thị trường liên quan đến: giá cả, biến động thị trường (volatility), thanh khoản (liquidity), rủi ro tín dụng (credit risk), rủi ro ngoại hối

(foreign exchange risk), rủi ro lãi suất (Interest rate risk) và suy thái kinh tế Ở đây rủi ro ngoại hối thường có tần số và mức độ nghiêm trọng cao Rủi ro tín dụng cũng có tần số cao nhưng mức độ nghiêm trọng vừa phải

4.3 Rủi ro kinh doanh (Business risks)

Rủi ro kinh doanh là những rủi ro phát sinh trong kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: Trách nhiệm sản phẩm (Property liability), Rủi ro danh tiếng (Reputation ridk), Mất cắp (Theft), bồi thường người lao động (Worker’s compensation) Rủi ro danh tiếng thường có tần số và mức

độ nghiêm trọng đều cao cần được lưu ý Trách nhiệm sản phẩm tuy có tần số thấp nhưng khi xảy ra thì số tiền thiệt hại thường cao Trái lại mất cắp và bồi thường người lao động có tần số cao nhưng mức độ nghiệm trọng thấp dễ dàng hơn khi xét nhận bảo hiểm

4.4 Rủi ro hoạt động (Operational risks)

Rủi ro hoạt động là những rủi ro có liên quan đến hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp bao gồm: rủi ro chính trị (Political risk), rủi ro hệ thống công nghệ thông tin, rủi ro sở hữu trí tuệ (Intellectual property piracy), rủi ro điện tử (E-Risk) Ở đây, rủi ro chính trị có tần số và mức độ nghiêm trọng cao Trái lại rủi ro điện tử và sở hữu trí tuệ lại có tần số và mức độ nghiêm trọng thấp Tuy nhiên đối với các nước đang phát triển thì rủi ro sở hữu trí tuệ lại cao

Trang 35

5 QUY TRÌNH QUẢN LÝ RỦI RO (THE RISK MANAGEMENT PROCESS)

(1) Thống kê tất cả các tài sản hữu hình, vô hình có rủi ro tiềm năng như: bất động sản, máy

móc, thương hiệu

(2) Đánh giá những nguyên nhân tiềm năng có thể xảy ra tổn thất cho tài sản đó như: các thảm họa tự nhiên (gió bão, lũ lụt và động đất); nguyên nhân bất ngờ (cháy, nổ) và những nguyên nhân khác cần lưu ý (nguy cơ vật chất, tình thần, đạo đức v v.)

(3) Đánh giá giá trị tài sản bằng các phương pháp khác nhau như giá trị sổ sách, giá trị thị trường, chi phí khôi phục, và chi phí thay thế tùy theo từng loại tài sản

(4) Đánh giá các lợi ích hợp pháp của công ty ở từng thuộc tính (tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc thuê)

(5) Thống kê lịch sử tổn thất của các tài sản, tính tần số và mức độ nghiêm trọng của tài sản dựa trên thống kê tổn thất

(6) Dự báo tổn thất trong tương lai cho mỗi rủi ro tài sản

(7) Tìm ra các công cụ quản lý rủi ro hợp lý nhất như: tự bảo hiểm, tránh rủi ro, lập hàng rào tài chính hay chuyển rủi ro cho bảo hiểm

6 MA TRẬN QUẢN LÝ RỦI RO TRUYỀN THỐNG (CHO MỘT RỦI RO)

GIẢI PHÁP CHO RỦI RO THUẦN TẦN SỐ TỔN THẤT THẤP TẦN SỐ TỔN THẤT CAO MỨC ĐỘ NGHIÊM

TRỌNG THẤP

Giữ lại – Tự bảo hiểm Giữ lại với biện pháp quản lý

tổn thất – Giảm thiểu rủi ro

2 PHÂN LOẠI

2.1 Theo nguyên nhân tổn thất

(1) Tổn thất do nguyên nhân khách quan (Objective Loss):

Tổn thất xảy ra do nguyên nhân khách quan ngoài khả năng kiểm soát của con người như bệnh tật, hỏa hoạn .;

Trang 36

(2) Tổn thất do nguyên nhân chủ quan (Subjiective Loss)

Tổn thất từ những suy diễn cá nhân như nỗi buồn, hạnh phúc, hay bản chất riêng của từng cá nhân như: thích hoạt động nguy hiểm, thờ ơ, dễ quên ;

Ghi chú: Tổn thất khách quan có thể được bồi thường nhưng tổn thất chủ quan thì không

2.2 Theo hình thái tổn thất

(1) Tổn thất đầu cơ (Speculative Loss)

Là những tổn thất gây ra bởi rủi ro đầu cơ là những rủi ro dẫn đến lời hoặc lỗ như mất giá, kinh doanh lỗ, bài bạc …

(2) Tổn thất thuần (Pure Loss)

Là những tổn thất gây ra bởi rủi ro thuần là những rủi ro chỉ có thể tổn thất hoặc không tổn thất không có khả năng kiếm lời như tai nạn, hỏa hoạn, bệnh tật,

Ghi chú: Tổn thất đầu cơ không thuộc đối tượng của bảo hiểm thương mại

2.3 Theo tính chất tổn thất

(1) Tổn thất trực tiếp (Direct Loss)

Là tổn thất gây ra bởi nguyên nhân trực tiếp cho chính đối tượng được bảo hiểm

Tiết 55 (1) MIA “Tổn thất bao gồm và loại trừ (Included and excluded losses)” quy định:

“(1) Theo các quy định của Luật này, và trừ khi đơn bảo hiểm quy định khác, người bảo hiểm phải chịu trách nhiệm cho bất kỳ tổn thất nào trực tiếp gây ra (proximately caused) bởi một hiểm họa được bảo hiểm, nhưng chi phối bởi điều nói trên (subject as aforesaid), người bảo hiểm không chịu trách nhiệm cho bất kỳ tổn thất nào mà không trực tiếp (not proximately caused) gây ra bởi một hiểm họa được bảo hiểm.”

(2) Tổn thất hậu quả (Consequence Loss)

Là tổn thất mang tính hậu quả của tổn thất trực tiếp như mất thu nhập, thuê xe, thuê nhà, và chi phí đặc biệt như chi phí thu dọn hiện trường,…

Ghi chú: Nguyên tắc bồi thường của bảo hiểm là chỉ chịu trách nhiệm với những tổn thất do

nguyên nhân trực tiếp gây ra Tổn thất hậu quả có thể được bảo hiểm với điều kiện phải liệt kê

rõ ràng và đóng thêm phí

2.4 Theo mức độ tổn thất

(1) Tổn thất toàn bộ thực tế (Actual Total Loss)

Là tổn thất của đối tượng được bảo hiểm: bị huỷ hoại hoàn toàn, bị biến chất, không thể cứu vãn, bị tước đoạt, bị mất tích

Tiết 57 MIA quy định tổn thất toàn bộ thực tế (Actual total loss) như sau:

Trang 37

“(1) Trường hợp đối tượng bảo hiểm bị phá hủy, hoặc bị hư hỏng đến nỗi không còn là vật được bảo hiểm (as to cease to be a thing of the kind insured), hoặc khi người được bảo hiểm không thể cứu vãn nó, có một tổn thất toàn bộ thực tế

(2) Trong trường hợp tổn toàn bộ thất thực tế, không cần đưa ra thông báo từ bỏ.”

(2) Tổn thất toàn bộ ước tính (Constructive Total Loss)

Là tổn thất mà nếu chúng ta muốn khôi phục lại giá trị của đối tượng bị tổn thất thì chi phí đó bằng hoặc cao hơn vật cứu vãn hoặc khả năng tổn thất thực tế là không thể tránh khỏi

Tiết 60 (2) MIA quy định: “Đặc biệt, có một tổn thất toàn bộ ước tính:

(i) Trường hợp người được bảo hiểm bị tước quyền sở hữu (the assured is deprived of the possession) tàu hoặc hàng hóa của mình bởi một hiểm họa được bảo hiểm, và (a) không chắc rằng người được bảo hiểm có thể thu hồi (recover) được tàu hoặc hàng hóa, hoặc (b) chi phí thu hồi tàu hoặc hàng hóa, trường hợp có thể được, sẽ vượt quá giá trị của chúng khi thu hồi; hoặc”

(iii) Trong trường hợp thiệt hại đối với hàng hoá, khi chi phí sửa chữa thiệt hại và giao nhận hàng hóa tại nơi đến (destination) có thể vượt quá giá trị của chúng tại nơi đến.”

Lưu ý:

 Khi xảy ra tổn thất toàn bộ ước tính, người được bảo hiểm phải tuyên bố từ bỏ đối tượng bảo hiểm và đòi bồi thường tổn thất toàn bộ ước tính Tuyên bố phải đưa ra không chậm trể để người bảo hiểm có cơ hội giảm thiểu hay ngăn ngừa tổn thất

 Mọi biện pháp do Người bảo hiểm hoặc Người được bảo hiểm thi hành với mục đích cứu vớt, bảo quản hoặc phục hồi lại đối tượng bảo hiểm đều không được coi như từ chối hoặc chấp nhận việc từ bỏ tàu hoặc phương hại đến các quyền hạn của đôi bên

 Khi xác định tổn thất toàn bộ ước tính cho con tàu, trị giá bảo hiểm được lấy là trị giá của chiếc tàu sau khi sửa chữa và không được tính trị giá của tàu đã bị hư hỏng hoặc xác tàu Cũng không được đưa các tổn thất chưa sửa chữa trước đó để cộng chung vào chi phí cứu vãn, sửa chữa ước tính Điều này rất quan trọng nếu tàu chỉ bảo hiểm tổn thất toàn bộ (total loss only)

(3) Tổn thất bộ phận (Partial Loss)

Là tổn thất, hư hại mất mát một phần của đối tượng được bảo hiểm như: Thiếu hụt, rách vỡ một phần của đối tượng bảo hiểm

Lưu ý:

 Cần phân biệt giữa tổn thất bộ phận và hao hụt tự nhiên

 Trong trường hợp người được bảo hiểm đòi bồi thường một tổn thất toàn bộ và các bằng chứng chứng minh chỉ là tổn thất bộ phận, họ chỉ có thể, trừ khi hợp đồng có quy định khác, đòi một tổn thất bộ phận

Trang 38

 Trường hợp hàng hóa đến điểm đến bị biến dạng (in specie), vì lý do ký mã hiệu bị xóa (obliteration of marks), hay nói cách khác, chúng không có khả năng nhận biết, tổn thất nếu

Tiết 66 (1) và (2) MIA quy định:

“(1) Tổn thất chung là tổn thất gây ra bởi hoặc do hậu quả trực tiếp (directly consequential) của một hành động tổn thất chung Nó bao gồm một chi tổn thất chung (general average

expenditure) cũng như hy sinh tổn thất chung (general average sacrifice)

(2) Có một hành động tổn thất chung (a general average act), khi bất kỳ sự hy sinh hoặc chi phí bất thường nào được tự nguyện và thực hiện hợp lý (voluntarily and reasonably made) hoặc phát sinh trong thời điểm có hiểm họa vì mục đích bảo tồn tài sản bị nguy hiểm trong một phiêu trình thông thường (common adventure).”

2- Các điều kiện cần có của một tổn thất chung (Essential features)

 Hiểm nguy phải là thật sự và phải sắp xảy ra Sự kiện sắp xảy ra và mức độ nguy hiểm phải là một thực tế

 Hành vi tổn thất chung phải là tự nguyện và có ý định chứ không phải là không thể tránh được

 Hành vi phải được thực hiện hợp lý Hy sinh phải thận trọng Chi phí phải trung thực, hợp lý

 Tổn thất phải là bất thường về bản chất Ví dụ lương thủy thủ, hư hỏng thông thường của các thiết bị trên tàu không đưa vào tổn thất chung

 Mục đích của tổn thất là để bảo toàn cho toàn thể chuyến hành trình

 Chuyến hành trình phải được cứu vãn

 Tổn thất phải là hậu quả trực tiếp của hành vi tổn thất chung Phạt lưu trì hàng hóa và mất thị trường tuy cũng là tổn thất hậu quả nhưng không trực tiếp gây ra bởi hành vi tổn thất chung

3- Tổn thất không được chấp nhận đưa vào tổn thất chung (Losses not allowed in general average)

 Tổn thất chậm trể như: lương bổng, lương thực thủy thủ, mất thị trường

Trang 39

 Tổn thất không phải là hậu quả trực tiếp của hành vi tổn thất chung như: tổn hại hàng hóa khi tồn trữ trên bờ trong khi sửa tàu tại cảng lánh nạn

 Không có hành vi tổn thất chung như: nước tưới vào hàng hóa đang cháy (vì hàng hóa đã tổn thất)

 Tổn thất hàng hóa do hành vi sai lầm của người gửi hàng như: sợi gai chất lên tàu trong trạng thái ẩm ướt làm hầm nóng lên Để tránh hỏa hoạn người ta phải vứt xuống biển

 Mọi chi phí chủ tàu phải trả để thực hiện nghĩa vụ hợp đồng chuyên chở cho dù chi phí ấy

đã bị gia tăng

 Tổn thất có thể quy là lỗi của chủ tàu, trừ khi được bảo vệ bởi hợp đồng chuyên chở Tổn thất do bất cẩn của thuyền trương hoặc thủy thủ cũng không được chấp nhận trừ khi có điều khoản bất cẩn trong hợp đồng chuyên chở

4- Chi phí tổn thất chung (General average expediture)

Chi phí tổn thất chung bao gồm:

1) Chi phí bảo toàn hàng hóa bao gồm: thuê xà lan chuyển hàng, sắp xếp

2) Chi phí bảo đảm cho tàu đến cảng lánh nạn an toàn

3) Chi phí tại cảng lánh nạn (Port of refuge expenses)

Khi một tàu bị mắc cạn hay một tai nạn bất ngờ ngoài biển phải vào cảng lánh nạn sửa chữa để tiếp tục hành trình thì các chi phí sau được tính vào tổn thất chung:

 Phí tổn vào cảng như: tiền vào cảng, hoa tiêu, cảng phí

 Phí tổn dỡ hàng (nếu phải dỡ hàng để sửa chữa)

 Tiền thuê kho, bãi

Tuy nhiên nếu tàu mắc cạn và các bên quyết định tăng sức máy để ra cạn dẫn tới hư chân vịt thì lại là tổn thất chung vì hư chân vịt không phải là yếu tố bất ngờ mà là ý chí của con người

4) Chi phí thay thế (Substituted expenses)

Chi phí thay thế là chi phí của một biện pháp xử lý tổn thất chung khác biện pháp thông thường thấy trước mắt phải làm dẫn đến tiết kiệm hơn Chi phí này phải đạt các yêu cầu sau mới được tính là chi phí tổn thất chung:

Trang 40

 Nó phải thật sự là một biện pháp thay thế được chấp nhận Ví dụ: dùng biện pháp chuyển tải chở hàng đến bến đích rẽ hơn chi phí đưa tàu vào cảng lánh nạn;

 Phải là chi phí tiết kiệm cho tổn thất chung và không phải là chi phí để thi hành hợp đồng chuyên chở

5- Hy sinh tổn thất chung (General average sacrifice)

Một tổn thất chung là một tổn thất gây ra bởi hay là hậu quả trực tiếp của một hành vi tổn thất chung, có thể là một hy sinh hay một chi phí Hy sinh tổn thất chung là để tránh một hiểm họa hiện hữu và phải thực hiện một cách hợp lý và có hiệu quả Khoản10.4 ITC 95 quy định: “Nhất thiết không được bồi thường theo điều 10 này khi chi phí không phải để ngăn tránh hay không liên quan đến việc ngăn tránh một hiểm họa được bảo hiểm.”

Tiết 66 (6) MIA cũng nói rõ vấn đề này: ‘’ Trong trường hợp không có quy định rõ ràng (absence

of express stipulation), người bảo hiểm không chịu trách nhiệm về bất kỳ tổn thất chung hoặc đóng góp tổn thất chung nào mà tổn thất không phát sinh vì mục đích tránh, hoặc liên quan với việc tránh (purpose of avoiding, or in connexion with the avoidance), một hiểm họa được bảo hiểm.’’

(2) Tổn thất riêng (Particular Average)

Là tổn thất chỉ gây thiệt hại cho một hoặc một số chủ hàng, chủ tàu Tổn thất riêng thuộc người nào, người đó tự gánh chịu Tổn thất riêng có thể là tổn thất bộ phận hoặc toàn bộ

Tiết 64 MIA quy định:

“(1) Tổn thất riêng là tổn thất bộ phận (a partial loss) của đối tượng bảo hiểm, gây ra bởi một hiểm họa được bảo hiểm, và không phải là tổn thất chung (general average loss)

(2) Các khoản chi phí phát sinh do hoặc đại diện của người được bảo hiểm cho sự an toàn, hoặc bảo quản (preservation) đối tượng bảo hiểm, khác với tổn thất chung và chi phí cứu hộ, được gọi là chi phí riêng (particular charges) Chi phí riêng không bao gồm trong tổn thất

riêng.”

Lưu ý: Trong bảo hiểm hàng hóa, Luật bảo hiểm hàng hải (MIA) tiết 76 (1), (2), (3), (4) quy định:

(1) “Trường hợp đối tượng bảo hiểm cam kết không bảo hiểm tổn thất riêng (free from particular average warranties), người được bảo hiểm không thể đòi tổn thất một phần (a

Ngày đăng: 10/05/2021, 01:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w