Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em đang sinh sống trên khắp mọi miền tổ quốc. Tất cả góp phần hình thành nên một Việt Nam phong phú về bản sắc văn hóa. Dân tộc học đại cương: Dân tộc khmer PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐBSCL PHẦN II: DÂN TỘC KHMER I: GIỚI THIỆU CHUNG II: SINH HOẠT KINH TẾ III: ẨM THỰC
Trang 1DÂN TỘC KHMER
PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐBSCL
PHẦN II: DÂN TỘC KHMER
I: GIỚI THIỆU CHUNG
II: SINH HOẠT KINH TẾ
III: ẨM THỰC
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em đang sinh sống trên khắp mọi miền tổ quốc Tất cả góp phần hình thành nên một Việt Nam phong phú về bản sắc văn hóa Bên cạnh các dân tộc ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên…Thì các dân tộc ở miền Nam Việt Nam cũng góp phần quan trọng tạo nên sự phonhg phú này Văn hóa truyền thống của các cư dân ít người ở miền Nam trên bước đường tiến lên lịch sử chịu tác động của quy luật canh tân,
đó là sự thay đổi để thích hợp với cuộc sống đương thời, cuộc sống
xã hội chủ nghĩa Chính vì vậy nhiều yếu tố văn hóa lỗi thời đã bị thay thế hoặc được thay đổi như: ma chay, cưới hỏi…Tất cả đều nhằm xây dựng và giữ gìn một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Trang 21 Đặc điểm địa lý tự nhiên ĐBSCL.
Theo tài liệu ghi chép của các nhà địa lý thì cách ngày nay >2.500 năm,
vùng đất ĐBSCL đã dần hiện lên cùng với sự rút lui của nước biển Tới nayĐBSCL là đồng bằng lớn nhất nước ta với diện tích là 3.950.900 ha (12% cảnước) Đây là vùng trọng điểm về nông nghiệp (vựa lúa của cả nước), thủysản, trái cây…Nguồn sinh vật vô cùng phong phú và đa dạng
ĐBSCL có > 50.000 con kênh rạch cùng với con sông Mê Kông Khíhậu có một mùa mưa và một mùa khô
ĐBSCL không phải là một vùng địa lý thống nhất về môi trường sinhthái Các nhà địa lý chia ĐBSCL thành các tiểu vùng:
Ở phía Tây ĐBSCL, thuộc các tỉnh miền Tây giáp biên giới Campuchia
2.Đặc điểm về dân cư.
Trang 3Hiện nay chủ nhân văn hóa của vùng ĐBSCL là >17 triệu người trong đó
4 dân tộc chính : người Kinh, người Khmer, người Hoa và người Chăm
Người Kinh chiếm đa số (>13 triệu) Năm 1698 khi chúa Nguyễn chínhthức lập phủ Gia Định thì địa vị của người Kinh mới được xác định vữngchắc
Người Khmer có trên 1.3 triệu người, phân bố không đều, nhiều nhất làcác tỉnh: Sóc Trăng (khoảng 350.000 người=28.5% dân số tỉnh), Trà Vinh(khoảng 320.000 người=28.5% dân số tỉnh), Kiên Giang (khoảng 180.000người), An Giang (85.000 người), Bạc Liêu (59.000 người), Cà Mau (khoảng24.000 người), Vĩnh Long (khoảng 22.000 người)…
Người Hoa đến vùng ĐBSCL khoảng thế kỉ XVII mang theo những giátrị văn hóa Hán trong những đợt di cư lớn, ồ ạt Số lượng khoảng 300.000người Họ có quan hệ mật thiết với người Hoa ở thành phố HCM
Người Chăm sống ở ĐBSCL chính là một bộ phận tách ra từ cộng đồngngười Chăm ở Trung bộ.Về văn hóa họ chịu ảnh hưởng nhièu của nhóm cưdân Malaysia, Ấn Độ, Khmer tại chỗ Đặc biệt, chịu ảnh hưởng văn hóa HồiGiáo nên chủ yếu họ là người Chăm Islam Họ chủ yếu sinh sống ở vùngChâu Đốc (khoảng 14.000 người) rồi lan tỏa ra các vùng khác
3 Giao lưu tiếp biến văn hóa giữa các tộc người.
Qúa trình khai phá ĐBSCL là quá trình lao động vất vả của các dân tộc
cư trú tại đây Vì chung cảnh ngộ là những người di cư, thiếu vắng các quan
hệ thân tộc nên sợi dây liên kết gắn bó giữa con người với con người nơi
“miền đất lạ” được lấy làm trọng Tuy ĐBSCL được gọi là “vùng đất mới”,nơi các giá trị văn hóa chưa kịp lắng đọng để có một bề dày văn hóa nhưĐBSH, nhưng văn hóa Việt vẫn nảy chồi bên cạnh văn hóa Khmer, Chăm vàHán hình thành một đặc trưng văn hóa riêng của 5 vùng sông nước Sự tiếpbiến sâu sắc tới mức nếu nhìn bằng một lát cắt văn hóa dân gian của mỗi tộcngười khó phân biệt được đâu là yếu tố nội sinh, đâu là yếu tố ngoại nhập Sựtương đồng đó không chỉ thể hiện trong lao động sản xuất , ăn mặc, phong tụctập quán…mà còn biểu hiện trong các truyền thuyết dân gian, các loại hìnhnghệ thuật
Về ngôn ngữ: Ở đây diễn ra hiện tượng song ngữ và tam ngữ Trong
sinh hoạt 3 ngôn ngữ Kinh-Khmer-Hoa được cả 3 dân tộc chuyển từ ngôn ngữnày sang ngôn ngữ khác một cách rất tự nhiên
Trong lao động sản xuất: Người Khmer và người Kinh là cư dân canh
tác lúa nước, cùng chia sẻ những kinh nghiệm, kỹ thuật canh tác, công cụ laođộng (cuốc tiều và cuốc tai tượng) Ngoài ra sự giao lưu văn hóa vật chất, vănhóa tinh thần cũng diễn ra mạnh mẽ Nhà sàn là nhà truyền thống của người
Trang 4Khmer, nhưng ngày nay một số vùng của người Kinh ở Đồng Tháp, Năm Căn
và người Chăm ở Châu Đốc cũng dùng loại nhà này
Về tập tục mai táng: Nhiều người Kinh, Hoa ở vùng người Khmer cũng
hỏa thiêu và gửi tro trong tháp của các chùa Khmer Ngược lại người Khmercũng địa táng chứ không hỏa thiêu như truyền thống
Sự giao lưu trong văn hóa, tín ngưỡng: Trước đây việc thờ cúng ông
bà của người Khmer diễn ra tại các chùa, ngày nay (cũng như người Kinh, Hoa) họ lập bàn thờ trong nhà Trên bàn thờ thường để chân nhang chomỗi người, đôi khi còn có tờ giấy đỏ kẻ chữ Hoa Bàn thờ Phật của ngườiKhmer cũng đặt ngay chính giữa nhà giống người Ho chứ không nhất thiếtohải quay về hướng mặt trời Tục cúng thầy Pháp của người Kinh cũng khágiống tín ngưỡng Arak của người Khmer
Sự giao lưu còn thể hiện trong các loại hình văn nghệ dân gian, văn họcdân gian
Như vậy có thể khẳng định, cộng đồng tộc người ở ĐBSCL đã sống hòa thuận, có sự giao lưu trên nhiều phương diện nên các nét sinh hoạt văn hóa hòa lẫn, đan xen vào nhau Sự giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các tộc người nơi đây luôn đặt trước hai câu hỏi: phát triển nhưng vẫn giữ bản sắc của mình; cởi mở để thu hút những tinh hoa, giá trị văn hóa của các tộc người khác, qua đó khẳng định thêm về diện mạo văn hóa của chính mình Những giá trị văn hóa ban đầu chỉ là của một tộc người nhưng sau đã thành tài sản chung của nhiều tộc người sống chung trong vùng, khó phân biệt được cụ thể là văn hóa của dân tộc nào.
Trang 5
PHẦN II:
DÂN TỘC KHMER
1 Giới thiệu chung
Người Khmer ở ĐBSCL là một trong 54 dân tộc Việt Nam Tên gọiKhmer là tên được chính cộng đồng người Khmer ở ĐBSCL tự gọi, bắt nguồn
từ tiếng Pali – Sanskrit gọi là “Khemara” có nghĩa là bình an và hạnh phúc.Một số tài liệu cho biết, trong quá trình hình thành và phát triển cộng đồngngười Khmer ở ĐBSCL còn có nhiều tên gọi khác như: người Kinh gốc Miên,người Khmer Krôm (Khmer vùng dưới), người Thổ, người Miên, người CaoMan, người Kam Pu, người Kam Bốt (Campodge), Cur, Cul, Cu…
Người Khmer có mặt từ rất sớm ở vùng ĐBSCL Họ là cư dân nôngnghiệp sinh sống lâu đời ở vùng đất này Theo tài liệu lịch sử thì từ thế kỷ Xtrở đi, khi nước biển rút dần làm cho vùng ĐBSCL hiện lên những giồng đấtlớn, sau này được xác định là địa bàn thuộc tỉnh Sóc Trăng và Trà Cú của TràVinh ngày nay.Từ khi có những giồng đất này dân di cư từ khắp nơi đổ về,trong đó có người Khmer từ Campuchia sang Trong những ghi chép sớmnhất về vùng ĐBSCL, người ta đã thấy người Khmer đến cư trú trên cácgiồng lớn ở vùng này và sớm tổ chức thành những vùng môi sinh xã hội đầutiên Theo ý kiến của ông Sơn Phước Hoan – Trưởng Cơ quan Thường trựcBan Chỉ đạo Tây Nam bộ tại Hội thảo Khoa học “Vì sự phát triển của
ĐBSCL” thì: “Dân tộc Khmer và người Khmer ở Campuchia vốn có cùng tộc người, chung lịch sử trong quá khứ xa xưa, cùng ngôn ngữ, có chung tôn giáo và giống nhau về đặc trưng văn hóa tộc người Song họ là hai nhóm người thuộc hai quốc gia riêng biệt Người Khme Nam Bộ là một dân tộc thiểu số trong gia đình dân tộc Việt Nam, người Khmer ở Campuchia là dân tộc đa số trong cộng đồng dân tộc vương quốc Campuchia Lịch sử phát triển của dân tộc Khmer ở Nam Bộ và người Khmer ở Campuchia có những đặc thù khác nhau.”
Theo kết quả điều tra dân số năm 2003, dân tộc Khmer có khoảng1.112.286 người Sự phân bố dân cư không đều, chủ yếu tập trung ở các tỉnh:Sóc Trăng (khoảng 350.000 người = 28.5% dân số tỉnh), Trà Vinh (khoảng320.000 người = 28.5% dân số tỉnh), Kiên Giang (khoảng 180.000 người), AnGiang (khoảng 85.000 người), Bạc Liêu (khoảng 59.000 người), Cà Maukhoảng 24.000 người), Vĩnh Long (khoảng 22.000)
Trang 6Người Khmer ở ĐBSCL sống trong các phum, sóc, rải rác theo từng cụmlớn, hoặc xen kẽ với các xóm làng của người Kinh, người Hoa hoặc ngườiChăm Các phum, sóc của người Khmer hợp thành từng dải dọc ven cácgiồng cao, trên các gò phù sa cổ hoặc trên các vùng đất cát pha với đất thịt,trên đất ruộng ven các kênh lạch hoặc dọc theo các trục đường đi hay là vencác chân núi Do có các cư dân từ nhiều nơi khác đến khai thác, mật độ cưdân ở vùng ĐBSCL ngày càng tăng, đất đai ngày một hiếm nên người Khmerphải khai thác thêm các vùng ven giồng, vùng giữa cánh đồng lúa hoặc vùngđất bồi để làm nơi cư trú và sinh sống Có những người cư trú quanh nhữngthị trấn, thị xã như: Phường 5 thị xã Sóc Trăng, Phường chùa Phật Lớn ởRạch Gía…Cuối cùng là hình thức cư trú theo dạng “vành khăn” của các làngquanh chân núi Ba Thê hay vùng Bảy Núi, An Giang
Do điều kiện về môi trường tự nhiên và xã hội mà người Khmer cư trú ởnhững nơi khác nhau, với những đặc thù riêng:
- Vùng ven biển (các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau): Do cư trú với
người Kinh, người Hoa và người Chăm nên nhiều người Khner có quan hệhôn nhân với các tộc người khác
- Vùng gần biên giới với Campuchia ( tỉnh An Giang, Kiên Giang, nhất là ở vùng cư trú nằm giữa Bảy Núi (Thất Sơn) và tứ giác Long Xuyên:Đây là vùng
thường ngập nước vào mùa mưa nên các phum, sóc của người Khmer nằmtrên các sườn đồi, các giồng đất trải dài ven theo các kênh rạch, ven bờ sông,
bờ mương Vì vậy nhà thường hướng ra các con đường chính, phía sau nhàgắn với đất vừờn, đất rẫy hoặc đất ruộng
Do sống trên một vùng đất màu mỡ nên cuộc sống của đồng bào nhìnchung khá sung túc Giồng chính là lớp phù sa cổ sinh, trên mặt là cát pha đấtthịt, dưới sâu có sét và dễ thoát nước Đây là các duyên hải hoặc các dải đấtven sông đã trở thành đất liền trong quá trình đồng bằng tiến ra biển
Trang 72 Đồng bào Khmer trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Trải qua những giai đoạn khác nhau của kịch sử dân tộc, đồng bào Khmer
ở Nam bộ đã cùng đồng bào Việt trong vùng đổ mồ hôi xuống xứ sở để khaiphá ĐBSCL thánh một miền quê trá trù phú và nổi bật lên những hương sắcvăn hóa địa phương độc đáo Đi đôi với quá trình ấy là quá trình ấy là quátrình đoàn kết, đấu tranh với thù trong, giặc ngoài để bảo vệ cuộc sống, bảo vệđộc lập, tự do ở vùng đất phía Nam của tổ quốc
Vào những năm nửa đầu thế kỷ XIX đông đảo nhân dân Khmer Nam bộ
đã hưởng ứng cuộc nổi dậy của Acharkuy (hay Chauvai kuy) năm 1820; củaTêvasôm năm 1841 ở Trà Cú chống chính sách bất công của triều Nguyễn.Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, và nhất là từ khi nhà Nguyễn kí hiệpước bán nước 1862, người Khmer lại sát cánh cùng người Việt ở miền Namhưởng ứng ngọn cờ kháng chiến của lãnh binh Trương quyền và ủng hộ cuộckháng chiến chống xâm lược Pháp của nhân dân Campuchia do nhà sưPucômbô, Acha, Soa, Sivôtha lãnh đạo
Năm 1867 Pháp trắng trợn cướp 3 tỉnh miên Tây Nam bộ, nông dânKhmer và nông dân Việt cùng nổi dậy chống thực dân và tay sai mà điển hình
là cuộc nổi dậy năm 1927 ở Ninh Thanh Lợi, Bạc Liêu do Chư Choi lãnhđạo.Thống đốc Nam Kỳ thời đó phải thừa nhận “Đây là phản ứng của dân bản
xứ, của người Khmer đối với quy chế về đất đai.”
Năm 1931 tại Cà Mau, Bạc Liêu nhân dân Khmer tham gia hội ‘Tương tế
Aí Hữu” với người Việt cướp ruộng đất, đòi dân sinh
Năm 1937-1938 nhân dân Khner phát động phong trào “vay lúa của địachủ Một số tấm gương anh hùng quân đội: Châu Pút, Kiên Sắc…
Trong quá trình đấu tranh thì hệ thống chùa Khmer cùng với các vị sư sãitronh chùa đã có rất nhiều những đóng góp cho Cách Mạng như: Đại Đức SơnVong, Đại Đức Thạch Xom…
Sau ngày giải phóng bộ mặt nông thôn Khmer đẫ có rất nhiều biến đổitích cực Ruộng đất được phân chia, người nông dân đi vào lề lối làm ăn tậpthể theo con đường hợp tác xã Năng suất lao động tăng, công nghiệp pháttriển, cuộc ssống của đồng bào ấm no, hạnh phúc
3.Một số nét văn hóa đặc trưng của dân tộc Khmer
Nhà cửa:
Trang 8Nhìn chung nhà người Khmer giống nhà người Việt, hầu hết là nền đất,vật liệu xây dựng là tre, mây, gỗ, lá (dừa hoặc thốt nốt) Nhà có hai loại chủyếu là nhà sàn (pteah Khmer) và nhà đất.
Trong nhà đất nếu phân loại theo mặt bằng sinh hoạt thì gồm: nhà nối mái,
rõ nét nhà không chái, nhà có chái
Còn phân loại theo kết cấu kĩ thuật gồm: nhà cột giữa (ptéah xon hơnlôn), nhà xuyên trinh
Phân loại theo vật liệu xây dựng có: nhà thô sơ, bán kiên cố hoặc kiêncố
Nhà thườg làm theo kiểu mái dài về phía sau Đồng bào làm nhà thườngdùng số lẻ như cao 5m, 7m và cửa thường quay về hướng Đông
Ở các thị trấn, thị xã hay ngoại ô còn có một số nhà mái ngói, tường xâyhay đúc ximăng Đây là loại nhà mới xuất hiện gần 20 năm nay Nó mangkiến trúc dập khuôn các ngôi nhà Việt bên cạnh mặc dù bài trí giữ lại một sốnét truyền thống
Ngày nay nhà sàn Khner còn lưu lại rất ít, loại trừ một số nhà dọc biêngiới Campuchia và lác đác một số nhà sàn trong chùa Khmer qua kiến trúcxalu, là nơi hội họp của sư sãi và tín đồ
Có sự tương phản giữa kiến trúc đơn giản của nhà ở với kiến trúc lộnglẫy của chùa Khmer Vật liệu xây dựng là gạch, vôi, ximăng, sắt Chính diệnquay về hướng Đông, góc mái cong vút được trạm trổ khá tinh vi Hai bên làhai hàng cột cao, to Trần chính diện được trang trí nhiều bức họa dân gianlộng lẫy
Trang 9
Trang phục:
Trang phục của người Khmer ở ĐBSCL thể hiện rõ bản sắc văn hóa củamình Váy Xampot của phụ nữ Khmer quấn ngang hông và giắt về một phía,gấu váy cao trên cổ chân Váy Xampot thường được là bằng vải tơ tằm, dệttay, có nhiều họa tiết màu sắc Aó wên, áo srây hoặc áo tằm wong (tầm vong)
là loại áo dài của người Khmer, bằng vải màu đen Aó được may bít tà, rộng
và dài qua đầu gối, cổ xẻ trước ngực nên khi mặc phải chui đầu Tay áothường bó chặt, sườn áo có ghép thêm 4 miếng vải dọc từ nách đến gấu Cácloại áo này thường được mặc chung với quần đen như người Kinh hoặc mặcvới váy Xampot Kama là loại khăn rằn có hoa văn hình karô, màu đỏ hoặcmàu xanh nổi lên trên nền hình chữ nhật hoặc hình vuông màu trắng, đẹp vàbền Kama còn dùng lau mặt, làm khăn choàng, khăn tắm, quấn đầu, thắtlưng, làm bao đựng vật dụng đi đường và làm võng cho em bé nằm
Ngày nay do quá trình cộng cư với người Kinh, người Chăm, ngườiHoa…nên người Khmer mặc giống người Kinh Chỉ ngày cưới, ngày hội,ngày lễ truyền thống họ mới mặc trang phục truyền thống để đi tới chùa vàthăm viếng nhau
Trang 10
Ẩm thực:
Vốn là con cháu của cư dân nông nghiệp, lương thực chủ yếu của ngườiKhmer từ trước tới nay là gạo tẻ, gạo nếp.Từ những nguyên liệu này cũng cóthể chế biến thành những món cháo, xôi …khác nhau
Người Khmer biết làm trên 20 loại bánh :bánh tét, bánh ít, bánh xèo,bánh chuối hấp,…Mỗi loại bánh có một hình thù khác nhau và gắn với mộttruyền thuyết về nguồn gốc xuất xứ của nó
Vd: bánh ống được làm bằng cách đâm gạo tấm cho nát rồi trộnđều với dừa gạo, đường cát trắng rồi bỏ vào ống tre và nướng bằng lửa than.Loại bánh này gắn với truyền thuyết “Bà Tổ” (bòm pong)
Phụ nữ Khmer chế biến nhiều loại mắm khác nhau nhưng có một loạimắm đặc biệt , người Kinh thường gọi chung đó là mắm bò hóc (prohoc).Mắm được làm bằng cá trắng, cá linh hoặc tép Người Khmer thường nói vui:
Prohoc nêm với xom lo
Nghe mùi thơm nhột thật là khó quên
Ăn rồi nhớ mãi mắm nêm
Nơi nào có mắm cho xin thêm nào.
Mắm prohoc có nhiều loại: prohoc ốp (mắm ốp) được làm bằng cá trêvàng hoặc trắng, mắm prohoc với các loại cá gọi là mắm bo Mắm prohok angkea còn gọi là mắm tép
Người Khmer, Việt rất thích ăn bún với nước lèo, nhưng bún, nước lèocủa người Khmer thường nêm thêm mắm pohoc và ngải bún nên có hương vịriêng Canh chua cũng là món được đồng bào ưa thích
Trang 11
Giao thông:
Chủ yếu đi lại bằng xuồng 3 lá, ghe tam bản,…Điều dặc biệt của ghethuyền Khmer phải kể tới là ghe “ngo” được dùng trong các cuộc đua hội.Phương tiện vận chuyển cổ truyền trên bộ là xe bò, trâu, cộ trâu…Loại này ởvùng Baỷy Núi có cán dài cong vút, trạm trổ Ngày nay đồng báo cũng sửdụng các phương tiện vận chuyển hiện đại khác
Tôn giáo, tín ngưỡng:
Đồng bào Khmer ở Nam Bộ có 3 hình thức tôn giáo chính: tín ngưỡngdân gian, đạo Bàlamôn , đạo Phật dòng tiểu thừa Đồng bào sùng kính đạoPhật, hầu như mỗi ấp đều có một ngôi chùa Hiện nay ở Nam Bộ có >500chùa Khmer Chùa là tụ điểm sinh hoạt -văn hóa – xã hội của đồng bào Trongmỗi chùa đều có nhiều sư (gọi là các ông lục) và do sư cả đứng đầu Thanhniên người Khmer trước khi trưởng thành đều đến chùa tu học để trau dồi đứchạmh và kiến thức : kinh nghiệm sản xuất, chữ Khmer…
Lễ hội:
Người Khmer có rất nhiều lễ hội quanh năm nhưng quan trọng nhất là lễ
hội vào năm mới (Chol Chnam Thmay), lễ hội chào mặt trăng (Ok Ang Bok)
Lễ cúng ông bà : Diễn ra từ ngày 29/8 1/9 (âm lịch).Trung tâm lễ hội
là tại các chùa và phum, sóc Ngoài mục đích nhớ tới tổ tiên, ông bà,…lễ hộicòn tôn vinh tinh thần đoàn kết của cộng đồng người Khmer trong cùngphum, sóc
Lễ cúng trăng: Được tổ chức vào ngày rằm tháng 10 âm lịch Khmernhằm tưởng nhớ công ơn vị thần Mặt Trăng đã điều tiết mùa màng giúp conngười có được mùa màng bội thu Các nghi lễ mang đậm nét tín ngưỡng nôngnghiệp và phồn thực Họ đút cốm dẹp vào miệng trẻ em để gửi gắm khátvọng Trung tâm lễ hội diễn ra tại khu danh thắng trong vùng Khmer, chùa vàcác phum sóc Khmer
Trang 12
Nghệ thuật biểu diễn và nghệ thuật tạo hình
Nghệ thuật biểu diễn bao gồm : muá, âm nhạc, sân khấu là những món
ăn tinh thần không thể thiếu trong các hoạt động cộng đồng của người Khmer.Đối với sân khấu Rô Băm, Dù Kê thì âm nhạc truyền thống của người Khmer
là không thể thiếu Ngoài ra người Khmer còn có những loại hình dân ca tậpthể: hò kéo cây, hò kéo thuyền…Ayai là môn nghệ thuật dân gian thuộc thểloại hát đối đáp của Khmer với 13 điệu Hầu hết không một người Khmer nào
là không biết ít nhiều về nghệ thuật múa Một ssó điệu múa như : rom vong(múa vòng), rom khach (múa kiều)
Nghệ thuật tạo hình của người Khmer thể hiện rõ nhất , thành công nhấttại các công trình chùa Khmer Đó là những ngôi chánh điện, những Sala, thápđựng cốt…
Trang 13
Sóc là tổ chức xã hội bao gồm nhiều phum Theo nghĩa rộng sóc cónghĩa là “Sứ”, “địa phương”, “quê hương” Với tư cách là một đơn vị hànhchính thì sóc tương ứng với huyện.
Tính chất gia đình
Xu hướng trở thành phụ hệ biểu hiện rõ trong hệ thống thân tộc củangười Khmer, song trong thực tế tàn dư của hệ thống thân tộc mẫu hệ vẫn cònđậm nét.Gia đình nhỏ là hình thức phổ biến ở vùng Khmer Trong phum nhỏ
có nhà của cha, con gái, và gia đình bà con bên ngoại nếu có Người đứng đầu
là Mê phum Đứng đầu gia đình nhỏ là người chồng hoặc cha nhưng vẫn phảitham khảo ý kiến vợ trong những công việc quan trọng Con trai, con gái đều
có quyền thừa kế tài sản như nhau
Hon nhân 1 vợ - 1 chồng là phổ biến trong xã hội Khmer Trai gái trong
1 phum, sóc thường kết ôn với nhau
Hôn lễ
Có 3 bước: Lễ dạm hỏi của nha trai sang nhà gái (giai đoạn mối mai)
Lễ dạm hỏi khi nhà trai chính thức mang lễ vật sang nhà gái
Lễ cưới được tổ chức tại nhà gái
Trong hôn lễ có các vai trò chính: Ahapơlia-hướng dẫn nghi lễ; người làm chứng bên nhà trai, Mêba- đại diện nha gái (thường là ông ngoại côdâu)
Maha-Ma chay
Người Khmer có tục hỏa thiêu Tùy theo địa vị xã hội, mức độ giàunghèo mà thời gian hỏa thiêu là khác nhau.Sau khi thiêu tro được cất trongtháp Chêday, thường xây xung quanh chính diện chùa Achapôn coi nghi lễ
và ngày giờ thiêu, achadôki trông coi khiêng quan tài châm lửa, đốt và hốt trocốt
Trang 14II SINH HOẠT KINH TẾ CỦA DÂN TỘC KHMER.
1 Sản xuất nông nghiệp
Người Khmer từ xa xưa đã trồng lúa nước và có kinh nghiệm trong việccanh tác lúa nước Đồng bào phân biệt nhiều loại ruộng đất gieo- trồng và cácgiống lúa, biện pháp kỹ thuật thích hợp cho từng loại đất
Loại ruộng gò (xrê tuôl): Phù hợp với lúa sớm (xrâu sêral) và các giốnglúa như néang vơk, néang khlai…
Loại ruộng thấp (xrê tumniếp) : được cấu tạo từ phù sa cận sinh, chứanhiều đất pha cát, có khả năng lưu trữ nước mưa lâu hơn nên rất thích hợp vớigiống lúa mùa (xrâu rơđâu)
Loại ruộng rộc (xrê lattô): nằm giữa hai giồng, tích tụ được nhiều chấthữu cơ, có nước quanh năm, thích hợp với nhiều vụ lúa và hoa màu trong mùakhô
Loại ruộng lúa nồi (xrê lơn tưk): phổ biến ở vùng tứ giác Long Xuyên,thích hợp kỹ thuật sạ lúa với các giống néang tây, néang dum…
Loại ruộng vùng bưng trũng (xrê chơmrơn): giàu chất đạm nên nông dânKhmer cấy lúa 2 lần Ở các vùng đất bưng , bàu được cải tạo thành ruộng này,
họ thường phát cỏ, đắp bờ, cho trâu bò giẫm đạp cỏ xuống đất bùn để biếnthành phân tốt Loại ruộng này thích hợp với giống lúa có thời gian sinhtrưởng dài ngày, cho năng suất cao
Người Khmer đã có nhiều sáng kiến tạo ra các biện pháp thủy lợi thíchhợp với địa thế ruộng đất Ở vùng đất gò hay vùng đất cao gần giồng, ngoàiviệc lợi dụng nước mưa để làm ruộng đồng bào còn thường đào các giếng(onđôn ang tữk), ngay giữa ruộng và dùng thùng gánh hay gàu dây (xnack) đểkéo nước lên Trước đây các ao (troplăng) mà ta còn biết được qua sự tích Ao
Bà Om, Ao Phật…cũng được đào để lấy nước tưới hoa màu, và đôi lúc cho cảruộng nhất là các ruộng mùa khô (xrê prăng) Nông dân Khmer còn lợi dụngcác đường nước (ô) để dẫn và chứa nước, khi cần thì tát vào ruộng bằng gàugiai hay gàu sòng (xnach yaung, thloeng) Ở những vùng gần sông rạch và bịnhiễm mặn, phèn : Trà Cú, Long Toàn, Long Phú…đồng bào còn lợi dụngthủy triều lên xuống để đưa nước vào ruộng rồi đắp những đập nhỏ (tronup)
để giữ nước xổ phèn hay giữ phù sa lại làm màu.Trước đây do tiếp thu củangười Việt, người Khmer thường sử dụng guồng (rohăt luk) Nhưng từ nhiềunăm nay, cũng như nông dân Việt, nông dân Khmer đã sử dụng phổ biến cácloại máy bơm nhỏ Khác với hình ảnh mà truyện cổ đã kể lại, Khác với hệthống thủy lợi của người Khmer ở Campuchia, các công trình thủy lợi củangười Khmer nước ta có quy mô nhỏ, không cần huy động nhiều nhân lực ỞĐBSCL , ngay từ những ngày còn hoang vu, nhiều thử thách của thiên nhiên
Trang 15Khmer đã tạo ra nhãng hình thức tương trợ trong sản xuất Các dôk đăy lànhũng tổ chức vần công, đổi công nhằm giúp đỡ nhau trong sản xuất.
Công cụ của người Khmer gần giống các công cụ của người Việt và sovới người Khmer Campuchia thì có khác biệt Ở những vùng đất phù sa vensông, ven biển, ven rừng trứơc đây người Khmer thường phát cỏ bằng phảngsau đó dùng loại bừa cào to mà kéo cỏ gom lại thành vồng rồi dùng cây nọc to
để xoi đất Ở những vùng dùng cày thì cày của người Khmer chắc chắn , dàihơn, lưỡi cày xới đất sâu hơn thích hợp với đất đai Nam Bộ.Bừa của ngườiKhmer cũng có răng dài hỏn Mặt khác việc sử dụng trục lăn đất (thlôc) phổbiến hơn ở Campuchia Người Khmer cũng sử dụng 2 loại cuốc chính là cuốctai tượng và cuốc tiều Cuốc tiều đã có từ lâu đời, cán gỗ chắc, lưỡi dày, nặng,khố gãy vì có gờ nối dài ở mặt sau, cán gỗ chắc Gọi là cuốc tiếu vì ngườiKhmer mua cuốc ở tiệm người Hoa, người Hoa đặt người Kinh làm Theo ýkiến một số nhà nghiên cứu ở đế cày và viêc dùng lưỡi cày (Phâldèk-Neangcol) bằng săt là kết quả của quá trình giao lưu văn hóa Khmer- Việt ởĐBSCL cho phù hợp với thiên nhiên Nam Bộ
Xưa kia năng suất mỗi vụ trung bình 5-6 giạ/công Những năm dưới chế
độ cũ, nông dân Khmer đã sử dụng phân bón hóa học, máy bơm nước…nênnăng suất cao hơn, trung bình 10-11 giạ/công hay 20-30 giạ/ công Sau ngàygiải phóng, tiếp tục truyền thống canh tác và áp dụng công nghệ hiện đại vàosản xuất, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao
Bên cạnh việc trồng lúa nước là ngành sản xuất chủ yếu, nông dânKhmer còn trồng hoa màu trên đất rẫy gọi là Chõm ka Có 2 loại đất rẫy: rẫychuyên dùng và rẫy vốn là ruộng ven làng Giữa 2 vụ lớn, nông dân Khmercòn canh tác thêm một vụ phụ Trên đất Chõmka chủ yếu trông đậu khoai ,ngô…Cũng có địa phương chuyên trồng đặc sản như: dưa hấu (Cầu Ngang,Long Toàn, Trà Cú); hành đỏ, nhãn ở Vĩnh Châu…
Chăn nuôi ở vùng Khmer nhìn chung vẫn còn gắn với nông nghiệp.Ngoài đa số gia súc, gia cầm nuôi trong sân vườn, có nơi còn nuôi hàng ngàncon vịt tàu để lấy trứng và bán thịt , như một số gia đình ở Cửu Long và HậuGiang Ở vùng Tri Tôn , Bảy núi, việc nuôi trâu bò cũng khá phổ biến Nơiđây còn nhiều trò chơi, tập tục khuyến khích việc nưôi trâu bò Chợ phiên trâu
bò ở núi Sam được đồng bào đông đảo tham gia
Trang 16
2.Thủ công nghiệp
Nghề thủ công mây tre đan rất phổ biến ở nông thôn Khmer và thườngđược tiến hành trong những lúc nông nhàn Những đồ đựng, đồ chứa, giỏ,xách…,các đồ nghề đánh cá đan bằng tre như lờ, đó, đăng…rất khéo và bềnmang nhiều sắc thái dân tộc trong quá trình tạo hình Nghề đan đệm, dệt chiếuhoa do phụ nữ đảm nhiệm vẫn rất phổ biến ở Hà Tiên, Minh Hải, An Giang…
Đồng bào Khmer có truyền thống làm đồ gốm từ lâu đời Ở những ditích khảo cổ số luợng hiện vật gốm rất lớn, có nhiêù loại hình, hoa văn đadạng Hai trung tâm làm gốm của đông bào là Tri Tôn và Sóc Xoài (KiênGiang) Phẩm chất và hình dạng gốm Sóc Xoài có khác vì đất ở đấy khôngdẻo bằng Tri Tôn Kỹ thuật chủ yếu dựa vào đôi tay của phụ nữ, chưa có bànxoay Bàn dập khắc sẵn các hình kỷ hà và hình răng lược dùng để trang trí.Sản phẩm phơi khô và nung chín ở 600-800 độ Ngoài các dụng cụ gia đìnhsản phẩm gốm còn phổ biến là nồi (cà om), các cà ràng, bếp lò, các loại trốngcúng thần (xko arẳc)
Ngoài ra ở nông thôn Khmer lác đác còn một số thợ mộc thợ nề, vàtrong thành phố còn có một bộ phận thợ kim hoàn
Dưới chế đọ cũ, việc nhập các hàng vải đã bóp chết nghề nuôi tằm, dệtvải, chăn nôi của người Khmer Trước đây làng Lương Hòa-Nguyệt Hóa(Châu Thành- Cửu Long), Cầu Ngang, Trà Cú…có tiếng về nuôi tằm, dệt lụanhưng nay không còn là một nghề phổ biến nữa Ở vùng Tịnh Biên và Tri tôn,
vì đồng bào còn mặ chăn (Sampôt) nên nghề dệt rất phát triển Ngoài dêt cácloại sampôt, đồng bào còn dệt các loại khăn tằm, khăn đội, được người Việt
ưa thích Cũng ở Tịnh Biên và Tri Tôn, đi đôi với nghề dệt là nhuộm (mặcnưa) Đông fbào lấy trái mặc nưa lúc mới già đem giã nhỏ, quậy với nướclạnh để nhuộm đên hàng tơ lụa rất tốt vì càng ra nắng lại càng lên màu
Trang 17Nơi còn sót lại nghề dệt của người Khmer đó là sóc Tà Kốt , phumTropeng Tchâu (nghĩa là ao sâu) thuộc xã Văn Giáo-Tịnh Biên Sóc cókhoảng 45 hộ gia đình Khmer, trong đó khoảng 15 hộ có khung dệt Ngoàinghề dệt ra, người Khmer ở đây còn có nghề làm đường thốt nốt, đóng xe bò,rèn…
Theo những người già ở Tà Kốt cho biết, trước đây, người Khmer ngườiKhmer trong sóc biết trồng bông vải ở trong vườn, trên rẫy, trên núi Bông tráithu hoạch được cán bắng xa cán đẻ loại bỏ bột, xe thành con cúi và kéo thànhsợi Sợi bông được hồ bàng bột gạo và nhuộm màu bằng các loại lá cây, rễcây và trái cây với các màu đen, đỏ, vàng…và họ thích nhất màu vàng (có thể
là do ảnh hưởng của Phật giáo) Trong chùa Tropeng Tchâu có một tấm rèmtrước ànn thờ Phật được kết bằng các tấm vải dệt thủ công rất độc đáo Hiệnnay ở Tà Kôt không còn trồng bông vải, nhuộm màu như trước nữa Thay vào
đó họ mua sợi đã được nhuịim sẵn ở Châu Đốc, Long Xuyên về dệt
Các công đoạn nghề dệt của người Khmer ở Tà Kốt cũng qua một sốbước như mắc sợi, luồng go, bắt sợi dọc lên khung dệt Được biết khung dệtcủa người Khmer ở Tà Kốt đã có từ rất lâu và truyền lại qua nhiều đời Khungdệt của người Khmer ở Tà Kốt có khác với khung dệt của người Chăm ởTrung bộ và Châu đốc, và cũng có khác so với khung dệt của một số dân tộc ítngười ở Tây Nguyên Trước hết là khổ vải dệt khá rộng từ 80 cm hoặc hơn,thứ hai là hệ thống go có phần phức tạp và được điều khiển bởi hệ thống dâytreo kết hợp với bàn đạp chân Trục sợi và trục cuộn vải cố định ở hai đầu,người dệt ngồi cố định ở phần đầu vải đã dệt, thoi dệt khá dài Kỹ thuật bắthoa văn cũng có phần phức tạp
Nghề dệt của người Khmer ở Tà Kốt, toàn bộ các công đoạn đều do ngườiphụ nữ đảm nhiệm, và hầu như chỉ thực hiện vào thời kỳ nhàn rỗi giữa cáchoạt động canh tác nông nghiệp Năng suất dệt khá thấp, do kỹ thuật bắt hoavăn đòi hỏi nhiều công phu và sự tỉ mỉ Hoa văn hóa các sản phẩm dệt củangười Khmer Tà kốt có nét riêng, và dễ dàng nhận biết, phân biệt với hoa văntrên vải Chăm, Tây Nguyên và các dân tộc khác Hoa văn trên vải Khmer ở
Tà Kốt phần lớn là các hình kỹ hà, các đường viền tạo thành dải với một sốmảng cách điệu được lặp lại khá đơn điệu tạo nên những ô hình thoi Đánglưu ý, là những tấm vải, phần màu nền chủ yếu là màu vàng hoặc sẫm, hoavăn được khuôn vào các ô hình quả trám tạo bởi các đường chéo đan nhau.Những hoa văn trên vải, rất gần với các trang trí hoa văn thường bắt gặp ở cácchùa Khmer
Sản phẩm dệt của người Khmer ở Tà Kốt chủ yếu là các tấm cải dùng làm xàrông cho đàn ông hoặc váy cho phụ nữ, khăn để địu con Do quy mô nghềdệt theo từng gia đình và năng suất thấp nên sản phẩm dệt ở Tà Kốt chỉ để
Trang 18dùng trong gia đình hoặc phum sóc, và các trang phục từ vãi dệt này chủ yếu
là để dùng trong các dịp lễ, tết truyền thống của người Khmer ở địa phương.Nghề dệt của người Khmer ở Tà Kốt hiện nay đang có chiều hướng suy sút,
số gia đình có nghề dệt còn không nhiều, và nhữngngười biết nghề dệt, biếtcác kỹ thuật bắt hoa văn cũng còn rất ít, phần nhiều là những người già, hoặc
có tuổi
Vùng Khmer ở Bảy Núi, An Giang đến nay còn bảo lưu một sốnghề thủ công truyền thống đáng lưu ý Ngoài các nghề như làm đường thốtnốt, làm gốm, dệt, còn có một số nghề khác như nghề rèn, đan lát, đóng xebò Nhìn chung, những nghề này có quy mô nhỏ theo từng gia đình, không
kể đường thốt nốt và gốm được cung cấp rộng vào thị trường, còn các sảnphẩm thủ công khác, chủ yếu để đáp ứng nhu cầu gia đình, phum sóc, kỹthuật sản xuất mang tính cổ truyền, năng suất thấp Trong tình hình hiện nay,một số ngành nghề thủ công của người Khmer ở Bảy Núi có chiều hướnggiảm sút, và thất truyền Vì vậy, cần có sự quan tâm nghiên cứu về mặt khoahọc, cũng như có biện pháp bảo tồn các nghề thủ công truyền thống này nhưmột di sản văn hóa dân tộc quý báu của nước ta
3.Thương nghiệp
Dưới chế độ cũ ở nông thôn Khmer đã xuất hiện một vài quán buôn bán
lẻ Số người Khmer sống về nghề buôn bán rất ít, phần nhiều là những ngườisống ở các thị trấn và thường có quan hệ với người Hoa Từ sau ngày giảiphóng, số ngươi Khmer bị dồn về các thị trấn, thị xã sống tạm bằng dịch vụnay càng giảm bớt, họ trở trở lại nông thôn hoặc làm nông nghiệp ven đô
Do đặc điểm là vùng sông nước nên khu chợ nổi cũng là nơi trao đổikhông thể thiếu của người Khmer
Trang 19
4.Săn bắt và hái lượm
Người Khmer ở vùng sông rạch hay biển như Long Toàn (Cửu Long),Vĩnh Châu, Giarai…đã sử dụng nhữrng kỹ thuật đánh bắt cá nước ngôt vànước mặn Rất ít người Khmer sống nghề chài lưới trên biển tuy cũng có một
số gia đình chung lưng hùn vốn mua thuyền và lưới đánh cá Kỹ thuật đánhbắt cá sông, cá đồng của người Khmer cũng như các ngư cụ: lưới , đăng, đó,giống với người Việt ngoại trừ cái xaneng, Trên sông Hậu, sông Tiền phầnnhiều dùng lưới và giăng câu
Ngoài ra còn có sự khai thác lâm thổ sản trong rừng
III ẨM THỰC KHMER
1. Yếu tố truyền thống tộc người
Người Khmer ở ĐBSCL sử dụng nguồn lương thực chính yếu là gạo tẻ
và gạo nếp, họ ít ăn bắp như đồng tộc của họ ở Campuchia Dụng cụ để đựng
và nấu ăn của người Khmer ĐBSCL trước kia đều bằng gốm như bếp “càràng” (loại bếp có mặt bằng rộng, giống ssó 8, đầu to để đun nấu, đầu nhỏ hơn
có thể cời than củi ra để nướng) Các loại nồi “chơ năng” to nhỏ đủ cỡ, cáisiêu “tum”, các loại “ cà om” đựng nước, ngũ cốc, mắm…khuôn đổ bánh
Trang 20ngọt…do thợ gốm Khmer sản xuất Các địa điểm nổi tiếng làm dụng cụ bằnggốm như: An Lạc- Tri Tôn- An Giang, Sóc Xoài- Hòn Đất- Kiên Giang.
1.1 Món ăn dân dã
Mắm : Nếu người Việt có nước mắm và các loại mắm là món ăn hợp
khẩu vị dân tộc, được sử dụng thường xuyên trong bữa ăn thì với ngườiKhmer có món mắm “prahoc” mà cư dân ở ĐBSCL gọi là món “bò hóc” (dohiện tượng biến âm, bỏ mất âm r) hoặc gọi tắt là “mắm bò” Mắm prahoc cóthể làm bằng cá đồng lẫn cá biển được chia ra 2 loại:
- Mắm cá nhỏ “prahoc trey chagvar” : cá rẻ tiền như cá chèm, cásặc, cá chốt…
- Mắm cá lớn “prahoc trey thom” : cá đắt tiền như cá lóc, cábông…
Người Khmer dùng mắm prahoc hằng ngày và nêm vào hầu hết các món
ăn mặn để tăng hương vị đặc biệt, đậm đà cho món ăn Người ta còn dùngmắm prahoc như các món ăn riêng như : kho, chiên, chưng…
VD: Mắm prahoc kho với cá nhỏ chấm với rau đồng
Mắm chưng với sả, ớt ăn chung với cá nướng
Mắm prahoc ăn sống trộn với sả, ớt bầm nhỏ chấm với đậu đũa
Ngoài ra còn có một số lôại mắm khác như mắm “bà ok”, mắm “ơn pu”làm bằng tôm tép; mắm “pơling” làm bằng cá sặc Song có một loại mắm màngười Khơmer rất thích đó là mắm chua “pha ớt”, mắm này thường chỉ làmvào mùa tôm tép và cá nhiều Người ta ướp tép hoặc cá trong muối, gia vàothật nhiều thính (gạo rang vàng, xay nhuyễn) rồi phơi lu mmắm ngoài nắngkhoảng 10 ngày Trước khi ăn một ngày người ta thaí sợi đu đủ xanh , củgừng,củ riềng và ớt trộn vào mắm Mắm chua được ăn với cá nướng, rauchuối, chuối chát…người ta có thể bày cùng với loại rượu cất bàng nếp hoặcgạo nàng thơ…
Chả cá: Món ăn cổ xưa của ngưới Khmer còn có chả cá “phaak”, chả
tôm “phaak krapơ” …họ cũng rất thích loại chả chiên gồm thịt các loại ếch,
Trang 21cá, lươn, rắn…bầm nhuyễn chung với sả, ớt, tiêu sau đó gói trong lá nhàuhoặc lá mướp, lá mãng cầu, lá mướp…đem nhúng bột chiên giòn hoặc nướng,hay bỏ vào xửng khìa trong nước cốt dừa.
Canh: Người nội trợ Khmer ở ĐBSCL còn nhớ rất nhiều món canh
quên thuộc của dân tộc mình, đặc sắc nhất là các món canh “xiêm lo chomrố”tức canh thập cẩm, được nấu với nhiều loại rau rừng và rau đồng như rau cỏchai “ xa láp te”, rau cỏ dịu “xa băng”, lá nhãn lồng “sao mau”, cải trời
“tapimết”, rau đấng, rau ngổ, rau chuối, khổ qua…cùng các loại tôm, thịt, cá,
…với gia vị như sả, ớt, thính, gừng, dừa khô, mắm prahoc Hoặc như món “xiêm lo prohơ” cũng là một loại canh nấu với thịt hoặc cá, gia vị là mắmprahoc, sả, ớt, ăn với gỏi đu đủ, dưa leo chấm với cơm mẻ…
Người Khmer ở vùng rừng núi phía Tây Nam Việt Nam thường hay dùngquả mật cật loại còn non để nấu canh “xiêm lo pha au” Họ bàp mỏng quảnày, ngâm nước sau đó xào trong mỡ, bỏ thính và nước vào nấu chín, saucùng mới bỏ thịt nướng hoặc cá nướng vào
Vùng người Khmer cư trú thường nhiều tre, người ta rất thích dùngmăng tre nấu canh “xiêm lo tùm prng” nấu chung với cá xúc được ở ao,mương, rạch từ chiếc “xà neng”, sau đó nêm mắm prahoc cùng lá bồ ngót, lábình bát dây và vài lá sả
Trong đám cưới, đám làm phước: người Khmer rất thường hầm cari với
trái mít già cùng thịt gà, vịt…hoặc món lẩu “tả pí lù” giồng người Hoa ăn màngươi Khmer gọi là “mò chu pù” để đãi khách Ăn món này người ta đặt cảnồi và bếp lên bàn, nước dừa tươi đun sôi trong nồi, thả vào vài tép sả và vàiquả ớt, nêm dấm và mắm prahoc vào cho vừa ăn Khi nước sôi người ta gắptừng miếng cá tươi xắt lát (cá lóc, cá bông…) cùng với các loại rau cần, raumuống, cải bẹ xanh…nhúng vào nồi nước sôi cho chín rồi mưới ăn, giốngnhư món lẩu
Bún nước lèo “xiêm lo nung mờ chót” : là một trong những món ăn đặc
trưng nhất của người Khmer được cả người Việt và người Hoa yêu thích.Tôm, cá nấu nhừ trong nước, bỏ hết xương, nêm vào nước lèo sả, ớt, củ ngảibún được giã nhuyễn, sau cùng nêm mắm prahoc vào cho đậm đà Người tachan nước lèo này vào bún ăn kèm với nhiều loại rau như húng nhủi, húngquế, hẹ, lá nhàu…Đây là món ăn quen thuộc được bán tại các chợ nơi cóngười Khmer sinh sống
Trang 22
Người Khmer ở Trà Vinh nấu món ăn này ít dùng củ ngải bún mà họ chỉquen sử dụng củ riềng (còn người Hoa ở Sóc Trăng khi nấu món bún nước lèonày họ không dầm nát cá mà hấp, gỡ xương, để nguyên miếng Thêm thịt heoquay thái nhỏ vào) Đặc biệt người Khmer giắt bún thành từng con dẹp, nhưbím tóc chứ không là sợi bún như người Việt Cũng với nồi nước lèo, người ta
có thể chế biến thành các món canh cho bữa cơm trong gia đình Nếu thả bầuthái nhỏ vào thì thành món “xiêm lo kha lốt” Nếu thả bí đao thái sợi vào thíthành món “xiêm lo tà lách” được dùng nhiều vào những ngày thời tiết nóngnực
Khẩu vị: người Khmer thích chua, cay và béo Nhất là vị chua.
Người Khmer là một tộc nhười chế biến nhiều món canh chua “xiêm lo
mò chu” nhất Các món canh này rất độc đáo ở cách nấu và ở các vật liệukhác nhau để nấu Vị chua của các món canh chua rất đa dạng: quả me, lá menon, trái bứa dây, trái ranh đanh (khế rừng), cơm mẻ, xoài bầm nhuyễn…Một
số món canh chua đặc sắc của người Khmer như: canh chua nấu với trái chuốixiêm xanh “xiêm lo mò chu pha le chất” Chuối xanh tước bỏ vỏ, xắt hơi dầy,nấu với cá hoặc thịt gà, thêm cơm mẻ và các loại rau om , tần dày lá, ngò gai,
sả và mắm prahoc Ngoài ra còn món canh chua nấu với bắp chuối thái mỏngvới cá khô và lá me non
Đối với vị cay có trong phần lớn món ăn của người Khmer có lẽ do ảnhhưởng của văn hoá Ấn Độ từ xa xưa với cách thức nêm rất nhiều loại hươngliệu như củ nghệ, củ riềng, tiêu, tỏi, sả, ớt, cari…
Chất béo trong thức ăn của người Khmer được lấy từ cùi quả dừa khô.Trong hầu hết món ăn mặn và ngọt của người Khmer ĐBSCL đều nấu vớinước béo của quả dừa, một công thức nấu ăn khá độc đáo mà không phải dântộc nào cũng có thể chấp nhận được dễ dàng
VD: món “tức khương” của người Khơmer là món thịt heo bămnhuyễn xào sền sệt trong nước cốt dừa nạo, sau đó nêm mắm prahoc và một ítmắm ốp (làm từ cá trê) cùng nhiều gia vị cay như ớt khô, hành, tỏi…
Thức ăn săn bắt từ thiên nhiên: Người Khmer có những món ăn dân dã
được cung cấp từ nguồn sản vật phong phú ở môi trường sinh thái vùng
Trang 23ĐBSCL Mùa mưa là mùa sinh sôi của các loài cóc, ếch, nhái…Và người tahàng đêm đi soi, bắt được hàng giỏ Thịt cóc, ếch, bồ tọt …thường được xàovới gừng và lá cách là những món ăn thông dụng hoặc dùng nó nấu canh lá
me non hay món cà-ri
Ở nơi bùn lầy, người ta thường bắt được con lươn “tuông”, cá chạch
“hây xa luông” để kho với nghệ hoặc nấu canh chua xào sả ớt
Vào mùa lúa chín khoảng t4, t5 âm lịch, người Khmer thích bắt chuộtđồng, lúc mà thịt chuột béo nhất vì ăn no nê lúa Chuột đòng là nguồn sản vậtcung cấp nhiều món ăn phong phú cho người Khmer như: chuột xào lá cách( hoặc lá mãng cầu non); chuột nấu canh chua với cơm mẻ, sả, ớt; chuột hấp
xé phay trộn với rau húng, bắp chuối, sả, ớt, cơm mẻ …đó là những món ănngười Khmer chỉ dùng để tiếp khách quý
Họ cũng rất thích những loại ốc bươu, ốc lát, ốc đắng…có nhiều ở ao,
hồ, đìa, bàu,…vùng đồng ruộng Nam Bộ vào đầu mùa mưa.Người ta bắt ốc vềrửa sạch, bỏ vào nồi nấu chung với chút muối và lá ổi (đề pphòng đau bụng)
Ốc hấp ăn với cơm mẻ, sả, ớt hoặc có thể khìa ốc trong nước cốt dừa cho tớikhi nước dừa cạn dần
Bánh của người Khmer: Người Khmer tự hào về những loại bánh ngọt
cổ truyền của dân tộc mình vì nó chiếm một số lượng khá phong phú lại vôcùng độc đáo Bánh ngọt chiếm một vị trí khá quan trọng trong đời sống củangười Khmer vì nó không thể vắng mặt trong các dịp lễ, Tết, cúng bái theophong tục: để chuẩn bị cho lễ cưới, dâng tặng cho ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo
đã già yêuú trong lễ chúc thọ “ bôn châmrơm prah chôm” Người Khmer có 6loại bánh ngọt mà đặc điểm của nó là có thể để dành 5-6tháng mà không bịhỏng, khi dùng đem bánh hơ lại
1 Bánh ghế “nùm còn khuyên” làm bằng các loại bột dậu nành, đậuxanh, nếp rang và bột nghệ; nắn hình tròn, có 4 chân như cái mâmhay cái ghế
2 Bánh ăn trộm “nùm chộ” làm bằng bột gạo quết nhừ, nhuyễn, nắnhình tròn hoặc vuông, dẹp với đủ kích thước, chiên xong nở phồng
to như bánh tiêu của người Hoa
3 Bánh cô Nóc “nùm neàng nóc” làm bằng bột gạo, trứng gà, đậuxanh, nước dừa, nặn hình chữ nhật như bao thuốc lá
4 Bánh củ gừng “nùm khnhây” là loại bánh ngọt phổ biến nhất trongcộng đồng người Khmer ở ĐBSCL Bánh làm bởi bột nếp giãnhuyễn, nắn hình củ gừng, chiên xong ngào đường
5 Bánh hạt mít “nùm cọp thnô” làm bằng đậu xanh, nắn hình hạt mít
6 Bánh cô Thôn “nùm neàng Thôn” còn gọi là bánh tơ hồng, làmbằng lòng đỏ trứng gà và đường, kéo sợi bột theo dạng quấn chéoxoắn vào nhau…
Nói chung, các loại bánh có thể để lâu hàng tháng người Khmer gọichung là “nùm krôm” với ý nghĩa “chịu đựng” có thể dành ăn lâu ngày Trong
Trang 246 loại bánh này, ngày nay dường như người Khmer ĐBSCL chỉ còn làm bánh
củ gừng, bánh ghế trong các dịp lễ, Tết, đám cưới…còn các thứ bánh kháchầu như đã thất truyền, mai một Nguyên nhân của hiện tượng này có lẽ vìmột số loại bánh đòi hỏi quá nhiều công phu , thời gian cũng như sự khéo léonên ít người muốn học và làm bánh Nhìn chung các loại bánh của ngườiKhmer ĐBSCL chủ yếu làm bằng bột nếp hoặc bột gạo Điều đó cũng dẽ hiểu
vì đó là sản phẩm của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước lâu đời
Để chuẩn bị cho lễ cưới , người Khmer thường làm sẵn bánh từ nhiềutháng trước Bánh được đưa vào chùa dâng sư, sãi, biếu tặng họ hàng, lốixóm, các người đến phụ giúp lễ cưới Trong lễ cưới của người Khmer hầu nhưkhông thể thiếu 3 loại bánh ngọt cổ truyền để bày trên bàn thờ đó là: bánh taiyến “nùm plách”, bánh củ gừng “nùm khnhây”, bánh bông lan “nùm tiêl”.3loại bánh này được trưng bày bằng cách xâu kết khéo léo vào nhau thànhhình dạng rẽ quạt, ngôi tháp Khmer nhiều tầng Sở dĩ ngày cưới hay trưng bàybánh củ gừng vì gừng có tác dụng trị cảm mạo, nó mang ý nghĩa cầu chúc sứckhoẻ ccô dâu và chú rể Hơn nữa hình dạng củ gừng là loại củ đâm mọc ranhiều nhánh, nó nhằm biểu tượng cầu chúc cô dâu, chú rể sinh nhiều con cái.Trong quá trình cộng cư trên ĐBSCL, người Khmer, Hoa và người Việtthường ảnh hưởng lẫn nhau nhiều loại bánh như “nùm pha-ại” giống như chètrôi nước (món bánh này người Khmer thường nói vui là món “bánh sanhchuyện” –nùm khợy thđây, vì khi cắn miếng bánh này vốn làm bằng bột nếppha gạo , có cục nhân bằng đường thẻ nên rất mềm, dễ văng nước vào mặtngười đối diện làm mếch lòng nhau mà sanh chuyện); “nùm lột” giống bánh
da lợn; “nùm ọn chệt” giống bánh xèo nhân ngọt; “nùm pọng” giống bánhbò…đó là những món quà bình dân thường bày bán ở chợ và dọc theo lối vàochùa Khmer vào những dịp lễ, Tết
Món cốm dẹp “angbok” : là một món ăn cổ truyền không thể thiếu vào
dịp lễ tạ ơn Mặt Trăng “Ok Angbok” một hội lễ nông nghiệp của ngườiKhmer được tổ chức sau dịp thu hoạch mùa màng Cốm dẹp làm từ nếp mớigặt (vì lúa nếp thường được thu hoạch sớm nhất trong mùa) còn thơm ngát,đem rang lên, đập dẹp, quết và trộn với nước thốt nốt hay nước dừa cho dẻo
Trang 25Đường thốt nốt: Người Khmer ưa thích sử dụng đường thốt nốt Họ
dùng nước thốt nốt để nấu cco đặc thành đường, miếng tròn, to, nhỏ khácnhau (trung bình 6l nước thốt nốt thì nấu được 1kg đường) Cứ 10 miếngđường gói trong lá thốt nốt thành cây dài Đường thốt nốt dùng để nấu nhữngmón ăn ngọt lẫn mặn làm tăng hương vị thơm ngon
1.2 Uống, hút
Trong việc ăn , uống người Khmer sử dụng rất nhiều rượu “sra” nhất làvào dịp lễ, Tết, đám làm phước…Trong những dịp này, bình quân 1 người đànông uống từ 1l-1.5l mỗi ngày, trong khi vào ngày bình thường, tửu lượngtrung bình của họ khoảng ¼ l
Cách làm rượu thủ công của người Khmer cũng gần giống như ngườiViệt Một trả rượu nấu khoảng 10kg gạo (hoặc nếp) được 5l rượu có nồng độkhoảng 35 độ.Cí nơi sản xuất rượu có nồng độ khá cao, chừng 50 độ như xãThanh Sơn- Trà Cú- Trà Vinh Người ta nấu gạo hoặc nếp thành cơm, trảirộng ra trên ván có lót lá chuối Khi cơm bớt nóng, người ta rải men rượu lênrồi trộn đều, sau đó cho vô lu đậy kín, ủ 3 ngày đêm rồi đổ nước vào Kế đóngười ta chưng cất dung dịch này cho bay hơi trong một ống tre hoặc nhômđược ngâm quanh một thau nước nguội đề hơi nước tụ lại thành rượu
Ngày thường, người Khmer uống nước mưa chín trong lu, khạp hoặcuống nước trà loãng hay nước lá cây nấu sôi.Loại nước quả này có vị dịungọt, được chứa trong các ống tre Nước thốt nốt thơm mùi lá xông khói, cóthể để lên men thành loại nước uống tự nhiên có ga Phụ nữ Khmer thườnggánh bán các ống tre đựng nước thốt nốt vào những dịp lễ, Tết
Về thuốc hút, người Khmer tự trồng lấy cây thuốc, họ thái lá nhuyễn,phơi khô làm thuốc, vấn trong giấy quyển để hút
2. Ăn uống dưới khía cạnh y học
Trang 26Trong việc ăn uống, người Khmer còn có ý thức “ăn để trị bệnh” Người
ta quan niệm, ăn thịt cóc có thể chữa được tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ con
và suy nhược cơ thể ở người lớn, vì trong thịt có rất nhiều chất bổ dưỡng giúp
cơ thể hồi phục, tăng cường sức khoẻ nếu biết cách làm thịt cóc thật kĩ, loại
bỏ những chất độc có trong lá gan, trong trứng Người ta thường bầm nhuyễnthịt cóc nấu cháo đậu xanh ă vì có tác dụng làm mát và bồi bổ cơ thể; hoặcướp thịt cóc trong cám, loại thật tốt rồi đem sấy cho khô để ăn dần Người tatin món này có thể trị được bệnh “bụng báng” ở trẻ con
Nếu trị bệnh ngoài ra như hắc laào, vẩy nến…bài thuốc dân gian Khmer
là cho bệnh nhân dùng thịt gà ác chưng cách thuỷ với lá muồng thái nhỏ.Vào mùa nóng người Khmer có tập quán nấu một số món ăn có tác dụng
hạ nhiệt, ngăn được chứng bệnh sởi, ban trái hoặc chữa được bệnh nónggan…đó là món ăn được nấu bắng lá cứt quạ mà người Khmer gọi là “buaomben” (loại có quả nhỏ chứ không phải loại có quả to “kha ét” ) Lá này giãnát, vắt lấy nước, nấu chung với thịt gà hoặc cá (nếu ở vùng không có lá cứtquạ, người ta có thể thay thế bằng lá hỗ bao và hoa của cây đu đủ)
Người Khmer còn ăn ốc hướng “loại ốc sống bám trên cây ở vùng đấtcao) thay cho thuốc trị bệnh đau khớp xương
Nếu bị nhức mỏi, suy thận, bài thuốc dân gian Khmer là dùng lá nhàuhoặc lá lốt gói thịt lươn hay thịt rắn bầm nhuyễn, vì các loại lá này có mùithơm và vị cay, vừa khử được mùi tanh của thịt, vừa trị được bệnh
Để cho sản phụ sinh nở dễ dàng, có sức khoẻ chịu đựng những cơn đau,người Khmer tin rằng sản phụ đó trước khi sinh cần ăn thịt 1 con rùa khoảng200gr Sau khi sinh xong, để giúp cho phụ nữ mới sinh chóng lại sức, phòngbệnh trúng thực, tăng sức đè kháng ch cơ thể, người Khmer có tập quán dângian lâu đời là ch sản phụ ăn một bát canh nóng gồm củ ngải, củ nghệ, cùngcác loại rau củ rừng và đồng như cỏ chai, cỏ dịu…
3. Ăn uống trong sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo
Các lễ vật dâng cúng dưới dạng thức ăn chiếm một vị trí không nhỏtrong đời sống và sinh hoạt của người Khmer ĐBSCL, vì họ có rất nhiều nghithức cúng bái, lễ lạt trong năm Các thức ăn cúng này tuân theo một quy luậtbất thành văn, nó biểu hiện ý nghĩa nội dung của từng cuộc lễ, vì có loại thức
ăn chỉ cúng trong lễ này mà không dùng trong lễ khác Chính vì thế, nhiều khingười ta chỉ cần nhìn vào các thức ăn cúng cũng có thể nhận biết được đó là
lễ gì Những thức ăn dân gcúng của người Khmer ĐBSCL có yếu tố đặc biệthơn dân tộc khác là vì nó được đặt trong những vật dụng riêng, có tên gọi hẳnhoi
VD: Thức ăn đựng trong chiếc thuyền làm bằng thân cây chuối là nghithức “cúng đưa ông bà” trong lễ Dolta gọi là “sâmpou” ( bẹ chuối làm hình
Trang 27chiếc tàu mũi nhọn, có mui, trong để gà, đầu heo, bánh, muối, gạo gói thànhgói Cúng xong thả tàu trôi dưới nước).
Người Khmer thường đựng lễ vật cúng hoặc dâng tặng trong cái thúnggọi là ‘chơm thbâng” Thúng đựng lương thực như gạo, bông, bánh trái trong
lễ tang gọi là “thúng qua đám” để phía đầu nằm của người chết, tượng trưngcho sự tiễn đưa linh cữu Xong lễ người ta thường dâng thúng này cho sư sãitrong chùa để biểu thị lòng biết ơn Trên đường đi đến lò thiêu xác, người tabưng thúng đựng nổ rang rải dọc đường nhằm hối lộ thức ăn cho ma quỷ, đố
là thúng “conchơ pai lết” Còn trong các đám cúng, đám làm phước, cácthúng đựng lương thực này gọi là “cròla chòn lon” sau đó các thúng này đượcđem về nhà
Trước kia trong những lễ cúng “arak pteáh”, “arak viel” (thần bảo hộnhà cửa, xóm làng), ngoài việc dâng cúng các “slathơ”, “slachôm”, trái cây,chè nếp, nước…người Khmer giàu có còn cúng nguyên cả một con vật cònsống như heo, bò…Nếu nghèo họ chỉ cúng tượng trưng cho thần cái đầu heohay dùng cám trộn với ít nước cho dẻo rồi nặn hình những con vật mà họ hứa
sẽ dâng cúng
Là tín đồ Phật giáo tiểu thừa, các sư sãi Khmer vẫn được dùng thứcmặn Thường ngày các vị sư chỉ ăn 2 bữa cơm (sáng và trưa), sau giờ Ngọ(12h trưa) đến sáng hôm sau, nhà sư không được ăn bất cứ thức ăn gì, ngoạitrừ vài món uống loãng như sữa, trà…Tất cả sư sãi trong chùa đều do tín đòthuộc phạm vi của ngôi chùa ấy luân phiên nhau nấu và cúng đường thức ăn
để nhận được nhiều lộc Cơm và thức ăn, bánh trái ngon và sạch sẽ, tinh khiếtcũng được cư dân Khmer chuẩn bị đêm đến chùa dâng cho sư sãi vào dịp lễmừng năm mới “chol chnam thmây” để tỏ lòng trọng vọng Trước khi dùngcác thức ăn do tín đồ mang tới, các vị sư sãi đều tụng kinh làm lễ tạ ơn nhữngngười nông dân đã khó nhọc làm ra lương thực, thực phẩm và nhân đó , các vị
sư ban thức ăn đến những người nghèo và những linh hồn thiếu đói Sau khidùng cơm các sư sãi lại tụng kinh chúc lành dân trong phum, sóc Những thức
ăn cúng tế cho sư sãi có khi được lồng vào một Phật thoại và được thực hiệntheo nghi thức của tín ngưỡng dân gian
VD: Trong lễ Xuất hạ (Bon chânh Vâssa) của sư sãi Khmer,người ta tiến hành tục thả đèn nước bằng cách bày cúng các thức ăn như gạo,muối, trái cây, bánh kẹo…vào trong một ngôi đền nhỏ làm bằng thân và bẹchuối rồi thả xuống sông Trẻ con Khmer nhảy xuống nước để tranh nhau cácvật cúng ấy vì cho rằng sẽ được phước
Dừa được người Khmer ĐBSCL xem là loại quả có nước tinh khiết,không chỉ dùng trong ăn uống mà còn để dùng trong các nghi thức long trọng VD: Người ta dùng nước dừa tươi để rửa xương cốt thân nhânsau khi hỏa táng Hoặc trong lễ cưới có tục lệ cô dâu đút chuối cho chồng ănrồi hai vợ chồng chia nhau uống nước dừa để mong đợi một tình yêu ngọtngào, đậm đà hạnh phúc