1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích luận điểm của hồ chí minh nước việt nam là một, dân tộc việt nam là một

15 423 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 39,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò a Quần chúng nhân dân là lực lượng sản suất cơ bản của xã hội - Trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội.. Họ là lực lượng cơ bản

Trang 1

1. Cơ sở lý luận

1.1. Lí luận của Mác

1.1.1. Vai trò của quần chúng

1.1.1.1. Khái niệm

• Là những người lao động, sản xuất ra của cải vật chất và của cải tinh thần, chủ yếu duy trì cho sự tồn tại và phát triển của xã hội

• Là những bộ phận dân cư chống lại giai cấp thống trị áp bức bóc lột, đối kháng với nhân dân và chống lại các kẻ thù xâm

• Là những giai cấp, những tầng lớp xã hội thúc đẩy sự tiến bộ xã hội thông qua hoạt động của mình, trực tiếp hoặc gián tiếp trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

1.1.1.2. Vai trò

a) Quần chúng nhân dân là lực lượng sản suất cơ bản của xã hội

- Trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội Con người muốn tồn tại phải có các điều kiện vật chất cần thiết, mà những nhu cầu đó chỉ có thể đáp ứng được thông qua sản xuất Lực lượng sản xuất cơ bản là dông đảo quần chúng nhân dân lao động bao gồm cả lao động chân tay và lao động trí óc

- Cách mạng khoa học kĩ thuật hiện nay có vai trò đặc biệt đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất Song vai trò của khoa học chỉ có thể phát huy thông qua thực tiễn sản xuất của quần chúng nhân dân lao động, nhất

là đội ngũ công nhân hiện đại và trí thức trong nền sản xuất xã hội, của thời đại kinh tế tri thức Điều đó khẳng định rằng hoạt động sản xuất của quần chúng nhân dân là điều kiện cơ bản để quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội

b) Quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội

- Lịch sử đã chứng minh rằng, không có cuộc chuyển biến cách mạng nào mà không là hoạt động đông đảo của quần chúng nhân dân Họ là lực lượng cơ bản của cách mạng, đóng vai trò quyết định thắng lợi của mọi cuộc cách mạng xã hội

- Nguyên nhân khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp trong các xã hội có giai cấp đối kháng là do mâu thuẫn gay gắt giữa lực lượng sản xuất phát triển mang tính chất xã hội hóa cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đã trờ nên lạc hậu so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Trang 2

c) Quần chúng nhân dân là lực lượng sáng tạo ra mọi giá trị văn hóa tinh thần của xã hội

- Quần chúng nhân dân đóng vai trò to lớn trong sự phát triển của khoa học, nghệ thuật, văn học, đồng thời áp dụng những thành tựu đó vào hoạt động thực tiễn Những sáng tạo về văn học, nghệ thuật, khoa học, y học, quân sự, kinh tế, chính trị, đạo đức

1.1.2. Vấn đề đoàn kết của Mác

Khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại”, do C.Mác và Ph Ăng-ghen nêu lên trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản năm 1848 chính là kết quả của cả một quá trình nghiên cứu và hình thành luận thuyết cách mạng

- Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” Ph Ăng-ghen đã cùng với Mác bàn về vấn đề nhà nước vô sản với các dân tộc; xem xét vấn đề dân tộc dưới góc độ cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản để tiến tới thực hiện quyền bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc: “Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc , phải tự mình trở thành dân tộc…”

- Để có sự bình đẳng, đoàn kết thật sự, chặt chẽ và lâu dài giữa các dân tộc, sứ mệnh lịch sử cao cả của giai cấp công nhân là người lãnh đạo quần chúng làm cách mạng vô sản thì phải xóa bỏ nguồn gốc sinh ra, bất bình đẳng, áp bức dân tộc, xóa bỏ nạn người bóc lột người thì nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ, cùng xây dựng xã hội mới

-xã hội -xã hội chủ nghĩa

- Trong lúc chủ nghĩa tư bản đang phát triển ở giai đoạn “cực thịnh”, giai cấp công nhân bị bóc lột đến cùng cực thì cách mạng vô sản chỉ có thể thành công một khi giai cấp vô sản ở tất cả các nước phải đồng tâm, hiệp lực một lòng, liên hiệp lại với nhau Sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ quốc gia, dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo

=>> Những tư tưởng, quan điểm trên đây của Ph Ăng-ghen và Mác đã đặt nền móng cho việc nhận thức và giải quyết vấn đề bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa

1.2. Nội dung cương lĩnh

1.2.1. Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng

Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc trong mối quan hệ giữa các

Trang 3

dân tộc Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng có nghĩa là: các dân tộc lớn

hay nhỏ không phân biệt trình độ cao hay thấp đều có nghĩa vụ và

quyền lợi ngang nhau, không một dân tộc nào được giữ đặc quyền đặc

lợi và đi áp bức dân tộc khác

Trong một quốc gia nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc phải được pháp luật bảo vệ ngang nhau; khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh

tế, văn hóa giữa các dân tộc lịch sử để lại

Trên phạm vu giữa các quốc gia – dân tộc, đấu tranh cho sự bình đẳng giữa các dân tộc gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, gắn liền với cuộc đấu tranh xây dựng một trật tự kinh tế thế giới mới, chống sự áp bức bóc lột của các nước tư bản phát triển với các nước chậm phát triển về kinh tế

Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở thực hiện quyền dân tộc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc

1.2.2. Các dân tộc được quyền tự quyết: -

Quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc đối với vận mệnh của dân tộc mình: quyền quyết định chế độ chính trị – xã hội và con đường phát triển của dân tộc mình; quyền tự do độc lập về chính trị tách ra thành một quốc gia dân tộc độc lập vì lợi ích của các dân tộc; quyền tự nguyện hiệp lại với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi để có sức mạnh chống nguy cơ xâm lược tư bên ngoài, giữ vững độc lập chủ quyền và có thêm những điều kiện thuận lợi cho

sự phát triển quốc gia, dân tộc

Khi giải quyết quyền tự quyết của các dân tộc cần đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân ủng hộ các phong trào đấu tranh tiến bộ phù hợp với lợi ích chính đáng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Kiên quyết đấu tranh chống những âm mưu thủ đoạn của các thế lực đế quốc, lợi dụng chiêu bài “dân tộc

tự quyết” để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước

1.2.3. Liên hiệp công nhân giữa các dân tộc

Đó là sự đoàn kết của giai cấp công nhân các dân tộc trên toàn thế giới để đấu tranh chống lại chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, nhằm hoàn thành sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Đó là tư tưởng cơ bản trong Cương lĩnh, nó phản ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân Điều đó xuất phát tư bản chất quốc tế, tinh thần quốc tế vô sản của giai cấp công nhân giải phóng dân tộc mình

Trang 4

và giải phóng các dân tộc khác cùng cảnh ngộ; do chủ nghĩa đế quốc, giai cấp tư sản trong các nước tư bản cấu kết nhau, bắt tay nhau chống lại phong trào công nhân, phong trào cách mạng Do đó, giai cấp công nhân phải đoàn kết liên hiệp lại với nhau để đấu tranh chống lại chúng Vì vậy đoàn kết giai cấp công nhân giữa các quốc gia dân tộc là nhân tố quan trọng để giải quyết các vấn đề dân tộc

1.2.4. Hồ Chí Minh đã vận dụng cương lĩnh như thế nào

Hồ Chí Minh đã vận dụng tư tưởng dân tộc của V.I.Lê nin thành đường lối đại đoàn kết toàn dân, mang tính nhân dân

- Năm 1941, khi trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Người đã chỉ rõ: “ Chúng ta phải đoàn kết toàn dân để đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi, lửa bỏng”

- 1941-1945: Người tập trung vào việc thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn kết sĩ, công, nông, thương và các tầng lớp yêu nước trên tinh thần đại đoàn kết dân tộc

- 1946: Trong thư gửi Đại hội dân tộc thiểu số ở miền nam, Hồ Chí Minh viết: “ Giang sơn và Chính phủ là Giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta…chúng ta phải yêu nhau, kính trọng nhau, giúp đỡ nhau Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”

- Quân điểm dân tộc gắn với nhân dân cũng được Người vận dụng vào nguyên tắc xây dựng Đảng Tại Đại hội lần thứ II của Đảng, trong Báo cáo chính trị người đã nêu rõ tính chất của Đảng ta: “ Đảng lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”

2. Truyền thống dân tộc

2.1 Cơ sở kinh tế

2.1.1 Lực lượng sản xuất

Các yếu tố (nhân tố) tạo thành lực lượng sản xuất gồm có: tư liệu sản xuất (trong

đó, công cụ sản xuất là yếu tố phản ánh rõ ràng nhất trình độ chinh phục tự nhiên của con người) và người lao động (trong đó năng lực sáng tạo của nó là yếu tố đặc biệt quan trọng) Nó bao gồm người lao động với một thể lực, tri thức, kỹ năng lao động nhất định và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động nhất định và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động Trong quá trình sản xuất, sức lao động của con người kết hợp với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động, tạo thành lực lượng sản xuất

2.1.2 Quan hệ sản xuất

Trang 5

Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức - quản lý quá trình sản xuất và quan hệ trong phân phối kết quả của quá trình sản xuất đó

- Mối quan hệ giữa LLSX và QHSX:

+Vai trò quyết định của LLSX đối với QHSX: Trong quá trình hoạt động sản xuất, LLSX không ngưng được hoàn thiện và phát triển mà trước hết là phát triển công cụ sản xuất Đến một trình độ nhất định, tính chất của LLSX thay đổi về

cơ bản khi đó QHSX cũ lỗi thời trở thành vật cản đối với sự phát triển của LLSX Đến một mức độ nhất định QHSX ấy bị phá vỡ để xác lập một kiểu QHSX mới cao hơn tư đó một phương thức sản xuất mới ra đời, một hình thái kinh tế xã hội mới xuất hiện

+ Sự tác động trở lại của QHSX đối với LLSX:

* Khi QHSX phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX thì nó góp phần thúc đẩy LLSX phát triển

*Khi không phù hợp nó sẽ kìm hãm LLSX: QHSX đã lỗi thời trước trình độ phát triển của LLSX, QHSX xác lập một cách duy ý chí đi quá xa so với LLSX

- Vai trò quyết định của LLSX với QHSX:

+ Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là trạng thái mà trong đó, quan hệ sản xuất là "hình thức phát triển" của lực lượng sản xuất

+ Song, sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định lại làm cho quan hệ tư chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi đó quan hệ sản xuất trở thành trở thành "xiềng xích" của lực lượng sản xuất, kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển Yêu cầu khách quan của sự phát triển của lực lượng sản xuất tất yếu sẽ dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển Thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan

hệ sản xuất mới cũng cónghĩa là phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời thay thế

+ LLSX quyết định QHSX, vì:

* LLSX là yếu tố hoạt động nhất, cách mạng nhất, là nội dung của quá trình sản xuất, còn QHSX là yếu tố phụ thuộc vào LLSX, nó là hình thức xã hội của sản xuất nên có tính chất tương đối ổn định, có xu hướng lạc hậu hơn so với sự phát triển của LLSX

* LLSX phát triển làm cho QHSX hình thành, biến đổi, phát triển cho phù hợp với nó Sự phù hợp của LLSX với QHSX là động lực làm cho LLSX phát triển

Trang 6

* Mâu thuẫn giữa LLSX mới với QHSX cũ được giải quyết bằng cách thay thế QHSX cũ bằng QHSX mới phù hợp với LLSX Trong xã hội có đối kháng giai cấp, mâu thuẫn này được giải quyết thông qua đấu tranh giai cấp, mà đỉnh cao là cách mạng xã hội

2.1.3 Phương thức sản xuất

• Nước ta là một nước có nền nông nghiệp lua nước

• Đặc trưng: Lao động của con người phải phụ thuộc vào yếu tố thời tiết ( chống thiên tai, bão lũ,…)

• Nhân dân cùng nhau sản xuất thu hoạch mùa màng Người dân hợp lại đắp

đê, làm thủy lợi, bảo vệ mùa màng

2.1.4 Chế độ đồn điền

• Là đất canh tác không thuộc sở hữu của một cá nhân hay đoàn thể nào mà là thuộc của chung của một làng

»Cần sự góp sức của một lực lượng đông đảo nhân dân lao động

»Trong nền nông nghiệp lúa nước, chế độ công điền tạo nên truyền thống đoàn kết dân tộc

2.2 Cơ sở chính trị

2.1.1 Lãnh thổ

a Khái niệm:

• Là toàn bộ bao gồm hết các vùng đất và vùng nước (nước sông hồ trong vùng đất và vùng nước biển), vùng trời, khoảng không và lòng đất nằm trên, dưới vùng đất và vùng nước đó của một quốc gia, kể cả những vùng đã thực hiện chủ quyền hoặc trong vòng tranh chấp

• Bao gồm: + Lãnh thổ phụ thuộc một quốc gia

+ Lãnh thổ bên trong Quốc gia

b Lịch sử giữ nước chống giặc ngoại xâm, bảo về chủ quyền lãnh thổ

• Nước ta có vị trí địa chiến lược trong khu vực, nên trong lịch sử thường xuyên bị các thế lực ngoại bang nhòm ngó, thôn tính xâm lược với các mục đích khác nhau

Vì thế, lịch sử Việt Nam là lịch sử chống ngoại xâm, dựng nước gắn liền với giữ nước và nó đã trở thành quy luật tồn tại, phát triển của dân tộc ta

• Các cuộc đấu tranh bảo vệ lãnh thổ trong lịch sử

+Tư thế kỷ thứ III TCN, dân tộc ta đã đánh tan cuộc xâm lược đầu tiên của bọnphong kiến phương Bắc do nhà Tần tiến hành

+Tư năm 179 TCN đến năm 938, nước ta tiếp tục nằm dưới sự đô hộ của phương Bắc (tổng cộng 1117 năm) Đây là thời kỳ đầy máu và nước mắt, nhưng cũng là thời kỳ biểu hiện sức mạnh quật cường, sự vươn lên thần kỳ của dân tộc ta và kết

Trang 7

thúc với chiến thắng Bạch Đằng oanh liệt Tiếp sau thời kỳ này là hàng loạt các chiến thắng vang dội khác: Lê Hoàn đánh tan quân Tống, nhà Trần ba lần đánh bại quân Nguyên – Mông, Lê Lợi đánh bại quân Minh, Nguyễn Huệ đánh bại quân Thanh…

+ đến những thắng lợi vang dội của các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ

• Thời gian qua, sự biến đổi khôn lường của tình hình thế giới, khu vực và trên biển Đông khiến nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ đất nước, nhất là an ninh trên biển trở thành nhiệm vụ nhiều khó khăn, thách thức Trong đó, bao hàm cả việc đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tình hình phức tạp ở Biển Đông để kích động, phá hoại mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, mà điển hình là vụ Trung Quốc đưa giàn khoanHải Dương 981 vào sâu trong thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (năm 2014)

Trước yêu cầu bức thiết của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Đảng

ta nhận thức sâu sắc và thể hiện rõ quan điểm về phát triển kinh tế độc lập tự chủ, kinh tế biển, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế Quan điểm đó được thể hiện tập trung trong các nghị quyết, chỉ thị như: Nghị quyết 03/-NQ/TW ngày 6-5-1993 của Bộ Chính trị (khóa VII) về “Một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt”; Chỉ thị 20-CT/TW ngày 22-9-1997 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về “Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng CNH,…

Đoàn kết chống giặc ngoại xâm, đập tan âm mưu xâm lược của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ luôn là mục tiêu hàng đầu của toàn dân tộc

Trang 8

2.2.2 Chủ nghĩa yêu nước

• Cùng với sự tiến triển của lịch sử Việt Nam, tinh thần yêu nước Việt Nam trở thành chủ nghĩa yêu nước, trở thành một giá trị, một động lực tinh thần vô cùng mạnh mẽ thúc đẩy biết bao nhiêu thế hệkiên cường và dũng cảm hi sinh để giành lại và bảo vệ độc lập của Tổ quốc, bảo vệ những phẩm giá của chính con người

• Tinh thần yêu nước Việt Nam: được bắt nguồn tư những tình cảm bình dị, đơn sơ của mỗi người dân Tình cảm đó, mới đầu, chỉ là sự quan tâm đến những người thân yêu ruột thịt, rồi đến xóm làng, sau đó phát triển cao thành tình yêu Tổ quốc Tình yêu đất nước không phải là tình cảm bẩm sinh, mà là sản phẩm của sự phát triển lịch sử, gắn liền với một đất nước nhất định

Tình yêu đất nước không chỉ gắn liền với quá trình xây dựng đất nước, nó còn được thể hiện rõ hơn trong quá trình bảo vệ đất nước Trên thế giới, hầu như dân tộc nào cũng phải trải qua quá trình bảo vệ đất nước, chống xâm lăng Nhưng có lẽ không dân tộc nào lại phải trải qua quá trình giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc nhiều và đặc biệt như ở Việt Nam

Trong khoảng thời gian tư thế kỷ III TCN đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, dân tộc

ta đã dành hơn nửa thời gian cho các cuộc kháng chiến giữ nước và đấu tranh chống ngoại xâm, các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc Không có một dân tộc nào trên thế giới lại phải chịu nhiều cuộc chiến tranh như vậy và với những kẻ thù mạnh hơn rất nhiều Chínhtinh thần yêu nước nồng nàn đã giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi thế lực xâm lược Qua những cuộc chiến đấu trường kỳ đầy gian khổ đó, chủ nghĩa yêu nước đã trở thành dòng chủ lưu của đời sống Việt Nam, trở thành một triết lý xã hội và nhân sinh trong tâm hồn Việt Nam

Lòng yêu nước ở mỗi người dân Việt nam đã được thể hiện ở tinh thần dám xả thân

vì nước, sẵn sàng đặt lợi ích cúa quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích riêng tư của bản thân mình, đấu tranh không biết mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc Bấy nhiêu thôi cũng đã quá đủ để có thể thấy rằng,

tư tưởng yêu nước không phải là một triết lý để án đàm, nó là kim chỉ nam cho hành động, đem lại một sức mạnh to lớn, thúc đẩy dân tộc ta tiến lên

2.3 Cơ sở văn hóa- xã hội

2.3.1 Bản sắc văn hóa

- Nước ta mang đậm dấu ấn cấu trúc xã hội truyền thống: gia đình gắn với cộng đồng làng xã, gắn với cộng đồng cả nước( Nhà-Làng-Nước), Bản chất của kết cấu

xã hội này là sự hình thành tư tưởng cộng đồng, yêu thương, đoàn kết, đùm bọc,

Trang 9

hoà hợp với nhau; là sự gắn kết giữa cá nhân và tập thể, giữa cái riêng và cái chung

để chống chọi với thiên tai và bảo vệ quyền bất khả xâm phạm tưng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.Hồ Chí Minh kế thưa 4 chữ “ đồng” ( đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh) Người thường nhấn mạnh, nhân dân ta đã tư lâu sống với nhau

có tình có nghĩa Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận định: “Hồ Chí Minh là người Việt Nam, Việt Nam hơn người Việt Nam nào hết’’

-Bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam còn đậm nét trong các hình thức biểu hiện độc đáo của văn hoá đạo đức thông qua cách ứng xử, nếp sống, lối sinh hoạt mang tính cộng đồng “mình vì mọi người’’

- Trong bữa ăn gia đình, người Việt rất tôn trọng nhau và thể hiện một không khí hoà đồng Mọi người cùng ngồi xếp chân bằng tròn quanh chiếc mâm tròn và cùng gắp chung các thức ăn có trong mâm, chấm chung một bát nước chấm Chiếc mâm mang hình tròn thể hiện được sự gắn kết, san sẻ ngọt bùi Bát nước chấm được để chính giữa mâm để mọi người cùng chấm thể hiện tinh thần đoàn kết, tất cả là người một nhà

► Hình ảnh mâm cơm chính là hình ảnh đặc trưng nhất cho truyền thống của dân tộc ta: đoàn kết ngay tư trong mỗi một gia đình- làng xã và lan rộng ra cả đất nước, dân tộc

-Việt Nam chịu ảnh hưởng của nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau

Ảnh hưởng tư phương đông:

Nho giáo:

Nho giáo là học thuyết về đạo đức và phép ứng xử, triết lý hành động, lý tưởng về một xã hội bình trị Đặc biệt Nho giáo đề cao văn hoá, lễ giáo và tạo ra truyền thống hiếu học trong dân.Tuy nhiên Hồ Chí Minh cũng phê phán những tiêu cực trong tư tưởng Nho giáo như bảo vệ chế độ phong kiến, trọng nam khinh nữ chỉ đề cao việc đọc sách…

Phật giáo:

Phật giáo cũng đề cao nếp sống đạo đức, trong sạch, chăm làm điều thiện, coi trọng lao động Phật giáo có tư tưởng tư bi, bác ái, đề cao đạo đức Phật giáo vào Việt Nam kết hợp với chủ nghĩa yêu nước sống gắn bó với dân, hoà vào cộng đồng chống kẻ thù chung của dân tộc là chủ nghĩa thực dân

Ảnh hưởng tư phương tây

Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu rộng của nền văn hoá dân chủ và cách mạng phương Tây như:tư tưởng tự do, bình đẳng trong “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Đại cách mạng Pháp 1791; tư tưởng dân chủ, về quyền sống, quyền tự

do, quyền mưu cầu hạnh phúc trong “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ 1776

2.3.2 Ngôn ngữ

Trang 10

-Văn tự: chữ Hán- chữ Nôm- chữ Quốc ngữ

- Việt Nam có hệ thống chữ viết riêng

- Thời điểm này hơn 90% dân số mù chữ Nên mục tiêu quan trọng bây giờ của đất nước là xóa nạn mù chữ

3 Cơ sở thực tiễn

3.1 Thế giới

3.1.1 Chủ nghĩa tư bản độc quyền:

Chủ nghĩa tư bản phát triển qua hai giai đoạn là: Chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh ( CNTB- TDCT) và chủ nghĩa tư bản độc quyền ( CNTB- ĐQ) Giai đoạn độc quyền là sự kế tục trực tiếp giai đoạn tự do cạnh tranh trong cùng một phương thức sản xuất TBCN

Chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do phát triển đến độ nhất định thì xuất hiện các tổ chức độc quyền Lúc đầu tư bản độc quyền chỉ có trong một số ngành, một số lĩnh vực của nền kinh tế Hơn nữa, sức mạnh kinh tế của các tổ chức độc quyền cũng chưa thật lớn Tuy nhiên, sau này, sức mạnh của các tổ chức độc quyền đã được nhân lên nhanh chóng và tưng bước chiếm địa vị chi phối trong toàn nền kinh tế Chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn phát triển mới - chủ nghĩa tư bản độc quyền Xét về bản chất, chủ nghĩa tư bản độc quyền là một nấc thang phát triển mới của chủ nghĩa tư bản Chủ nghĩa tư bản độc quyền là chủ nghĩa tư bản trong đó ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế tồn tại các tổ chức tư bản độc quyền và chúng chi phối sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế Nếu trong thời kỳ chủ nghĩa

tư bản cạnh tranh tự do, sự phân hóa giữa các nhà tư bản chưa thực sự sâu sắc nên quy luật thống trị của thời kỳ này là quy luật lợi nhuận bình quân, còn trong chủ nghĩa tư bản độc quyền, quy luật thống trị là quy luật lợi nhuận độc quyền Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản độc quyền vẫn không làm thay đổi được bản chất của chủ nghĩa tư bản Bản thân quy luật lợi nhuận độc quyền cũng chỉ là một hình thái biến tướng của quy luật giá trị thặng dư

2.Ảnh hưởng của CNTB độc quyền:

Việc chuyển tư giai đoạn cạnh tranh tự do sang cạnh tranh độc quyền đã gây nên sự xâu xé, tranh giành thuộc địa giữa ác nước tư bản Đồng thời, năng suất được nâng cao do sự tiến bộ về mặt khoa học kỹ thuật dẫn đến khủng hoảng thưa trong các nước tư bản Do đó chúng cần thêm thị trường Để mở rộng thị trường, các nước tư bản đẩy mạnh việc xâm lược thuộc địa, trong đó có Việt Nam

Để thoát khỏi ách thống trị của các nước tư bản , Việt Nam chỉ còn cách tận dụng sức mạnh đại đoàn kết dân tộc

Ngày đăng: 29/08/2017, 10:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w