Mục đích của Đạo Phật là diệt khổ đem vui cho mọi người, nhưng phải là người có trí mới biết được con đường đưa đến an lạc và hạnhphúc: "Người trí dầu một khắc Thân cận người có trí Biế
Trang 1Những lời dạy của Đức Phật
Tu nữ Ngọc DuyênTịnh thất Siêu Lý, Thốt Nốt, Cần Thơ
LỜI NÓI ĐẦU
Niềm Hỷ Lạc thấm nhuần sâu đậm trong lòng chư Phật tử khi được tiếp cận với Giáo Pháp của Đức Thế Tôn
"Lời Dạy Của Đức Phật" luôn sống động, nhẹ nhàng, bình dị, nhưng thiết thực và tuyệt diệu Nơi đây, một số ít bài kệ trong "Kinh Pháp Cú" được trích dẫn, rất tối cần và gần gũi nhất đối với mọi hạng người trong dân gian Những lời kinh như một suối nguồn vang động, khêu gợi sự dũng mảnh hướng lên bờ giải thoát cho chính mình Lời dạy của Đấng Cha Lành bao hàm những kinh nghiệm giác ngộ của Đấng Toàn Giác Mỗi bài kinh là một trưởng thành cao tột của trí tuệ, phá vỡ những ưu phiền trong cân não nội tâm
Nhận thấy sự lợi ích thiết thực của "Kinh Pháp Cú", chúng tôi biên sọan để phổ biến cho chư Phật tử xa gần Mục đích của Đạo Phật là diệt khổ đem vui cho mọi người, nhưng phải là người có trí mới biết được con đường đưa đến an lạc và hạnhphúc:
"Người trí dầu một khắc
Thân cận người có trí
Biết ngay chân Diệu Pháp
Như lưỡi với vị canh."
Tập kinh nầy được hoàn thành, cũng nhờ sự góp sức của nhiều người Nơi đây chúng tôi xin chân thành tri ân chư vị thí chủ đã từng ủng hộ cho chúng tôi trên đoạn đường nghiên cứu và soạn dịch kinh sách
Ngưỡng mong cho chư vị thí chủ, ấy được hưởng niềm an lạc vô biên trong Giáo Pháp của Bậc Thánh
Tn Ngọc Duyên Myanmar, PL 2548 - DL 2004
Trang 2-ooOoo-NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA
*
1- NÓ MẮNG TÔI, ĐÁNH TÔI
NÓ THẮNG TÔI, CƯỚP TÔI
AI ÔM NIỀM HẬN ẤY
HẬN THÙ KHÔNG THỂ NGUÔI
(P.C 3)
2- NÓ MẮNG TÔI, ĐÁNH TÔI
NÓ THẮNG TÔI, CƯỚP TÔI
KHÔNG ÔM NIỀM HẬN ẤY
HẬN THÙ ĐƯỢC TỰ NGUÔI.
(P.C 4)
Duyên khởi:
Hai kệ ngôn nầy, Đức Thế Tôn giảng thuyết liên quan đến Tỳ khưu Tissa Tissa ỷ
mình là em họ của Đức Phật nên không tôn trọng các Tỳ khưu cao hạ khác Các vị
Tỳ khưu khách tăng khiển trách để sửa sai hạnh kiểm, Tỳ khưu Tissa cảm thấy tự
ái bị tổn thương, đến than phiền với Đức Phật Đức Phật hiểu rõ câu chuyện, Ngài
khuyên Tỳ khưu Tissa nên sám hối với Chư Tăng, nhưng Tỳ khưu Tissa không
4- AI RỜI BỎ UẾ TRƯỢC
GIỚI LUẬT KHÉO NGHIÊM TRÌ
Trang 3(Đề-Bà-Đạt-Đa) Ông là người tham vọng, muốn quản chúng, đã nhiều lần chống nghịch
Bậc Đạo Sư: phá hòa hợpTăng, gây thương tích cho Đức Phật và xúi giục Hoàng
Tử Ajātasatu (A-Xà-Thế) giết Vua Cha đoạt ngôi, v.v… Nhân cơ hội nầy, Đức Phật
nhắc lại trong một tiền kiếp ông đã có những hành động tương tự Sau đó, Đức Thế Tôn giải thích ai mới là người xứng đáng mặc y vàng
Ghi chú:
- Y càsa tượng trưng cho sự thoát tục trong sáng của vị Tu sĩ Tuy nhiên đối với người có thân, khẩu, ý không trong sạch, đầy uế trược nhiễm ô, những người như vậy không xứng đáng mặc y vàng.
Đức Phật ghi nhận rằng, con người đạo hạnh chính ở giới luật và phẩm cách ở bêntrong, chớ không phải ở bên ngoài sắc tướng
6- NHƯ MÁI NHÀ KHÉO LỢP
MƯA KHÔNG THỂ THẤM VÀO
CŨNG VẬY, TÂM KHÉO TU
THAM DỤC KHÔNG XÂM NHẬP.
(P.C 14)
Pháp thoại nầy, được Thế tôn thuyết giảng khi Ngài đang ngụ tại Jetavana, có liên quan đến Tỳ khưu Nandā Hoàng tử Nandā là em một Cha khác Mẹ với Đức Phật,
Hoàng Tử xuất gia ngay trong ngày cưới của mình Do đó, thay vì tinh tấn tu học,
nhưng Tỳ khưu Nandā mãi tưởng nhớ đến người vợ đang cưới Đức Phật áp dụng phương pháp tốt đẹp, trợ giúp Tỳ khưu Nandā từ bỏ những tư tưởng tham dục và
nỗ lực tu luyện không bao lâu vị ấy đắc Đạo Quả A-La-Hán
Ghi chú:
- Tâm vụng tu: Tâm không khéo huấn luyện, không tu tập theo Thiền Chỉ hoặc Thiền Quán Không trao dồi Giới, Định, Tuệ Người ấy sẽ bị 1 trong 10 loại phiền não tấn công:
1- Tham Dục
2- Sân hận.
Trang 4Suốt 55 năm, Cunda sinh sống bằng nghề giết heo để bán một ngày kia, cơn
bệnh tấn công, ông bị ám ảnh cảnh lửa địa ngục do nghiệp sát sanh Ông phải chịu đau khổ cùng cực trong những ngày cuối cuộc đời Trước khi lìa trần, ông lăn lộn kêu la thảm khốc, giống như con heo đang bị thọc huyết Mãi kêu gào như vậy
đến ngày thứ bảy Ông chết tái sanh vào địa ngục Avīci.
*
8- NAY VUI ĐỜI SAU VUI
LÀM PHƯỚC HAI ĐỜI VUI
Trang 5liên quan đến người nam cư sĩ có đạo hạnh.
Tại thành Sāvatthi, có người nam cư sĩ, cùng gia đình con trai và con gái, mỗi
người thường xuyên bố thí thức ăn trong ngày Bát Quan Trai và ba tháng nhập
hạ Cả gia đình vợ con đều sống một cuộc đời đạo đức, chánh trực và tự hoan hỷ trong các sự phân phát vật bố thí
Thời gian sau, ông già yếu Trong giờ cận tử, ông thỏa thích nhìn thấy cảnh an vuinơi cõi Chư thiên Khi trút hơi thở cuối cùng, ông được hóa sanh Thiên Giới
Ghi chú:
- Nay vui: Hoan hỷ khi nghĩ đến các việc thiện đã làm như Bố Thí, Trì Giới, Tu Thiền, Cung Kính, Phục Vụ, Nghe Pháp, Thuyết Pháp, Tùy Hỷ, Hồi Hướng và Cải Chánh Kiến Thức
*
9- NAY THAN, ĐỜI SAU THAN
KẺ ÁC HAI ĐỜI THAN
TỈNH THỨC GIỮA QUẦN MÊ
NGƯỜI TRÍ NHƯ NGỰA PHI
Trang 6BỎ SAU CON NGỰA HÈN.
(P.C 29)
Duyên Khởi:
Kệ ngôn nầy ở Jetavana, Bậc Đạo Sư thuyết giảng kệ ngôn đề cập đến hạnh tu
của hai Vị Tỳ khưu Một vị chuyên chú tu học, vị kia dễ duôi thích trò chuyện Đức Phật tán thán vị tu tinh tấn
Hoàng Tử Māhali hỏi Đức Phật về oai đức của Vị Vua Trời Đế Thích (Sakka) và
những pháp tác thành vị Vua Trời Đức Phật trả lời, do nhờ nỗ lực phục vụ không cầu lợi, không nhăn nhó và chuyên tâm hành 7 đức tánh trọn đời không dễ duôi Bảy đức tánh đó là:
1- Phụng dưỡng Cha Mẹ
2- Bố thí với bàn tay rộng mở
3- Nói lời hòa ái
4- Nói lời chân thật
5- Không nói lời đâm thọc
6- Tâm luôn luôn cung kính bậc trưởng thượng
7- Tâm mát mẻ không sân hận
Nếu có sân hận đột khởi liền trấn áp một cách nhanh chóng Nhờ các đức tánh
nầy, người thanh niên Maghavā trong nhiều kiếp trước đã tự chấp hành, nắm giữ
và đã thực hiện đầy đủ 7 Pháp trên nên được sanh làm vị Vua Trời Sakka
13- NHƯ CÁ QUĂNG LÊN BỜ
VỨT RA NGOÀI THỦY GIỚI.
Trang 7TÂM NẦY VÙNG VẪY MẠNH
HÃY ĐOẠN TUYỆT MA GIỚI
(P.C 34)
Kệ ngôn nầy, khi ngụ tại núi Cālikā, Bậc Đạo Sư thuyết giảng liên quan đến Tỳ khưu Meghiya.
Tỳ khưu Meghiya là thị giả của Đức Phật trong thời gian chưa có Đại Đức Ānanda
Vì còn là phàm tăng nên Tỳ khưu tâm tánh nông nổi đã mắc phải sự sai lầm
nghiêm trọng Tỳ khưu Meghiya thường than thân trách phận thị giả của mình
Một ngày kia, đang đi với Đức Phật ngang qua khu rừng xoài, Tỳ khưu có ý muốn đến đó hành thiền, liền ngỏ lời xin phép Đức Phật xét thấy chưa phải lúc nên đã
ngăn cản 3 lần, nhưng Tỳ khưu Meghiya vẫn bỏ mặc Đức Phật ra đi một mình.
Đến vườn xoài, mặc dù Tỳ khưu Meghiya cố gắng hành thiền, nhưng không thể ổn
định nội tâm Quá thất vọng, ông liền trở về sám hối Đức Phật Nhân đó, Đức Phật
thuyết hai kệ ngôn trên và Tỳ khưu Meghiya đắc Đạo Quả Tu Đà Hườn.
*
14- KHÓ NẮM GIỮ KHINH ĐỘNG
THEO CÁC DỤC QUAY CUỒNG
LÀNH THAY ĐIỀU PHỤC TÂM
TÂM ĐIỀU AN LẠC ĐẾN.
(P.C 35)
Kệ ngôn nầy, Bậc Đạo Sư thuyết giảng khi Ngài đang ngụ tại Sāvatthi.
Tại làng Mātika có người tín nữ với tâm đạo nhiệt thành Nhờ sự hướng dẫn của
Chư Tăng bà đắc quả A-Na-hàm với tha tâm thông Bà ủng hộ Chư Tăng rất đắc lực Bà biết được tư tưởng khác và hiểu rằng Chư Tăng còn đang thiếu thốn về mặt vật chất, nên bà hết lòng ủng hộ Được cung ứng thích hợp, không bao lâu quý Ngài đắc Đạo Quả A-La-Hán Một vi Tỳ khưu khác nghe tán thán về đức hạnh của bà Vào ngày nọ Tỳ khưu xin phép Bậc Đạo Sư đến viếng và lưu lại tu viện ấy
Bà biết rõ và đáp ứng đúng lúc những tư tưởng ước muốn của vị Tỳ khưu Vị ấy khởi tâm lo sợ sẽ bị phát hiện những tư tưởng xấu của mình, liền thối lui trở về hầu Đức Phật Đức Thế Tôn khuyên Tỳ khưu nên trở lại nơi ấy hành đạo và cố gắng điều phục nội tâm
Vị Tỳ khưu nghe lời khuyên của Đức Phật, liền trở lại làng Mātika lần nữa Vị ấy nỗ
lực thu nhiếp tâm và đắc Đạo Quả A-La-Hán
*
Trang 815- KHÔNG BAO LÂU THÂN NẦY
SẼ NẰM DÀI TRÊN ĐẤT
BỊ VẤT BỎ, VÔ THỨC
NHƯ KHÚC GỖ VÔ DỤNG.
(P.C 41)
Tại Jetavana, thành Sāvatthi, có vị Tỳ khưu Pūtigattatissa bị cảm thọ trọng bệnh
do nghiệp xấu ở quá khứ
Đức Phật chăm sóc cho vị ấy trong khi các vị Tỳ khưu khác không dám đến gần Thế Tôn lau rửa và thay y phục cho Tỳ khưu, thân của vị ấy bị lở loét hôi thúi Khi lau chùi sạch sẽ xong, Thế Tôn ngồi trên đầu giường thuyết kệ ngôn trên đề cập
đến bản chất vô thường của thể xác Khi nghe xong kệ ngôn, Tỳ khưu Tissa nắm
giữ dòng tư tưởng, suy niệm về đề tài thiền quán và đắc quả A-La-Hán nhập vô dưNíp Bàn
*
16- BIẾT THÂN NHƯ BỌT NƯỚC
NGỘ THÂN NHƯ HUYỄN CẢNH
BẺ TÊN HOA CỦA MA
VƯỢT TẦM MẮT THẦN CHẾT
(P.C 46)
Kệ ngôn nầy, khi ở Jetavana, Bậc Đạo Sư nói đến vị Tỳ khưu tu thiền.
Vị Tỳ khưu nầy nỗ lực hành thiền nhưng không có khả năng đạt quả vị A-La-Hán Trên đường trở về hầu Đức Phật thấy ảo ảnh của những bọt nước, đã gợi cho vị ấysuy xét về sự vô thường của các pháp Tỳ khưu đã nắm giữ dòng tu tưởng ấy làm
đề tài thiền quán Đức Phật hiểu được tâm tư của vị Tỳ khưu, liền xuất hiện đến trước mặt vị ấy thuyết kệ ngôn trên, giúp vị Tỳ khưu vượt khỏi 3 cõi luân hồi và đắc đạo quả A-La-Hán
*
17- NGƯỜI NHẶT CÁC LOẠI HOA
Ý ĐẮM SAY THAM NHIỄU
CÁC DỤC CHƯA THỎA MÃN
BỊ THẦN CHẾT CHINH PHỤC.
(P.C 47)
Tại thành Sāvatthi, có cô tín nữ tên Patipūjikā Cô giàu lòng nhân đạo, thường
cúng dường thực phẩm cho Chư Tăng sáng, chiều Cô cho xây dựng một ngôi trai đường có đầy đủ tiện nghi dâng cúng đến Chư Tăng Cô cúng dường với mục đích
Trang 9để được chồng.
Một ngày kia, vào buổi sáng sau khi cúng dường vật thực xong, buổi chiều cô qua đời Chư phàm Tăng xúc động trước cái chết đột ngột của cô tín nữ Khi nghe qua câu chuyện, Đức Phật giảng về bản chất vô thường của kiếp sống
Ghi chú:
- Nhặt các loại hoa: Ví như người đang bị lôi cuốn bởi nhiều khát vọng, và chưa được thỏa mãn thì thần chết đã bắt đi
*
18- KHÔNG NÊN NHÌN LỖI NGƯỜI
NGƯỜI LÀ HAY KHÔNG LÀM
Do tâm ganh tỵ, ngoại đạo sư Pātika cấm nữ gia chủ của mình không được đi
nghe Pháp của Đức Phật Tuy nhiên vì muốn tầm cầu Pháp, cô bảo đứa con của mình đi thỉnh Đức Phật về nhà Trong khi Đức Thế Tôn giảng Chánh Pháp, bỗng nhiên vị đạo sĩ xuất hiện lăng mạ Cô và Đức Phật thậm tệ Trước sự ngẫu nhiên,
Cô vô cùng bối rối Đức Phật thuyết kệ ngôn trên khuyên Cô nên nhìn lỗi ở chính mình, chớ nhìn lỗi người khác Cuối bài Pháp Cô đắc quả Tu-Đà-Hườn
Ghi chú:
- Không nên nhìn lỗi người: Người khác có làm hay không làm, tức có Đức Tin, có
Bố Thí, có trong sạch hay không, đừng tìm xem việc của họ Hãy nhìn lại mình, tự xét mình rằng "Trong những ngày và đêm trôi qua ta đã làm được việc gì? Tự xét lại mình đã tỏ ngộ Giáo Pháp của Đức Phật chưa, ta có thể chứng hay không chứng Níp Bàn?"
*
19- NHƯ BÔNG HOA TƯƠI ĐẸP
CÓ SẮC NHƯNG KHÔNG HƯƠNG
CŨNG VẬY LỜI KHÉO NÓI
KHÔNG LÀM KHÔNG KẾT QUẢ.
Trang 10(P.C 51)
20- NHƯ BÔNG HOA TƯƠI ĐẸP
CÓ SẮC LẠI THÊM HƯƠNG
CŨNG VẬY LỜI KHÉO NÓI
CÓ LÀM, CÓ KẾT QUẢ.
(P.C 52)
Vua Pasenadi thỉnh cầu Đại Đức Ānanda đến Hoàng Cung giảng giáo lý cho hai bà mệnh phụ phu nhân Bà Mallikā chăm chú học với niềm tin cùng trí tuệ và đã thực hiện các môn học có sự tiến bộ rõ rệt Còn bà Vāsabhakhattiyā thiếu niềm tin,
không cố gắng nên không tiến bộ
Đại Đức Ānanda trình lên Đức Phật sự kiện trên Đức Phật tuyên khuyết rằng:
- Giáo Pháp đã được khéo thuyết giảng, nhưng không có kết quả đối với người thiếu tinh cần, cũng tựa hồ như cành hoa có sắc nhưng không có hương Cũng vậy, Giáo Pháp trở nên vô ích đối với người không cố gắng
Hai bài kệ trên được áp dụng ở hai trường hợp:
- Nói đến hai bà Hoàng Hậu
- Nói đến những người chỉ nói giỏi chứ không thực hành
*
21- NHƯ TỪ MỘT ĐỐNG HOA
NHIỀU TRÀNG HOA ĐƯỢC LÀM
CŨNG VẬY THÂN SANH TỬ
LÀM ĐƯỢC NHIỀU THIỆN SỰ.
kệ bày tỏ sự thỏa thích
Trang 11Khi câu chuyện nầy đến tai Đức Phật, Ngài ghi nhận rằng: "Sở dĩ bà làm như vậy
vì bà đã thành tựu mỹ mãn những nguyện vọng cao đẹp của bà" Đức Phật giảng thêm rằng: "Tất cả phước báu cần phải cố gắng đào tạo bằng nhiều sự góp nhặt
Ghi chú:
- Như từ những cành hoa người ta làm thành tràng hoa Tuy nhiên nếu hoa ít, dù người thợ rất giỏi cũng không thể làm thành tràng hoa đẹp Ngược lại, hoa nhiều nhưng thợ dỡ cũng không thể kết thành tràng hoa Do vậy, hoa phải nhiều đồng thời thợ cũng giỏi, mới làm được tràng hoa hoàn hảo.
Cũng vậy việc làm từ thiện được thành tựu phải đầy đủ niềm tin và tài sản.
Nếu tài sản nhiều nhưng niềm yin yếu kém thì không thể làm nhiều thiện sự được Ngược lại, niềm tin nhiều nhưng tài sản ít cũng không thể làm được nhiều thiện sự.
*
22- HƯƠNG CÁC LOẠI HOA THƠM
KHÔNG NGƯỢC BAY CHIỀU GIÓ
NHƯNG HƯƠNG NGƯỜI ĐỨC HẠNH
NGƯỢC GIÓ KHẮP TUNG BAY
CHỈ CÓ BẬC CHÂN NHÂN
TỎA RỘNG KHẮP PHƯƠNG TRỜI
(P.C 54)
23- HOA CHIÊN ĐÀN, GIÀ LA
HOA SEN, HOA VŨ QUÝ
GIỮA NHỮNG HƯƠNG HOA ẤY
GIỚI HƯƠNG LÀ VÔ THƯỢNG
(P.C 55)
Tại Jetavana, vào buổi chiều, từ thiền định độc sư, Đại Đức Ānanda khởi lên ý nghĩ
về các loại hương Đức Phật giảng rằng:
- Hương thơm những bông hoa không thể bay ngược gió, dù là hương trầm cũng thế Chỉ có hương thơm của Giới Đức có thể bay xuôi và bay ngược chiều gió thổi Cũng vậy, hương thơm của người hiền đức bay tỏa khắp mọi nơi
*
24- ÍT GIÁ TRỊ HƯƠNG NẦY
HƯƠNG GIÀ LA, CHIÊN ĐÀN.
Trang 12Tôn giả Maha Kassapa là bậc có đức hạnh trì pháp "Đầu Đà" Sau 7 ngày "Xuất
Thiền Diệt", Chư Thiên khao khát muốn tạo phước cúng dường Ngài, nhưng Tôn Giả từ chối Vì Ngài muốn dành phần phước ấy cho những người nghèo Đức Trời
Đế Thích cùng cô Tiên Nữ, giả làm vợ chồng người thợ dệt già nghèo khổ, để đượcđến gần Ngài cúng dường vật thực Khi thực hiện được điều mong ước, Đức vua
Trời Sakka hoan hỷ bay lên giữa hư không phát lên lời cảm hứng Đức Phật hiểu ý
nghĩa này bèn thuyết kệ ngôn trên
Do giới đức trong sạch của Đại Đức Kassapa đã gây sự chú ý đến vua Trời Sakka.
Ghi chú:
- Ít giá trị hương này: Tất cả các loại hương hoa của loài thảo mộc ít giá trị, khi so sánh với những hương thơm của người có giới đức, tức là sự trì giới để thu thúc thân, khẩu và ý.
- Chỉ hương người đức hạnh: Chỉ có người giới đức mới tỏa hương thơm, nhưng trừ
"Giới Cẩm Thủ", không tỏa hương thơm, vì mấy giới này chỉ có người si mê chấp giữ.
*
25- ĐÊM DÀI CHO KẺ THỨC
ĐƯỜNG DÀI CHO KẺ MỆT
LUÂN HỒI DÀI, KẺ NGU
KHÔNG BIẾT CHƠN DIỆU PHÁP.
(P.C 60)
Duyên Khởi:
Vua Pasenadi tình cờ gặp một thiếu phụ và đem lòng tương tư, nên tìm cách hại
người chồng của thiếu phụ ấy, bằng cách sai đi công việc khẩn cấp, nếu trễ sẽ bị giết chết
Người cận vệ quân (chồng nàng) quá sợ hãi với công việc khẩn cấp cảm thấy dặm
Trang 13đường quá xa.
Vua Pasenadi trong đêm thao thức lo toan mưu đoạt vợ người, nên thấy đêm quá
dài Cả hai nói lên nỗi ẩn khúc của lòng khi gặp Đức Phật Đức Thế Tôn thuyết lên bài kệ trên, Ngài kết hợp hai câu sau kết luận rằng:
- Đối với người không biết Chánh Pháp, vòng luân hồi quả thật xa xôi diệu vợi Khinghe xong, cả hai giải tỏa mối oan trái với nhau
Ghi chú:
- Kẻ ngu: Là người chỉ chất chứa những nhân sanh tử Trái lại kẻ trí là người luôn
cố gắng tu sửa, để đoạn tuyệt các nhân dắt dẫn luân hồi.
Trưởng Lão Kassapa có hai người đệ tử hầu cận Một có hạnh kiểm tốt và siêng
năng; còn người kia có tánh gian xảo, thường trốn tránh nhiệm vụ và lười biếng Trưởng Lão nhiều lần quở trách, giáo dục nhưng không có kết quả Trái lại, người
ấy khởi tâm oan trái oán thù Một hôm thừa dịp Trưởng lão đi khất thực, Tỳ khưu
ấy nổi lửa đốt Tịnh Thất rồi bỏ trốn
Ghi chú:
- Hơn mình hay bằng mình: Ngụ ý nói về hạnh kiểm "Giới, Định, Tuệ" Thân cận với người tốt hơn ta sẽ được tiến hóa, nếu thân cận với người xấu hơn ta sẽ bị thoái hóa Trừ khi vì lòng bi mẫn muốn tiếp độ họ, nhưng không nên để các cuồng dại của họ nhiễm ta.
*
27- CON TÔI, TÀI SẢN TÔI
NGƯỜI NGU SANH ƯU NÃO
TỰ TA, TA KHÔNG CÓ
CON ĐÂU, TÀI SẢN ĐÂU.
Trang 14(P.C 62)
Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn nầy, đề cập đến người tỷ phú keo kiết
Tại thành Sāvatthi, có người gia chủ tài sản lớn Mỗi tháng hai lần, ông tập hợp thân quyến lại và khuyên nhủ con trai của mình là Mūlasiri:
- Không nên bố thí, không nên làm hao mòn tài sản Ví như loại ong tụ mật như thế nào, thì hãy giữ tài sản cũng như thế ấy
Thời gian sau ông qua đời, vì quá dính mắc tài sản nên ông tục sanh làm người hèn hạ, dị dạng Khi lớn lên, nó ăn xin quanh xóm làng Ngày kia, khi tình cờ nó đến nhà của mình trong kiếp trước Khi bước vào nhà, nó bị mọi người đánh đuổi vứt ra đống rác
Đức Phật trên đường khất thực, thấy vậy bèn lưu ý đến người chủ nhà Mūlasiri
rằng: "Người ăn xin nầy là Cha của ngươi trong kiếp trước"
Ghi chú:
- Con của ta, sự nghiệp của ta: Đó là mối lo âu của hạng cuồng si Đúng ra, chính
ta còn không phải là của ta, vậy con cái nào là của ta? Sự nghiệp nào là của ta?
*
28- NGƯỜI NGU DẦU TRỌN ĐỜI
THÂN CẬN NGƯỜI CÓ TRÍ
KHÔNG BIẾT ĐƯỢC CHÁNH PHÁP
NHƯ MUỖNG VỚI VỊ CANH.
(P.C 64)
Kệ ngôn nầy Đức Thế Tôn thuyết tại Jetavana, khi đề cập đến Tỳ khưu Udāyi.
Tỳ khưu Udāyi thường đến ngồi nơi Pháp toạ Các Tỳ khưu khách lầm tưởng Tỳ khưu Udāyi thông suốt Giáo Pháp, đến nhờ giảng dùm 5 Uẩn (khối, nhóm) và các Pháp khác Tỳ khưu Udāyi chẳng thông hiểu gì về vấn đề nầy, mặc dù đang sống
gần Đức Phật Câu chuyện được bạch lên Đức Thế Tôn, Ngài thuyết kệ ngôn trên
Ghi chú:
- Người ngu: là người không thích nghe, không thích tầm cầu Diệu Pháp Hoặc nếu có được nghe cũng không thực hành, không thẩm xét đúng đắn Người như vậy, dù có sống gần bậc thiện trí trọn đời cũng không làm tăng trưởng Thiện Pháp Cũng ví như cái muỗng được ngâm trọn vẹn trong nồi canh, nhưng chẳng
Trang 15thưởng thức được hương vị của canh.
*
29- NGƯỜI TRÍ, DẦU MỘT KHẮC
THÂN CẬN NGƯỜI CÓ TRÍ
BIẾT NGAY CHÂN DIỆU PHÁP
NHƯ LƯỠI VỚI VỊ CANH.
(P.C 65)
Thế Tôn thuyết kệ ngôn nầy đề cập đến 30 vị Tỳ khưu
Có 30 người thanh niên đang tìm kiếm một người nữ ở khu rừng Kappāsika Vào
thời điểm nầy, họ gặp Đức Thế Tôn và Ngài đã thuyết pháp:
"Hãy đến, nầy các Tỳ khưu"
Lập tức những người ấy có đủ tam y và quả bát, đồng thời cũng được thanh lọc mọi ô nhiễm và đắc quả A-La-Hán
Với sự thắc mắc được trình lên Đức Phật:
- Tại sao, chỉ trong thời gian ngắn, sau khi nghe Pháp, các vị Tỳ khưu kia đã giác ngộ Giáo Pháp một cách nhanh chóng?"
*
30- NGƯỜI NGU NGHĨ LÀ NGỌT
KHI ÁC CHƯA CHÍN MUỒI
ÁC NGHIỆP CHÍN MUỒI RỒI
NGƯỜI NGU CHỊU KHỔ ĐAU.
(P.C 69)
Trang 16Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn này, khi Ngài đang ngụ tại chùa Jetavana, đề cập đến thanh niên Nandamānāva.
Tỳ khưu Ni Uppalavannā xuất thân từ gia đình giàu có, được cha khích lệ cho xuất
gia vào hội chúng Tỳ khưu Ni Tâm cô giống như một giọt nước thuần tịnh không cấu nhiễm Cô tập trung nhìn ngọn đèn của Chánh Điện, chú ý về thành phần củalửa Sau khi đã triển khai Thiền Quán, Cô đạt đến trạng thái siêu phàm đắc Đạo Quả A-La-Hán
Vào một ngày kia, Tỳ khưu Ni Uppalavannā đi khất thực trở về khu rừng nơi Cô
đang ngụ Có một thanh niên đến bức hiếp Tỳ khưu Ni rồi ra đi Đi không bao xa
người ấy bị đất rút chết, đọa vào địa ngục Avìci.
Đức Phật hiểu rõ câu chuyện, Ngài giảng về hiểm họa của người cuồng dại, sau khi hành động bất chánh phải gặt hái quả khổ đau
*
31- NGHIỆP ÁC ĐÃ ĐƯỢC LÀM
NHƯ SỮA KHÔNG ĐÔNG NGAY
CHÁY NGẦM THEO KẺ NGU
NHƯ LỬA TRO CHE ĐẬY.
(P.C 71)
Kệ ngôn nầy được Đức Thế Tôn thuyết tại Jetavana, đề cập đến Ngạ Quỷ rắn và
Ngạ Quỷ quạ
Trưởng Lão Moggallāna từ núi Yugandhāra (Kênh Kênh) đi xuống, với thiên nhãn
thuần tịnh siêu nhân thấy hai Ngạ Quỷ Trưởng Lão trình câu chuyện này cho Bậc Đạo Sư Đức Thế Tôn kể rằng:
- Thuở xưa, trong thời Đức Phật Kassapa, Chư thiện tín thỉnh Chư Đại Đức Tặng
đến cúng dường vật thực và nghe Pháp Lúc bấy giờ, có con chim quạ bay xuống
mổ 3 miếng đầy mồm rồi bay đi, những đồ vật ấy đã được chuẩn bị sắp xếp dâng cúng đến Chư Đại Đức Tăng Sau kiếp đó, nó bị sanh vào Địa Ngục Quả xấu chưa hết, từ Địa Ngục nó chết đi tái sanh làm Ngạ Quỷ quạ
- Nói về Ngạ Quỷ rắn Vào thời kỳ Đức Phật Độc Giác, những người dân trong làng xây dựng một ngôi Tịnh Thất để Ngài trú ngụ Họ thường xuyên đến đó cúng dường những vật dụng cần thiết cho Ngài Trước khi đến, họ thường phải băng qua cánh đồng của người nông dân Đã nhiều lần người nông dân ngăn chận không cho những người dân đi qua ruộng của ông Ngăn chận không được, ông liền nghĩ kế đốt cốc thì những người nầy sẽ không đi đến đó Do hành động xấu này, ông bị cuốn hút vào Địa Ngục rất lâu Khi ra khỏi Địa Ngục, ông tái sanh làm
Trang 17ngạ Quỷ "Đầu người, mình rắn" Nó cảm thọ khổ khốc liệt, vì thân tướng của nó luôn bị lửa đốt cháy đỏ rực đau đớn.
Đức Phật ghi nhận rằng:
- Những hành động ác xấu trong kiếp quá khứ, đã kết tụ những quả dữ trong kiếp hiện tại nầy Giống như loại sữa tươi không đông đặc ngay liền, hoặc như lửa thanđược ngún cháy ngầm dưới lớp tro Cũng dường thế ấy, nghiệp ác đang đe dọa vàcháy ngầm theo người cuồng dại
*
32- NẾU THẤY BẬC HIỀN TRÍ
CHỈ LỖI VÀ KHIỂN TRÁCH
NHƯ CHỈ CHỖ CHÔN VÀNG
HÃY THÂN CẬN NGƯỜI TRÍ
THÂN CẬN NGƯỜI NHƯ VẬY
CHỈ TỐT HƠN KHÔNG XẤU.
(P.C 76)
Duyên Khởi:
Trưởng Lão Sariputta thâu nhận một Bà La Môn nghèo vào Giáo Hội để tỏ lòng
biết ơn một muỗng vật thực mà ông đã dâng cúng đến Ngài
Vị Tu sĩ mới xuất gia, luôn luôn tìm cơ hội học hỏi và tận lực tinh tấn hành theo lờidạy của Thầy, không bao lâu đắc Đạo Quả A-La-hán
Đức Phật thuyết kệ ngôn nầy để tán dương tinh thần tu học của vị tân Tỳ khưu luôn sẵn sàng sửa mình theo hạnh Thánh Tăng, và Đức Phật khích lệ các vị khác nên noi theo gương lành trong sạch ấy
Ghi chú:
- Chỉ lỗi: Chấp nhận lời chỉ giáo: "giờ nầy không nên ăn; không nên nhai…; không nên ngồi nhịp chân, rung đùi; không nên bói toán hên xui; không nên mua chuộc tình cảm bằng lời nói xảo ngữ, hãy nói Pháp bằng không thì im lặng, v.v…"
Những chỗ khuyết phạm trên do vô minh và ái dục tác động, nếu không có bậc Hiền Trí chỉ lỗi, sửa sai thì thiện pháp không phát triển, lậu hoặc ắt tăng trưởng Thân cận bậc Hiền Trí được bốn điều lợi ích là:
Trang 181) Thường làm cho Giới được tăng trưởng cao thượng.
2) Định sẽ được tăng trưởng cao thượng.
3) Tuệ sẽ được tăng trưởng cao thượng.
4) Sẽ được Giải Thoát Tri Kiến.
Câu chuyện xảy ra tại Kītagīri, khi Đức Thế Tôn ngụ tại Jetavana.
Có hai vị Tỳ khưu là đệ tử của hai vị Trưởng Lão Sāriputta và Moggallāna Mặc dù
hai vị Đại Trưởng Lão đã nhiều lần khuyên dạy, nhưng hai vị Tỳ khưu kia vẫn không tuân theo luật Tâm tánh xấu xa, hai vị vi phạm nhiều lỗi lầm Đức Phật đã lưu ý đến hai vị nầy và trục xuất ra khỏi Giáo Hội để ngăn chận sự truyền lan, tiêm nhiễm đến các vị Tỳ khưu hiền thiện khác
*
34- CHỚ THÂN VỚI BẠN ÁC
CHỚ THÂN KẺ TIỂU NHÂN
HÃY THÂN NGƯỜI BẠN LÀNH
HÃY THÂN BẬC THƯỢNG NHÂN.
nhiều vị Tỳ khưu sau khi nghe Pháp đắc đạo quả Tu Đà Hườn, riêng Tỳ khưu
Channa chỉ lặng tiếng được thời gian, sau đó lại tiếp tục nói mai mỉa hai vị Chí
Thượng Thinh Văn Đức Phật đã ba lần khuyên dạy nhưng không có kết quả, Ngài
Trang 19tuyên ngôn rằng:
- Sau khi Như Lai Níp Bàn, hãy để cho Tỳ khưu Channa chịu hình phạt gọi là
"Brahmadanda", tức không được nói chuyện với vị ấy.
Khi Đức Phật đã Níp Bàn, Đại Đức Ānanda công bố phán quyết giữa hội chúng cách phạt tội Tỳ khưu Channa tuyệt giao, không tiếp xúc Lúc bấy giờ, Tỳ khưu Channa tràn ngập nỗi buồn rầu và ngất xỉu ba lần, khi tỉnh lại ông gào thét:
- Xin đừng hủy diệt tôi
Đại Đức Channa hối lỗi và có sự cố gắng thực hành tròn đủ pham hạnh, cố nỗ lực
tu tập, không bao lâu đắc đạo quả A-La-Hán cùng Tuệ Phân Tích
*
35- NHƯ TẢNG ĐÁ KIÊN CỐ
KHÔNG GIÓ NÀO LAY ĐỘNG
CŨNG VẬY, GIỮA KHEN CHÊ
NGƯỜI TRÍ KHÔNG GIAO ĐỘNG.
Dù bị bóp mũi, kéo tai, Đại Đức vẫn không tỏ vẻ giận hờn hay căm tức với những
tư cách ấy Điều nầy đã gây sự chú ý nơi các vị Tỳ khưu khác Câu chuyện được đem ra bàn luận Đức Phật hiểu duyên cớ, Ngài thuyết rằng:
- Các "Bậc Lậu Tận" tâm không còn nóng nảy hay giận hờn, giống như những tảng
đá đặc ruột, nằm yên không lay động Cũng vậy, tâm của Bậc A-La-Hán luôn luôn bình thản trước những lời tán dương hay khiển trách
Cuối thời pháp có nhiều vị Tỳ khưu đắc Đạo Quả Tu Đà Hườn
Ghi chú:
- Nindāpasamsāsu: Nghĩa là lời nói khen chê, tức một trong tám Pháp Thế Gian (Lokadhamma) Chữ nầy bao gồm tất cả những tiếng đời thị phi mai mỉa Tâm
Trang 20của Bậc Trí Giả không hề bị lay động, xê dịch, cũng giống như núi đá trước gió.
Suốt thời gian ba tháng, Bà La Môn Verañja bị ác ma ám ảnh khiến ông lãng quên
việc cúng dường, dù thế không một ngày nào ông không đến chất vấn Đức Thế
Tôn Lúc bấy giờ, ở làng Verañja nhằm thời kỳ bị nạn đói kém, nên các vị Tỳ khưu
đi khất thực khắp trong và ngoài thành cũng chẳng tìm được thức ăn, bi kiệt sức Thấy vậy, những người buơn ngựa cúng dường những nắm cơm khô, Chư Tăng dùng đá nghiền nát ra nấu cháo
Trưởng Lão Moggallāna thấy Chư Tăng quá kiệt sức, Ngài có ý muốn dùng thần
thông đưa Chư Tăng sang Bắc Cưu Lưu Châu khất thực hoặc xoay ngược quả địa cầu lại để lấy chất dinh dưỡng dưới mặt đất cúng dường Chư Tăng, nhưng Đức Phật không cho phép Dù thế, Chư Tăng cũng không lo buồn Đến ngày ra hạ, ĐứcPhật từ giả Bà La Môn và khuyến giáo ông được vững trú trong năm giới Xong,
Ngài tiến hành đến Sāvatthi, ngự tại Jetavana Lúc bấy giờ dân cư trong thành
đón tiếp cúng dường trọng đại nhưng cũng không vì vậy mà Chư Tỳ khưu tỏ ra thỏa thích quá độ Đức Phật lưu ý rằng: "Người thiện trí dù gặp hoàn cảnh vui buồn, sướng khổ, các vị ấy vẫn điềm tĩnh an nhiên, không bồng bột, cũng không
để tinh thần bị suy sụp"
Ghi chú:
- Kāmayantā: Không bàn dục, không bàn đến động cơ của dục.
- Kāma kāranā: Lý do của dục.
- Kāma hetu: Nhân duyên của dục.
Bậc Tịnh Giả không nói ướm để người khác cho, cũng không nói lời phù phiếm
Trang 21như chuyện Vua Quan, v.v
*
37- KHÔNG VÌ MÌNH, VÌ NGƯỜI
KHÔNG CẦU ĐƯỢC CON GÁI
KHÔNG CẦU TÀI SẢN QUỐC ĐỘ
KHÔNG CẦU MÌNH THÀNH TỰU
VỚI VIỆC LÀM PHI PHÁP
bày tỏ ý định của mình Người vợ khuyên:
- Hãy chờ đợi đến khi nào đứa bé trong bào thai được sinh ra hãy xuất gia"
Khi đứa bé được sinh ra, cô vợ lại trì hoãn nói rằng:
- Hãy chờ đợi khi đứa bé biết đi
Nhưng khi đứa bé biết đi, cô vợ liền bảo:
- Hãy đợi đứa bé trưởng thành
Lần nầy Dhammika tự nghĩ:
- Dù người vợ của ta có cho phép hay không, ta cũng sẽ tự mình ra đi tìm con
đường cứu khổ cho chính ta Thanh niên Dhammika cương quyết xuất gia và nỗ
lực tu tập Thiền Quán, không bao lâu đắc Đạo Quả A-La-Hán Thời gian sau, Tỳ khưu Dhammika trở về thuyết pháp hóa độ người con trai xuất gia, cũng đắc Đạo Quả A-la-Hán Người thiếu phụ kia tự nghĩ:
- Ta chỉ muốn những người nầy sống tại gia với ta, nay họ đã xuất gia trở thành vị
Tỳ khưu tất cả, cuộc đời của ta nay có ích gì khi sống ở tại gia vậy ta hãy từ bỏ thế tục xuất gia Tỳ khưu Ni
Nghĩ vậy, nàng xuất gia và cố gắng tu tập Thiền Định, không bao lâu cũng Đắc
Trang 22Đạo Quả A-la-Hán.
Lúc nầy chư Tỳ khưu khác luận bàn:
- Quả thật Tỳ khưu Dhammika là bậc thiện trí sống theo Chánh pháp đã thành bậc
A-La-Hán, thế mà vị ấy vẫn còn lưu luyến vợ con
Khi nghe vậy, Đức Phật liền xuất hiện đến dạy rằng: "Tỳ khưu Dhammika là bậc
có trí tuệ sống đúng Pháp" và thuyết kệ ngôn trên
Ghi chú:
Tỳ khưu Dhammika, không vì mình, cũng không vì người làm việc sai quấy, Tỳ khưu đã cương quyết nương tựa vững chắc nơi Chánh Pháp, chỉ làm những việc lợi ích Chánh Trực.
*
38- ÍT NGƯỜI GIỮA NHÂN LOẠI
ĐẾN ĐƯỢC BỜ BÊN KIA
Có nhóm thiện tín sanh sống tại thành Sāvatthi họ cùng thỏa thuận với nhau
trong việc tạo phước cúng dường và chia thời gian đến Chùa nghe pháp Tuy vậy,
họ không thể làm theo ý định của mình Có một số người bị lòng tham ức chế, thúc đẩy họ tự động rút lui Một số người khác bị sân giận chi phối cũng bỏ ra về Một số nữa ở lại nhưng bị hôn trầm chi phối, họ ngồi ngủ gục cũng không nghe được Pháp
Qua ngày sau, Chư Tỳ khưu họp tại giảng đường đem đề tài nầy ra thảo luận ĐứcPhật ngự đến hỏi và giảng rằng:
- Nầy Chư Tỳ khưu! những chúng sanh ấy hằng ngày sống trong cõi Dục, dính
Trang 23mắc, đeo níu trong cõi Dục lạc, nên rất ít người vượt lên để đạt đến Níp Bàn.
Cuối thời Pháp, nhiều vị Tỳ khưu đắc Đạo Quả Tu Đà Hườn
Ghi chú:
- Bờ nầy: Ba cõi gồm Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới.
Phần đông nhân loại vì thân kiến, ngã chấp bám chặt vào Danh Sắc, nên mãi chạy xuôi ngược dọc theo bờ nầy.
KHÔNG THÍCH CƯ TRÚ NÀO
NHƯ NGỖNG TRỜI RỜI AO
BỎ SAU MỌI TRÚ ẨN.
(P.C 91)
Tại Veluvana, câu chuyện liên quan đến Trưởng Lão Kassapa.
Sau khi ngụ suốt mùa mưa tại thành Rājagaha Đức Phật thông báo trước nữa
tháng để Chư Tăng chuẩn bị y bát cho một cuộc hành trình khất thực Đây là sự thực hành của Chư Phật đi du hóa
Lúc bấy giờ, Chư Tăng ai ai cũng lo chuẩn bi y bát để tạo cuộc hành trình tốt đẹp,
an vui Trưỡng Lão Kassapa cũng giặt y sửa soạn Nhưng khi sắp đi, Đức Thế Tôn
xét thấy: "Nếu ta và Chư Tăng rời khỏi nơi đây hết không còn vị nào, Phật tử sẽ không có ai để nương tựa" Ngài cũng nhận thấy 180 triệu dân cư ở đây ai cũng
điều ái kính, trọng hậu Trưởng Lão Kassapa như quyến thuộc Do vậy, vì hạnh phúc của quần chúng, Đức Phật chỉ định Trưởng Lão Kassapa nên ở lại Vài Tăng
sĩ hiểu lầm phẩm hạnh của Trưởng Lão nên bàn bạc với nhau:
- Trưởng lão Kassapa còn lưu luyến thí chủ, họ hàng.
Đức Phật nghe vậy, liền thuyết giảng kệ ngôn trên để xác chứng rằng Trưởng Lão
đã cắt đứt mọi luyến ái
Trang 2441- TÀI SẢN KHÔNG CHẤT CHỨA
ĂN UỐNG BIẾT LIỄU TRI
TỰ TẠI TRONG HÀNH XỨ
"KHÔNG VÔ TƯỚNG GIẢI THOÁT"
NHƯ CHIM GIỮA HƯ KHÔ NG
HƯỚNG CHÚNG ĐI KHÓ TÌM
(P.C 92)
Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn nầy tại Jetavana, liên quan đến Tỳ khưu Belatthisìsa.
Sau khi đi vào làng khất thực và ăn xong, Tỳ khưu Belatthisīsa đi vào con đường
khác khất thực cơm khô để dành Vì thấy đi khất thực mỗi ngày khó nhọc, Tỳ khưu muốn nghĩ vài ngày để hành thiền cho được an vui, khi nào cần vật thực sẽ lấy cơm khô ra dùng Vài vị Tỳ khưu khác biết được việc nầy đến trình lên Đức Phật Nhân cơ hội ấy, Đức Thế Tôn ban hành học giới:
- Chư Tỳ khưu không được cất giữ vật thực quá thời hạn
Đức Thế Tôn cũng giải thích thêm rằng:
- Tỳ khưu Belatthisīsa không phạm tội vì theo hạnh thiểu dục, trong khi học giới
chưa được ban hành
Đức Thế Tôn cũng giải thích những tác phong cao thượng của vị Tỳ khưu thuần hành
Ghi chú:
- Chất Chứa: Có hai loại tích trữ (chất chứa):
1) Tích trữ Nghiệp: Do những việc làm thiện và bất thiện
2) Tích trữ Vật Dụng: như thức ăn, y áo, v.v…
- Liễu tri: Có ba loại Liễu Tri:
1) Sự biết bình thường: Như cơm cháo và trạng thái của nó.
2) Sự biết đặc biệt hơn: Nhờ suy xét đến phần phát sanh sự ô trược của vật thực 3) Biết sự dứt bỏ: Có trí Tuệ quán tưởng cao nên đoạn trừ được những khao khát
Trang 25đối với vật thực.
- Tự Tại trong Hành xứ; Các Bậc đắc đạo Quả lấy Níp Bàn làm cảnh giới, trú tâm trong đối tượng ấy và giải thoát "Không Vô Tướng" Đây là hành xứ của Bậc A-La- Hán
- Không Vô Tướng giải thoát: Có ba cảnh giải thoát:
1) Vô Tánh: Giải thoát Tam Độc đến mức rổng không
2) Vô Tướng: Giải Thoát đến mức độ không còn hình thức của Tam Độc
3) Vô Dục: Không còn ham muốn dục lạc.
- Như Chim Giữa Hư Không: Lộ trình của vị ấy không để lại nghiệp, cũng như đàn chim bay giữa hư không, không để lại dấu vết Cũng vậy, trạng thái Níp Bàn không ai có thể vẽ hay diễn tả hết được.
Nhân ngày lễ Tự Tứ, Đức Thiên Nhân Sư ngự tọa đến Đông Phương Tự của Bà
Visākhā cùng đại chúng Thinh Văn.
Trong thời gian nầy, Đại Đức Kaccāyana đang ở xứ Avanti, dù cách trở xa xôi
nhưng Đại Đức cũng đến để góp mặt khích lệ tinh thần nghe Pháp Do đó, các vị
Tỳ khưu cao hạ khi vào chỗ ngồi thứ tự có chừa trống một chỗ để dành cho Đại
Đức Kaccāyana.
Lúc bấy giờ, Đức Vua Trời Sakka cùng các Chư Thiên ở hai cõi theo hộ giá, mang
theo các lễ vật hương hoa để cúng dường Đức Phật Khi đến không thấy Đại Đức
Kaccāyana, Đức Vua Trời Sakka tự hỏi:
- Sao Đại Đức của ta không có mặt ở đây? Phải chi Ngài đến thời hoan hỷ lắm.Ngay khi ấy Đại Đức cũng vừa đến và ngồi vào chỗ của mình Đức Vua Trời trông
Trang 26thấy, liền vội đến đảnh lễ và xoa bóp hai chân cho Đại Đức, xong đứng qua một bên Chư Tỳ khưu Khác trông thấy luận bàn:
- Đức Vua Trời Sakka còn cá nhân.
Đức Thế Tôn nghe được sự việc, Ngài chỉnh đốn rằng:
- Tỳ khưu Kaccāyana tự chế ngự và luôn canh phòng 6 căn giống như tuấn mã
được rèn luyện thuần thục Người như vậy được nhân loại và cả Chư Thiên hằng quý mến
Ghi chú:
- Mạn Trừ, Lậu Hoặc dứt: Dứt bỏ 9 cách Ngã Mạn:
1) Hơn ỷ hơn Hơn ỷ bằng Hơn ỷ thua.
2) Bằng ỷ hơn Bằng ỷ bằng Bằng ỷ thua.
3) Thua ỷ hơn Thua ỷ bằng Thua ỷ thua.
- Bốn Pháp Lậu Hoặc là: Dục Lậu, Hữu Lậu, Tà Kiến Lậu và Vô Minh Lậu.
*
43- NHƯ ĐẤT, KHÔNG HIỀM HẬN
NHƯ CỘT TRỤ, KIÊN TRÌ
NHƯ HỒ, KHÔNG BÙN NHƠ
KHÔNG LUÂN HỒI VỊ ẤY.
(P.C 95)
Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn nầy tại Jetavana, Đề cập đến Trưởng Lão Sāriputta.
Ngày kia, Trưởng Lão Sāriputta vô tình để chéo y chạm vào thân một vị Tỳ khưu
Vị nầy từ lâu đã có tâm ganh ghét Ngài, nên khi Trưởng Lão vừa đi khỏi ranh Chùa, Tỳ khưu nầy liền đến Đức Phật cáo gian rằng:
- Trưởng Lão Sāriputta xúc phạm đến con, đã bỏ đi không xin lỗi.
Đức Phật bèn cho gọi Trưởng Lão trở lại để phân xử Khi ấy, hai vị Trưởng Lão
Moggallāna và Ngài Ānanda đi thông báo tập hợp chúng Tăng lại Trưởng Lão Sāriputta bước vào hội chúng, đảnh lễ bậc Đạo Sư rồi ngồi xuống một bên đầy
kính trọng Đức Phật hỏi câu chuyện đã xảy ra Trưởng Lão không tự bào chữa màchỉ mô tả đời sống Phạm hạnh khiêm tốn của mình từ lúc mới xuất gia và mãi cho
Trang 27đến bây giờ Đại Đức thưa rằng:
- Bạch Đức Thế Tôn! Thật vậy, đối với vị Tỳ khưu nào chưa thuần thục đề mục Niệm Thân, thời vị ấy có thể xúc phạm đến vị đồng phạm hạnh rồi bỏ đi không xinlỗi Bạch Thế Tôn! Ví như đất, Người ta có thể quăng bỏ các nhơ nhớp, v.v… nó vẫn im lìm, trầm lặng không xao động Cũng vậy con đã tu hạnh như đất Ví như nước, lửa, gió…
Trưởng Lão tự ví mình theo thứ lớp của bốn đại, rồi ngồi xổm chấp tay xin sám hối
vị Tỳ khưu cáo gian kia Khi ấy vị Tỳ khưu cáo gian, nghe trong mình toàn thân nóng như lửa đốt, liền quỳ dưới chân Đức Thiện Thệ tự thú nhận rằng mình cáo gian
Chư Tỳ khưu tán dương phẩm hạnh thanh cao của Đại Đức Sāriputta Đức Phật
LỜI AN, NGHIỆP CŨNG AN
CHÁNH TRÍ, CHƠN GIẢI THOÁT
TỊNH LẠC LÀ VỊ ẤY.
(P.C 96)
Bậc Đạo Sư thuyết kệ ngôn nầy khi ngụ tại Jetavana, liên quan đến Sa di đệ tử của Tỳ khưu Tissa.
Trưởng Lão Tissa nhập hạ ở Kosambi Cuối mùa an cư, thiện tín mang vật dụng
đến dâng cúng Trưởng Lão Ngài từ chối, thiện tín hỏi lý do, Ngài bảo:
- Vì tôi không có Sa di hầu cận để cất giữ vật dụng theo luật
Một người gia chủ bèn đem đứa con trai bảy tuổi cúng dường đến Ngài Trong khi đang làm lễ xuất gia, vị Sa di lấy đề mục "Tóc, Lông, Móng, Răng, Da" quán
tưởng, liền đắc Đạo Quả A-La-Hán cùng Tuệ Phân Tích Sau khi xuất gia xong, hai thầy trò trở về yết kiến Đức Phật Trên đường đi, Trưởng Lão ghé vào một ngôi Chùa nghỉ tạm qua đêm Sa di có bổn phận sửa soạn chỗ ngụ cho Thầy Khi làm xong trời đã chiều tối, không kịp dọn chỗ riêng mình, do vậy vị Thầy cho Phép Sa
di nghỉ chung cốc
Trang 28Sau ba ngày trôi qua, Sa di tự nghỉ:
- Ta và Thầy ta đã nghỉ chung chỗ trong ba đêm rồi Nếu nay ta nằm lại, e bị ngủ quên thì Thầy ta sẽ bị phạm luật Do vậy, nay ta hãy ngồi đây cho hết đêm nay.Khi Trưởng Lão thức giấc tự nghỉ:
- Nay đã đến ngày thứ ba, ta hãy đánh thức Sa di dậy
Rồi Đại Đức lấy cây quạt gõ xuống giường gọi:
- Bạch Ngài con không có lỗi với Ngài và Ngài cũng không có lỗi với con
Hai Thầy trò đến đảnh lễ Đức Phật và thuật lại câu chuyện, Đức Phật ghi nhận rằng:
- Bậc Lậu Tận không còn hờn giận Các Ngài luôn có một trạng thái trầm tỉnh, hành động trầm tỉnh, lục căn an tịnh, trọn vẹn siêu thoát
Thời Pháp kết thúc, Tỳ khưu Tissa đắc Đạo Quả A-La-Hán.
Trang 29Thánh Quả A-La-Hán Ngài thích sống đơn độc trong rừng sâu Ngày kia, nhân dịp
bà Visākhā hỏi thăm về khu rừng keo mà Đại Đức Revata đang trú ngụ có đẹp
không? Nhân cơ hội nầy, Đức Phật đề cập đến: "Làng mạc hay rừng núi… cũng trởthành khả ái khi có vị A-La-hán đang trú ngụ
*
46- KHẢ ÁI THAY NÚI RỪNG
CHỔ NGƯỜI PHÀM KHÔNG ƯA
- Đây là người nam, vậy ta hãy cám dỗ người nầy
Lúc bấy giờ, vị Tỳ khưu bị cảm kích qua cử chỉ không đoan chính của cô Đức Phậtngồi nơi Tu Viện, dùng tuệ nhãn quán xét biết rõ sự việc trên Ngài phóng hào quang phản chiếu trước mặt Tỳ khưu và nói:
- Nầy Tỳ khưu! Hạnh phúc không tìm thấy trong dục lạc, chỉ tìm thấy ở sự thoát lykhước từ
Rồi với tia hào quang, Ngài tạo ra hình ảnh của chính Ngài và thuyết kệ ngôn trên
để khích lệ sách tấn Câu kệ chấm dứt, vị Tỳ khưu đắc Đạo Quả A-La-Hán
*
47- DẦU NÓI NGÀN CÂU KỆ
NHƯNG KHÔNG CHÚT LỢI ÍCH
TỐT HƠN MỘT CÂU NGHĨA
NGHE XONG, ĐƯỢC TỊNH LẠC.
(P.C 100)
Tại Veluvana, Đức Thế Tôn thuyết kệ ngôn trên đề cập đến người đao thủ
Tambadathika.
Vào thời ấy, có 500 tên cướp, chúng hay cướp đoạt trong làng và thường làm các
việc bạo lực khác Thanh niên Tambadathika gia nhập vào đảng cướp ấy Về sau tên cướp Tambadathika trở thành viên đao phủ của Vua Khi về hưu, nhờ Trưởng
Trang 30Lão Sāriputta cảm hóa, từ tánh hung hăng bạo ngược trở nên hiền lành và sau khi
chết ông tái sanh vào thiên giới, nhờ những lời khuyên hữu ích của bậc cao
thượng vừa mới xuất hiện thiền diệt
Rồi Đức Phật liên hệ câu kệ ngôn trên
Cuối thời Pháp nhiều Tỳ khưu đắc Đạo Quả Tu Đà Hườn
- Một câu nghĩa: Tức câu nói hữu ích như nói về những tánh chất Vô thường, Khổ Não, Vô Ngã, về những Bất Tịnh của thân…
Khi nghe một câu hữu ích, có thể làm lắng dịu các pháp bất thiện, nhất là tình dục Lời nói hữu ích làm sáng tỏ Diệu Pháp liên hệ đến Níp Bàn, như nói về: Năm Uẩn, Bốn Đại Mười Hai Xứ, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Giác Chi, Bốn Niệm Xứ Chỉ một lời nói như vậy, nghe xong sẽ được tịnh lạc.
CÚNG DƯỜNG VẬY TỐT HƠN
HƠN TRĂM NĂM TẾ TỰ.
(P.C 106)
Trang 31Tại Veluvana (Trúc Lâm), Bậc Đạo Sư thuyết kệ ngôn trên liên quan đến Cậu của Trưởng Lão Sāriputta.
Người Cậu của Trưởng Lão Sāriputta, mỗi tháng tiêu nhiều tiền để cúng dường cho ngoại đạo Nigantha với ước nguyện được sanh về cõi Phạm Thiên Trưởng Lão Sāriputta hướng dẫn ông đến yết kiến Đức Phật, Đức Thế Tôn giảng rằng:
- Dù Bà La Môn có làm như vậy liên tục cả 100 năm, cũng không bằng chỉ trong giây lát cúng dường bậc chân tu tự hóa
Cuối thời Pháp, Bà La Môn đắc đạo quả Tu Đà Hườn
Ghi chú:
- Tháng tháng bỏ ngàn vàng: Hằng tháng xuất ra hằng 1.000 đồng để bố thí cho quần chúng, cho hội hè ở thế gian suốt cả 100 năm.
- "Hutam": Dự bị cung cấp cho khách qua đường hay làm việc cúng tế dựa theo một tín ngưỡng mà ta đang sùng tín Sự cúng dường như vậy, dù liên tục cả 100 năm, không bằng cúng dường cho bậc chân tu, bậc tự điều phục như bậc Tu-Đà- Hườn, Tư-Đà-Hàm, A-Na-hàm hoặc A-La-Hán Dù chỉ cúng dường cho các vị ấy một muỗng cơm, phước nhiều hơn cả trăm năm cúng dường cho tà sư ngoại đạo.
Trưởng Lão Sāriputta đến viếng ngưởi bạn cũ, thăm hỏi xã giao và đàm luận về
các việc làm phước cao thượng Ông Bà La Môn nói rằng trong hằng năm, ông đã
hy sinh bỏ ra một số tiền to lớn giết nhiều thú vật để tế thần, chỉ có phước nầy là
đệ nhất Nghe những quan kiến sai lầm của ông, Trưởng Lão Sāriputta thuyết
phục và hướng dẫn ông đến Đức Thế Tôn Đức Phật thuyết kệ ngôn trên để chỉ rõ việc phước và cách cúng tế chơn chánh
Sau khi nghe xong, ông đắc Sơ Quả Tu Đà Hườn
Trang 3250- THƯỜNG TÔN TRỌNG KÍNH LỄ
BẬC KỲ LÃO TRƯỞNG THƯỢNG
BỐN PHÁP ĐƯỢC TĂNG TRƯỞNG
THỌ, SẮC, LẠC, SỨC MẠNH
(P.C 109)
Kệ ngôn nầy, Bậc Đạo Sư thuyết tại rừng Arannakutikā, đề cập đến Dīghayu
(Trường thọ)
Dīghayu là con trai của Bà La Môn ngoại đạo, được Cha Mẹ đưa đến viếng thăm
một du sĩ bạn Sau khi hai ông bà đảnh lễ, vị du sĩ cầu chúc cho hai ông bà được trường thọ, đến lượt đứa bé lễ ông, du sĩ im lặng không nói gì, Bà La Môn thắc mắc:
- Bạch Ngài, sao Ngài không phúc chúc cho cháu bé nầy?
- Đứa bé nầy sắp lâm đại nạn
- Bạch Ngài, trong bao lâu?
- Bảy ngày nữa
- Ngài có phép nào ngăn cản giúp cho con chúng tôi không
- Tôi chẳng biết, ông bà hãy đến Sa Môn Gotama, chắc vị ấy sẽ biết.
Vì Ngoại Đạo Sư không có Trí Tuệ Toàn Giác, sự biết của ông chỉ dựa theo chú thuật của Bà La Môn mà thôi
- Thưa Ngài, nếu chúng tôi đi đến chỗ Sa Môn Gotama, e rằng giới hạnh của đạo
Bà La Môn của chúng tôi sẽ bị đứt
- Nầy bạn, nếu vì con, bạn không nên chấp thủ
Rồi ông Bà La Môn đi với vợ con đến gặp Đức Phật Sau khi ông bà đảnh lễ Đức Phật, Ngài cũng phúc chúc ông bà trường thọ Riêng đứa bé đảnh lễ, Thế Tôn lặng
im Ông Bà La Môn hỏi câu tương tự như trên Sau khi nghe Đức Phật trả lời, ông van xin Đức Phật giúp đở con mình
Với lòng từ ái Ngài nói:
- Nầy Bà La Môn! Ông phải làm theo cách nầy: "Trước cửa nhà, ông cho che rạp
Trang 33và cho kê một chiếc ghế dài Chung quanh ghế ấy, ông cho đặt sẵn 8 hay 16 chỗ
ngồi và thỉnh Chư Thinh Văn đệ tử của ta ngồi tại đó tụng Kinh Pāritta liên tục 7
ngày đêm, như vậy đứa bé sẽ thoát tai nạn
Hai ông bà vâng lời Đức Thế Tôn
Chư Tỳ khưu đến tụng Kinh suốt bảy ngày đêm không gián đoạn Vào ngày cuối, Đức Thế Tôn tự thân ngự đến Chư Thiên khắp thế giới cũng tụ hợp đông đảo trước cổng nhà của ông bà Bà La Môn
Lúc bấy giờ, có một Dạ Xoa, sau một thời gian 12 năm hầu hạ Thiên Vương
Vessavana để xin một ân huệ, được phép bắt đứa bé nầy Vì lý do đó, nó cũng
đến đứng nơi cổng chờ đợi Khi ấy Đức Thế Tôn vừa ngự đến, Ngài đã tuyên bố:
- Những Thiên Nhân nào có đầy đủ năng lực của 5 Giới hãy tụ hội lại đây, riêng Thiên Nhân nào kém đức hạnh hãy lui ra
Có những Vị Chư Thiên đến sau, không tìm đươc chỗ trống, lui ra xa 12 do tuần,
Dạ Xoa ấy cũng lui ra xa
Đức Phật đọc được những bài Kinh Pāritta (An lành) suốt cả đêm Kết quả buộc Dạ
Xoa phải trả tự do cho đứa bé vào lúc rạng đông của ngày thứ 8
Mặt trời vừa mọc, Đức Phật chúc lành cho đứa bé "Trường Thọ"
Cha của đứa bé hỏi:
- Bạch Thế Tôn! Đứa bé trường thọ đến bao lâu?
- Nầy Bà La Môn! Đứa bé trường thọ được 120 năm
Rồi qua một ngày khác, Chư Tỳ khưu luận bàn:
- Thật lạ! Đúng ra đứa bé phải chết trong ngày thứ bảy, nhưng bây giờ hóa ra nó sống được 120 tuổi
Đức Phật biết được, Ngài giảng rằng:
- Nầy Chư Tỳ khưu! Không phải duy nhất về tuổi thọ, nếu tất cả chúng sanh trong đời đều biết tôn kính những người có Giới Đức sẽ được tăng trưởng cả bốn Pháp:
"Tuổi thọ, Dung sắc, Hạnh Phúc và Sức Khỏe"
Bậc Đạo Sư giải thích về phước báu lớn của người tôn kính "Bậc đáng Tôn Kính"
Trang 34Cuối bài Pháp, Cậu bé và 500 cận sự nam đắc Đạo Quả Tu Đà Hườn.
Tại thành Sāvatthi có 30 nam cư sĩ, là những người quý phái, cùng rủ nhau xuất
gia, sau khi đã nghe, học và hiểu được Giáo Pháp Những vị nầy tu lên Tỳ khưu đãđược 5 hạ Một hôm, các vị đến xin với Đức Phật học hỏi thêm Đức Phật hỏi:
- Chư Tỳ khưu! Các ngươi muốn học thêm Pháp nào, Pháp Học hay Pháp Hành?
Các vị Tỳ khưu xin Thế Tôn dạy cho Pháp Hành Minh Sát, chớ không thể học Pháp
vì đã lớn tuổi Sau khi thọ giáo xong, các vị xin phép Thế Tôn để đi vào rừng hành thiền Đức Phật hỏi:
- Khu rừng nào các ông hướng đến?
Chư Tỳ khưu nói tên của khu rừng Đức Phật biết rằng, khi vào đó Chư Tỳ khưu
không sao tránh khỏi kinh sợ hiểm nguy, nếu có Sadi Sañkicca cùng đi sẽ được an
toàn Và sau khi các sự việc được an bài thì các vị Tỳ khưu này sẽ thực hành Phạm Hạnh của người Sa Môn Sau khi quán xét, Đức Thế Tôn bảo các vị nên đến
viếng thăm Trưởng Lão Sāriputta rồi sẽ đi, các vị y lời Sau khi thăm hỏi xã giao, Trưởng Lão Sāriputta quán xét rằng: "Thế Tôn chư Tỳ khưu nầy đến viếng ta chắc
phải có duyên cớ gì?" Trưởng Lão hiểu biết lý do, Ngài hỏi:
- Các hiền giả đi vào rừng có Sa di đi cùng không?
- Thưa không
- Nếu không có Sa di thì chư hiền giả, nên cho vị Sa di nầy cùng đi
Chư Tỳ khưu ấy từ chối, và nói rằng:
- Không được đâu, vì e rằng mang Sa di nhỏ theo chỉ thêm vướng bận, vì tu ở rừng không cần
Trưởng Lão giải thích:
- Vị Sa di nầy không làm trở ngại cho chư hiền giả, mà chính chư hiền giả sẽ làm
Trang 35trở ngại cho Sa di Đức Phật dạy các hành giả đến gặp tôi là ý Thế Tôn muốn cho
vị Sa di cùng đi
Chư Tỳ khưu ưng thuận và hợp thành 31 người cùng đi
Nói về mẹ của Sa di, bà là con của một gia đình phú hào Khi mang thai gần đến ngày sinh nở, bà khởi bệnh nặng rồi chết ngay, khi người ta thiêu xác đều cháy
cả, ngoại trừ vùng thịt ở bụng không cháy Họ lấy cây nhọn đâm thủng 2-3 lỗ cho nước chảy ra Mũi nhọn của cây đòn xóc, chạm nhằm đôi mắt của thai nhi Sau khi đâm thủng, họ để tử thi trên đống than rồi bỏ ra về Nhưng sáng hôm sau khi
họ trở lại, thì thịt ở bụng đã cháy, chỉ còn lại hài nhi nằm yên trong lòng như đóa hoa sen
Tương truyền rằng, đối với kiếp chót của người trước khi thành đạt Đạo Quả Níp Bàn, dù người ấy có rơi từ núi Tu Di xuống, nếu người ấy chưa đắc quả A-La-Hán cũng không thể hủy diệt mạng sống
Do cái thẹo ở đuôi mắt, nên người ta thường gọi đứa bé là Sañkicca (Đòn Xóc) Khi lên 7 tuổi cậu được xuất gia với Trưởng Lão Sāriputta Trong khi xuống tóc, vị nầy
niệm tưởng đề mục ô trược của thân liền đắc Đạo Quả A-La-Hán cùng Tuệ phân tích
Trên cuộc hành trình xuyên qua một khu làng gồm có 100 người đang cư ngụ Khithấy các vị Tỳ khưu đi đến, họ rất vui mừng, đến chăm sóc và dâng cúng những vật dụng cần thiết với lòng tín thành
- Thưa các Ngài định đi đâu?
- Chúng tôi đang đi đến chỗ thích hợp để hành thiền
Dân chúng cuối lạy dưới chân các vị Tỳ khưu và thỉnh cầu quý Ngài ở lại nơi làng nầy trong mùa hạ để họ được cúng dường và thọ trì 5 Giới, 8 Giới Chư Tỳ khưu nhận lời Rồi họ cho cất Tu Viện và mỗi ngày họ chia nhau sớt bát cúng dường Một hôm có bọn cướp, với uy lực của chúng, đến buộc các vị Tỳ khưu phải chọn một người để chúng dẫn đi tế thần Từ vị cao hạ đến vị thấp hạ, tất cả đều tình
nguyện hy sinh để cứu mạng cho những vị Tỳ khưu khác Sa di Sañkicca cũng ứng
tiếng xin đi, Chư Tỳ khưu không đồng ý, Sa di phải phân tích lý do:
- Trưởng Lão Sāriputta cho tôi theo hầu quý Ngài là để giúp quý Ngài trong khi
hữu sự
Sau cùng Chư Tăng ưng thuận Tên đảng cướp dẫn Sa di về sào huyệt, 30 vị Tỳ khưu nhìn theo ngậm ngùi không cầm được nước mắt
Trang 36Khi bọn cướp đem Sa di ra hành quyết, Sa di vẫn ngồi nhập định Tên chúa đảng rút gươm chém hai lần đều bị cong lưỡi kiếm, chúng khiếp sợ và nghĩ:
- Việc nầy là gì? Những ai gặp ta cũng đều run sợ, còn vị Sa di nhỏ nầy vẫn ngồi điềm tỉnh không khóc than sợ hãi khi bị ta chém đầu
Chúng sợ hãi quăng bỏ đao kiếm và quỳ lạy Sa di Sañkicca Sa di xuất Đại Định
thuyết Pháp:
- Bậc đã thoát ly khỏi khát vọng không còn khổ đau tinh thần, vì đã dứt bỏ sự luyến ái ngũ trần, vị ấy vượt ra ngoài mọi sợ hãi
Chúa đảng, sau khi nghe Pháp xong, xin xuất gia, cả bọn cũng xin xuất gia theo
Sa di thâu nhận đệ tử xong đưa về Tu Viện và thuật chuyện cho 30 vị Tỳ khưu nghe Các Ngài vô cùng hoan hỷ Sa di khuyên các vị Tỳ khưu ở lại hành thiền, còn Sa di dẫn 500 đệ tử trở về hầu Đức Phật Nhân cơ hội nầy, Đức Thế Tôn giải thích về giá trị của đời sống Phạm Hạnh
Ghi chú:
- Nirodha Samāpatti (Đại Định): Một trạng thái khi luồng tâm tạm thời ngưng, không trôi chảy nữa Trong trạng thái ấy, hành giả là bậc Thánh Nhân không bị lâm nguy.
- Dussīlo đồng nghĩa với Nissīlo: Không có phạm hạnh, phá giới.
- Sīlavantassa: Người phá giới Dầu người nầy sống đến 100 năm, cũng không bằng người Trì Giới và tu tập hai pháp "Thiền Chỉ hay Thiền Quán" chỉ trong một ngày hoặc giây lát vẫn quý báu cao thượng hơn.
Trang 37vào làng đánh cướp xong, cũng leo lên tảng đá ấy để chia của cho mỗi người Trong đêm tối, thấy vị Tỳ khưu ngồi thiền, chúng ngỡ là gốc cây khô, nên treo tất
cả đồ đạc cướp được lên đầu vị Tỳ khưu thành một vòng tròn, rồi nằm lăn ra ngủ Khi trời sáng, chúng thức dậy đến lấy lại từng gói đồ, thấy vi Tỳ khưu chúng kinh
ngạc bỏ chạy, vì nghĩ "đây là một vị thần núi" Tỳ khưu Khāṇu Koṇḍañña gọi lại trấn
an bọn chúng:
- Nầy các ngươi! Ta là người xuất gia đừng sợ hãi
Bọn cướp nghe gọi liền quay trở lại cúi đầu đảnh lễ Ngài và xin xuất gia Tỳ khưu
Khāṇu koṇḍañña đưa tất cả tân Tỳ khưu về diện kiến Đức Phật Sau khi đảnh lễ Đức
Thế Tôn, các vị Tỳ khưu thưa với Ngài rằng:
- Chúng con chưa từng thấy ai có năng lực siêu phàm như Trưởng Lão Khāṇu koṇḍañña
Bậc Đạo Sư dạy:
- Nầy các Tỳ khưu! Đời trước các ngươi đã tạo nghiệp vô trí như vậy, dù các ngươi
có sống cả trăm năm cũng vô ích, không bằng chỉ sống một ngày thôi các ngươi
có trí tuệ đầy đủ và tu tập thiền định
Tại thành Sāvatthi, có một thanh niên danh giá đã xuất gia Tỳ khưu, về sau sanh
tâm bất mãn trong Giáo Pháp định hoàn tục
Tỳ khưu tự nghĩ:
- Đời sống thế tục làm cư sĩ không phù hợp đối với người ở vị trí như ta, chỉ có cái chết là phù hợp
Nghĩ vậy, Tỳ khưu bắt rắn độc cho cắn, nhưng rắn không cắn, vì đã 3 kiếp nối liền
Tỳ khưu là chủ của nó Về sau, Tỳ khưu lấy dao cạo cắt cuống họng Khi dao kề sát cuống họng, cũng là lúc Tỳ khưu quán xét lại tưng chi phần trong giới hạnh
Trang 38của bậc Tỳ khưu vị ấy nhận thấy giới của mình hoàn toàn trong sạch không một
tỳ vết nhiễm ô, như trăng rằm trong thời sáng, hoàn toàn tinh khiết như ngọc Mani Quán trạch Pháp như vậy, vị Tỳ khưu khởi tâm hỷ lạc, toàn thân phát khởi khinh an Sau khi Ngài xã bỏ hỷ lạc, phát triển tuệ đạo và đắc Đạo Quả A-La-Hán cùng Tuệ Phân Tích Ý nghĩ tự sát không còn trong tâm trí Ngài cầm dao trở về Chùa, Chư Tăng nghi ngờ hỏi gạn, Ngài nói lên chánh trí giải thoát của mình:
- Tôi đã cắt đứt phiền não bằng lưỡi dao trí tuệ
Chư Tỳ khưu không tin đến hỏi Đức Phật Đức Thế Tôn giải thích và tán dương đứchạnh chuyên cần tinh tấn của vị Tỳ khưu Dù chỉ trong giây lát còn hơn người ấy sống cả 100 tuổi, nhưng lười nhác dễ duôi
Bà Patācārā mất chồng và hai con cùng Cha Mẹ và người em, một trường hợp đau
thương bi đát Nhờ Đức Phật thuyết giảng, bà bớt sầu não và xin xuất gia Tỳ khưu
Ni Ngày kia, trong khi lấy nước rửa chân, bà ghi nhận những giọt nước từ chân rơixuống, giao điểm trên đường nhỏ giọt, nước chảy rồi tan đi Điểm tan gần, điểm tan xa, có điểm khác chảy đi xa hơn nữa rồi mới tan
Trang 39Cảnh tượng nầy gợi cho bà suy niệm về bản chất vô thường của đời sống mà chính bản thân bà kinh nghiệm Đức Phật dùng tuệ nhãn thấy và biết, Ngài phónghào quang xuất hiện trước mặt bà và dạy kệ ngôn trên Cuối bài kệ bà đắc Đạo Quả A-La-Hán.
Bà đưa con đến Đức Phật cầu cứu, Ngài bảo nên tìm cho Ngài ít hột cải trong nhà nào chưa từng có người chết Hột cải đã có, nhưng bà không gặp gia tộc nào chưatừng có người chết Bà băn khoăn suy nghĩ:
- Khắp cả xóm làng số nhà có người sống thì ít ỏi, nhưng số người chết lại nhiều hơn
Suy niệm như vậy, tự nhiên ánh sáng chân lý bừng vỡ phát sanh đến bà Bà trở về
an táng xác con sau đó đến diện kiến Đức Phật Đức Thế Tôn thuyết giảng Giáo Pháp:
"TAṂ PUTTAPPASUSAMMATTAM
BYĀ SATTAMANA SAMNASAṂ
SUTTAṂ GĀMAM MAHOGHO’VA
MACCU ĀDĀYA GACCHATI."
Trang 40kia, khi đang nhìn một ngọn đèn đang cháy chập chờn, bà suy niệm về Pháp "Vô Thường", cứ sanh rồi diệt, diệt rồi sanh như thế mãi Đức Phật phóng hào quang thị hiện trước mặt bà thuyết kệ ngôn sau:
Bà chuyên cần tư duy chánh niệm về Giáo Pháp cao siêu, vì nghĩ rằng:
- Ta đã già mới xuất gia, vậy ta hãy nỗ lực hành Sa Môn Pháp
Do nghĩ vậy, ban đêm bà phải nương vào những cây cột để đi kinh hành Cả ngày lẫn đêm bà tu chỉnh thân tâm, ngồi thiền quán Pháp Bậc Đạo Sư phóng hào quang xuất hiện trước mặt bà và dạy rằng:
- Giáo Pháp ta đã khéo thuyết giảng, người nào không tham cứu, không nhìn thấy.Người ấy dù có sống 100 năm cũng không bằng người thấy Pháp, hiểu Pháp, chỉ sống trong một ngày
Đức Thế Tôn giải thích cho bà hiểu rõ tầm quan trọng của Giáo Pháp Cuối kệ ngôn, bà đắc Đạo Quả Tu Đà Hườn
*