Cho đến thời Phục Hưng, Họa sĩ theo hình thức Tự Nhiên (Naturalism) nghĩa là Họa hình đối tượng có thật (hiện tại hay quá khứ) trong trạng thái tự nhiên của nó. Nó khác với hình thức Tượng Trưng (Symbolism), nghĩa là Họa hình thể nào đó để bày tỏ ý tưởng và cảm xúc của họa sĩ. Hình thức Tự Nhiên tiếp tục cho tới cuối thế kỷ 19. Bắt đầu thế kỷ 20, Hội Họa bắt đầu có thêm Hình thức Tượng Trưng.
Trang 1LƯỢC SỬ HỘI HỌA CỔ ĐIỂN CỦA TÂY PHƯƠNG
(Phan Thượng Hải)
Cho đến thời Phục Hưng, Họa sĩ theo hình thức Tự Nhiên (Naturalism) nghĩa là Họa hình đối tượng có thật (hiện tại hay quá khứ) trong trạng thái tự nhiên của nó Nó khác với hình thức Tượng Trưng (Symbolism), nghĩa là Họa hình thể nào đó để bày tỏ ý tưởng và cảm xúc của họa
sĩ Hình thức Tự Nhiên tiếp tục cho tới cuối thế kỷ 19 Bắt đầu thế kỷ 20, Hội Họa bắt đầu có thêm Hình thức Tượng Trưng
Hội Họa khác với Họa khi kết cấu của bức họa có "3 chiều" (3-dimensional)
Để cho bức họa có có "3 chiều", họa sĩ dùng những phương pháp ghép Phối Cảnh (Perspective)
và để rõ hơn còn dùng thêm Kỹ thuật "Chiaroscuro" (Kỹ thuật Đậm-Nhạt) Phối Cảnh là phương pháp Hội Họa thể hiện không gian của đối tượng trên mặt tranh Phương pháp Phối Cảnh có nhiều thay đổi theo thời gian
Đối tượng trong một bức họa có thể là nhân vật hay phong cảnh
Hình của nhân vật (đại đa số là con người) trong bức họa gồm có khuôn mặt, thân thể và trang phục Chân dung là trong bức họa chỉ có 1 nhân vật thường là khuôn mặt Hình của nhân vật có khi biểu lộ cảm xúc (bắt đầu từ thời Phục Hưng)
Hình của phong cảnh trong bức họa có thể là tập hợp (nhiều) nhân vật (kiểu Gothic) hay thành phố hay thiên nhiên
Hội Họa Tự Nhiên giữ độc quyền trong suốt lịch sử Hội Họa cổ điển của Tây Phương (thế kỷ 14 cho tới hết thế kỷ 19) gồm: Phục Hưng, Baroque, Rococo, Tân Cổ Điển, Lãng Mạn, Ấn Tượng
và Hậu Ấn Tượng
PHỤC HƯNG Ở Ý (ITALIAN RENAISSANCE)
Thời Phục Hưng bắt đầu từ thế kỷ 14 cho đến thế kỷ 17
Đề tài của bức họa là từ Thánh Kinh, Thần thoại Hy Lạp, lịch sử thời Trung Cổ và quí tộc đương thời; rất hiếm khi từ người thường Hình nhân vật là thông thường nhứt Hiếm khi có hình phong cảnh, thường là gồm nhiều nhân vật như trận chiến
Với nước sơn cũ, họa sĩ ở Florence, Rome và Parma thường chú trọng đến "vẽ" nhưng từ khi sáng chế ra nước sơn dầu, họa sĩ ở Venice chú trọng về "sơn" hơn là "vẽ"
1) Florence
*
Nền Hội Họa ở Florence khởi đầu cho thời Phục Hưng, nó bắt đầu từ Giotto Giotto cố gắng tạo
ra "3 chiều" trong bức họa, khác với thầy mình là Cimabue Tuy có tiến bộ nhưng ông chưa thành công Giotto là họa sĩ bắt đầu vẽ hình nhân vật biểu lộ tình cảm Các họa sĩ ở Florence trong thời Phục Hưng chỉ chú trọng đến "vẽ"
Masaccio và Uccello bắt đầu dùng Phối Cảnh Đường Thẳng (Linear Perspective) và riêng
Masaccio còn sáng tạo ra Chiaroscuro (kỹ thuật Đậm-Nhạt) Đặc tính "3 chiều" của bức họa giữ độc tôn trong ngành Hội Họa cho đến đầu thế kỷ 20 khi có phái Lập Thể (Cubism) của Picasso
Trang 2(Madonna and Child enthroned with six angels/Cimabue): Hình "2 chiều" 1270
(The Battle of San Romano/Uccello): Hình "3 chiều" với Phối Cảnh Đường Thẳng 1432
Trang 3Masaccio cũng nâng cao kỹ thuật vẽ hình khuôn mặt, thân thể con người và trang phục cho các họa sĩ Florence về sau
Tu sĩ Fra Angelico, Tu sĩ Fra Filipo Lippi và Mantegna cũng như Uccello chỉ dùng Phối Cảnh Đường Thẳng (cũng đủ tạo ra hình có "3 chiều" cho 1 bức họa) Tu sĩ Fra Filipo Lippi vẽ khuôn mặt người rất tế nhị Mantegna vẽ hình thân thể con người vững chắc hơn, như hình những bức tượng điêu khắc
Từ Piero della Francesca và môn đệ là Gozzoli, các họa sĩ ở Florence đều dùng cả 2: Phối Cảnh Đường Thẳng và Chiaroscuro
Cimabue (1240-1302)
Giotto di Bondone (1267-1337)
Masaccio tên thật là Tommaso di Ser Giovani di Mone (1401-1428)
Fra Angelico tên thật là Guido di Pietro (1395-1455)
Paolo Uccello tên thật là Paolo di Dono (1397-1475)
Fra Filippo Lippi (1406-1469)
Piero della Francesca tên thật là Pieri dei Benedetto Franceschi (1422-1492)
Benozzo Gozzoli (1421-1497)
Andrea Mantegna (1430-1506)
(St Sebastian/Mantegna) 1459
Trang 4Botticelli cũng vẽ hình người (thân thể) vững chắc như Mantegna (và Masaccio) nhưng ông chú trọng tới nét vẽ rõ ràng (ở chu vi) và có khuynh hướng Cầu Kỳ (Mannerism)
Leonardo da Vinci không khác Verrocchio nhưng ông sáng tạo ra Phối Cảnh Không Gian (Aerial Perspective) và đi ngược với Botticelli: không dùng nét vẽ rõ ràng khi vẽ hình nhân vật (đó là kỹ thuật Sfumato được sáng tạo từ Leonardo) Phối Cảnh Không Gian khi nước sơn dầu ra đời thay thế Phối Cảnh Đường Thẳng
(The Birth of Venus / Botticelli) 1485
Trang 5(Mona Lisa / Leonardo da Vinci) 1503-1506
Sau những họa sĩ trên, Bronzino ở Florence nhưng lại vẽ giống Michelangelo (ở Roma) Từ Tu
sĩ Fra Bartolommeo, sau khi có nước sơn dầu, các họa sĩ Florence đổi qua chú trọng về "sơn" thay vì chú trọng về "vẽ"
Andrea del Verrocchio tên thật là Andrea di Cioni (1435-1488)
Domenico Ghirlandaio (1448-1494)
Sandro Botticelli tên thật là Alesandro di Maciano (1444-1510)
Leonardo da Vinci (1452-1519)
Fra Bartolommeo tên thật là Baccio della Porta (1472-1517)
Bronzino tên thật là Agnolo di Cosimo (1503-1572)
2) Roma
Hội Họa ở Roma bắt đầu sau Florence Nó có 3 họa sĩ nổi danh là Raphael, Michelangelo và Piombo Tất cả đều "vẽ" như họa sĩ cùng thời ở Florence
Trang 6Michelangelo dùng Phối Cảnh Đường Thẳng và Chiaroscuro như Masaccio của Florence để vẽ hình nhân vật ở Sistine Chapel nhưng hình "cơ thể học" của ông về thân thể là đặc sắc nhất Khuynh hướng Cầu Kỳ cũng thấy trong những bức họa nhân vật nầy của Michelangelo
Cũng dùng Phối Cảnh Đường Thẳng nhưng Raphael đổi Chiaroscuro của Masaccio thành ra kỹ thuật Chiaroscuro của riêng mình, khéo léo hơn (gọi là Raphael's subtle Chiaroscuro)
Piombo là họa sĩ hàng đầu ở Roma sau khi Raphael qua đời Ông chú trọng nhiều về vẽ chân dung như Ghirlandaio ở Florence
Michelangelo Buonarroti (1475-1564)
Raphael tên thật là Raffaello Saurio (1483-1520)
Sebastiano del Piombo (1485-1547)
(The Marriage of the Virgin / Raphael) 1504
3) Parma
Những họa sĩ nổi danh ở Parma cũng chuyên về "vẽ" trong thời Phục Hưng như Florence và Roma với 2 kỹ thuật Phối Cảnh như Masaccio (Phối Cảnh Đường Thẳng và Chiaroscuro)
Trang 7Corregio vẽ hình nhân vật với thân thể vững chắc như Mantegna và Michelangelo nhưng có lộ
vẻ "dâm đãng" (erotic)
Parmigianino, chịu ảnh hưởng từ những bức họa hình nhân vật của Botticelli (Venus) và
Michelangelo (Sistine Chapel) chính thức thành lập Kiểu Cầu Kỳ của Hội Họa (Mannerism) trong hình nhân vật
Kiểu Cầu Kỳ là một kiểu chủ trương tạo ra những đối tượng đẹp nhứt trong sự tao nhã (elegance) bất cần thực tế Hình thể của kiểu Cầu Kỳ "thấy" dài ra hơn bình thường
Corregio tên thật là Antonio Allegri ((1489-1534)
Parmigianino tên thật là Girolamo Francesco Mazzola (1503-1540)
(Madonna of the long neck / Parmigianino) 1535
4) Venice
*
Hội Họa thời Phục Hưng ở Venice bắt đầu với Bellini và dùng nước sơn dầu Nước sơn truyền thống cũ gọi là Tempera là thuốc màu trộn với hồ và lòng trắng trứng (được dùng ở Florence, Roma và Parma) Nước sơn dầu có màu sống động và giúp cho họa sĩ có thể "sơn" lâu hơn (nên
"họa" lâu hơn) Có thể nói Bellini là cha đẻ của Hội Họa Venice Ông có anh rể là Mantegna (ở Florence) và có môn đệ ở Venice là Giorgione và Titian
Trang 8Khác với các họa sĩ nổi danh kể trên ở Florence, Roma và Parma đều "vẽ" với nước sơn truyền thống cũ; các họa sĩ ở Venice đều bắt đầu "sơn" bằng nước sơn dầu Dĩ nhiên hình "sơn" thì khác hình "vẽ": chú trọng diễn tả Hình của bức họa bằng màu sắc thay vì bằng nét vẽ
Giorgione cũng gần giống như Bellini nhưng ông chuyển hướng đề tài, dùng những người quí tộc trong thế tục Từ Giorgione, họa sĩ Venice biết dùng "sơn" để diễn tả tình cảm của nhân vật (trong hình)
mờ ảo hơn
(The rape of Europa / Titian) 1560
El Greco là môn đệ và họa giống như Tintoretto nhưng sang ở Toledo của Spain El Greco có thêm Kiểu Cầu Kỳ và là họa sĩ độc nhất thời Phục Hưng dùng bức họa để biểu lộ cảm xúc tâm linh của chính mình
Titian tên thật là Tiziano Vecellio (1485-1576)
Paolo Veronese tên thật là Paolo Caliari (1528-1588)
Tintoretto Jacopo Robusti (1519-1594)
El Greco tên thật là Domenikos Theotocopoulos (1541-1614)
Trang 95) Căn bản Kỹ thuật Hội Họa từ Thời Phục Hưng
*
Phối Cảnh là phương pháp Hội Họa (vẽ và sơn) thể hiện không gian của đối tượng trên mặt tranh Bức họa nhìn giống như có "3 chiều" mặc dù được trình bày trên mặt phẳng "2 chiều" của bức tranh Họa sĩ đã thử ghép Phối Cảnh từ trước nhưng chỉ có Họa sĩ thời Phục Hưng mới hoàn chỉnh: "Họa" mới thành "Hội Họa" Kết quả là bức tranh càng giống như thực (Duy
Thực/Realism) Có 2 Phối Cảnh dùng cho hình Nhân Vật và Phong Cảnh
Trong Phối Cảnh Đường Thẳng (Linear Perspective), tất cả đường thẳng đều gặp nhau ở chân trời Gọi đó là Tiêu Điểm (Vanishing point) Phối Cảnh Đường Thẳng dựa trên cách sắp đặt của các hình thể trong không gian như cách họa đồ kiến trúc của Brunelleschi Brunelleschi (bạn của Masaccio) là Kiến trúc sư của nhà thờ Florence
Trong Phối Cảnh Không Gian (Aerial Perspective), những đối tượng tùy khoảng cách sẽ được thay đổi bằng ánh sáng hay bộ phận trong không khí Phối Cảnh Không Gian dựa trên hiệu quả không khí của Màu và Sắc nên nó còn được gọi là Phối Cảnh Không Khí (Atmospheric Perspective)
(Phối Cảnh Đường Thẳng)
(Phối Cảnh Không Gian)
Trang 10Để cho bức họa trông càng "3 chiều" hơn nữa, Họa sĩ còn dùng một kỹ thuật tên là Chiaroscuro Chiaroscuro làm dịu những bờ (hình của những đối tượng) bằng cách dùng Ánh sáng và Bóng tối thay vì vẽ đường chu vi rõ rệt để phân biệt những đối tượng Theo tiếng Ý, "Chiaro" có nghĩa là
"rõ hay nhạt (lạt)" còn "oscuro" có nghĩa là "đậm (sậm)" "Chiaroscuro" có nghĩa là Nhạt" Nó dựa trên kỹ thuật dùng sự tương phản của màu sắc giữa Đậm và Nhạt (light and dark)
"Đậm-để làm thành hình thể "3 chiều" Chiaroscuro tạo thêm cảm xúc cho Hội Họa
(Chiaroscuro cho hình Nhân Vật)
(Chiaroscuro cho hình Phong Cảnh)
*
Như vậy, từ thời Phục Hưng ở Ý, Họa trở thành Hội Họa nhờ có phương pháp Phối Cảnh và kỹ thuật Chiaroscuro (Đậm-Nhạt) Masaccio chính thức mở đầu Hội Họa thời Phục Hưng bằng cách sáng tạo ra Chiaroscuro Masccio và Uccello sáng tạo ra Phối Cảnh Đường Thẳng Kỹ thuật Chiaroscuro về sau được Raphael thay đổi là tế nhị hơn gọi là "subtle Chiaroscuro" của Raphael Tuy nhiên Chiaroscuro của Masacchio vẫn thông dụng nhứt
Về sau Leonardo sáng tạo ra Phối Cảnh Không Gian thông dụng hơn Phối Cảnh Đường Thẳng Điển hình của Phối Cảnh Không Gian là bức họa Mona Lisa
Phối Cảnh "off-balance" của Tintoretto không thông dụng và ít được biết đến
Trang 11*
Phương pháp Phối Cảnh và Chiaroscuro áp dụng cho cả một bức họa Nhân Vật hay Phong Cảnh Bức họa chỉ có khuôn mặt của một Nhân Vật thì gọi là Chân Dung Bức họa Nhân Vật diễn tả Thân thể (kể cả Khuôn mặt) và Trang phục
Bức họa Phong Cảnh có 3 loại:
Phong Cảnh tập họp rất nhiều nhân vật;
Phong Cảnh gồm có Nhân Vật và phong cảnh (thường là thiên nhiên);
Phong Cảnh mà thôi (phong cảnh thiên nhiên/Landscape hoặc phong cảnh Thành
Khi "vẽ" hình Nhân Vật, Masaccio từ lúc đầu thời Phục Hưng đã thành công "vẽ" trang phục và nhứt là thân thể vững chắc Mantegna rồi Verrocchio càng vững chắc hơn cho đến hoàn chỉnh như hình "cơ thể học" như Michelangelo Botticelli dùng nét vẽ đậm và rõ hơn (nhứt là ở chu vi) Trái ngược lại, Leonardo dùng nét vẽ mờ hơn với kỹ thuật gọi là Sfumato Kiểu Cầu Kỳ khi
vẽ hình thể bắt đầu dùng từ Botticelli và Michelangelo rồi chính thức thành lập bởi Parmigianino
ở Parma và El Greco ở Spain Hình thể của kiểu Cầu Kỳ "thấy" dài ra hơn bình thường
Họa sĩ "vẽ" điển hình của thời Phục Hưng ở Ý là Leonardo với Phối Cảnh Không Gian và
Sfumato cho hình Nhân Vật Leonardo được nhiều họa sĩ về sau bắt chước
Một số ít họa sĩ "vẽ" Chân Dung là Fra Fillippi Lippi, Ghirlandaio và Piombo
Một số ít họa sĩ "vẽ" Phong Cảnh tập họp nhiều nhân vật là Ucello và Gozzoli thường dùng Phối Cảnh Đường Thẳng
Họa sĩ chú trọng về "sơn" đều dùng để "họa" Nhân Vật mà thôi bắt đầu với Bellini rồi Giorgione Sau đó có 2 kiểu "sơn": Titian và Tintoretto "sơn" mỏng, nhẹ nhàng và tự do Veronese "sơn" còn nhẹ hơn như bay bỗng (airy)
*
Đề tài của thời Phục Hưng tùy theo những bảo trợ là Giáo Hội và quí tộc nên là từ Thánh Kinh, Thần thoại Hy Lạp, lịch sử thời Trung Cổ và quí tộc (không thấy có trưởng giả hay bình dân) Đối tượng Nhân Vật và phong cảnh ở ngoài đời đã là trong quá khứ nên họa sĩ phải dựa trên lý thuyết sách vở đề họa thành đối tượng trong bức họa
PHỤC HƯNG Ở BẮC ÂU (NORTHERN RENAISSANCE)
Đối tượng Nhân Vật trong bức họa của các họa sĩ ở Bắc Âu khác với các họa sĩ ở Ý: dùng hình của những người có thật đương thời đại diện cho những Nhân Vật trong Thánh Kinh hay thần thoại Hy Lạp thay vì tạo hình dựa trên lý thuyết
Trang 12Họa sĩ "họa" Nhân Vật của Bắc Âu có 2 phái: "sơn" và "vẽ" "Sơn" như họa sĩ Venice nhưng dầy hơn "Vẽ" theo Leonardo Chân Dung có nhiều hơn
Họa sĩ "họa" Phong Cảnh: Thiên nhiên và Nhân vật trong bức họa và cũng có 2 phái: "sơn" và
Grunewald ở Đức cũng "sơn", giống như 3 họa sĩ trên đây, nhưng có đề tài khác: Nhân Vật thời Trung Cổ
Jan Van Eyck (1395-1441)
Roger Van Der Weyden (1399-1464)
Hans Memling (1430-1494)
Matthias Grunewald tên thật là Mathis Gothardt Neithardt (1470-1528)
(The descent from the Cross / Van Weyden) 1435
Trang 13*
Tuy cùng có hình về Nhân Vật (và Chân Dung), các họa sĩ chỗ khác lại có những khuynh hướng khác Massys ở Antwerp, Jean Fouquet ở Pháp, Durer và người thừa kế là Holbein the Youger ở Đức lại "vẽ" hình với kỹ thuật giống như Leonardo, dùng Phối Cảnh Không Gian và Sfumato Bức họa "Portrait of man" của Massys coi như hình "Mona Lisa" trong dạng đàn ông Hình "vẽ" của Fouquet còn vững chắc như tượng điêu khắc Durer còn in bức họa của mình ra nhiều bản (1st massed-market artist)
Clouet học từ Hòa Lan nhưng chuyển sang Pháp là họa sĩ trong triều đình của vua Francis I Ông cũng "vẽ" như Leonardo nhưng còn thêm Kiểu Cầu Kỳ (Mannerism)
(Feast of the Rose Garlands / Durer) 1506
Trang 14Altdorfer và Cranach the Elder dùng Phối Cảnh Đường Thẳng Altdorfer "vẽ" những Cảnh gồm nhiều nhân vật như Gozzoli của Florence Ngoài ra Altdorfer và Cranach the Elder thuộc về trường phái Danube nên vẽ Phong Cảnh Thiên Nhiên của nước Đức Trong những bức họa phong cảnh, Cranach the Elder còn vẽ thêm hình Nhân Vật (thần thoại Hy Lạp) theo kiểu Cầu
Lucas Cranach the Elder (1472-1553)
Peter Bruegel the Elder (1525-1569)
Hieronymus Bosch tên thật là Jeroen Van Aken (1450-1516)
Caravaggio ở Roma bắt đầu những bức Hình Nhân Vật nầy kèm theo với kỹ thuật Phối Cảnh
"Bold Chiaroscuro" bằng cách dùng hiệu quả của bóng tối làm cho đối tượng như "phát ra" từ bóng tối Kỹ thuật "vẽ" Hình và Phối Cảnh của Caravaggio nầy gọi chung là Kiểu
Caravaggesque Hình "vẽ" của Caravaggio có đường nét rất đậm
Đối tượng trong Hình của Caravaggio là những nhân vật nổi tiếng trong Thánh Kinh hay Thần thoại Hy Lạp hay trong giới quí tộc (cũng như trong Thời Phục Hưng) nhưng ông dùng người thường làm mẫu
Artemesia Gentileschi ở Roma là nữ họa sĩ nổi tiếng đầu tiên, là môn đồ của Caravaggio và giống hệt như thầy mình
Carracci ở Bologna hoàn toàn giống như Caravaggio với Kiểu Caravaggesque Tuy nhiên ông
vẽ hình thân thể vững chắc như Michelangelo Ngoài vẽ Nhân Vật, Carracci còn vẽ phong cảnh thiên nhiên lý tưởng trong Thần thoại Hy Lạp Từ ông mới có trường phái chuyên về họa Cảnh Thiên Nhiên khác với họa Nhân Vật (và Chân Dung)
Ở Bologna, Carracci có môn đồ là Reni và Reni có môn đồ là Guercino Cả hai Reni và
Guercino đều theo giống như Carraci nhưng có thêm kiểu Cầu Kỳ trong Hình vẽ Nhân Vật
Ở Naples có Rosa với hình họa như Carracci
Trang 15Michelangelo Merisi de Caravaggio (1571-1610)
*
Các họa sĩ Baroque ở Hòa Lan dùng kỹ thuật Caravaggesque cho Hình Nhân Vật và Phối Cảnh nhưng Rubens, Hals, Rembrandt và Vermeer "sơn" như Titian của Venice hay Van Eyck của Hòa Lan trong thời Phục Hưng chứ không "vẽ" như Caravaggio và Carracci Mặc dù nét vẽ không cần rõ, Rubens, Hals và Vermeer dùng những lớp sơn dầy nên Hình Nhân Vật cũng vững chắc như những họa sĩ Baroque ở Ý chú trọng về "vẽ" Rubens có một kỹ thuật sơn dầy gọi là Impasto Hình Nhân Vật của Hals còn đôi khi biểu lộ tình cảm nhất thời (a snap shot of
emotion) Trái lại, Hình Nhân Vật của Rembrandt thì nhẹ nhàng với sự hiểu biết tâm lý của người họa sĩ
Rubens thường có những bức họa lớn ở nhà thờ và bảo trợ của tôn giáo Hals, Rembrandt và Vermeer chỉ có những bức họa nhỏ về chân dung hay về đời sống thường dân trong nhà
Van Dyck là phụ tá chánh của Rubens nhưng sau đó sang ở Anh và là họa sĩ làm đẹp cho giới quí tộc Tenier the Younger cũng "sơn" giống như Rubens, trở thành họa sĩ ở triều đình Flemish Ruysch ở Hòa Lan dùng phương pháp Caravaggesque để họa Tĩnh Vật (Still Life)
Trang 16(Descent from the Cross/Rubens) 1618
(Anatomy lesson of Dr Nicolaes Tulp / Rembrandt) 1632