Trong các tập này, nhìn chung chưa có những khái quát triết học, mà chỉphản ánh những ước vọng bình thường của người dân như mong nắng, mongmưa, mong có nhiều thức ăn, nuôi được nhiều gi
Trang 1Chương I Lịch sử tư tưởng Ấn Độ cổ - trung đại
I Những tiền đề cơ bản cho sự ra đời tư tưởng triết học Ấn Độ
1 Điều kiện kinh tế và lịch sử xó hội
ấn Độ là một bán đảo lớn thuộc Nam á với diện tích trên 3 triệu km2 có mộtnền văn minh lâu đời (khoảng 2.500 năm TCN đã có Nhà nước và chữ viết) và cómột nền triết học đồ sộ ấn Độ là một trong ba cái nôi của triết học thế giới
- Về dân tộc: ấn Độ là một quốc gia đa chủng tộc với hàng trăm chủng tộc
người khác nhau Trong đó có hai chủng tộc cơ bản: Dravida và Arya NgườiDravida là chủ nhân của nền văn minh tối cổ của ấn Độ, Arya thuộc chủngEuropeoid khoảng từ giữa thiên niên kỷ thứ hai đến thiên niên kỷ thứ nhất TCN
đã tiến vào Bắc ấn Họ mang vào ấn Độ nền văn hoá phát triển cao, ngôn ngữ,văn chương…tạo ra sự tổng hợp văn hoá giữa Dravida và arya
Từ sự phong phú về chủng tộc dẫn tới sự đa dạng về ngôn ngữ ấn Độ chưalúc nào có ngôn ngữ chung cho cả dân tộc Hiện nay, Hiến Pháp ấn Độ công nhận
15 ngôn ngữ chính thức, trong đó tiếng Anh và Hin du được sử dụng nhiều nhất
-Về lịch sử ấn Độ cổ đại chia làm 3 mốc chính:
1 Thời kỳ văn minh sông ấn (Indus): Văn minh sông ấn hay văn hoáHarappa xuất hiện từ khoảng 2500 năm TCN tồn tại đến năm 1500 TCN Là nềnvăn minh đã có nhà nước, chữ viết
2 Thời kỳ xâm nhập của người Arya Arya là những cư dân bán du mục,được tổ chức trên cơ sở các bộ lạc Họ có sức mạnh, đã xâm nhập ấn Độ, chinhphục người Dravida, tạo ra sự tổng hợp của hai nền văn minh, hình thành nềnmóng chủng tộc và văn hoá ấn Độ
Trang 23 Thế kỷ VI TCN đến IV TCN là thời kỳ bị xâm lược của người Ba Tư,
Hy Lạp Khi Alexandre mất, ấn Độ giành được độc lập, triều đại Maurya đượcthành lập (321TCN) Đây là quốc gia tập quyền rộng lớn nhất trong lịch sử ấn Độkhi đã kiểm soát toàn bộ phần lục địa
- Về cơ cấu xã hội: xã hội ấn Độ cổ đại là một xã hội có tính chất công xã
nông thôn, chế độ quốc hữu về ruộng đất, có một chế độ đẳng cấp rất nghiệt ngã
và nặng nề, xã hội chia làm 4 đẳng cấp khác nhau: Tăng lữ, Quý tộc, Bình dân tự
do (thương nhân, thợ thủ công, nông dân công xã), Nô lệ
2 Tiền đề tư tưởng (các bộ kinh Vệ đà và chú giải)
2.1 Những tư tưởng triết lý tôn giáo trong kinh Veda (từ 2000 năm TCN thế kỷ thứ VI TCN)
-Veda trong tiếng ấn Độ cổ có nghĩa là hiểu biết những tri thức cao cả, thiêngliêng Veda là một tác phẩm văn học đồ sộ được sáng tác vào khoảng trên dưới
2000 năm TCN
Đây là tác phẩm của những người Arya, có thể nói đây cũng là tác phẩmđầu tiên của triết học ấn Độ cổ đại Nó bao gồm các bài hát ca ngợi công lao củacác thần thời bấy giờ
Kinh Veda gồm 4 tập: Rigveda, Samaveda, Atharvaveda, Yajurveda.
Trong các tập này, nhìn chung chưa có những khái quát triết học, mà chỉphản ánh những ước vọng bình thường của người dân như mong nắng, mongmưa, mong có nhiều thức ăn, nuôi được nhiều gia súc, cầu được an cư, mạnhkhoẻ, có nhiều con cái… Nó phản ánh một tín ngưỡng ma thuật và đa thần giáo
2.2 Những tư tưởng triết học trong kinh Upanisad
Đây là tác phẩm xuất hiện muộn nhất trong bộ kinh Veda vào khoảng 1000– 500 năm TCN, còn được gọi tên là Vêda sau Hiện nay Upanisad có 18 tập Nộidung triết học của Upanisad: về cơ bản thể hiện triết học duy tâm
Trang 31 Bàn đến mối quan hệ giữa giữa Brahman (Phạm) và Atman (Ngã) trong
đó Brahman là tinh thần vũ trụ, Atman là tinh thần cá nhân
Brahman là chủ thế giới, bao quát toàn bộ thế giới, là thực thể tinh thầnrộng lớn nhất Vạn vật sinh ra từ Brahman, dựa vào Brahman mà tồn tại, khi mất
đi thì lại quay về với Brahman
Brahman không có thuộc tính, không có hình thức biểu hiện, là siêu việt,không có khái niệm logic nào biểu đạt được nó
2 Upanisad đã đưa ra thuyết luân hồi (Samsara) cho rằng, con người saukhi chết linh hồn sống mãi, sẽ tái sinh dưới một thể xác khác, là hình thái thay đổiđời người (kiếp khác) Kiếp sau như nào là do nghiệp (Karman) ở kiếp này quyđịnh, theo nguyên tắc thiện - thiện, ác - ác
Nêu điều kiện giải thoát luân hồi: bào thai người, súc vật, trứng chim,
ẩm ướt cá, lươn, hạt giống cây cỏ
3 Upanisad còn có những yếu tố duy vật chất phác khi cho rằng thế giới là
do các yếu tố vật chất như Đất, Nước, Lửa, Gió, Hư không tạo thành
4 Upanisad thể hiện một sự khát khao chân lý, một sự cầu xin ánh sáng và
sự hiểu biết “con đường đi tới sự thánh thiện được mở ra bằng chân lý”
5 Trong Upanisad đã khẳng định vai trò quyết định của con người, đề caoviệc hoàn thiện đạo đức cá nhân: “không có gì cao quý hơn con người”
II Đặc điểm của tư tưởng triết học Ấn Độ
1 Triết học ấn Độ cổ đại là một nền triết học xuất hiện từ rất sớm – khoảng
2.500 năm TCN Kinh Veda được coi là tác phẩm triết học đầu tiên của triết học
ấn Độ cổ đại
2 Triết học cổ đại ấn Độ gắn liền với tôn giáo, vì vậy triết học khó tránh
khỏi những yếu tố duy tâm, hữu thần
Trang 43 Trong triết học ấn Độ cổ đại những yếu tố duy vật, và duy tâm, vô thần
và hữu thần thường tồn tại đan xen vào nhau, khó nhận thấy Gianh giới giữaCNDV và CNDT còn mờ nhạt, không rạch ròi
4 Triết học ấn Độ cổ đại ít bàn đến những vấn đề thuộc về bản thể luận,
nhận thức luận và lôgic học, mà chủ yếu bàn đến những vấn đền thuộc về conngười, về thế giới tâm linh của con người
5 Trong triết học ấn Độ cổ đại chứa đựng nhiều yếu tố biện chứng sơ khai
có giá trị như cho rằng thế giới vật chất là vĩnh hằng, nhưng không đứng yên, màbiến chuyển không ngừng từ dạng này sang dạng khác (Samkhya), rằng tồn tạivừa bất biến, lại vừa biến chuyển
III Các trưởng phái triết học Ấn Độ
1 Khái lược về các trường phái chính thống
1.1 Trường phái Mimansa: Đây là phái duy vật và vô thần.
Mimansa nghĩa là tư duy khảo sát, nêu lên tư tưởng lý lẽ chứng minh cho
sự tồn tại của kinh Vêda Người xây dựng và hệ thống là Jamini (IITCN), ngườihoàn thành là Ukurasa (VSCN)
Đề cao giá trị âm thanh của kinh Vêda, cho rằng kinh Vêda đọc lên ấm ấp,thân thiết, làm sáng tỏ nhận thức của con người Âm thanh cũng có linh hồn và
âm thanh của kinh Vêda là không sai lệch
Quan niệm đời người là khổ từ đó đặt ra vấn đề giải thoát con người Muốngiải thoát phải thực hiện lễ hiến sinh (thiêu sống)
Nội dung chủ yếu:
Trang 5còn gọi là Đức (màu sắc – hương vị – xúc – số lượng – tính dị biệt – tính kếthợp – tính phân ly – xa – gần – sướng – khổ…); Vận động (đi lên, đi xuống, colại, duỗi ra, tiến hành…) ngoài ra còn có cái Phổ biến, Phi tồn tại, Nội thuộc,Hoà hợp, Tương tự, Năng lực, Số.
- Thế giới do nguyên tử cấu thành nhưng nó vận động, phát triển được là
do luật Kama (nghiệp) chi phối
Con có thể xác và linh hồn, linh hồn tồn tại trong thể xác, có thể rời thể xác
Phương pháp nhận thức: có 6 phương pháp: Tri giác, Suy lý, Loại tỷ, Suyđịnh, Chứng ngôn, Phi tồn tại,
Tóm lại: Mimansa ca ngợi thanh âm của Vêda, coi đó là nguồn gốc chủ yếucủa nhận thức
- Duy vật: Thừa nhận sự tồn tại độc lập khách quan của các sự vật, hiện
tượng không phụ thuộc vào ý thức của con người
- Vô thần: Những người theo phái này không thừa nhận sự tồn tại của thần
thánh và lập luận của họ rất đơn giản rằng thiếu chứng cứ về sự tồn tại của thần;
Trang 6cảm giác không nhận ra thần, trong khi đó mọi tri thức, suy cho cùng là dựa trêncảm giác.
1 2 Trường phái Vedanta:
Vedanta nghĩa là “kết thúc Veda”, làm sáng tỏ kinh Vêda Nó là sự tiếp tụcnhững tư tưởng trong kinh Upanisad Đây là phái duy tâm hữu thần
Đối tượng nghiên cứu của nó là Upanisad, người biên tập là Badarayana(IITCN) Nó gồm 555 câu cách ngôn Tư tưởng của phái này quan trọng vì nó là
cơ sở tư tưởng của Bàlamôn giáo và ấn Độ giáo (Đạo Hindu) (Vêda – Upanisad– Vêdanta – Hindu)
Thế giới quan: Cho rằng Brahman sáng tạo ra Atman, Atman là một bộ
phận của Brahman Brahman (tinh thần thế giới) đồng nhất với Atman (tinh thần
cá nhân) Thế giới vật chất là không có thực, hình ảnh về nó chỉ là ảo, là giả đượcsinh ra do vô minh mà thôi Đất, nước, lửa, gió, hư không do Brahman sinh ra
Trong thế giới Brahman là vị thần cao nhất, ngoài ra còn có Vinus là thầngiữ gìn, bảo vệ; Shiva thần phá huỷ
Như vậy phái này không thừa nhận sự tồn tại của bất cứ cái gì ngoàiBrahman như là ý thức thuần tuý hay đơn giản là Thượng đế rồi từ đó sinh ra tấtcả
Nhận thức luận:
Mục đích nhận thức: Nhận thức cái bản thể trong cái không ổn định,cái thường biến Nhận thức để con người yên tâm sống với tinh thần, để thoátkhỏi sự chi phối của cuộc sống
Phương pháp nhận thức: Nội tỉnh tức suy nghĩ những điều mình biết;Trực giác tức là hiểu ngay được sự vật không phai qua quá trình Để nhận thứcđược thì phải có ý chí giải thoát, có yêu cầu giải thoát mới đưa Atman quay vềvới Brahman
Trang 7Phương pháp giải thoát: Tự chủ, kiên định, bình tĩnh vượt lên mọicám dỗ của đời sống vật chất, luôn tập trung tư tưởng vào mục đích làm choAtman về với Brahman
1 3 Trường phái Samkhuya: Đây là trường phái có tư tưởng duy vật.
Samkhya nghĩa là số, đếm (Trung Quốc dịch là số luận)
Phái này do Kapila xây dựng lên (TK IV TCN)
Thế giới quan:
Trung Quốc gọi là số luận vì nó liệt kê, tính toán các yếu tố của thế giới(gồm 24 yếu tố) phân ra thành các loại:
- Ngũ duy: Thanh, xúc, sắc, vị, hương.
- Ngũ đại: Đất, nước, lửa, gió, không khí.
- Ngũ căn: (5 giác quan của con người): mắt, mũi, lưỡi, tai, thân người.
- Ngũ tác căn: hành động của ngũ căn bao gồm: cơ quan phát thanh như
họng, lưỡi; cơ quan bài tiết; cơ quan sinh thực khí, tay, chân…
- Những người Samkhya gạt bỏ Brahman phủ nhận sự tồn tại của thần vàđưa ra thuyết nhân quả cho rằng tất cả mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều
có nguyên nhân, mỗi loại sự vật có một nguyên nhân và trong nguyên nhân đó đãbao hàm kết quả, đồng thời thông qua kết quả thì hiểu được tính chất của nguyênnhân bởi nhân nào quả nấy Một câu nói nổi tiếng của những người Samkhya là:
“Trồng Sali được Sali, trồng Vrihi được Vrihi” Như vậy, từ tính chất của kết quảchúng ta hiểu được tính chất của nguyên nhân và ngược lại Trên cơ sở thuyếtnhân quả những người Samkhya cho rằng thế giới vật chất có nguyên nhân của
nó và họ coi Prakriti là yếu tố vật chất đầu tiên, nhưng nó không phải là dạng vậtchất cụ thể, hữu hình, cảm tính mà là một dạng vật chất tinh tế, tiềm ẩn, không
Trang 8thể cảm nhận bằng mắt thường được Hay nói cách khác nó là một dạng vô địnhhình, bao gồm 3 yếu tố:
+ Sattva: nhẹ nhàng, trong sáng, tươi vui.
+ Razas: năng động, kích thích.
+ Tamas: nặng nề, khó khăn.
Mà bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới cũng được cấu tạo nên từ 3yếu tố này Nếu Prakriti ở trạng thái không biểu hiện thì nó cân bằng, ổn định.Nếu bị phá vỡ sự cân bằng thì đó là điểm xuất phát của vận động (tức sự tiến hoácủa thế giới)
- Những người theo phái này cho rằng vật chất là vĩnh hằng nhưng khôngđứng yên mà biến chuyển không ngừng từ dạng này sang dạng khác
Nhưng những người Samkhya đã không giữ vững lập trường duy vật này, màđến hậu kỳ một số người Samkhya lại cho rằng bên cạnh Prakriti còn có Purusa– linh hồn nghĩa là thế giới có 2 khởi nguyên song song cùng tồn tại và sự kếthợp giữa chúng cho chúng ta những sự vật, hiện tượng của thế giới
Nhận thức luận: Nhận thức trải qua 3 bước
Tri giác: Nhận thức được sự vật nhưng còn 8 hạn chế: cái xa nhất không nhậnthức được, cái gần nhất, cái khí quan hỏng, tâm không ổn định, nhỏ quá, bị chelấp, có nhưng núp đi, sự vật giống nhau ở cùng một chỗ
Suy lý: từ biết suy ra cái chưa biết
Chứng minh: cần điều kiện sau: lấy tồn tại ngoại giới để đối chiếu với nhậnthức xem có đúng không?; các khí quan cảm giác có thích ứng đối tượng ngoạigiới không?; đối tượng cảm quan và cơ quan cảm quan phải xem xét, phân biệt(dùng tâm); dùng “tự ngã ý thức” để xem các vật
Trang 9Quan niệm về luân lý xã hội
Mục đích tìm cách thoát ra khỏi đau khổ của xã hội Nó chỉ ra 3 loại khổ: Khổbên trong (về tâm, sinh lý) như ốm đau, mệt mỏi tinh thần…; khổ bên ngoài dongười khác làm mình khổ; khổ tự nhiên là do tự nhiên gây ra
Con đường thoát khổ: Tu luyện, nghe đạo, đọc kinh, tụng niệm
Hạn chế: chưa nói tới cái khổ về đời sống vật chất, về đấu tranh giai cấp
1 4 Trường phái Nyaya (Chính lý luận)
Là tên một cuốn kinh, người sáng lập là Vôtama (IITCN) Gồm 520 điều chialàm 5 thiên, tập trung trình bầy vấn đề logic học và triết học Nội dung cuốnkinh này là xem triết học là mục đích, logic là phương tiện để nhận thức triếthọc
1 1 Đề cập đến vấn đề Thực tại: đề cập đến khách thể vừa có tính chất vậtchất, vừa có tính chất tinh thần Quan niệm thế giới có 12 khách thể, 12 kháchthể là Atman (linh hồn cá nhân) gồm: Atman, thân, căn (cơ quan cảm giác),cảnh, giác (sự hiểu biết), ý, tác nghiệp, sai lầm, chuyển sinh, quả báo, khổ, giảithoát
1 2 Quan niệm về thế giới cho thế giới do ngũ đại (Đ, N, L, G, Hư không) sinh
ra Thế giới có hai phần thô và tinh, thô thấy được, tinh không thấy được Thôbiến hoá, tinh không biến hoá Thô thì vận động, phát triển nguồn gốc là doThần tác động vào (DT)
1 3 Quan niệm về Ta (ngã) là bất diệt Ngã là cơ sở của tinh thần, nói cáchkhác tinh thần là biểu hiện nội tại của Ngã, thuộc tính của Ngã nhưng nó khôngphải là bản ngã
Ngã là chủ thể của nhận thức, có 5 loại nhận thức do 5 giác quan đưa lại Muốnnhận thức sâu hơn phải có nội ý thức Ngã là chủ thể của luân hồi
Trang 101 4 Đưa ra ngũ đoạn luận
Phái này có những đóng góp đáng kể cho sự hình thành và phát triển củalôgic hình thức Đó là tư tưởng về ngũ đoạn luận
VD: 1 Đồi có lửa cháy
2 Vì đồi bốc khói
3 Tất cả cái bốc khói đều có lửa cháy, VD: bếp lò
4 Đồi bốc khói thì không thể không có lửa cháy
5 Do đó, đồi có lửa cháy
Theo họ 1 là luận đề ; 2 là nguyên nhân ; 3 là ví dụ ; 4 là suy đoán ; 5 là kếtluận
Lúc đầu phái này là vô thần, sau họ lại rơi vào hữu thần khi cho rằng thần dùngnguyên tử để xây dựng thế giới
Nguyên tử vận động sinh ra thế giới, không gian, ete Nguyên tử phân làm 4loại tương ứng với 4 loại cảm giác: Xúc, Vị, Thị, Khứu
Lý thuyết này cao hơn, sâu sắc hơn học thuyết trước vì nó cho thế giới thốngnhất ở nguyên tử chứ không phải ở vật chất khác Nó hạn chế cho nguyên tử kếthợp với linh hồn thế giới tạo ra sự vật (nhị nguyên)
Trang 111 6 Trường phái Yôga: Đây là trường phái duy vật nhưng không triệt để
Yôga vừa là phương pháp rèn luyện sức khoẻ, dưỡng sinh vừa là một triếtthuyết
Nó xuất hiện khoảng 2500 năm TCN, vốn gọi là kinh Yôga do Patanzalichép lại (TK II TCN)
Nguyên từ Yôga có nghĩa là ách vào, cột vào, sự tu luyện, khổ hạnh để đạttới một cái gì đó Xuất phát từ chỗ họ quan niệm cuộc đời con người là hữu hạnlại luôn luôn thay dổi từ trẻ đến già, từ đẹp đến xấu Vì vậy cuộc đời con ngườichỉ là ảo ảnh, là không có thực, còn thể xác chỉ là cái vỏ, bên ngoài của linh hồn.Khi con người chết, linh hồn không mất đi mà sống qua các kiếp khách nhautrong vòng luân hồi vì vậy linh hồn là bất tử Những người theo phái này đặt ramục đích là làm thế nào để con người được siêu thoát (không trở lại vòng sinhtử), ra nhập vào đại ngã (Brahman) Muốn đạt được mục đích đó con người phải
tu tập, rèn luyện theo 8 phương pháp sau đây:
+ Cấm chế: giữ được các điều răn: không sát sinh, không trộm cắp…
+ Khuyến chế: chế ước được những ham muốn, dục vọng của bản thân.+ Toạ pháp: hình thức ngồi chắp bằng 2 tay để trước ngực
+ Điều tức: điều chỉnh hơi thở
+ Chế cảm: chế ngự cảm giác (cảm giác và tâm phải tập trung vào một chỗ).+ Chấp trì: tập trung tư tưởng
+ Thiền định hay tĩnh lự: giữ cho cái tâm được thống nhất
+ Đẳng trì hay tam muội: đưa tâm đến hư không, chứng được cảnh giới sánlạn
Nếu luyện được thì tâm hồn thanh thản và có khả năng sản sinh ra ra mộtloại năng lượng phi thường như: nhìn thẳng vào mặt trời, dẫm chân lên than
Trang 12hồng, nằm trên bàn trông, lăn mình trên đường, chôn mình ngập đến cổ, đọc được
ý nghĩ của người khác và nhớ được quá khứ, biết được tương lai…
2 Khái lược về các trường phái không chính thống
2 1 Trường phái Lôkayata: Đây là trường phái duy vật triệt để nhất
trong số các trường phái triết học của ấn Độ cổ đại
Lôkayata là từ được ghép bởi hai từ: Lôkesu: nhân dân và Kayata: phổ biến
có nghĩa là triết học phổ biến trong nhân dân
Phái này do Bratspati xây dựng lên ở TK IV TCN
- Những người theo phái này cho rằng thế giới là do tứ đại tạo nên đó làđất, nước, lửa, gió (không khí) Sự hội tụ hay phân tán của 4 yếu tố này chính là
cơ sở cho sự hình thành hay mất đi của các sự vật, hiện tượng trong thế giới
- Phái Lôkayata đưa ra lý thuyết về thân thể, về mối quan hệ giữa linh hồn(lý trí) với thể xác Họ cho rằng thể xác và linh hồn luôn luôn thống nhất vớinhau không bao giờ tách rời nhau “Lý trí chỉ có ở nơi nào có thân thể Nó khôngbao giờ tìm thấy nếu không có thân thể, lý trí là thuộc tính của thân thể” Như vậy
họ cho rằng mỗi sinh vật đều có linh hồn của nó và khi sinh vật chết đi thì linhhồn cũng mất theo Trên cơ sở này những người Lôkayata đã gạt bỏ thuyết luânhồi và nghiệp Họ cho rằng không có Atman tồn tại bên ngoài cơ thể, rằng ý thứckhông quan sát được trên mặt đất ý thức chỉ nảy sinh khi các vật liệu hỗn hợpvới nhau theo một tỉ lệ nhất định Như vậy, theo họ vật chất do liên kết đặc biệtthì sinh ra ý thức, nhưng họ lại hiểu vật chất sinh ra ý thức cũng như gạo nấuthành rượu, gan tiết ra mật Nhưng họ đã không hiểu được bản chất của ý thứcnên đã rơi vào quan điểm của CNDV tầm thường (đồng nhất ý thức với vật chất)
- Về xã hội: Họ chủ trương một xã hội không có đẳng cấp, không phân biệt
giàu nghèo, sang hèn Sự phân chia giai cấp của Balamôn là sự áp đặt để bảo vệ
Trang 13lợi ích của giai cấp thống trị Nêu quan niệm xã hội bình đẳng không giai cấp,máu giai cấp nào cũng đỏ như nhau.
- Về nhận thức: tri thức do 5 giác quan đưa lại, vật không tri giác được thì
không tồn tại, “cái gì phù hợp tri giác thì tin được, không phù hợp thì không tin”
- Về luân lý: Họ cho rằng cuộc đời con người là ngắn ngủi nên phải tận
hưởng mọi lạc thú của trần gian với khẩu hiệu: “Hãy ăn uống đi, cho dù ngày mai
sẽ chết”
2.2 Trường phái Jaina:
Người sáng lập ra đạo này là Mahavira (người anh hùng vĩ đại TK VI TCN).Đạo này chia làm 2 phái:
- Phái mặc áo trắng sống khổ hạnh
- Phái ở truồng (không mặc quần áo) sống theo lẽ tự nhiên
Về thế giới quan:
Mọi sự vật sinh ra đều có nguồn gốc của nó Ngay cả Brahman nếu có cũng
là do nguồn gốc nào đó sinh ra nó
Jaina đề cao thuyết tương đối cho rằng thế giới vật chất là vĩnh hằng,nhưng không đứng yên, mà biến chuyển không ngừng từ dạng này sang dạngkhác (Samkhya), rằng tồn tại vừa bất biến, lại vừa biến chuyển: Cái vĩnh hằng làvật chất, cái chung, còn cái biến đổi là các dạng cụ thể của vật chất, giống nhưđất sét thì không thay đổi nhưng những cái bình làm từ đất sét thì lại luôn luônthay đổi Vì vậy, mọi cái đều là “có thể” (có thể là cái này, có thể là cái kia, chứkhông có cái gì là bất biến, vĩnh hằng cả)
Họ chia thực thể tồn tại làm 2 loại: sống (thực thể sống có lý trí, có linhhồn như quỷ thần, người, động vật, cây cỏ, ); không sống (thực thể không sốngkhông có lý trí, không có linh hồn như không gian, thời gian, vận động, nghỉ
Trang 14ngơi, vật chất…) Hai loại thực thể này không tách rời nhau mà có liên kết chặtchẽ với nhau, ngoài ra họ cho rằng các vật có thể chuyển động như lửa, gió, nướccũng có linh hồn.
Họ thừa nhận thuyết luân hồi và nghiệp, cho rằng linh hồn cao cả nhất làlinh hồn thoát ra khỏi vòng luân hồi Muốn thoát khỏi vòng luân hồi phải hoànthiện đạo đức bằng hình thức sống khổ hạnh, thản nhiên trước mọi sự đau khổcủa bản thân, tự nguyện chết để thoát khổ, thực hiện luật không sát sinh, khônguống mật ong, không uống nước lọc, quét trước, bước sau
(Bản thân Mahavira cũng tu luyện 12 năm mới đắc đạo, lúc đầu chỉ cómảnh vải che thân, sau 13 tháng không mặc quần áo ở truồng cho đến cuối đờithọ 72 tuổi)
Trang 15Thích ca Mâuni thuộc dòng dõi quý tộc, cha là vua của Vương quốc Sakyalúc bấy giờ nay thuộc đất Nêpan, mẹ là công chúa của Vương quốc bên cạnh.Năm 16 tuổi thì ông cưới vợ, sinh được 1 người con trai, nhưng ông không thiếttha với công việc của nhà vua, mà đi tu với mục đích tìm ra 1 đạo để cứu thế, cứuđời Năm 80 tuổi ông mất, theo tập tục ở ấn Độ ông bị thiêu xác, tro của ông kếtthành những viên cứng như sắt, long lanh như ngọc gọi là xá lợi.
Sau khi ông mất các học trò của ông tụ tập nhau lại ở thành Rajagriha(Vương xá), họ cùng nhau nhớ lại những lời Phật dạy, ghi chép, biên soạn kinhđiển Phật giáo trước hết là Kinh tạng và Luật tạng
100 năm sau khi Phật mất, kết tập lần 2 họp ở Vaisali, trong nội bộ giáođoàn Phật giáo có mâu thuẫn Số đông đòi chữa lại luật tạng, những người này bịtrục xuất ra khỏi kết tập, họ tự tập hợp nhau lại và tự xưng là phái Mahasamghika(Trung Quốc dịch là Đại chúng bộ), còn phái chính thống gọi là Theravada(Thượng toạ bộ) Trong Đại chúng bộ đã có mầm mống của tư tưởng đại thừa
Nội dung của triết học Phật giáo vô cùng đa dạng, phong phú bao gồm cácquan niệm về vũ trụ, về nhân sinh, về nhận thức…
2 Thế giới quan Phật giỏo
- Phật giáo đưa ra thuyết nhân duyên sinh cho rằng thế giới không cónguyên nhân đầu tiên (Phật giáo) nó là nguyên nhân của chính nó Mọi sự vật,hiện tượng trong thế giới đều nằm trong mối liên hệ nhân quả:
+ Nhân: là cái đưa đến cái khác.
+ Quả: là cái xuất hiện do nhân sinh ra.
+ Duyên: là điều kiện, hoàn cảnh giúp nhân chuyển thành quả.
VD: Hạt giống cây (hạt giống: nhân ; cây: quả ; nhiệt độ, ánh sáng, độẩm: duyên)
Trang 16Theo Phật giáo mọi cái đều do nhân duyên mà ra Phật tổ đã từng nói “chủpháp tòng duyên sinh, chủ pháp tòng duyên diệt” Mọi cái đều nằm trong mối liên
hệ nhân quả bất tận, không đầu, không cuối nhưng không hỗn độn mà nhân nào,quả nấy: trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, trồng cà được cà Từ trên cơ sởthuyết nhân quả Phật giáo phủ nhận nguyên nhân đầu tiên của thế giới và đi đếnphủ nhận Brahman như là đấng tối cao sáng tạo ra vũ trụ và phủ nhận luôn cảAtman
- Phật giáo đưa ra thuyết “Vô thường”, “Vô ngã”, “Vô tạo giả”
+ Vô thường: tức là không thường còn Mọi cái sinh ra và tồn tại trong thế
giới không phải là vĩnh hằng, bất biến, mà luôn luôn vận động, biến đổi khôngngừng Sự biến đổi ấy diễn ra hết sức nhanh chóng, nhanh hơn một niệm gọi là
“niệm niệm vô thường”, nhưng lại không hỗn độn, mà tuân theo một chu kỳ nhấtđịnh gọi là “nhất kỳ vô thường”
VD: Đối với con người: Sinh – lão – bệnh – tử
Đối với sinh vật: Thành – trụ – dị – diệt
Đối với vũ trụ: Thành – trụ – hoại – không
Sự biến đổi ấy cũng diễn ra theo một trình tự thời gian nhất định từ quá khứđến hiện tại, đến tương lai
Theo Phật giáo thế giới là vô cùng, vô tận, không có giới hạn: “Hằng hà, sasố”, nhiều như “cát sông Hằng”
1 thế giới bao gồm: quả đất, mặt trời, mặt trăng, các tinh tú khác
1 nghìn thế giới = 1 tiểu thiên vũ trụ
1 nghìn tiểu thiên vũ trụ = 1 trung thiên vũ trụ
1 nghìn trung thiên vũ trụ = 1 đại thiên vũ trụ…
Trang 17Như vậy, mọi cái đều là vô thường, không vĩnh hằng, mà luôn luôn biến đổi(cả con người lẫn thế giới vật chất)
+ Vô ngã: Ngã là cái tôi (con người), vô ngã tức là cái tôi không thường
+ Vô tạo giả: Phật giáo cho rằng mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới kể
cả con người không phải do một lực lượng thần bí nào sinh ra, mà nó vận động vàphát triển tự thân
3 Nhõn sinh quan Phật giỏo
Nhân sinh quan Phật giáo được thể hiện trong tứ diệu đế (4 chân lý huyềndiệu)
+ Khổ đế: Phật giáo cho rằng đời người là bể khổ Phật giáo đã tìm ra rất
nhiều nỗi khổ đau của con người trong đó có 8 cái khổ cơ bản: sinh, lão, bệnh, tử,
ái thụ biệt ly, oán tăng hội, sở cầu bất đắc, thủ ngũ uẩn khổ
+ Tập đế (nhân đế):
Trang 18Phật giáo cho rằng nỗi khổ của con người là có nguyên nhân và đã tìm ra
12 nguyên nhân gọi là thập nhị nhân duyên:
Vô minh: không sáng suốt, ngu tối.
Hành: hành ở đây là hoạt động của ý thức, sự giao động của cái tâm, có
manh nha của nghiệp
Thức: tâm thức từ chỗ trong sáng, cân bằng, trở nên ô nhiễm, mất cân
bằng
Danh – sắc: là sự tụ hội của các yếu tố vật chất và tinh thần sinh lục căn.
Lục nhập
Xúc: sự tiếp xúc, phối hợp giữa lục căn, lục trần và thức.
.Thụ: thụ là cảm giác Do tiếp xúc mà nảy sinh tình cảm yêu, ghét, vui,
buồn
ái: ái là yêu là thích, ở đây chỉ sự nảy sinh dục vọng.
Thủ: chiếm lấy, giữ lấy Tức có ái rồi thì có thủ.
Hữu: sự tồn tại Muốn chiếm lấy thì phải tồn tại, tức là đã có hoạt động
tạo nghiệp
Sinh: sinh ra Muốn tồn tại thì phải sinh ra.
Lão – tử: già và chất Tức là đã có sinh ắt có già và chết đi.
Ngoài ra nỗi khổ của con người còn do nghiệp báo, luân hồi sinh ra
Nghiệp (Karma): sự tạo tác (hoạt động, ý nghĩ) gây ra một luân hồi tương
ứng Con người có 3 nghiệp: thân nghiệp (hành động), khẩu nghiệp (lời nói) và ýnghiệp (suy nghĩ, tư tưởng)
Vòng luân hồi gồm 6 kiếp: Địa ngục, ma đói, súc vật, Atula, người, trời.
Trang 19+ Diệt đế: Phật giáo cho rằng nỗi khổ của con người là có thể tiêu diệt
được, con người có thể đạt tới trạng thái Niết bàn (Nirvana) – là nơi hư vô, tuyệtdiệt, là nơi không mà có; là trạng thái chấm dứt vòng luân hồi và nghiệp
+ Đạo đế:
Đạo đế là con đường để tiêu diệt nỗi khổ, vươn tới Niết bàn
Phật giáo nhấn mạnh sự hoàn thiện đạo đức cá nhân và đưa ra nhiềuphương pháp để hoàn thiện Trong đó có 8 phương pháp cơ bản gọi là Bát chínhđạo: chính kiến (hiểu biết đúng đắn về tứ diệu đế) ; chính tư duy(suy nghĩ, đúngđắn) ; chính ngữ (lời nói phải đúng đắn, chân thực); chính nghiệp (giữ cho nghiệpkhông bị tác động xấu); chính mệnh (giữ ngăn dục vọng, phải biết tiết chế dụcvọng); chính tinh tiến (rèn luyện, tu tập không mệt mỏi, hăng hái tích cực tìmkiếm và truyền bá chân lý nhà Phật); chính niệm (có niềm tin bền vững vào sựgiải thoát, thường xuyên thờ Phật, niệm Phật); chính định (tập trung tư tưởng cao
độ, duy nghĩ về tứ diệu đế, về vô thường, vô ngã)
Ngoài ra còn có con đường tam học: Học giới, học tuệ, học định
Học giới: Những điều răn cần tránh đối với nữ có 348 điều, nam có 250
điều Trong đó có 8 điều răn cơ bản gọi là Bát giới: không sát sinh, không trộmcắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, không xem ca nhạc, khôngnằm giường sang, không ăn quá giờ ngọ
Học tuệ: Nghe, nhìn, suy nghĩ sáng suốt để chống vô minh.
Học định: (Thiền định): Học trạng thái tu luyện, tập trung tinh thần (ngồi
chắp bằng, 2 tay để trước ngực)
Ngoài ra còn có 6 phương pháp bổ trợ: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến,thiền định, trí tuệ
Trang 20Tóm lại, Phật giáo là một tôn giáo đặc biệt, khác với các tôn giáo khác, nó
phủ nhận sự tồn tại của thần thánh, dạy con người ta tự cứu lấy mình, chứa đựngnhiều yếu tố biện chứng Tuy nhiên, Phật giáo vẫn mang tinh yếm thế
Chương II Lịch sử tư tưởng Trung Quốc cổ - trung đại
I Những tiền đề cơ bản cho sự ra đời tư tưởng triết học Trung Quốc
1 Điều kiện kinh tế xó hội thời Xuõn thu – Chiến quốc
- Từ TK VIII – III TCN xã hội Tây Chu bước vào tời kỳ có nhiều biếnđộng to lớn, toàn diện Lịch sử gọi là thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc (Đông chu)
Đó là giai đoạn tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và hình thành chế độ phongkiến Trung Quốc (Xuân thu từ 722 – 481 TCN, Chiến quốc từ 480 – 221 TCN)
- Về kinh tế : Lúc này đồ sắt xuất hiện phổ biến làm cho nền nông nghiệp
và thủ công nghiệp phát triển mạnh mẽ như nghề luyện sắt, nghề rèn, nghề đúc,nghề mộc, nghề làm gốm… Kinh tế thương nghiệp cũng bắt đầu phát triển , hìnhthành nhiều thành thị buôn bán nhộn nhịp như Tần, Hán, Tề, Sở…
- Về xã hội: Giai cấp quý tộc nhà Chu mất dần vai trò chính trị và kinh tế.
Các nước chư hầu không chịu khuất phục nhà Chu nữa, mang quân tôn tính lẫnnhau Xã hội cũ, mới tồn tại đan xen vào nhau, vì vậy trong xã hội tồn tại nhiềumâu thuẫn phức tạp
- Về khoa học và văn hoá:
Khoa học tự nhiên phát triển mạnh như địa lý, thiên văn, vật lý, toán học, yhọc, sinh vật học, nông học và đã đạt được những thành tựu đáng kể như biết giảiphẫu cơ thể người, biết các phương pháp chẩn đoán bệnh
Văn hoá thời kỳ này có nhiều tác phẩm nổi tiếng như “Kinh thi và Sở từ”
Trang 21Về sử học: có nhiều bộ sử có giá trị như Xuân thu, Tả truyện, Quốc ngữ
ghi chép tình hình xã hội từ Xuân thu đến đầu Chiến quốc
Về triết học: Giai đoạn này là thời kỳ hoàng kim của triết học Trung
Quốc Lịch sử gọi thời kỳ này là “Bách gia chư tử”, “Bách gia tranh minh” đã sảnsinh ra nhiều nhà tư tưởng vĩ đại, nhiều học thuyết triết học, chính trị, đạo đức cógiá trị
2 Tiền đề tư tưởng: Thuyết Âm dương – Ngũ hành.
Đại biểu tiêu biểu của phái này là Trâu Diễn ở TK III TCN
Người Trung Quốc cổ đại cho rằng khởi nguyên của thế giới là 2 yếu tố âm
và dương Âm là bóng tối và tất cả những gì thuộc về bóng tối; Dương là ánhsáng và tất cả những gì thuộc về ánh sáng Âm – dương là 2 mặt đối lập nhưng lạithống nhất với nhau, ràng buộc vào nhau, là cơ sở điều kiện tiền đề tồn tại củanhau và của mọi sự vật đồng thời là nguyên nhân của mọi sự vật động và pháttriển
Biểu hiện cụ thể của âm – dương là các mặt đối lập như: Mặt trời – mặttrăng, sáng – tối, dài – ngắn, rộng – hẹp, nhanh – chậm, nóng – lạnh, quân tử –tiểu nhân, nam – nữ, thông minh – ngu đần… Trong đó mặt một thuộc về dương,mặt 2 thuộc về âm Mỗi sự vật, hiện tượng đều là thể thống nhất của âm vàdương, trong dương có âm, trong âm có dương, âm – dương luôn luôn tương tác,chuyển hoá lẫn nhau, không có gì là thuần âm hoặc thuần dương cả
Có thể biểu thị mối quan hệ âm – dương bằng sau đồ sau:
Trang 22Phần sáng nhiều gọi là thái dương, phần sáng ít gọi là thiếu dương Phầntối nhiều gọi là thái âm, phần tối ít gọi là thiếu âm Trong thái dương có thiếu âm
và trong thái âm có thiếu dương Âm – dương xoay vần, đắp đổi không ngừng,thiếu dương trong thái âm phát triển đến cùng thì có sự chuyển hoá âm thànhdương và ngược lại Trong mối quan hệ âm – dương thì dương được coi là mặtnăng động, tích cực còn âm là mặt thụ động, tiêu cực Nhưng không phải hoàntoàn như vậy mà phải xem xét chúng trong những mục đích, điều kiện, địa điểm,thời gian cụ thể để chỉ ra cái gì mang tính tích cực hay tiêu cực
Người Trung Quốc cho rằng tốt nhất là đạt được sự cân bằng âm – dương,mọi sự thái quá về âm hoặc về dương đều là không tốt
Biểu hiện cụ thể hơn nữa của âm – dương là ngũ hành – 5 yếu tố vật chấtđầu tiên của vũ trụ: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ Mỗi yếu tố có tính chất riêng biệtchẳng hạn: thuỷ (nước) thì lạnh và luôn luôn chảy về chỗ thấp; hoả (lửa) thì nóng
và luôn luôn bốc lên cao; mộc (gỗ) có tính chất đàn hồi; kim (kim loại) thì có tínhchất phụ thuộc; thổ (đất) thì tiếp nhận hạt giống và làm mùa 5 yếu tố này luônluôn vận động, biến đổi và chuyển hoá không ngừng Cơ chế của sự chuyển hoá
là cái này thắng (khắc) cái kia gọi là quá trình tương khắc, cái này sinh cái kia gọi
là quá trình tương sinh
+ Thổ sinh kim, kim sinh thuỷ, thuỷ sinh mộc, mộc sinh hoả, hoả sinh thổrồi lại thổ sinh kim
+ Thổ khắc thuỷ, thuỷ khắc hoả, hoả khắc kim, kim khắc mộc, mộc khắcthổ rồi lại thổ khắc thuỷ Đây là kết quả của quá trình quan sát trực quan và đúc
Trang 23kết kinh nghiệm đời sống lâu dài của người Trung Quốc VD: Thổ khắc thuỷ vìđất thấm được nước và ngăn chặn dòng nước, thuỷ khắc hoả vì nước có thể dậptắt lửa…
Những người theo thuyết Ngũ hành dùng 5 yếu tố này để giải thích nguồngốc, chủng loại của các hiện tượng tự nhiên
Ngũ sắc: Vàng (do thổ sinh ra) – trắng (do kim) - đen (do thuỷ) – xanh
(do mộc) - đỏ (do hoả)
Ngũ vị: Ngọt (do thổ sinh ra) – cay (do kim) – mặn (do thuỷ) – chua (do
mộc) - đắng (do hoả)
Ngũ tạng: Tỳ vị (lá nách, dạ dày) – phế (phổi) – thận – can (gan) – tâm
(tim)
4 mùa: Xuân (do mộc sinh ra) – hạ (do hoả) – thu (do kim) - đông (do
thuỷ) - điều hoà 4 mùa (do thổ)
4 phương: Đông (do mộc sinh ra)– Tây (do kim)– Nam (do hoả)– Bắc (do
thuỷ) – ở giữa các phương (do thổ)
Tóm lại, thuyết âm - dương, ngũ hành đã giải thích nguồn gốc và sự vậnhành của thế giới trên lập trường duy vật, mặc dù đây chỉ là duy vật ngây thơ,chất phác, giản đơn, mang tính chất máy móc nhưng nó có ý nghĩa thế giới quanquan trọng chống lại quan điểm duy tâm tôn giáo và mục đích luận về tự nhiên
Nó là cơ sở lý luận quan trọng cho những phát minh vĩ đại của khoa học tự nhiênnhư Thiên văn, Lịch pháp, Y học…Tuy nhiên, khi vận dụng nó vào các vấn đềlịch sử xã hội thì các nhà triết học đã làm mất đi tính duy vật, làm nghèo nàn đitính biện chứng ban đầu của nó
II Các đặc điểm của tư tưởng triết học Trung Quốc
1 Triết học Trung Quốc cổ đại là một nền triết học xuất hiện rất sớm(khoảng 2000 năm TCN) đồng thời là một nền triết học đồ sộ, gồm nhiều trường
Trang 24phái khác nhau như: Âm dương gia, Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia, Danhgia, Tạp gia, Nông gia, Tung hoành gia.
2 Triết học Trung Quốc cổ đại phát triển mạnh vào thời kỳ tan rã của chế
độ chiếm hữu nô lệ và bắt đầu hình thành chế độ phong kiến
3 Triết học Trung Quốc cổ đại đề cập nhiều đến vấn đề chính trị, xã hội,đạo đức của con người mà ít chú ý nghiên cứu các vấn đề thuộc về bản thể luận,nhận thức luận, lôgic học
4 Triết học Trung Quốc cổ đại nhấn mạnh sự hài hoà thống nhất giữa tựnhiên và xã hội Hầu hết các trường phái đều phản đối cái thái quá, cái bất cập,
mà thường xuất hiện các phạm trù: “Thiên nhân hợp nhất”, “Tri hành hợp nhất”,
“Thể dụng như nhất”, “Tâm vật dung hợp”
5 Trong triết học Trung Quốc cổ đại nổi lên lối tư duy trực giác tức làthông qua cảm nhận và thể nghiệm lâu dài, bỗng chốc giác ngộ Chính vì vậy cácnhà triết học thường coi trọng cái Tâm, coi Tâm là gốc rễ của nhận thức, lấy
“Tâm để bao quát vật”
6 Trong triết học Trung Quốc cổ đại các yếu tố duy vật và duy tâm, vôthần và hữu thần thường tồn tại đan xen vào nhau, nhiều khi rất khó nhận thấy
III Các trường phái triết học chính trị - xó hội và đạo đức ở Trung Quốc
1 Nho gia
1.1 Nguồn gốc, sự hình thành và phát triển của Nho giáo
Nho giáo là một học thuyết chính trị, xã hội được Khổng Tử (551-479 TCN)sáng lập vào khoảng thế kỷ VI TCN Đây là một học thuyết chính trị xã hội cóảnh hưởng rất sâu rộng trong xã hội Trung Hoa cổ đại cũng như sau này, nóđược phát triển qua 4 thời kỳ:
Nho giáo sơ kỳ với các đại biểu: Khổng tử, Mạnh tử và Tuân tử bàn về cácvấn đề Nhân, Lễ, Chính danh, về bản tính con người, về Thiên mệnh
Trang 25Hán nho (Thế kỷ II TCN) với các đại biểu: Đổng Trọng Thư, Lưu Hướng,Lưu Hâm ở thời kỳ này Nho giáo bị đẩy tới mức cực đoan theo hướng duy tâm,
xuất hiện các khái niệm “Tam cương, Ngũ thường”, “Thiên nhân tương cảm”
nhằm củng cố vai trò của chế độ phong kiến trung ương tập quyền
- Tống nho (Thế kỷ X) với các đại biểu: Chu Đôn Di, Trình Hạo, Trình Di,Trương Tải, Chu Hy bàn về vấn đề bản thể thế giới, vũ trụ Khái niệm chủ yếu của
Tống nho là “Khí” và “Lý” Xây dựng lập trường của các nhà nho Đây là thời kỳ
Nho học được phát triển theo hướng duy vật
- Minh nho (Thế kỷ XV) với các đại biểu: Vương Dương Minh phái “Tâm
học”, “Bạch Sa phái”, “Hà Đông phái”… Đây là thời kỳ phát triển Nho học theo
hướng duy tâm chủ quan
1.2 Nội dung cơ bản Nho giáo
1.2.1 Quan niệm về “Trời’, “Thiên mệnh”
Khổng tử cho rằng trời đất lúc đầu là một khối hỗn mang mờ mịt, trong khốihỗn mang mờ mịt ấy có cái lý vô hình rất huyền diệu gọi là Thái cực Trong Tháicực có 2 thể động và tĩnh thể hiện ra là dương và âm Dương âm luôn biến hoá, khidương lên đến cực độ thì ra âm và ngược lại Từ đó trời đất, vạn vật được sinh ra.Trong trời đất không có gì là không biến đổi
Con người cũng do trời đất sinh ra, do vậy con người có được cái tính quý làcái đức của trời đất, là khí của tinh tú Khổng tử nói: “Người là đức lớn của trờiđất, sự giao hoà của âm dương, sự hội tụ của quỷ thần, cái khí tinh tú của ngũhành”
Do tin tưởng có trời là chúa tể của vũ trụ nên mọi hoạt động của con ngườicũng như mọi sự biến đổi đều phải tuân theo Thiên mệnh Mọi sự thành bại, thịnhsuy đều do Thiên mệnh cả, không phải cầu là có được Khổng tử nói: “Mưu sự tạinhân, thành sự tại thiên”
Trang 26Tuy nhiên, trời trong quan niệm của Khổng tử không phải là đấng chí tôn cóhình dạng, có tư duy tình cảm…mà trời ở đây là cái lý vô hình, rất huyền diệu, caosiêu, khi đã định sự biến đổi thì không sao cưỡng được.
Tin có mệnh trời nên Khổng tử cũng tin có quỷ thần Quỷ thần theo quanniệm của ông là khí thiêng liêng trong trời đất, tuy ta không nhìn thấy nhưng đâucũng có Do vậy ta nên tế quỷ thần với lòng thành kính
1.2 2 Quan niệm về xã hội
a Lễ - Chính danh
Chữ Lễ có nhiều nội dung khác nhau:
- Lễ tức là tế lễ (lễ thần) Là điều cần thiết trong lúc tế thần thánh,
nó có từ thời nhà Hạ, Thương, Ân, Chu
- Lễ là nguyên tắc tổ chức hoạt động của nhà nước và xã hội thểhiện “Vi quốc dĩ lễ” (Làm việc nước lấy lễ làm căn bản), “tề chi dĩlễ” (làm việc xã hội lấy lễ làm căn bản) Lễ là trật tự kỷ cương,phép nước quy định hành vi của mỗi người Theo ông nguyênnhân của xã hội loạn, vô đạo là không giữ được lễ Vì vậy muốncho xã hội bình yên, thịnh trị phải khôi phục lễ Người có lễ
“không nhìn, không nghe, không nói, không làm điều không hợplễ”
- Lễ còn là nếp sống có văn hoá Khổng tử nói: “Chiếu trải khôngngay ngắn không ngồi”, “Thịt thái không vuông không ăn”
- Lễ được hiểu là những nghi lễ, những quy phạm đạo đức quy
định quan hệ giữa người với người theo một trật tự danh vị xã hộichặt chẽ thời nhà Chu Lễ còn là quy định về quyền và nghĩa vụtương xứng với danh phận Như vậy lễ là lẽ phải, là bổn phận màmọi người có nghĩa vụ phải tuân theo: Hiếu thảo với cha mẹ, hoàthuận anh em, thuỷ chung vợ chồng, tín nghĩa bạn bè Khổng tử
Trang 27nói: “Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung” (Vua sai bề tôibằng lễ, bề tôi có nghĩa vụ trung vua).
- Lễ còn là nguyên tắc chỉ chế độ đẳng cấp tông pháp trong xã hộilúc bấy giờ thể hiện trong tư tưởng “Chính danh”: “Danh bất chínhtắc ngôn bất thuận, ngôn bất thuận tắc sự bất thành”
- Như vậy, lễ là chuẩn mực điều chỉnh bản tính tự nhiên thườngthái quá của con người Nhờ nó mà con người nhận rõ danh vị,bổn phận của mình Từ đó điều tiết và phân biệt được các quan hệcha con, anh em, bạn bè, vua tôi
Theo Khổng tử xã hội loạn lạc là do Danh không chính, ngôn không thuận
Do vậy, để làm cho xã hội trật tự thì trên phải ra trên, dưới ra dưới, trật tự phânminh, vua có phận vua, tôi có phận tôi Danh phận đã định rõ, ai cũng có địa vịchính đáng của người ấy Một nước trật tự là nước “quân quân, thần thần, phụ phụ,
tử tử” (vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con)
b Xã hội hoà hợp lấy nhà làm gốc.
Nho giáo đề cao vai trò của gia đình “quốc dĩ gia vi bản” (nước lấy nhà làmgốc) Vỡ vậy, MT đưa ra Ngũ luân, Đổng Trọng Thư coi trọng Tam cương Họcho rằng, con có hiếu với cha mẹ thì mới trung với vua do vậy Hiếu, Đễ là gốc cơ
bản của con người Mạnh tử “Thiên hạ gốc ở nước, nước gốc ở nhà, nhà gốc ở
thân mỡnh”.
Hiếu được hiểu theo cỏc nghĩa sau:
- “Sự thõn” và “thủ thõn” gắn liền với nhau
- Suốt đời “Thiện kế”, “Thiệp thuật”
- Dương danh hiển thân
Từ đó, hỡnh thành tư tưởng củng cố đề cao gia đỡnh của mỡnhtrong xó hội
Trang 28Họ đề cao một xã hội hoà hợp “Lễ chi dụng hoà vi quý” (tác dụng của lễ làlấy hoà làm quý), “Hoà là gốc của nhạc” Các nhà nho coi xã hội như một dàn nhạcgồm nhiều tầng lớp khác nhau, phải làm sao cho xã hội hoà hợp như dàn nhạc.Muốn có được xã hội như vậy thì phải thực hiện hai điều kiện:
Một là dùng “Đức trị”, tức là dùng đạo đức để giáo hoá con người Họ chorằng nếu dùng hình mà dân theo thì cũng chỉ là miễn cưỡng Khổng tử so sánh Đứctrị như sao Bắc Đẩu, các sao khác về chầu xung quanh Sau này Mạnh tử pháttriển thành đường lối “Nhân chính” với nội dung cụ thể: Bảo đảm ruộng đất chongười dân; giảm nhẹ tô thuế; Bớt hình phạt; mở trường dạy lễ, nghĩa cho dân
Hai là phải lấy dân làm gốc Nho giáo đã phát triển tư tưởng “dân vi bangbản, bản cố bang ninh” (dân là gốc, gốc vững nước mạnh) trong Kinh thư Khổng
tử nêu lên vấn đề “Dân tín”, ông nói: “Túc thực, túc binh dân tín” (Lương thực đủ,binh đầy đủ, dân tin) Mạnh tử còn nêu lên tư tưởng “trọng dân”: “Nếu vua xem bềtôi là tay chân mình thì bề tôi xem vua như tim gan mình, nếu vua xem bề tôi nhưchó ngựa thì bề tôi xem vua như người dưng, nếu vua xem bề tôi như cỏ rác bề tôixem vua như kẻ thù” Từ đó ông nêu lên quan điểm “dân vi quý, xã tắc thứ chi,quân vi khinh” Tuân tử cũng nêu “Dân là nước, triều đình là thuyền, nước có thểtrở thuyền cũng có thể lật thuyền”
Mạnh Tử bảo vệ quan điểm của Khổng Tử, tuyên truyền cho đường lốiĐức trị, ủng hộ Vương đạo, chống lại Bá đạo
Ông phát triển phạm trù nhân của Khổng Tử thành học thuyết nhân chính
có nội dung chủ yếu là:
+ Không dùng vũ lực để thôn tính lẫn nhau giữa các nước, ông xem cáccuộc chiến tranh thời Xuân thu – Chiến quốc đều là vô nghĩa Ông kêu gọi giaicấp thống trị bớt hình phạt, nhẹ thuế má cho dân, phải để cho dân có tài sản riêngthì họ mới yên tâm làm ăn sinh sống: “hữu hằng sản, hữu hằng tâm” Bởi theo
Trang 29ông không có hằng sản tất nhiên không có hằng tâm Và như vậy thì vô cùngnguy hiểm cho xã hội: mọi sự phóng đãng, buông thả, sai trái, gian tà, càn rỡ,không điều gì mà dân không làm Vì thế người cầm quyền phải chế định sảnnghiệp cho dân để họ trông lên thì đủ phụng dưỡng cha mẹ, nhìn xuống thì đủnuôi vợ con, được mùa thì no ấm quanh năm, mất mùa thì cũng không đến nỗichết đói Từ đó mới dẫn dắt dân đi theo con đường thiện, dân sẽ dễ dàng đi theo.Ông cho rằng một ông vua phải biết quý trọng 3 điều: đất đai, nhân dân và chính
sự Ông chống lại việc làm giàu vì “đã làm giàu thì bất nhân, đã làm điều nhân thìkhông thể làm giàu được”
+ Ông đưa ra quan niệm tôn trọng dân, yêu quý dân Đây là chủ trươngchính trị được lòng dân rất mới mẻ và táo bạo: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân
vi khinh” (đáng quý trọng là dân, rồi đến xã tắc, vua là thường) Nếu vua làm hại
xã tắc thì thay đi, đặt vua khác vào, ông nói: “Vua coi bề tôi như tay chân, thì bềtôi coi vua như người thân; vua coi bề tôi như chó ngựa, thì bề tôi coi vua nhưngười dưng; vua coi bề tôi như cỏ rác, thì bề tôi coi vua như kẻ thù”
Tuy nhiên xuất phát từ lập trường giai cấp, ông chia con người làm 2 loại:Người lao tâm và người lao lực Người lao tâm trị người lao lực Người lao lực bịngười trị Như vậy, kẻ bị người trị thì nuôi người, kẻ trị người được người nuôi
Tuõn tử là người đầu tiên chủ trương kết hợp Nho gia với Pháp gia, kết hợpVương đạo với Bá đạo
Ông cho rằng con người khác con vật ở chỗ sống tập thể, có tổ chức, có trật
tự, có lễ nghĩa trên dưới, nhưng đó cũng chính là căn nguyên dẫn đến xã hội loạn
vì trong xã hội, mọi người sống hợp quần, không có sự phân công lao động xã hội
mà sản vật tự nhiên và của cải làm ra thì ít nhưng nhu cầu lại nhiều vì vậy muốngiữ được trật tự xã hội phải: Tăng cường sản xuất, thực hành tiết kiệm, phân công
rõ ràng ngành nghề theo thứ bậc: sĩ, nông, công, thương Trong đó nông nghiệp là
Trang 30cơ bản; Hạn chế nhu cầu, dục vọng lấy lễ nghĩa làm cơ sở, làm chuẩn mực đạođức.
Ông chủ trương lễ trị và chính danh nhưng khác nhiều so với lễ trị củaKhổng Tử Nếu Khổng Tử yêu cầu lễ được thực hiện một cách tự giác, từ tâm thì
lễ của Tuân Tử mang tính chất bắt buộc, cưỡng ép Lễ của Khổng Tử là phục vụ
bề trên thì lễ của Tuân Tử là “cắt bớt chỗ dài bù vào chỗ ngắn, lấy chỗ thừa bùvào chỗ thiếu” Nó mang tính pháp trị nhiều hơn là lễ trị
Tuân Tử quan niệm luật pháp là cái gốc của thiên hạ để ngăn cấm nhữngđiều bạo ngược, để răn đe những điều chưa xảy ra Vì bản tính con người là ác:
“nhân tri sơ, tính bản ác”, là ham muốn dục vọng, là ích kỷ và phải dùng luậtpháp thì cái ác mới có thể thay đổi được
Ông nhận rõ vai trò to lớn của quần chúng nhân dân lao động Theo ông
“vua là thuyền, dân là nước, nước chở thuyền, nước cũng có thể lật thuyền” Ôngđòi hỏi người cầm quyền phải chăm lo cho dân, an dân và huệ dân Bởi “trời sinh
ra dân không phải vì vua mà trời lập ra vua chính tại vì dân” Ông phản đối chế
độ “thế tập” (cha truyền con nối) Xuất phát từ lập trường giai cấp ông vẫn ủng
hộ việc phân chia xã hội thành đẳng cấp trên dưới, sang hèn
c Quân tử – tiểu nhân
Nho giáo chia xã hội làm hai hạng người: Quân tử (là hay, quý) và tiểu nhân(dở, tiện) Lúc đầu quân tử được dùng để chỉ người có địa vị tôn quý còn tiểu nhândùng để chỉ người không có địa vị trong xã hội Về sau quân tử được hiểu lànhững người có đức hạnh tôn quý còn tiểu nhân là người hèn hạ
Quân tử bao giờ cũng theo thiên lý nên tâm tính trong sáng, biết rõ điều hay,
dở, chuyên tâm làm việc nghĩa Người quân tử luôn tin tưởng ở bản thân mình,luôn lấy đạo nghĩa, lễ để hành động Còn tiểu nhân hành động theo nhân dục nêntâm tính mờ tối bị vật dục sai khiến, luôn lấy lợi làm tiêu chuẩn để hoạt động
Trang 311.2 3 Quan niệm về con người
Sở dĩ con người có tính thiện bởi vì ai cũng có sẵn trong tâm lòng “trắc ẩn”, “tu ố”,
“từ nhượng”, “thị phi” tức là có Nhân-Nghĩa-Lễ-Trí
Bản tính thiện này không tuyệt đối bất biến mà nó có thể bị hoàn cảnh xấulàm mất đi, do vậy con người phải giữ lấy tính thiện mà trời đã ban cho Để giữđược tính thiện thì con người cần phải “Tồn tâm, dưỡng tính”, phải có giáo dụcnếu không tính thiện sẽ dần mai một đi
Tuân tử lại cho rằng bản tính con người là ác, “nhân chi sơ, tính bản ác” tức
là con người có nhu cầu thoả mãn cơ sở tự nhiên của mình: “Mắt thích nhìn sắcđẹp, tai thích nghe điều hay, ăn thích ngon, ở thích nơi thoải mái”
Tuân tử cho rằng bởi tính con người là ác nên thánh nhân mới đặt ra Nhân,Nghĩa, Lễ để sửa cho tính thiện còn nếu đã thiện rồi thì cần gì phải đặt ra Nhân,Nghĩa, Lễ nữa
Ông cho rằng tính người có thể sửa được, do vậy ông đề cao vai trò của giáodục Tuy nhiên ông có hạn chế khi quan niệm giáo dục chỉ là sự tích góp cái thiện
Cáo tử thì lại cho tính con người không thiện cũng không ác, nó chịu sự tácđộng từ bên ngoài “Khơi về Đông thì chảy về đông”
Dương Hùng là người dung hoà tư tưởng của Mạnh tử và Tuân tử khi quanniệm tính người là thiện ác lẫn lộn
Đổng Trọng Thư thì quan niệm tính con người có 3 loại: Thánh nhân (quýtộc, vua chúa), trung nhân (quan lại), đấu thưng (người lao động)
Hàn Dũ cho “tính tam phẩm”: thượng phẩm, trung phẩm, hạ phẩm
Trang 32Tóm lại, đây là vấn đề được bàn luận xuyên suốt trong lịch sử phát triển Nhogiáo.
b Các mối quan hệ của con người.
Nho giáo đề cao mối quan hệ đạo đức, chính trị, xã hội của con người.Khổng tử nhấn mạnh 2 mối quan hệ: Quân thần (xã hội) và phụ tử (gia đình)
Mạnh tử quan niệm con người phải có “Ngũ luân”: quân thần (hữu nghĩa),phụ tử (hữu thân), phu phụ (hữu biệt), trưởng ấu (hữu tự), bằng hữu (hữu tín)
Hán nho đề cao “Tam cương”: quân thần, phụ tử, phu phụ (từ đây nảy sinh
ra tam tòng)
c Đạo làm người
Khổng tử đề cao Nhân và Lễ
Nhân là phạm trù trung tâm trong học thuyết chính trị - xã hội của Khổng
Tử Trong Luận ngữ đã nhiều lần ông nói về điều nhân Nhưng quan niệm củaông về nhân không nhất quán Tuỳ theo năng lực, phẩm hạnh của học trò mà ônggiảng giải về nhân khác nhau Nhưng tựu chung lại nhân được hiểu với 3 nộidung sau đây:
Trước hết nhân được hiểu là yêu người, thương người
Khi học trò Phàn Trì hỏi về nhân ông trả lời: “ái nhân” Theo ông người cónhân thì luôn yêu người, yêu vật, muốn cho vạn vật tốt tươi, lòng mong muốn ấy
là hoàn toàn tự nhiên, không miễn cưỡng, không điều kiện; tinh thần sáng láng,trong lòng an lặng, ứng xử ra ngoài thì chí thiện, chí công Còn người bất nhân thìtâm trí luôn vì mình, tinh thần mờ tối, hành vi độc ác, yêu ghét bất minh…
Khi học trò Trọng Cung hỏi về nhân, ông trả lời: “Kỷ sở bất dục, vật thi ưnhân” (điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác), “Kỷ dục đạt nhiđạt nhân” (mình muốn thành đạt thì cũng giúp người thành đạt) “Kỷ dục lập nhi,lập nhân” (mình muốn lập thân thì cũng giúp người lập thân)
Trang 33Nhưng tư tưởng này lại gắn liền với sự phân biệt trên, dưới, thân sơ, quýtiện.
Nhân còn là sự tôn trọng các nguyên tắc kỷ cương xã hội một cách tự giác Khi học trò Nhan Uyên hỏi về nhân, ông trả lời: “Khắc kỷ phục lễ vi nhân”(sửa mình trở lại theo lễ là nhân) Với mỗi người nhân là cái gốc để phân biệtphải trái, hay dở (phù hợp với đạo nhân là phải, là hay, trái với đạo nhân là xấu,
là dở)
Đạt đến điều nhân là đạt đến đạo người quân tử Chỉ có người quân tửmới có nhân, còn kẻ tiểu nhân (nhân dân lao động) thì không có nhân Ông chorằng người quân tử phạm vào điều nhân thì có thể có, chứ chưa có kẻ tiểu nhânlàm được điều nhân
Lễ được Khổng tử rất coi trọmg Theo ông, sở dĩ xã hội loạn lạc là do “Lễnhạc hư hỏng”, vua không ra vua, cha không ra cha, con không ra con nên thiên hạ
“vô đạo” Do vậy cần phải khôi phục lại Lễ mà cụ thể là Lễ nhà Chu Khi thựchiện Lễ cần phải Thành và Kính
Mạnh tử quan niệm con người có “Tứ đoan” là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí Ôngcho rằng người quân tử phải có Nhân Lễ, Dũng
Hán nho quan niệm con người có “ngũ thường” là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí,Tín Họ coi đây là 5 yếu tố cần thiết để thực hiện “Tam cương” Từ “Ngũ thường”thể hiện thành “Trung”, “Hiếu”
Hiếu là một đức tính quan trọng trong quan niệm của nhà nho Người cóhiếu trước hết phải nuôi cha mẹ với lòng thành kính, khi cha mẹ còn thì không baogiờ làm điều gì khiến cha mẹ phiền lòng Trong hiếu có 2 điều chú ý là “vô vi” và
“vô cải” Vô vi là xử cảnh thường thì thờ cha mẹ không trái lễ, vô cải là xử cảnhbiến không thay đổi ngay cái đạo của cha mẹ Khổng tử đề cao chữ Hiếu song ôngkhông tuyệt đối hoá nó mà phận làm con khi thấy cha mẹ làm điều trái đạo phải lựa
Trang 34lời khuyên ngăn, phải cung kính, hiếu thảo khuyên giải cha mẹ dần Không đượclàm điều gì có hại đến danh tiết của cha mẹ Khi cha mẹ mất, muốn thay đổi mộtviệc gì đó cha mẹ đã làm thì phải đợi hết 3 năm tang rồi hãy thay đổi.
Vậy Đạo là gì? Theo Lão Tử, Đạo là cái vô cùng, vô tận, vô thuỷ, vôchung, là cái vô cùng bé, nhưng cũng vô cùng lớn, bao trùm tất cả, không nghethấy, không gọi được tên, không nhìn thấy, nhưng lại là cơ sở căn nguyên sinh ra
và biến hoá của vạn vật (Ông viết: “có một vật hỗn độn mà nên, sinh ra trước trờiđất, vừa yên lặng (vô thanh) trống không (vô hình), đứng một mình mà khôngthay đổi, lưu hành khắp nơi nơi mà không mỏi, là mẹ của vạn vật trong thiên hạ,không biết gọi là gì, tạm gọi là Đạo”.)
Trang 35Như vậy, có thể xem Lão Tử coi Đạo là trật tự, là quy luật của giới tựnhiên, khi ông khẳng định: “người theo quy luật của đất, đất theo quy luật củatrời, trời theo quy luật của đạo, đạo theo quy luật của tự nhiên”.
Trên cơ sở coi Đạo là tính quy luật của tự nhiên Lão Tử đã gián tiếp phủnhận sự tồn tại của thần thánh, cho rằng “tính tự nhiên của vạn vật có thể làm choquỷ thần không thể tác quái và sự tác quái của quỷ thần không thể hại người”
2.2.Tư tưởng biện chứng sơ khai:
Theo Lão Tử bất kể sự vật, hiện tượng nào cũng bao hàm những mặt đốilập Các mặt đối lập này là cơ sở, tiền đề, điều kiện tồn tại của nhau, chúng quyđịnh lẫn nhau, không có mặt này thì không có mặt kia và ngược lại VD: các mặtđối lập như âm – dương, hữu – vô, khó – dễ, trường - đoản, cao – thấp, tốt – xấu,trắng - đen, phúc – hoạ… Nếu trừ bỏ mặt này thì mặt kia cũng mất và ngược lại
Và ông khẳng định các mặt này có thể chuyển hoá lẫn nhau Chuyển hoábằng cách phát triển đến tận cùng thì xoay ngược trở lại Vì vậy muốn cho mộtvật suy tàn thì trước hết làm cho nó hưng thịnh đến tột cùng và ngược lại Đây làquan niệm máy móc của Lão Tử về chuyển hoá như là vòng tuần hoàn khép kín,
mà không thấy được sự chuyển hoá của các mặt đối lập là quá trình đấu tranh giảiquyết mâu thuẫn để cái mới, cái tiến bộ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu Vì thếtheo ông “cái hoạ đã ở trong cái phúc, cái phúc là chỗ nương náu của cái hoạ,khuyết khắc tròn, cong khắc thẳng, trũng khắc đầy, cũ khắc mới…” (VD: Mộtông già mất một con ngựa đực (hoạ) mấy hôm sau nó về kéo theo một con ngựacái (phúc), con trai ông cưỡi ngựa ngã gãy chân (hoạ), vì ngã gãy chân khôngphải đi bộ đội (phúc)… Như vậy thì phúc, hoạ luôn luôn chuyển hoá lẫn nhau
- Nhận thức luận: Mang tính chất duy tâm, tiên nghiệm.
Trang 36+ Ông phủ nhận vai trò của cảm giác, của kinh nghiệm và thực tiễn, chorằng con người không cần ra khỏi nhà cũng biết được thiên hạ làm gì, không cầnnhìn qua cửa sổ cũng biết được giới tự nhiên ra sao?
+ Muốn nhận thức đúng chỉ cần bằng tưởng tượng, bằng trực giác vì theoông cái danh (khái niệm) không nói ra mới là cái danh vĩnh hằng, cái danh đúngnhất
+ Ông đã tuyệt đối hoá tính tương đối của tri thức, cho rằng cái danh (kháiniệm) chỉ là tương đối, tạm thời, có giới hạn chứ không phải là tuyệt đối, bởi mọi
sự vật luôn luôn biến đổi Theo ông sự biến đổi này không phải là hỗn độn màtuân theo những quy luật nhất định Đó là “luật quân bình” và “luật phản phục”
Luật quân bình: Là luôn giữ cho vận động được thăng bằng, trung dung,
không thái quá Cái gì khuyết sẽ tròn, cái gì cong sẽ thẳng, cái gì vơi sẽ đầy, cái
gì cũ sẽ mới… Với luận đề nổi tiếng: “Xén bớt chỗ thừa, vá lấp chỗ thiếu” Nếu
vi phạm quy luật này sẽ phá vỡ trạng thái cân bằng của vũ trụ, làm cho mọi vật sẽrối loạn, trì trệ (VD: Nhón gót lên thì không đứng vững, xoạc chân ra thì khôngbước được, tự xem mình là sáng thì không sáng, tự xem mình là chói thì khôngchói)
Luật phản phục: Là phản ánh sự biến hoá của vạn vật theo vòng tuần
hoàn khép kín, bất tận ví như bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, hiện tượng ngàyđêm… sự biến đổi đó cuối cùng lại trở về với đạo, trở về với chính bản tính tựnhiên, hài hoà không bất cập Đây là hai quy luật nghiêm ngặt mà bất cứ sự vật,hiện tượng nào tồn tại cũng không nằm ngoài 2 quy luật đó Như vậy tri thức chỉ
là cái đúng của ngày hôm nay
2.3 Quan điểm về chính trị – xã hội:
Ông cho rằng nguyên nhân của xã hội loạn là do đạo người là “hữu vi” tức
là làm việc gì cũng có chủ tâm, chủ ý Chẳng hạn, Nhà nước chủ trương trọng
Trang 37người hiền tài làm cho dân tranh nhau làm người hiền, tài sinh ra dối trá, lừa gạtlẫn nhau dẫn đến chiến tranh; xã hội trọng của cải nên sinh ra trộm cắp, pháp luậtcàng nhiều thì trộm cắp càng lắm Muốn cho xã hội trở về yên bình thịnh trị thìphải thực hiện đạo “vô vi”.
“Vô vi” theo nghĩa đen của từ này là không làm gì Nhưng theo Lão Tử thì
vô vi có nghĩa là cách sống hoà nhập với tự nhiên, thuận theo tự nhiên không canthiệp vào sự vận hành của các sự vật khác, chấp nhận và thích ứng với mọi hoàncảnh
Vô vi còn được hiểu là sự tự do tuyệt đối, không bị ràng buộc vào bất cứ ýtưởng, dục vọng, đam mê nào cả, là không đánh mất mình
Như vậy vô vi không có nghĩa là không làm gì, mà làm một cách tự nhiên,không có chủ tâm, chủ ý
Để thực hiện vô vi theo ông phải làm cho dân ngu đi (cần phải có trái timngu; học ở những người không học) Bởi theo ông hiểu biết nhiều thì sẽ khó trị.Ông chủ trương đưa xã hội trở về thuở ban đầu (xã hội cộng sản nguyên thuỷ) đểcon người sống ở trạng thái tự nhiên, nguyên thuỷ, không ham muốn, không dụcvọng, không thể chế, không luật pháp, không ràng buộc bởi các tập quán đạo đức,không cần tri thức, không cần văn hoá; Ông chủ trương xây dựng một xã hội thắtnút, khép kín, nước nhỏ, nhân dân các nước này không qua lại với nhau mặc dù
có thể nghe thấy tiếng gà gáy, chó sủa của nhau
Ông chủ trương quy mềm, bất tranh, khiêm hạ
Theo ông, sở dĩ phải quy mềm vì thường mọi vật cứng thì chết mà mềm thìsống, ví như con người lúc sống thì mềm mại, tươi tốt, lúc chết thì cứng đơ; câycối khi sống thì xanh tươi, khi chết thì khô cứng…
“Bất tranh” tức là không tranh giành thì được nhiều nhất, vì muốn ở trên aithì hãy ở dưới họ, họ sẽ tôn mình lên, muốn đi trước ai thì hãy lùi lại sau họ, họ
Trang 38sẽ nhường mình đi trước… Như vậy, là mềm thắng cứng, yếu thắng mạnh, nhuthắng cương Đây là triết lý sống của Lão Tử Nó tỏ rõ quan niệm bi quan, bấtlực, không muốn đấu tranh, phù hợp với lập trường giai cấp của ông (ông xuấtthân từ tầng lớp quý tộc nhỏ).
“Khiêm hạ” tức là điềm đạm Ông coi chiến tranh là trái với đạo của tựnhiên, là tàn bạo và đại hoạ cho xã hội Theo ông chẳng có gì là vinh hay nhụckhi thắng hay bại trong chiến tranh, đó là việc chẳng lành, không phải là việc củangười quân tử
Học thuyết “Kiờm ỏi”: Mặc tử trích dẫn tư tưởng Nhân nghĩa của Nho gia, tuynhiên cách hiểu về Nhân nghĩa có phần khác Nho Theo ông, Nhân nghía là Kiêm ái, tức
là mọi người trong thiên hạ ai cũng phải yêu mến kẻ khỏc bằng nhau, khụng phõn biệt.Ông dùng 3 chương để bàn về Kiêm ái Đầu tiên ông đưa ra sự khác nhau giữa “Biệt” và
“Kiêm” Theo đó, người chủ trương Biệt sẽ cho rằng: lo cho bạn cũng như lo cho chínhmỡnh, chăm sóc cha mẹ bạn cũng như chăm sóc cha mẹ mỡnh là điều vô lý, và những
Trang 39người chủ trương này sẽ không làm được việc gỡ lớn lao cho bạn bố Người chủ Kiêmcho rằng: Phài lo cho bạn cũng như lo cho mỡnh, chăm sóc cha mẹ bạn cũng như chămsóc cha mẹ mỡnh Từ đó ông đặt câu hỏi: Nguyên tắc Biệt và Kiêm, cái nào đúng, cáinào sai?
Ông dùng nguyên tắc “tam biểu” để xem nguyên tắc nào đúng sai Theo ông, mọinguyên tắc đều phải chứng nghiệm bằng ba biểu “gốc, nguyên và dụng” “Lời nói cómẫu phải có gốc ở chí Trời quỷ cùng ở việc của thánh vương đời xưa”, sau đó “phải xét
sự thật ở trước tai mắt trăm họ”, cuối cùng “phải đưa ra làm việc hỡnh chớnh xem cú lợicho nhà nước trăm họ hay không” Trong đó, biểu thứ ba là quan trọng nhất “Lợi chonhà nước trăm họ” là tiêu chuẩn để Mặc tử đoán định tất cả giá trị Đây là tiêu chuẩn đểchứng tỏ sự cần thiết của “Kiêm ái” Từ đó ông chứng minh sự hợp lý tuyệt đối củaKiêm ái như sau “Người nhân làm việc ắt vụ cầu lấy điều lợi, trừ điều hại cho thiên hạ.Những điều hại của thiên hạ thời nay, điều nào lơn hơn cả? Như nước lớn đánh nướcnhỏ, nhà lớn cướp nhà nhỏ, mạnh lấn yếu, đông hiếp ít, láu lừa ngu, sang khinh hèn, đó lànhững điều hại lớn cho thiên hạ Hóy tỡm nguồn gốc cỏc điều hại bởi đâu mà ra Cóphải bởi yêu người, làm lợi cho người mà ra chăng? Ắt nói rằng không phải, ắt là do ghétngười làm hại người mà ra Phân danh trong thiên hạ thỡ kẻ ghột người làm hại người là
“kiêm” hay “biệt”? Ắt phải nói là “biệt” Thế thỡ những kẻ “giao biệt” quả là hại lớn chothiờn hạ chăng? Cho nên biệt là trái Dùng “Kiêm” để thay cho “Biệt” Tại sao Kiêm lại
có thể thay cho biệt được, bởi vỡ “Nếu coi nước người như nước mỡnh thỡ lấy ai đi đánhnước người? Vỡ người cũng như vỡ mỡnh, nếu coi đô ấp của người cũng như đô ấp củamỡnh thỡ lấy ai đi chiếm đô ấp của người Vỡ người cũng như vỡ mỡnh, nếu coi nhàngười như nhà mỡnh thỡ lấy ai đi làm loạn nhà người ?” Từ đó ông khẳng định: các đô
ấp không đánh chiếm nhau, các nhà không làm loạn nhau thỡ đó là có lợi cho thiên hạ,
do vậy “Kiêm” là đúng đắn Ta thấy, Mặc tử dựa vào chủ nghĩa công lợi để chứng minhKiêm ái Đây chính là xó hội lý tưởng trong học thuyết của Mặc tử
4 Phỏp gia.
Trang 40Pháp gia phản ánh quan điểm và ý chí của giai cấp địa chủ vào thời Chiếnquốc Họ muốn dùng sức mạnh bạo lực để hoàn thành quá trình phong kiến hoá,kết thúc cục diện phân tranh, thống nhất đất nước, sắp xếp lại trật tự xã hội, tậptrung quyền lực về một mối Vì thế có thể nói tư tưởng của phái Pháp gia có ảnhhưởng lớn đến sự nghiệp thống nhất về chính trị của xã hội Trung Quốc.
Có thể nói tư tưởng về hình pháp có từ rất sớm trong xã hội Trung Quốc cổđại Ngay từ buổi đầu của nhà Chu đã có quan niệm về “lễ” và “hình” để quyđịnh cách ứng xử với 2 giai tầng trong xã hội là người quân tử và kẻ tiểu nhân:
“Lễ không xuống thứ dân, hình không lên đại phu”
Quản trọng (TK VI TCN) được coi là người đầu tiên bàn đến dùng phápluật để trị nước Ông có tư tưởng về “luật, lệnh, hình và chính”
+ Luật là để định phận cho mỗi người mà dân không tranh giành
+ Lệnh là ban bố công khai luật để dân biết mà thi hành
+ Hình là để trừng phạt người làm trái luật và lệnh đã ban hành
+ Chính là làm cho ngay thẳng, là hướng dẫn cho dân thuận theo lẽ phải
Sau đó là Lý Khôi – nguyên là tể tướng nước Nguỵ, sau sang phục vụ chonước Tần, đã xây dựng Bố “pháp kinh” gồm 6 cuốn:
+ Đạo pháp - ghi chép những quy định về việc trừng trị kẻ vô đạo
+ Tặc pháp - ghi chép những quy định về việc trừng trị kẻ chống đối
+ Tù pháp - ghi chép những quy định về việc ứng xử với tù nhân
+ Bổ pháp - ghi chép những quy định về bắt người và giam giữ
+ Cụ pháp - ghi chép về những chính sách cụ thể
+ Tạp pháp - bổ sung những điều chưa được nói đến trong luật pháp
Người có công xây dựng và phát triển tư tưởng của Pháp gia lên trình độmới phải kể đến Thận Đáo (370 – 290 TCN) người nước Triệu, Thân Bất Hại