1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Về nhà thơ thanh thảo

10 204 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 106 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những trang thơ của Thanh Thảo viết từ chiến trường miền Nam khói lửa, ác liệt, nóng bỏng, dữ dội, trần trụi đã tạo được nét riêng: “Cả thế hệ xoay trần đánh giặc Mặc quần đùi khiêng phá

Trang 1

Thanh Thảo tên thật là Hồ Thành Công, sinh năm 1946 tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi Ngay sau khi tốt nghiệp đại học ở Hà Nội, Thanh Thảo xung phong trở về miền Nam chiến đấu góp phần giải phóng quê hương Ở chiến trường miền Nam, Thanh Thảo làm phóng viên, công tác tại đài phát thanh Giải Phóng Sau ngày đất nước thống nhất, Thanh Thảo chuyên hoạt động trên lĩnh vực văn học nghệ thuật và báo chí

Qua vài nét tiểu sử cuộc đời của Thanh Thảo, chúng ta thấy có một sự trùng hợp lý thú: Năm 1946, Bích Khê “Nhà thơ có những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam” vĩnh biệt trần gian; Cũng

là năm Thanh Thảo cất tiếng khóc đầu đời chào quê mẹ Quảng Ngãi thân thương

Thanh Thảo xuất hiện trên bầu trời thi ca Việt Nam vào những năm cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Những trang thơ của Thanh Thảo viết từ chiến trường miền Nam khói lửa, ác liệt, nóng bỏng, dữ dội, trần trụi đã tạo được nét riêng:

“Cả thế hệ xoay trần đánh giặc

Mặc quần đùi khiêng pháo lội qua sông”

Thanh Thảo đã viết những câu thơ đầy cảm xúc, để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người yêu thơ:

“Phải thương lắm mới đi làm cách mạng

Phải thương nhiều hơn mới giữ nổi lòng tin

Nhưng phải thương đến tận cùng đau đớn

Mới làm người mẹ…”

Bằng tất cả tâm huyết của mình, Thanh Thảo đã từng viết:

“Hạnh phúc nào cho tôi

Hạnh phúc nào cho anh

Hạnh phúc nào cho chúng ta

Hạnh phúc nào cho đất nước…

Những câu hỏi chưa thể nào nguôi được

Mảnh đất hôm nay bè bạn chúng ta nằm

Nơi máu đổ phải sống bằng thực chất…

Nơi cao nhất thử ta lòng yêu nước

Thử lòng ta chung thủy vô tư

Nơi vỡ vụn bao mảnh đêm hèn nhát

Những gương mặt ngẩng lên lấp lánh chất người”

(Thử nói về hạnh phúc)

Không dừng lại với thành công bước đầu, Thanh Thảo luôn luôn trăn trở tìm cho mình một hướng đi, một nét riêng trên con đường sáng tạo thơ ca Theo dõi cuộc đời, sự nghiệp thơ văn của Bích Khê và Thanh Thảo, chúng ta càng thấy cả hai đều có điểm giống nhau Đó là, tính kiên trì, quyết liệt, sống hết mình với thơ, vì cái đẹp Cũng như Bích Khê trước đây, Thanh Thảo luôn luôn tìm tòi sáng tạo, đổi mới về hình thức, nghệ thuật, mở rộng biên độ sáng tác thơ Luôn luôn mới mẻ trong thơ, Thanh Thảo sáng tạo một cách phong phú, đầy tài hoa Chúng ta vô cùng kinh ngạc đến khâm phục về sức làm việc, sức viết của Thanh Thảo Từ năm 1977 đến năm 2002, chưa kể những tác phẩm thơ lẻ, báo chí, văn học khác, chỉ tính riêng trường ca Thanh Thảo đã viết và xuất bản 12 tập trường ca Gồm: Những người đi tới biển (1977), Trẻ con ở Sơn Mỹ (1978), Dấu chân qua trảng cỏ (1980); Nghĩa sĩ Cần Giuộc (1980), Bùng nổ mùa xuân (1982), Đêm trên cát (1983), Khối vuông rubic (1985) Một trăm mảnh gỗ vuông (1988), Từ một đến một trăm (1988), Những ngọn sóng mặt trời (1994), Trò chuyện với nhân vật mình (2002), Cỏ vẫn mọc (2002)

Mỗi tập trường ca của Thanh Thảo là một khám phá mới Nhiều nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình văn học đã gọi: Thanh Thảo là ông vua trường ca Đối với thơ nói riêng và trường ca của Thanh Thảo nói chung, chúng ta càng đọc nhiều lần càng thấy hay, thấm đẫm, đầy chất thơ Như những vì sao trong đêm, chúng ta càng nhìn càng thấy sáng và rực sáng hơn Khác với những tác giả cùng thời, trường

ca của Thanh Thảo là những bản giao hưởng hoành tráng với nhiều cung bậc, ngữ nghĩa đa dạng, độc đáo và đầy thông minh Thanh Thảo đã đưa hơi thở thời đại, hơi thở Việt Nam vào trường ca của mình Và anh đã thành công Thanh Thảo đã xác lập, khẳng định vị trí của mình trong nền thi ca Việt

Trang 2

Nam Năm 1979 Thanh Thảo nhận giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam, năm 1995 nhận giải thưởng văn học của Hội nhà văn Việt Nam, năm 2001 được trao giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật Thơ của Thanh Thảo đã trở thành tác phẩm kinh điển, được đưa vào sách giáo khoa giảng dạy trong trường học

Ngày xưa, trước khi qua đời, Bích Khê đã viết những câu thơ mang tính dự báo về sự nghiệp thơ của mình:

“Mây, tuyết, thời gian bay tợ nhạc

Hồn tôi đã thoát để tiêu dao

Những tờ thơ nát đầy hơi hám

Tay khách đa tình sẽ chuyển trao”

(Nấm mộ, thơ Bích Khê)

Ngày nay, trong Bài ca ống cống, Thanh Thảo đã viết những câu thơ như một tuyên ngôn nghệ thuật, khẳng định sự vĩnh cửu của nghệ thuật thơ ca và của cái đẹp:

“…Bài hát của hôm nay

Thô sơ mà hực sáng

Mang lẽ đời đơn giản

Nói được tới ngày mai…”

Hôm nay và mãi đến mai sau, tôi tin chắc một điều: Sự nghiệp thơ của Thanh Thảo mãi mãi trong xanh, ngọt ngào như giòng nước sông Trà và rực sáng như những vì sao trên đỉnh trời Thiên Bút phê vân của quê hương Quảng Ngãi"

Bài ca ống cóng của Thanh Thảo – bản tuyên ngôn nghệ thuật của các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ.

Văn học Việt Nam, trung đại cũng như hiện đại, có một vệt dài các bài thơ đưa chữ “ca” hoặc “ bài

ca” vào nhan đề Côn Sơn ca ( Nguyễn Trãi); Bài ca ngất ngưởng ( Nguyễn Công Trứ); Hương Sơn phong cảnh ca ( Chu Mạnh Trinh); Bài ca chúc Tết thanh niên ( Phan Bội Châu)… là những ví dụ

quen thuộc cho văn học trung đại Đến thời hiện đại Huy Cận đặt tên cho một tác phẩm của mình là

“Vũ trụ ca” Tố Hữu có hàng loạt bài ca -Bài ca mùa Xuân 1961; Bài ca lái xe đêm; Bài ca xuân 68; Bài ca xuân 71 Trong hàng ngũ các nhà thơ trẻ chống Mĩ, Phạm Tiến Duật cũng có một bài thơ hay có cái nhan đề gần hao hao với Bài ca ống cóng của Thanh Thảo Đó là bài Bài thơ về tiểu đội

xe không kính Điểm qua một số bài như vậy, ta dễ thấy bài nào cũng giàu cảm hứng khẳng định,

ngợi ca đối tượng của “bài ca” cả Nói cách khác, các bài thơ ấy đều giàu tính luận đề, giàu chất

tuyên ngôn Xem như vậy thì thấy nếu coi “ Bài ca ống cóng” là một tuyên ngôn nghệ thuật của thế

hệ các nhà thơ trẻ chống Mĩ không phải là không có “ con mắt tinh đời”

Thanh Thảo , tên khai sinh là Hồ Thành Công, sinh năm 1946, quê gốc ở Quảng Ngãi, học xong Đại học tổng hợp văn Hà Nội , anh vào thẳng chiến trường, và đội ngũ thơ trẻ chống Mĩ được bổ sung

thêm một cây bút đầy cá tính Những sáng tác thời chống Mĩ của anh sau 1975 được in trong “ Dấu chân qua trảng cỏ” (1978).

Vậy qua Bài ca ống cóng, nhà thơ trẻ Thanh Thảo muốn tuyên ngôn điều gì?

Hãy bắt đầu bằng nhan đề bài thơ Trong các trường hợp đã dẫn trên, trừ Bài thơ về tiểu đội xe không kính, có đối tượng nào của các bài ca mà không nghiêm trang đâu Này nhé, về thiên nhiên

được nâng hàng danh thắng thì có Côn Sơn, nơi non xanh nước biếc trước quan Tư đồ Trần Nguyên Đán về hưu trí, sau đến Nguyễn Trãi nghỉ ngơi khi đã trải qua mười năm kháng chiến gian khổ và mấy năm cúc cung tận tuỵ với triều đại mới dựng nhưng rồi bị nghi ngờ, xa lánh Ca ngợi Côn Sơn là

ca ngợi cái nhàn, ca ngợi tư tưởng an bần lạc đạo , tránh xa nơi miếu đường lắm mầm oan mối hoạ

Các “ bài ca” khác cũng như thế Ống cóng là tên gọi theo lối “nôm na”, khẩu ngữ hằng ngày để chỉ

Trang 3

một vật dụng không có gì làm quan trọng lắm: đó là các ống bơ , ống cóng nhỏ nhoi, tâm thường Việc đặt “ống cóng” sau bài ca do đó có một cái gì khác thường ngộ nghĩnh Việc đặt tên như vậy có

tác dụng khẳng định một chất thơ mới mà trước đó người ta có thể chưa nghĩ là thơ, nói gì đến ngợi

ca Nhan đề đã ấn định một giọng điệu tinh nghịch mà sâu lắng, vừa trẻ trung vừa dân dã cho cả bài thơ

Mà nói như vậy tức là nhà thơ đã tuyên ngôn về đề tài, chất liệu và cảm hứng mới cho thơ của mình và thế hệ mình Đó là thế hệ quân giải phóng Nên lưu ý một chút về tên gọi quân đội ta từ sau

1945 Cùng là quân đội nhưng thời kháng chiến chống Pháp được gọi là Vệ quốc đoàn, rồi Vệ quốc quân Chỉ đến thời chống Mĩ, sau sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam ( 12/1961) mới mang tên Quân giải phóng Mà vì sao “Hành trang quân giải phóng/ Đơn giản nhất trên đời” chả

lẽ đơn giản hơn cả thời đánh Pháp khi mà các anh Vệ quốc trở thành đồng chí nhau thì “ Áo anh rách vai, quần tôi có vài miếng vá” hay sao?

Câu thơ có ít nhất là hai nghĩa Nghĩa nổi dễ thấy là dù anh em bộ dội ta đang chiến đấu với tên đế quốc giàu tiềm lực kinh tế, quân sự bậc nhất hoàn cầu, lính tráng chúng được trang bị từ “ chân đến răng” ,cái gì cũng rặt nhãn hiệu “Made in U.S.A” cả nhưng quân giải phóng chúng ta vẫn thiếu thốn nhiều điều kiện sinh hoạt chẳng kém gì thời đánh Pháp Nhưng nghĩa chìm ở đây, là các chiến sĩ ra trận hôm nay trong hành trang tư tưởng, tâm lí của mình không còn vướng bận vào các kiểu mẫu văn chương nghệ thuật cũ đầy hào nhoáng, oai vệ theo hơi hướng chinh nhân, tráng sĩ mà các chiến sĩ –

thi sĩ thời chống Pháp còn một chút luyến lưu Trong chống Pháp, thơ Chính Hữu từ Ngày

về đến Đồng chí là một quá trình làm nhẹ thứ hành trang ấy đấy! Vì thế mà trong thời chống

Mĩ,Thanh Thảo khẳng định dứt khoát::

“Những tráng ca thuở trước -Còn hát trong sách thôi

Những thanh gươm , yên ngựa -Giờ đã cũ mèm rồi

Bài ca của chúng tôi -Là bài ca ống cóng

Tức là họ đang nói về đời sống thực , đang nói về những cái quen thuộc bình thường , gắn bó thiết thân với thế hệ họ Họ không còn vướng bận vào những khuôn sáo ràng buộc để làm

đèm đẹp cho thơ Đề tài thơ, chất liệu thơ, cảm hứng thơ của họ đã thay đổi Họ sẽ viết về những

cái thiết thực, về sự thực mà họ nếm trải

Một đoạn thơ dài từ “ Cơm chín vừa dỡ ra” đến “Ăn cơm ở ống này” là đoạn nói về cái công dụng vạn năng của ống cóng: nấu cơm, nấu canh , đun nước, Tức là không thiếu một chức năng nào trong đời sống sinh hoạt thời chiến Nếu là thời bình, để đảm trách bấy nhiêu công dụng ấy, trong nhà bếp chúng ta phải dùng bao nhiêu dụng cụ ? Nhưng chủ đích của đoạn thơ là nhằm nói đến

cái đời sống gian khổ mà lạc quan , anh hùng của thế hệ trẻ đánh Mĩ Đó là những cảnh hành quân

chiến đấu gấp gáp, có khi phân tán đội hình nhỏ lẻ, rồi thiếu thốn, bệnh sốt rét rừng hoành hành,… Chất lạc quan có phần dân dã ấy được thể hiện khéo léo qua lối thơ 5 chữ với nhịp thơ nhanh, ý thơ thẳng băng như một mũi tên lao đến đích, một giọng thơ hồn nhiên thoải mái không làm dáng , quanh

co Chất dân dã còn thể hiện qua việc vận dụng truyện cổ tích, tục ngữ , thành ngữ dân gian một cách

tự nhiên , đúng chỗ , khéo léo, có cải biến ( cái khó mở cái khôn trong tương quan với cái khó bó cái khôn, cái khó ló cái khôn; rồi đuổi ruồi không bay rồi tích Thạch Sanh và chiếc nồi cơm thần trong

truyện cổ)

“ Ngang lưng đeo ống cóng-Nồi Thạch Sanh đời nay

Trang 4

Bao anh hùng vụt lớn-Ăn cơm ở nồi này”

Khổ thơ cuối đoạn này quả thật có một sức khái quát về hình tượng những người anh hùng của thế hệ trẻ đánh Mĩ Dân tộc Việt Nam ta được nhà thơ Huy Cận khắc hoạ bằng hình ảnh mà

ai cũng tâm đắc: “ Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững

Lưng đeo gươm , tay mềm mại bút hoa

Trong và thật- sáng hai bờ suy tưởng

Rất hiên ngang mà nhân ái chan hoà”

Nhưng cũng không ai phủ nhận một hình ảnh bổ sung như hình ảnh của Thanh Thảo đã khái quát Họ đơn giản hơn “ Ngang lưng đeo ống cóng” nhưng cái vật đó là quý giá vô ngần “Nồi Thạch Sanh đời nay” và có tác dụng giúp thế hệ vượt qua mọi thử thách của cuộc chiến tranh, trở thành anh hùng, dũng sĩ , gánh trên vai sứ mệnh nặng nề của toàn dân tộc- chiến đấu và chiến thắng giặc Mĩ xâm lược

Chín câu cuối vang lên dõng dạc như một niềm tin bất diệt:

Tháng năm sẽ dần phai- Bao bài ca duyên dáng

Nhưng tôi biết từ đây -Như khắc vào đá tảng

Như vạch vào thân cây -Bài hát của hôm nay

Thô sơ và rực sang- Mang lẽ đời đơn giản-Nói được đến ngày mai…

Đó là niềm tin về cái hiện thực được phản ánh chân xác, niềm tin về đức tính lạc quan, phẩm chất anh hùng của những người lính trẻ được thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ dân dã, thô sơ , gần gũi nhưng mang hơi thở ấm áp của cuộc đời , lấp lánh , rực sáng lí tưởng khát vọng của một thế

hệ người Việt Nam đánh Mĩ nhất định sẽ tồn tại trong trí nhớ bạn đọc

Nhà thơ Đức H Hainơ từng so sánh hình tượng nhà thơ với cuộc sống như thần Ăngtê với Đất Mẹ Thần Ăngtê trở nên vô địch khi đặt hai chân trên Đất Mẹ và mất hoàn toàn sức lực khi bị Hecquyn nhấc bổng lên Nhà thơ cũng thế, nhà thơ chỉ thực sự cường tráng và dũng mãnh khi gắn liền với mảnh đất của đời sống hiện thực và trở nên bất lực khi tách rời cuộc sống và lơ lửng trên không Nhà phê bình Hoài Thanh từng nói đến một sức sống, sức truyền cảm mãnh liệt và quảng đại của thơ Phải chăng bí quyết của sức sống ấy là ở chỗ mà nhà thơ Thanh Thảo đã thay mặt cho thế hệ thơ

mình phát biểu trong bài thơ Anh không muốn tô điểm thi vị hoá mà muốn nói lên những gian khổ , hi sinh của cuộc đời người lính nhưng cao hơn vẫn là khát vọng, hoài bão của một thế hệ người cầm súng Họ là một thế hệ thật sự đi vào và ở giữa cuộc chiến tranh, họ giáp mặt với cuộc chiến đấu, với

kẻ thù và cái chết Họ viết về cuộc chiến đấu với cái nhìn , trải nghiệm của người trong cuộc /

THANH THẢO VÀ NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG THƠ

-Thạc sỹ Nguyễn Văn Dũng

Cũng như một số cây bút cùng thời với mình như Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, vào chiến trường, Thanh Thảo vừa tham gia chiến đấu vừa sáng tác văn học Và ông

Trang 5

cũng sớm khẳng định được vị trí của mình trên thi đàn thơ ca chống Mỹ Từ bài thơ đầu tay ra đời trong không khí rát bỏng của chiến trường, tới nay, thơ Thanh Thảo đã đi trọn chặng đường hơn ba mươi năm Hơn ba mươi năm ấy, Thanh Thảo đã trải qua không ít thăng trầm Nhưng nhà thơ vẫn luôn luôn chung thuỷ với cái nghiệp mà mình đã chọn Điều đáng trân trọng ở Thanh Thảo là ông đã đem đến cho thơ ca Việt Nam nhiều nét mới mẻ trên con đường hội nhập Không ngừng lao động sáng tạo, không ngừng tìm tòi đổi mới thơ ca, thơ Thanh Thảo đã thực sự chinh phục được bạn đọc nhiều thế hệ

1 Thơ Thanh Thảo trước 1975

Vào chiến trường năm 1971, năm 1972 Thanh Thảo viết Thử nói về hạnh phúc Bài thơ đến được tay Chế Lan Viên (người đang phụ trách trang thơ tạp chí Tác phẩm mới của Hội Nhà văn)

nhưng vì bài thơ có phần đau thương quá nên nhà thơ Chế Lan Viên chưa cho in Sau này, khi được

hỏi về bài thơ đầu lòng “duyên may phận rủi ấy” ấy, Thanh Thảo tâm sự: “Nó gây ngạc nhiên thì đúng hơn, vì nó viết rất thật về chiến tranh, về những hi sinh mất mát, về cả quan điểm của một người lính trẻ không chịu chết cho một tín điều mù quáng nào, mà chỉ chết cho đất nước của mình” Sau đó không lâu, Thanh Thảo viết và gửi đến toà soạn một chùm 13 bài thơ Mười ba bài thơ

của một người lính trẻ đã thực sự chinh phục nhà biên tập cẩn trọng Chế Lan Viên Và Chế Lan Viên

đã làm một công việc xưa nay chưa từng làm: cho in một loạt 13 bài thơ của người lính trẻ từ chiến

trường miền Nam gửi ra và “Thi đàn chống Mỹ từ đấy có Thanh Thảo” Chính những “quả đầu mùa” ấy đã làm nên gương mặt thơ Thanh Thảo trước năm 1975 như Thiếu Mai đã khẳng định: “Thơ Thanh Thảo có dáng riêng” Và cũng từ thời điểm ấy, Thanh Thảo đã đem đến cho độc giả “một thực đơn tinh thần mới mẻ và độc đáo”, làm phong phú thêm cho tiếng nói chung của thi

đàn thời chống Mỹ

Sự mới mẻ, độc đáo của thơ Thanh Thảo trước 1975 không phải ở đề tài hay cảm hứng Nhìn chung, các sáng tác của ông giai đoạn này vẫn hướng về vùng hiện thực mà văn học cả thời đại quan tâm: hiện thực chiến tranh cùng với những vấn đề nhân sinh được đặt ra trong đó Tuy nhiên, điều mà Thanh Thảo không nhoà lẫn với bất cứ một nhà thơ nào là cách phản ánh hiện thực với một cái nhìn, một giọng điệu rất riêng Là một người nghĩa khí, trung thực, yêu thiết tha quê hương đất nước và quý trọng vô ngần mạng sống của nhân dân, của đồng đội mình, Thanh Thảo đã chọn cho mình một

giọng thơ trữ tình đằm thắm, giàu “chất thực” và “chất nghĩ” (Chu Văn Sơn) Thơ Thanh Thảo giàu chất suy tư, chất triết lí và rất trí tuệ Nói như Thiếu Mai: “Thơ Thanh Thảo có dáng riêng Đọc anh,

dù chỉ mới một lần, thấy ngay dáng ấy…Thơ Thanh Thảo có khả năng gợi dậy những suy nghĩ của người đọc bởi vì thơ ấy là thơ của một tâm hồn giàu suy tưởng, giàu trí tuệ” Nhiều vần thơ của Thanh Thảo thấm thía chất suy tư trăn trở: “Ai đã viết Trường Sơn hùng tráng/ tôi muốn viết Trường Sơn im lặng” (Một trăm mảnh gỗ vuông) Bởi thế, thay vì phản ánh hiện thực chiến tranh một cách

sôi động và hoành tráng như một số cây bút khác, Thanh Thảo đã viết những vần thơ về chiến tranh

và bày tỏ những suy tư của bản thân về số phận của nhân dân, Tổ quốc, thế hệ những người lính với

mình trong cuộc chiến khốc liệt ấy Trong Thử nói về hạnh phúc, Thanh Thảo đã bộc bạch rất thật

những trăn trở của mình và của cả thế hệ:

chúng tôi không muốn chết vì hư danh không thể chết vì tiền bạc

chúng tôi xa lạ với những tin tưởng điên cuồng những liều thân vô ích

đất nước đẹp mênh mang đất nước thấm tự nhiên đến tận cùng máu thịt chỉ riêng cho Người chúng tôi dám chết ! đêm nay ai cầm tay nhau vào tiệc cưới

ai thức trắng lội sình

ai trầm ngâm viết những câu thơ thông minh

ai trả nghĩa đời mình bằng máu

Trang 6

Đây không phải là bài thơ đầu tay của Thanh Thảo nhưng có thể coi đó là bài thơ đầu lòng

nhiều “duyên may phận rủi” của nhà thơ-lính Thanh Thảo Tuy nhiên, đọc bài thơ còn rất “trẻ” ấy

của Thanh Thảo, ta có thể nhận thấy Thanh Thảo không bồng bột, nông nổi Trái lại, bài thơ lại thấm đẫm tinh thần mới của thời đại cùng với những suy nghĩ chân thành của ý thức cái tôi cá thể nhà thơ Người chiến sĩ ý thức rất rõ về giá trị cuộc sống và sinh mệnh của bản thân nhưng vẫn sẵn sàng hi sinh cho lí tưởng:

chúng tôi đã đi không tiếc đời mình (nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc) nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc

(Những người đi tới biển)

Đó là lời tuyên ngôn cho sự lựa chọn của cả thế hệ mình Một sự chấp nhận rất dứt khoát nhưng không hề đơn giản, một sự hi sinh lặng lẽ mà cao đẹp Anh và những người lính với

anh“không chết vì hư danh”, “không chết vì tiền bạc”, “xa lạ với những tin tưởng điên cuồng”,

“những liều thân vô ích” Sự lựa chọn của các anh là sự lựa chọn cho Tổ quốc: “đất nước đẹp mênh mang/ đất nước thấm sâu đến tận cùng máu thịt/… chỉ riêng cho Người chúng tôi dám chết!” (Thử nói về hạnh phúc) Và một khi đã lựa chọn như vậy, những băn khoăn chung – riêng sẽ không còn

nữa, những gian khổ hi sinh cũng trở nên bình thường trong suy nghĩ các anh Và trong cái khốc liệt của chiến tranh, người lính đã tìm được những giây phút riêng cho mình:

tôi gặp thằng bạn thân trong một chuyến bất ngờ đêm Mỹ Long hai đứa nằm lộ đất

trải dưới trời một tấm ni lông nơi khi chiều B52 bừa ba đợt nơi mấy năm rồi hố bom không đếm hết nơi tôi chợt thốt niềm mơ giản dị của mình

… chừng nào thật hoà bình

ra lộ Bốn trải ni lông nằm một đêm cho thoả thích thằng bạn tôi đăm đăm

nhìn một ngôi sao mọc trong hố bom nhoè nước đôi mắt nó lạ lùng mà tôi thấy được

chứa đầy một hố bom và một ngôi sao…

(Một người lính nói về thế hệ mình)

Rõ ràng Thanh Thảo đã nói về những gian khổ, những hi sinh trong chiến tranh một cách giản

dị Một “niềm mơ giản dị” của người lính nhưng lại nói lên được một khát vọng tự do đến cháy bỏng của cả dân tộc Đọc những dòng thơ trên, nhà thơ Boey Kim Cheng từng viết: “Đây là giây phút cảm động, là phút giải khuây đầy nhân bản trong sự kinh hoàng của chiến tranh, khi bản thân vượt ra ngoài giới hạn của sự chịu đựng để chia sẻ nỗi đau và hi vọng với người khác Ở mức độ cùng cực nhất, cái tôi không thu mình trong những mất mát của chính nó mà hướng tới những người khác, và

đó là giọng điệu mong manh nhưng quả quyết trong thơ chiến tranh của Thanh Thảo”.

Viết về chiến tranh, Thanh Thảo cũng không thể lảng tránh cái chết Tuy nhiên, cách nhìn về sự

ra đi của đồng đội ở Thanh Thảo có phần khác với những nhà thơ khác:

với người chết bình thường thời gian không quý nữa nhưng tôi biết các anh

đã cháy ruột cháy gan khi phải giữa đường nằm lại

Anh đọc được trong sự hi sinh của đồng đội mình sự ra đi không thanh thản Bởi cuộc đời họ là

cuộc đời chưa bao giờ yên nghỉ: “Nếu một ngày ta dựng những hàng bia/ xin hãy đề “nơi đây những cuộc đời chưa bao giờ yên nghỉ”” (Những người đi tới biển) Trong thâm tâm nhà thơ – lính Thanh Thảo, đồng đội vẫn dõi theo bước hành quân của các anh: “soi lối cho chúng tôi/ bằng ánh tân linh trong đêm tối” Và với Thanh Thảo, cuộc hành quân của những người lính hôm nay như được tiếp

Trang 7

thêm sức mạnh từ những người đi trước và là niềm tin cho mai sau Nhìn những dấu chân qua trảng

cỏ mà nhà thơ hình dung được sức mạnh đó trên từng gương mặt người:

ai đi gần ai đi xa những gì gửi lại chỉ là dấu chân vùi trong trảng cỏ thời gian vẫn âm thầm trải mút tầm mắt ta vẫn đằm hơi ấm thiết tha cho người sau biết đường ra chiến trường…

(Dấu chân qua trảng cỏ)

Cách nhìn hiện thực chiến tranh như thế đã làm nên nét độc đáo trong thơ Thanh Thảo, nói như

nhà thơ Paul Hoover: “Thanh Thảo đã xử lí một cách tuyệt đẹp sự màu nhiệm của cái hiện hữu và cái phi hiện hữu, của quá khứ và hiện tại… Ông viết với nỗi khát khao cực kì mãnh liệt về sự chứng nghiệm tuổi thơ ông, về cuộc chiến chống Mỹ và về những gì ngỡ đã khuất đi trong dĩ vãng” (lời tựa Thanh Thảo 1 2 3, nhà thơ Nguyễn Đỗ dịch).

Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan, trước 1975, những đóng góp của Thanh Thảo cho toàn bộ sự nghiệp văn học của dân tộc là chưa nhiều Ở giai đoạn sáng tác này, Thanh Thảo chưa có những tác phẩm đặc sắc cả trên phương diện nội dung và hình thức sáng tác Những bài thơ của Thanh Thảo ở giai đoạn này chủ yếu thiên về bộc bạch giãi bày cùng với những suy tư, trăn trở của một người lính mới bước vào hiện thực khắc nghiệt của chiến trường Nó chưa có sức khái quát cao cũng như chưa có nhiều khám phá trong tư duy thơ và chưa có những cách tân rõ rệt về hình thức

Cùng với suy nghĩ này, khi đọc tập thơ Thanh Thảo 1 2 3, Mai Bá Ấn ví các con số 1, 2, 3 được xếp

theo trình tự bậc thang trên tiêu đề tập thơ như các bước vận động và đổi mới tư duy thơ Thanh Thảo

Theo tác giả bài viết “1 2 3 của Thanh Thảo và ba bậc tư duy trong quá trình hiện đại hoá thơ ca” thì bậc thang thứ nhất thể hiện nấc thang đầu tiên của một lối tư duy thơ Ông viết: “Rõ ràng, cái giọng thơ táo bạo gai góc như là tuyên ngôn thơ chiến tranh của một thế hệ đã làm nên cái mới, cái

lạ của “Một người lính nói về thế hệ mình” nhưng tư duy thơ thì vẫn nằm nguyên trong cách diễn ý theo cảm xúc trình tự…” Nhận xét trên của tác giả Mai Bá Ấn đã chỉ ra được những chuyển biến

trong tư duy thơ Thanh Thảo trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Như vậy, thời kì sáng tác trước 1975 có thể xem là bước chuẩn bị quan trọng cho những giai đoạn sáng tác sau này của Thanh Thảo

2 Thơ Thanh Thảo từ 1975 đến 1985

Có thể khẳng định giai đoạn từ 1975 đến 1985 là thời kì sáng tác sung sức nhất của Thanh Thảo Sau chiến tranh, tác giả có được quãng lùi thời gian cần thiết để có một cái nhìn sâu hơn về những vấn đề mà ông đã nghiền ngẫm trong chiến tranh Thanh Thảo đã tìm đến trường ca và thể loại

này đem lại cho nhà thơ nhiều thành tựu Và ông được xem là “ông vua trường ca” (Chu Văn Sơn) Trường ca đầu tiên gây tiếng vang lớn đó là Những người đi tới biển (1976) Tiếp sau đó là một loạt 7 trường ca khác: Trẻ con ở Sơn Mỹ (1976 – 1978), Những nghĩa sĩ Cần Giuộc (1978 – 1980), Bùng nổ của mùa xuân (1980 – 1981), Đêm trên cát (1982), Trò chuyện với nhân vật của mình (1983), Cỏ vẫn mọc (1983), Khối vuông ru - bích (1984) Tám trường ca trong khoảng mười năm quả là một thành

tựu đáng nể đối với một nhà thơ Tuy nhiên, chỉ có 6 trường ca được xuất bản trước 1985, còn lại hai

trường ca Trò chuyện với nhân vật của mình và Cỏ vẫn mọc vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà mãi

đến năm 2002 mới được xuất bản Trong khoảng thời gian này, Thanh Thảo còn sáng tác khá nhiều

thơ ngắn nhưng chưa có tuyển tập riêng Chỉ có tập Khối vuông ru – bích xuất bản năm 1985 cùng với trường ca cùng tên của nhà thơ Sau này, Thanh Thảo cho xuất bản tập thơ Thanh Thảo 70, tuyển

những bài thơ được tác giả viết trong những năm 70 của thế kỉ trước Đây là kết quả của một đời lao

động nghệ thuật đầy đam mê và nghiêm túc của một nhà thơ “giàu nghĩa khí” Mỗi sáng tác của

Thanh Thảo đều thể hiện một phong cách thống nhất, độc đáo của một cây bút ham cách tân, dám dấn thân trên con đường cách tân văn học Thơ Thanh Thảo thực sự đã góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hoá thơ ca Việt Nam hiện đại

Trang 8

Đóng góp mới mẻ của thơ Thanh Thảo trước hết được thể hiện qua phương diện nội dung.

Thanh Thảo là nhà thơ của “nghĩa khí”, của “chất người” lấp lánh Ông đam mê đi tìm kiếm“chất người” của những con người lấy “nghĩa khí” làm lẽ sống Bởi vậy, không ngẫu nhiên mà Thanh

Thảo viết nhiều và viết rất hay về nhân dân, về thế hệ mình, về mẹ, về những nhân vật đã làm nên lịch sử, văn hoá của dân tộc và nhân loại Đó là nhân dân trong cuộc trường chinh gian khổ hy sinh

cuộc đời mình trên từng tấc đất “địa hình” để làm nên Tổ quốc Đó là những người lính cùng thế hệ

nhường nhau một giọt nước mát cuối cùng để tiếp sức cho đồng đội trong cuộc chiến đấu ác liệt với

kẻ thù: “buổi sáng ấy tôi bước vào tuổi 25/ ở đường dây 559 – trạm 73/ ngày sinh nhật bắt đầu bằng cơn sốt/ cổ đắng khô ngồi thở trên đỉnh dốc/ bạn mở bi đông nhường hớp nước cuối cùng/ hớp nước cuối cùng giữa cơn sốt đầu tiên/ ngày sinh nhật tuổi 25 mình được uống” (Những người đi tới biển).

Đó là những người mẹ với tấm lòng mênh mông như“sông Hồng trằn sóng đỏ” thầm lặng hi sinh cả

cuộc đời để yên bước chân con Đó là người anh hùng Trương Định ngoảnh mặt với triều đình bạc nhược để đứng về phía nhân dân để cùng họ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng bảo vệ mảnh đất cha ông để lại Đó là “nhà thơ làm loạn” Cao Bá Quát, nhà thơ mù “dùng bút đâm gian” Nguyễn Đình

Chiểu luôn đứng về phía nhân dân để đấu tranh cho “tự do” và “sự thật” Đó còn là Lor-ca của đất

nước Tây Ban Nha, là Maiacốpxki, A.Puskin của nước Nga,… những nhà thơ giàu nghĩa nặng tình với quê hương, đất nước và cả cuộc đời cống hiến cho nghệ thuật Những con người ấy, dù có tên hay không tên, là người của thời hiện tại hay quá khứ, là người Việt Nam hay một đất nước nào trên thế

giới đều gặp nhau ở vẻ đẹp của “chất người nghĩa khí”, “chất người” “lấp lánh”.

Cùng với việc khám phá vẻ đẹp của “chất người” “lấp lánh”, thơ Thanh Thảo còn đặt ra nhiều vấn đề có tính phổ quát của cuộc sống: vấn đề được – mất, niềm vui – nỗi đau, cá nhân – cộng đồng, hạnh phúc, nhân tính, nghệ thuật,… Khi đề cập đến những vấn đề này, Thanh Thảo không chỉ dừng

lại ở khám phá, phản ánh mà còn thể hiện những suy tư, trăn trở và dự báo bằng một cảm quan tinh tế

và nhạy bén Dù viết về cái đẹp hay cái xấu, cái ác hay cái thiện, hạnh phúc hay đau khổ, được hay

mất,… Thanh Thảo luôn tin tưởng tuyệt đối ở mỗi “phẩm chất người”, tin tưởng ở lòng tốt của con

người, tin tưởng ở cái đẹp, ở sức sống mãnh liệt, trường tồn của nghệ thuật, dĩ nhiên là nghệ thuật chân chính

Cùng với những đóng góp về nội dung, thơ Thanh Thảo giai đoạn này luôn thể hiện những đột phá táo bạo trong cách tân nghệ thuật Điều này đã góp phần làm nên nét độc đáo trong phong cách

thơ Thanh Thảo Với nhiều trường ca trong giai đoạn này, Thanh Thảo đã tìm cho mình một“lãnh địa’ để cách tân, đó là trên phương diện cấu trúc tác phẩm Mỗi trường ca của Thanh Thảo là một

sáng tạo trong cấu trúc và xử lý ngôn ngữ Qua các trường ca của Thanh Thảo, người đọc dễ dàng nhận thấy trường ca của ông không thiên về tổ chức câu thơ theo mạch cảm xúc của thơ ca truyền thống, đồng thời nhà thơ cũng khước từ kiểu cấu trúc tác phẩm theo một “vỏ” tự sự đơn giản Các

kiểu kết cấu mà Thanh Thảo thường sử dụng trong các tác phẩm của mình là: kết cấu ru-bích, kết cấu giao hưởng, kết cấu điện ảnh,… Nhờ vậy mà hầu hết trường ca Thanh Thảo không sa vào bộn bề chi

tiết hiện thực, không sa vào kể lể mà đào sâu vào tư duy, mang tính triết luận sâu sắc Điều đáng ghi nhận ở Thanh Thảo trên con đường tìm tòi đổi mới hình thức biểu hiện của thơ ca là việc ông phát

hiện và thử nghiệm một cấu trúc hoàn toàn mới cho thơ: “Ru-bích – đó là cấu trúc của thơ” (Khối vuông ru-bích) Đó chính là bản lĩnh của một cây bút dám dấn thân vì nghệ thuật: “Người ta yêu những người cố mở đường mà thất bại, yêu những người biết thất bại mà dám mở đường Bởi vì những người đó đã nghĩ đến sự tiến bộ của nghệ thuật”” (Thanh Thảo - Thơ chính là số phận).

Sự tìm tòi đổi mới trong thơ Thanh Thảo còn thể hiện qua những tìm kiếm, thể nghiệm và đổi

mới về mặt ngôn từ, giọng điệu Xuất phát từ lối tư duy thơ giàu chất nghĩ, chất thực, ngôn từ trong thơ Thanh Thảo có độ nén năng lượng rất cao Thanh Thảo đặc biệt ghét kiểu “chuốt chữ”cầu kì và

cố gắng khai thác thứ ngôn ngữ “thô sơ mà hực sáng” (Thanh Thảo) của nhân dân Trong thơ của

Thanh Thảo, ngôn ngữ đời thường Nam Bộ, ngôn ngữ phổ thông của nhân dân được tiếp nhận một cách tinh tế và sâu sắc Bằng tài năng và bản lĩnh của mình, Thanh Thảo đã biến ngôn ngữ của nhân dân thành những công trình nghệ thuật tuyệt mỹ Đó là thứ ngôn ngữ giàu sức gợi, giàu chất nghĩ và

Trang 9

chất trí tuệ Và những tác phẩm thơ của Thanh Thảo lại góp phần làm giàu thêm cho ngôn ngữ của nhân dân

3 Thơ Thanh Thảo từ 1986 đến nay

Nếu so với giai đoạn sáng tác trước đó, thì đây là giai đoạn sáng tác có phần dịu lắng của Thanh Thảo Không còn sáng tác ồ ạt như thời kì chiến tranh vừa kết thúc Sau khi sáng tác

xongKhối vuông ru – bích, chính Thanh Thảo tưởng như mình không còn gì để viết nữa Nhưng

chính“bản tính thông minh khôi hài hóm hỉnh của ông đã dìu ông ra khỏi trạng thái rỗng của người vừa viết xong một tác phẩm tâm huyết Nó dìu ông, hay nói đúng hơn, nó đã bốc ông ra khỏi chính sự

ngộ nhận tài năng để đem ông trở lại với khả năng lao động tìm tòi đích thực đầy khốc liệt”(Trung

Trung Đỉnh) Như vậy, với bản chất của một cây bút ham tìm tòi đổi mới, Thanh Thảo đâu chịu đứng

yên một chỗ Thanh Thảo “vẫn trên đường” (Nguyễn Việt Chiến) mà mình đã chọn Ông vẫn âm

thầm đổi mới, đem đến những cái mới cho thơ ca, cho nghệ thuật Với năm tập thơ được xuất bản

(gồm cả một số sáng tác trước 1975): Tàu sắp vào ga (1986), Bạch đàn gởi bạch dương (1987), Từ một đến một trăm (1988), Thanh Thảo 1 2 3 (2007), Thanh Thảo 70(2008) và một trường ca viết về Trường Sơn vừa ra mắt bạn đọc – trường ca Mêtro, Thanh Thảo tiếp tục có những đóng góp quan

trọng cho nền văn học của dân tộc Ngoài thơ ca, ở giai đoạn này Thanh Thảo còn viết tiểu luận, phê

bình văn học Ba tập tiểu luận phê bình: Ngón thứ sáu của bàn tay (1995), Mãi mãi là bí mật (2004), Trò chuyện với dòng sông (2009) là minh chứng hùng hồn cho quá trình lao động nghệ

thuật không biết mệt mỏi của Thanh Thảo Điều đáng chú ý ở nhà thơ – nhà phê bình Thanh Thảo là

ông viết phê bình như sáng tác văn học Trong bài viết “Không đề Thanh Thảo”, tác giả Nguyễn Đỗ nhận xét khá xác đáng về cách viết tiểu luận này của Thanh Thảo: “Tôi cho rằng điều mà Thanh Thảo có được trong tập sách này – cái thành công nhất – chính là anh đã được sáng tác, anh viết tiểu luận như là một hối thúc bên trong, giống khi làm thơ” Ở một chỗ khác, tác giả viết tiếp: “Chưa

có ai gọi viết tiểu luận là sáng tác nhưng với tôi tiểu luận của Thanh Thảo là một sáng tác, hay rõ hơn là một biến thái của sáng tác”.

Tư duy thơ Thanh Thảo đến giai đoạn này đã tiến thêm một bậc nữa Nó được ví như nấc

thang thứ ba trong hành trình vận động tư duy thơ của ông Trong bài viết “1 2 3 của Thanh Thảo và

ba bậc tư duy trong quá trình hiện đại hoá thơ ca”, tác giả Mai Bá Ấn cho rằng: “Bậc 3 là 13 bài thơ còn lại được anh sáng tác gần đây với một ý thức bứt phá rõ nét, đẩy thơ Việt tiệm cận cùng những trào lưu thơ hiện đại thế giới” và “…tư duy thơ đã nghiêng hẳn về lối sáng tác của chủ nghĩa hậu hiện đại Chính lối tư duy này đã khiến Thanh Thảo cấu trúc tác phẩm thơ hoàn toàn mở, nhằm

“rủ rê” sự tham gia của người tiếp nhận theo quan niệm “cái chết của tác giả” của chủ nghĩa hậu hiện đại” Đây có thể xem là bước đột phá táo bạo của Thanh Thảo trong việc đổi mới hình thức thơ

ca Những bài thơ của ông thường tạo ra rất nhiều“không gian rỗng” để người đọc bị cuốn vào câu

chữ mà tham gia đồng sáng tạo với nhà thơ Thơ Thanh Thảo thường mở ra nhiều trường liên tưởng khác nhau, tạo ra độ mờ nhoè về nghĩa Và người đọc cũng rất “tự do” trong việc tiếp nhận bài thơ

Mai Bá Ấn đã đánh giá khá cao lối tư duy thơ của Thanh Thảo trong những bài này: “Ở bậc tư duy thơ này, ta còn thấy rất rõ việc từ bỏ cách phản ánh “đại tự sự” của chủ nghĩa hiện đại để đi vào phản ánh “tiểu tự sự” của chủ nghĩa hậu hiện đại” Mặc dù khái niệm “hậu hiện đại” theo Thanh Thảo là còn “mù mờ” nhưng những đóng góp của ông trên bình diện hiện đại hoá thơ là điều mà ai

cũng nhận ra rất rõ

Về mặt nội dung, thơ Thanh Thảo giai đoạn này chủ yếu hướng vào hiện thực cuộc sống đời thường với những trăn trở về con người và những vấn đề nóng hổi của cuộc sống Tuy nhiên không vì thế mà thơ Thanh Thảo bớt đi tính trí tuệ Ngược lại, chất trí tuệ trong thơ ông được nâng lên một tầm khái quát mới Những vấn nạn của cuộc sống, sự giả dối của con người, cùng bao nhiêu cái xấu, cái

ác nhan nhản tồn tại xung quanh khiến Thanh Thảo phải chạnh lòng: “Có những lúc ra về lòng rỗng không/ vì phải gặp trong cơ quan một thằng cặn bã” (Tôi chào đất nước tôi) Nhưng dù thế nào thì Thanh Thảo cũng tin tưởng vào “một lòng tốt bình thường” của con người:“vì tôi tin mãi mãi con người là bí mật/ mãi mãi chúng ta không đi hết bản thân mình” (Gởi Iu.Bonđarep).

Trang 10

Buổi chiều qua trảng cỏ voi

Ngước nhìn mút mắt khoảng trời long lanh Gió nghiêng ngả giữa màu xanh

Tiếng bầy chim két bỗng thành mênh mang

Lối mòn như sợi chỉ giăng

Còn in đậm đặc vô vàn dấu chân

Dấu chân ai đọc nên vần

Nên nào ai biết đi gần đi xa

Cuộc đời trải mút mắt ta

Lối mòn nhỏ cũng dẫn ra chiến trường Những người sốt rét đang cơn

Dấu chân bấm xuống đường trơn, có nhoè?

Chiếc bòng con đựng những gì

Mà đi cuối đất mà đi cùng trời

Mang bao khát vọng con người

Dấu chân nho nhỏ không lời không tên Thời gian như cỏ vượt lên

Lối mòn như sợi chỉ bền kéo qua

Ai đi gần ai đi xa

Những gì gợi lại chỉ là dấu chân

Vùi trong trảng cỏ thời gian

Vẫn âm thầm trải mút tầm mắt ta

Vẫn đằm hơi ấm thiết tha

Cho người sau biết đường ra chiến trường

Ngày đăng: 02/05/2021, 01:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w