1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tim Hieu Hoai Thanh PDF

121 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu hoài thanh
Trường học Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các bài viết theo kiểu Hoài Thanh ưa thích- kiểu notes (tùy bút)- bộc lộ rất rõ tầm kiến thức khá rộng và cũng khá sâu sắc của ông trên nhiều lĩnh vực. Đặc điểm khi cầm bút viết của [r]

Trang 1

TỪ SƠN

TÌM HIỂU HOÀI THANH

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN

H À NỘI-2009

Trang 2

TỪ SƠN

TÌM HIỂU HOÀI THANH

CUỐN SÁCH NÀY ĐƯỢC XUẤT BẢN NHÂN

KỶ NIỆM 100 NĂM SINH NHÀ VĂN

HOÀI THANH

(1909-1982)

NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN

HÀ NỘI-2009

Trang 3

HOÀI THANH - NGƯỜI ĐI TÌM CÁI ĐẸP

Cuộc đời Hoài Thanh từ thuở thiếu thời cho đến lúc trái tim ngừng đập là một chuỗi dài những cuộc tìm kiếm đầy thích thú mê say cái hay và vẻ đẹp văn chương Như một nhà địa chất cần mẫn, yêu nghề, Hoài Thanh đã phát hiện được không ít vàng ngọc của thơ ẩn trong lớp bụi thời gian hoặc trong các mạch chìm nổi của cuộc đời, nhất là trong hiện tại

Một thời gian dài trước Cách mạng, thơ mới là niềm say mê, là nơi trú ngụ bình yên của tâm hồn Hoài Thanh trước mọi sóng gió của cuộc đời

“ Tôi vốn rất say mê thơ mới ngày từ khi mới ra đời Thơ mới hầu như là cái vui duy nhất của tôi hồi bấy giờ”(2)

Thi Nhân Việt Nam là đứa con tinh thần được ra đời trong sự say mê,

trong niềm “ vui duy nhất” của Hoài Thanh, của một người trong cuộc đổi mới thơ ca Việt Nam giai đoạn 1932- 1941 (chữ thơ ca Việt Nam tôi dùng ở đây là thơ ca công khai “ hợp pháp” được in trên sách báo thời kỳ ấy) Đứa con này vừa mới ta đời được bạn đọc thời bấy giờ đón nhận và bạn đọc các thế hệ sau tìm kiếm, sách ra đầu năm 1942 liền tái bản ngay cuối năm ấy (3)

(1) “Lời cuối sách” nhân tái bản Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, HN , 1988

(2) Tuyển tập Hoài Thanh, tập I, tr.303

(3) Thi nhân Việt Nam do Nguyễn Đức Phiên ( tức Hoài Chân, đồng tác giả) xuất bản

- Đầu năm 1960, Thi Nhân Việt Nam được Trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội in rônêô làm tài

liệu tham khảo cho sinh viên

- Năm 1968, NXB Hoa Tiên in lại ở Sài Gòn

- Năm 1985, NXB Đông Nam Á in lại ở Paris

- Riêng NXB Văn học, từ 1988 đến 1998 đã tái bản Thi nhân Việt Nam tới 11 lần Như vậy,

đến nay 2009, Thi nhân Việt Nam được tái bản 42 lần (chưa kể có nơi in hoặc trích không xin

phép của gia đình nhà văn Hoài Thanh)

Trang 4

Tác giả Thi nhân Việt Nam đã “ lấy hồn tôi để hiểu hồn người” (Thi nhân

Việt Nam, tr.392) Không chỉ để hiểu mà còn say theo hồn người 169 bài thơ

của 46 nhà thơ có mặt trong Thi nhân Việt Nam như hoà với giọng bình của tác

giả để hát lên bài ca sầu não, mộng mơ, vui vội, buồn sâu, đau đớn, ngơ ngác trước cuộc đời Bài ca dường như bất tận của những tâm hồn, những con người

“đầu thai lầm thế kỷ” muốn ru hồn mình tới “tận cuối trời Quên”

Sự say mê thơ mới, sức quyến rũ của thơ mới lúc bầy giờ quả là lớn Đối

với tác giả Thi nhân Việt Nam, suốt một thời gian dài, cái say thơ đã thấm vào

máu thịt, đã trở thành máu thịt nên không dễ gì rứt bỏ Mặc dầu, có khi người say thơ cũng mơ hồ cảm thấy đây là một thứ tình say có “dáng dấp Liêu Trai”

“Say thơ cũng như say người Có khi đúng, có khi sai Có khi đúng mặt

này, sai mặt khác Nhưng đã say thì không phải dễ rứt mình ra được” (Thi nhân

Việt Nam , tr.122)

Có lẽ vì thế mà sau sáu năm đi theo Đảng, tham gia cách mạng và kháng chiến, năm 1951, Hoài Thanh mới có được một cái nhìn dứt khoát thể hiện trong

chương II: Nhìn lại thơ cũ 1932 – 1945, ở quyển Nói chuyện thơ kháng chiến

Trong chương ấy, ở trang 12, có đoạn Hoài Thanh viết: “Còn xét về phương diện khách quan thì ngày trước hay bây giờ những câu thơ buồn nản hay thơ mộng vẩn vơ cũng đều là đồng minh của giặc Giặc chỉ có thể xây dựng cơ đồ của chúng trên phần bạc nhược của con người Chúng ta không dám làm người thì chúng nó mới có khả năng làm giặc”

Cách nhìn nhận ấy có phần thái quá Song trong hoàn cảnh lịch sử bấy giờ, một chút thái quá có khi lại cần thiết Kiên quyết phủ định niềm say mê sai lạc trong con người cũ của mình một cách thành thực bao giờ cũng là điều đáng quý

Tám năm sau, vào đầu năm 1959, trong bài soạn “Về văn thơ lãng mạn tiểu tư sản 1930 - 1945” để giảng cho lớp văn III Đại học Sư phạm và Đại học Tổng Hợp Hà Nội, Hoài Thanh viết trong phần kết luận:

“Thơ lãng mạn tiểu tư sản có thể xem là một sức phá hoại, vừa phá hoại chế độ thực dân phong kiến vừa phá hoại nhiệt tình cách mạng Trong thơ lãng mạn tiểu tư sản vẫn có một thứ lòng tin mà bọn thống trị cũ có thể dựa vào, tức

là lòng tin rằng cuộc đời là thế, không thể thay đổi được Nhưng bọn thống trị cũ dựa vào lòng tin thì ít, vào võ lực thì nhiều Trái lại lực lượng của cách mạng

Trang 5

chủ yếu là ở lòng tin Cho nên bọn thực dân dung dưỡng mà cách mạng lại tiến hành đấu tranh với thơ lãng mạn tiểu tư sản

Trong hoàn cảnh ngày nay tuy cách mạng đã thắng lới trên một nửa nước, đại bộ phận tiểu tư sản đã đứng trong hàng ngũ cách mạng nhưng tư tưởng tư sản và tiểu tư sản mà nhiều anh em chúng ta vốn hô hấp một lần cùng với sữa

mẹ vẫn có sức lôi cuốn chúng ta Có những câu thơ rầu rĩ, nó cứ ngân nga âm ỉ trong lòng, bám vào đầu óc ta như đỉa Cần phải bôi vôi vào mà rứt nó ra

Nhưng lại phải nhớ rằng tư sản và nhất là tiểu tư sản nước ta cũng có khả nang đi với cách mạng, Chút lòng yêu đời yêu nước còn thể hiện trong thơ không nên tuỳ tiện mà vứt đi Vẫn cần phải trân trọng Và nên nhớ phần ấy nhiều hơn là phần tiêu cực, dầu nhớ để phê phán cũng vậy” (1)

Từ cách nhìn nhận thơ mới có phần thái qúa trong Nói chuyện thơ kháng

chiến (1951), đến đây Hoài Thanh đã có cái nhìn độ lượng thể tất nhân tình, sát

với gíá trị thật của thơ mới nhiều hơn Tuy vậy có một nhận định cơ bản về thơ

mới, tác giả Thi nhân Việt Nam - trong các bài viết cũng như sổ tay ghi chép sau

này, trong lúc trao đổi chuyện trò với bạn bè hoặc con cái - không thay đổi: mặt chính của thơ mới là tiêu cực

Trong đề cương chuẩn bị cho buổi nói chuyện về thơ mới ở Đại học tổng hợp hồi tháng 11 - 1962 Hoài Thanh ghi ở mục “Vào đề”:

“ Mọi người đồng ý trong thơ mới 1930 - 1945 có nhân tố tích cực và

nhân tố tiêu cực Cái chỗ không đồng ý là tỷ lệ giữa hai bên.Về phần tôi, tôi vẫn

nghĩ tiêu cực là chính” ( Tôi nhấn mạnh T.S.)

Buổi nói chuyện ấy, theo yêu cầu của nhà trường, chủ yếu nêu cái tích cực của thơ mới nhằm mục đích để người nghe tiếp thu được cái hay của thơ Hoài Thanh ghi tiếp trong đề cương bài nói : “ yêu cầu ấy cùng phù hợp với tôi: tôi

(1) Chép trong di cảo viết tay của Hoài Thanh hiện gia đình còn giữ Các ý trong đoạn văn này đến tháng 11 - 1964 Hoài Thanh đã đưa vào trong bài viết Một vài ý kiến về phong trào thơ mới và quyển “Thi nhân Việt Nam” với lời văn chặt chẽ, dứt khoát hơn (xem Tuyển tập Hoài Thanh, tr.302)

Trang 6

nghĩ phê phán cái dở trong văn thơ không gì bằng quên quách nó đi Đó là cách phê phán của quần chúng” (1)

Xem các ghi chép trong đề cương chuẩn bị bài nói kể trên, tôi thấy Hoài Thanh đã chọn những bài thơ hay trong phong trào thơ mới của các nhà thơ nổi tiếng như: Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Nguyễn Nhược Pháp, Thâm Tâm, Đoàn Văn cừ, Anh Thơ, để bình luận, phân tích những cái hay, cái tích cực của thơ mới được khái quát trong những tiểu mục như sau:

- Phong vị đậm đà của cảnh sắc quê hương

- Thái độ trân trọng đối với người lao động

- Tấm lòng thiết tha với đất nước

- Lòng khát khao yêu đời

- Tình yêu phong phú, tha thiết và đắm say

- Những đóng góp quan trọng về ngôn ngữ nghệ thuật của thơ mới (2)

Nhưng, hai năm sau, vào tháng 11- 1964, có lẽ Hoài Thanh muốn đề

phòng “cách nhìn đời theo lối “Thơ mới” nên trong bài viết Một vài ý kiến về

phong trào thơ mới và quyển “ Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh nhấn mạnh:

“Nhìn chung thơ mới chìm đắm trong buồn rầu, điên loạn, bế tắc Đó là chưa nói đến phần hiển nhiên là sa đoạ Nguy hiểm nhất là nó lại tạo ra một thứ say sưa trong đó Hình như không buồn rầu, không điên loạn, không bế tắc thì không hay, không sâu

Bế tắc đã biến thành một thứ lý tưởng Một thứ lý tưởng như thế bao giờ

cũng nguy hiểm, trong một hoàn cảnh cần phải đấu tranh quyết liệt lại càng

nguy hiểm (Tôi nhấn mạnh - T.S) cho nên mặt chính của thơ mới phải nói là

(1) Di cảo viết tay

(2) Những ý kiến nhận xét, phân tích cái giá trị tích cực của thơ mới trong buổi nói chuyện này về sau

được Hoài Thanh viết lại trong bài Một vài ý kiến về phong trào Thơ mới và quyển “ Thi nhân Việt

Nam” và bài Thêm một vài lời về quyển “ Thi nhân Việt Nam” (xem Phê bình và tiểu luận, tập II,

tr.218 hoặc Tuyển tập Hoài Thanh, tập II, tr 249 và Chuyện thơ , tr.170

Trang 7

mặt tiêu cực Ngay những nhân tố tích cực cũng chìm ngập trong không khí bế tắc ấy không gỡ ra được”

Tháng 8-1977, mười ba năm sau khi viết bài vừa kể trên, Hoài Thanh muốn được “nói thêm vài lời nữa” với độc giả miền Nam, nhất là độc giả trẻ “đã

đọc và ưa thích quyển Thi nhân Việt Nam, đã bắt gặp trong Thi nhân Việt Nam

và nói chung trong “thơ mới” một tiếng đồng tình, đồng điệu” Hoàn Thanh nhắc nhở nhẹ nhàng mà vẫn dứt khoát:

“Ngày nay hoà bình đã lập lại, hoàn cảnh đã đổi khác Trong hoàn cảnh

mới, nên chăng nhìn Thi nhân Việt Nam một cách khác? Tôi nghĩ chúng ta sẽ

tiếp tục trân trọng phần hay, phần đẹp trong thơ mới như ta vẫn nhận định trước đây Nhưng phần ấy không phải là phần chính Phần chính là thơ xuôi tay như nước chảy xuôi dòng” (1) Mà vô luận trong hoàn cảnh nào cùng không thể chấp nhận chuyện buông xuôi Nhất là khắc phục hậu quả của chủ nghĩa thực dân cũ

và mới, của ba mươi năm chiến tranh xâm lược, xây dựng lại đất nước bị tàn phá nặng về về nhiều mặt, là một sự nghiệp đòi hỏi ở mỗi chúng ta rất nhiều cố gắng

và hy sinh, kể cả những cố gắng và hy sinh lớn nhất” (Tuyển tập Hoài Thanh,

Tập II, tr.308)

Như vậy trong vòng gần ba mươi năm (từ 1951 đến 1977) trước sau Hoài

Thanh vẫn dứt khoát coi tiêu cực là mặt chủ yếu của “thơ mới” và Thi nhân Việt

Nam Đánh giá Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh không tách rời với việc đánh

giá “thơ mới”: Thi nhân Việt Nam là một hợp tuyển “thơ mới” giai đoạn 1932 -

1941, viết về Thi nhân Việt Nam không thể nào không căn cứ vào một nhận định khoa học về phong trào “Thơ mới” ( Tuyển tập Hoài Thanh, tập II, tr.294) Đặt

Chớ bao giờ quên nỗi chua cay của một thời thơ ấy

Tổ quốc trong lòng ta mà có cũng như không Nhân dân ở quanh ta mà ta chẳng thấy Thơ xuôi tay như nước chảy xuôi dòng

Trang 8

vấn đề như vậy là đúng về cơ bản nhưng chưa đủ Dù sao cũng phải nhìn nhận thơ mới với tư cách là một trào lưu, một khuynh hướng văn học mà sự hình

thành và phát triển, tồn tại và lụi tàn có quá trình và quy luật riêng của nó Thi

nhân Việt Nam chỉ là một mặt cắt ngang ở ranh giới của thời phát triển và suy

tàn

Thi nhân ViệtNam có chứa khá nhiều yếu tố tiêu cực của “thơ mới”

nhưng không phải là tất cả Hoài Thanh đã cảm nhận thấy điều ấy nhưng chưa

có dịp đi sâu và hình như cũng không có ý định đi sâu Trong bài viết năm 1977

đã nhắc ở trên, Hoài Thanh có nói thoáng qua: “Trong Thi nhân Việt Nam không

có bài thơ nào là thơ phản động và nói chung cũng không phải là thơ đồi truỵ Chẳng những thế, có không ít bài thơ rất đậm đà phong vị quê hương, rất có tình với đất nước, rất tha thiết yêu đời Ra đời dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân phong kiến “thơ mới” không dám đương trường đả kích quân thù nhưng không phải không nói lên cái ấm ức, cái đau khổ của người làm thơ Có thể nói

đó là một tiếng thơ yêu nước và trên thực tế, hầu hết các nhà thơ mới có tên tuổi

về sau đều tham giá đánh Pháp rồi đánh Mỹ cho đến ngày toàn thắng”

Nhìn chung, qua mấy lần nhận định, đánh giá “thơ mới” và Thi nhân Việt

Nam, Hoài Thanh mới dừng sâu vào việc đánh giá thái độ trách nhiệm trước

cuộc đời của các nhà thơ mới và tác giả Thi Nhân Việt Nam Các giá trị văn học thực sự của “thơ mới” và tác phẩm phê bình văn học Thi nhân Việt Nam rõ ràng

là đã và đang tồn tại trên thực tế, trong đời sống tinh thần của nhiều thế hệ đã

qua, Hoài Thanh còn dè dặt chưa quan sát, đánh giá đầy đủ Riêng đối với Thi

Nhân Việt Nam, đứa con tinh thần của mình , Hoài Thanh đã tự phê phán hết sức

nghiêm khắc(1) Trái lại, không ít những nhà nghiên cứu, phê bình, nhà thơ nhà

văn có tên tuổi đã đánh giá Thi nhân Việt Nam đạt tình, thấu lý hơn(2)

(1) “Sai lầm không chỉ là ở chỗ đã quá đề cao quá đáng nhà thơ này hay nhà thơ kia Có thể nói toàn bộ sự đánh giá ở đây là sai từ gốc sai đi Ngay những đoạn có vẻ đúng, thật ra vẫn là sai

và sai về căn bản” ( Tuyển tập Hoài Thanh, tập II, tr.304)

Cái “ sai về căn bản” của tác giả Thi nhân Việt Nam theo Hoài Thanh là:

“ Trong hoàn cảnh mất nước thì việc đầu tiên đối với nhà văn học cũng như nhà khoa học là phải góp sức giành lại chủ quyền, đâu có phải là miệt mài trong chuyện tiếng nói và

văn thơ” ( Tuyển tập Hoài Thanh, tập II, tr.305)

(2) Xin trân trọng trích một số trong rất nhiều ý kiến nhận định để bạn đọc tham khảo:

Trang 9

Nhân đây có lẽ cũng nên tìm hiểu vì sao Hoài Thanh có cái nhìn nghiêm

khắc với “thơ mới” và nhất là tự phê phán Thi nhân Việt Nam một cách quá

nghiêm khắc như thế

Chúng ta đã biết cuộc tranh luận nghệ thuật hồi 1935-1936, kéo dài đến

1939, Hoài Thanh bị xem như là chủ tướng của phái “ nghệ thuật vị nghệ thuật”.Cuộc tranh luận này Hoài Thanh đã tường thuật và tự phê bình một cách

- “ Tác phẩm đáng nói trong những năm 1930 - 1945 có phần chắc là cuốn Thi nhân Việt Nam cộng tác với Hoài Chân Chúng ta còn nhớ rằng dưới ảnh hưởng của tư tưởng Mác – Lê- nin, tác giả đã tự phê bình rất nghiêm khắc Vẫn biết rằng tập sách chưa thể nói là đã có một lập trường vững chắc và phương pháp biên soạn chưa phải đã thực sự khoa học, cách đánh giá các tác phẩm thơ xuất bản trong mười năm 1930 -1940 cũng đang dành phần khá rộng để thảo luận; người viết sách rõ ràng đã bị giới hạn về nhiều phương diện trong khi trình bày một tập văn tuyển khá phức tạp như vậy Dầu sao Hoài Thanh và Hoài Chân cũng đã đọc hộ chúng ta trong ngoài một vạn bài thơ và bao nhiêu bài văn nữa; dầu sao thì qua gần 400 trang sách ấy chúng ta cũng đã bắt gặp khá nhiều ấn tượng khá nhiều suy nghĩ về nghệ thuật thơ mới Riêng về phần tôi sau khi đọc tác phẩm và đặc biệt là sau khi xem lại bài tựa cuốn sách, tuy tôi không đồng ý với hai tác giả về một số điểm nhưng quả tình tôi vẫn để ý tới nhiều đoạn văn thật sự hấp dẫn Và một điều khá lạ, là ngay từ hồi ấy, cảm tưởng của tôi là tập sách trong khi có vẻ như tán dương cuộc thắng lợi của thơ mới cũng đã cho thấy một ít dấu hiệu về sự

kết thúc một thời kỳ khi cái mới đang trở thành cái cũ” (Đặng Thai Mai, Thương tiếc đồng

chí Hoài Thanh, Báo Văn Nghệ, số ra ngày 10-4-1982)

- “Anh là người yêu thơ mới từ buổi đầu chớm nụ; chăm chú theo dõi suốt mười năm cho đến ngày nở hoa, đơm quả, chọn những bài hay nhất trong hàng nghìn bài đăng trên mặt báo, có bài còn là bản thảo, in thành” hợp tuyển” kèm theo những lời bình trang nhã, duyên dáng đầy cảm xúc Để đầu sách là một bài nghiên cứu công phu về phong trào Thơ mới, qua

đó có thể thấy anh say thơ đến mức nào! Các anh - phải nói các anh vì tập này anh soạn chung với Hoài Chân - giở hết các chồng báo cũ, tìm hết ý kiến người nọ, người kia phát biểu khắp nơi để nhận cho ra tính chất của phong trào, phong cách từng nhóm, những điểm chung và điểm riêng, biện luận thế nào là thơ mới : “ thơ mới” khác với “ thơ cũ” ở chỗ nào, vì sao

“thơ mới” được thanh niên ham chuộng như vậy Bài ấy viết kỹ đến nỗi sau này có người bàn lại , tuy nhận định khác đi ít nhiều, nhưng thấy các anh không bỏ sót một tư liệu nào quan

trọng cả” ( Trương Chính- Lời giới thiệu “ Tuyển tập Hoài Thanh” tập I, tr.11)

- “Thi nhân Việt Nam với bài nghiên cứu về thơ mới có thể coi là một công trình lớn

về phê bình trước Cách mạng tháng Tám Nếu coi cuốn sách “ là một bước chìm sâu hơn nữa

vào con đường nghệ thuật “ vị nghệ thuật” ( Phan Cự Đệ : Hoài Thanh, in trong tập Nhà văn việt Nam (1945-1975), tập I, của Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức ) thì tất nhiên cũng đúng một

phần nhưng chưa thấy được ưư điểm cơ bản của cuốn sách” ( Vũ Đức Phúc, Hoài Thanh,

Tạp chí văn học, số 2,, 1982)

Trang 10

nghiêm túc, thành thật(1) Cái đích của phái “nghệ thuật vị nhân sinh” đứng đầu

là Hải Triều không chỉ nhằm phê phán quan điểm của phái “ nghệ thuật vị nghệ thuật” mà chủ yếu là nhằm tập hợp lực lượng cách mạng, cổ vũ khí thế cách mạng của các tầng lớp quần chúng thông qua việc tuyên truyền, phổ biến quan điểm mác xít về văn học nghệ thuật Đối với văn nghệ sĩ thuộc trào lưu lãng mạn tiểu tư sản lúc bấy giờ thì đây có thể xem như một sự đánh thức của cách mạng Đánh thức ra khỏi cơn mộng du chính trị Hoài Thanh nhớ lại: “ Hồi ấy chúng tôi bị lay dữ Nói cho phải thì chúng tôi không phải không dụi mặt một ít Nhưng rồi chúng tôi lại nhắm nghiền mắt lại, một phần vì tự ái nhưng phần

chính là vì tâm trí còn mê” ( Tuyển tập Hoài Thanh, tập II, tr.91) Đi vào cách

mạng và những ngày đầu kháng chiến, Hoài Thanh nhìn lại thấy mình mới “ tỉnh một nửa thôi” : “ Tôi đi vào cách mạng, lòng rất vui nhưng với sự yên trí rằng

trời đất cũ của tôi cũng đi vào một thể; từ ánh trắng bát ngát trong Truyện Kiều ,

ánh nắng vàng ngơ ngẩn buồn trong thơ mới, đến các loại về quan niệm con người muôn thuở, văn chương muôn thuở.v.v Tất cả những thứ ấy đối với tôi có sức quyến rũ rất ghê và nhất là có giá trị như những chân lý khách quan không thể nào phủ nhận Tôi tự nghĩ: muốn gì thì gì trời đất vẫn chỉ có bấy nhiêu sông núi sông hoa lá, lòng người cũng chỉ có chừng ấy buồn vui, yêu ghét nên văn

chương rồi cũng thế thôi”( Tuyển tập Hoài Thanh, tập II, tr.292) Từ “tỉnh một

nửa” đến tỉnh hẳn là cả một chặng đường dài Đến sau chiến thắng Thu - Đông Việt Bắc năm 1947, Hoài Thanh mới bắt đầu đi vào bước ngoặt rẽ sang đường mới: “ Có lần đi trong rừng, men theo một dòng suối, tôi vừa đi vừa ôn lại mấy câu thơ của Tản Đà; rõ ràng là suối bên mình và suối trong thơ khác nhau lắm rồi Tôi ao ước có những vần thơ khác Có thể nói từ đó trong trí tôi bắt đầu hình thành những quan niệm khác về nghệ thuật văn chương Mà cũng bắt đầu thôi

Từ đó về sau còn phải trải qua nhiều phấn đấu ( Tuyển tập Hoài Thanh, tập II,

tr.293)

Hoài Thanh dần dần nhận ra sai lầm lớn nhất của đời mình trước tháng Tấm 1945 là “ thoát ly cách mạng, lấy văn chương làm nơi lánh nạn, vùi đầu vào

-

(1) Xem bài Nhìn lại cuộc tranh luận về nghệ thuật hồi 1935- 1936 ( Tuyển tập Hoài Thanh, tr.257)

Trang 11

chuyện không đâu để trốn tránh trách nhiệm, trốn cuộc đời” ( Tuyển tập Hoài

Thanh, tậpII, tr.290) Sai lầm này tập trung vào thời gian tranh luận nghệ thuật

“cũng là một cách cố giữ lấy chi mình cái quyền say mê thơ mới, nói một cách

khác là cái quyền thoát ly cách mạng” (Tuyển tập Hoài Thanh , tập II, tr.303)

Như vậy đó, Hoài Thanh luôn chân thành là lúc đúng lẫn lúc sai Trong văn chương và trong cả cuộc đời Sự tự phê phán quá nghiêm khắc của Hoài Thanh là điều có thể hiểu được Hoài Thanh kiên quyết phủ định con người cũ của mình Vì vậy Hoài Thanh thật lòng lo lắng cho những ai, nhất là lo cho các bạn trẻ đi lạc sang con đường mòn bế tắc của mình đã đi trước đây Mặt khác, cuộc đấu tranh tư tưởng trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đặc biệt là trong lĩnh vực văn học nghệ thuật mấy chục năm qua, thường vẫn trở lại những vấn đề

cơ bản đã đặt ra hồi tranh luận nghệ thuật (Tất nhiên các vấn đề này đặt ra ở cấp

độ khác, mang những màu sắc khác và có những yêu cầu khác) Là một trong những người được Đảng giao trách nhiệm lãnh đạo lĩnh vực văn nghệ, Hoài Thanh càng thêm e ngại cái cũ có cơ hội sống lại Hoài Thanh thường nói tới trách nhiệm của người cầm bút, luôn đề phòng những lệch lạc về lập trường tư tưởng trong bối cảnh lịch sử cụ thể của vài chục năm qua là điều cần thiết Và trên thực tế, không thể nói khác được

Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta nên có cái nhìn hợp lý, hợp tình hơn đối với

“thơ mới” và quyển Thi nhân Việt Nam Tôi thấy chẳng có gì phải e ngại rằng

từ đây sẽ dẫn tới một sự phủ nhận nào đó Thái độ mác xít Lê-nin-nít trong việc nhìn nhận lại các giá trị tinh thần của quá khứ bao giờ cũng bao gồm sự tiếp nhân, sự kế thừa, sự sắp đặt lại và đương nhiên là có cả sự từ bỏ Từ bỏ cái xấu, cái có hại, cái sai để phát huy cái đẹp, cái có ích, cái đúng thì có gì là đáng ngại?

Nhìn nhận lại “thơ mới” và quyển Thi nhân Việt Nam không phải là lật trái mọi

Trang 12

sự nhìn nhận đúng đắn và chân thành của chúng ta về hiện tượng văn học phong phú và phức tạp này Tôi tin rằng các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, phê bình, nhà văn, nhà thơ và cả bạn đọc của chúng ta sẽ trân trọng ghi nhận và nghiên cứu nghiêm túc các lời tâm sự, các lời tự phê phán của Hoài Thanh, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên,…và các nhà thơ khác trong cuộc Những công trình nghiên cứu công phu của nhiều nhà nghiên cứu về văn học hiện đại sẽ là tài liệu quý bổ ích không thể bỏ qua Các hiện tượng tương tự trong văn học thế giới sẽ được quan sát cẩn thận để giúp ta suy nghĩ sâu hơn, Và điều cần thiết phải làm là có một sự điều tra xã hội học có độ thông tin đáng tin cậy để có thể rút ra những kết luận cần thiết làm cơ sở cho việc nhận định, đánh giá một cách thực sự khoa học.Thực tiễn đời sống chính trị - xã hội và đời sống văn học nghệ thuật của đất nước ta hiện nay đang tạo ra bầu không khí thuận lợi

và các điều kiện thuận tiện cho công việc nghiên cứu thú vị và bổ ích này

*

Tôi không có tham vọng và cũng không đủ sức để làm cái công việc nêu ở

trên Ở đây tôi chỉ xin nêu lướt một vài suy nghĩ xen lẫn với hồi ức về Thi nhân

Việt Nam và tác giả Thi nhânViệt Nam với hy vọng mơ hồ rằng may góp phần

bé nhỏ có ích cho những ai cùng mối quan tâm với tôi trên vấn đề nhìn nhận đầy

đủ hơn về “Thơ mới” và cuốn Thi nhân Việt Nam

Cha tôi và Hoài Chân (em ruột ông) bắt tay vào biên soạn Thi nhân Việt

Nam lúc tôi mới được năm, sáu tuổi Gần nửa thế kỷ đã trôi qua cùng với bao

sóng gió của cuộc đời….Bấy giờ gia đình chúng tôi sống ở Huế Cha mẹ tôi thuê một căn nhà xoàng xĩnh ở ngã tư “ga - ra Nghẹt”, phía gần trường Thuận Hoá Giáp tường với căn nhà tôi ở là nhà một ông thợ rèn Suốt ngày dội sang bên nhà

tôi tiếng đập, gõ chát chúa và tiếng thụt bễ lò rèn phập phù Cha tôi viết Thi

nhân Việt Nam trong luồng âm thanh nhọc nhằn ấy, nhất là vào những ngày hè

oi ả của xứ Huế Cha mẹ tôi kể lại: năm ấy (1941) gia đình tôi sống hết sức lao đao Nguồn sống chính của gia đình tôi (gồm ông tôi, mấy người anh em của cha tôi, cha mẹ và ba con) trông cậy vào đồng lương dạy tư của cha tôi Vậy mà vào năm đó chính quyền thực dân cấm cha tôi đi day Lấy gì mà sống? Mẹ tôi phải mở quán sách, cha tôi chạy vạy xin đi dạy lại Nửa năm sau chúng mới cho cha tôi dạy ở trường Thuận Hoá

Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt

Trang 13

Cơm áo không đùa với khách thơ

Đọc Thi nhân Việt Nam ta thường thấy các nhà thơ và tác giả như đắm

chìm trong mơ mộng vẩn vơ và có cảm giác hình như họ là những người sống sung sướng, đầy đủ và nhàn rỗi Đó là thế giới thơ của họ Thật ra, ở đời thường trong số họ không ít người đang đắm chìm hoặc sắp đắm chìm thực sự vì manh

áo, miếng cơm Họ là tư sản, là “ phú hào” ở đâu trong đầu óc, trong sách vở Tây mà họ vớ để đọc, chứ dưới ánh mặt trời họ tồn tại trong hình dáng đầy đủ của con người lao động làm thuê:

Chóng hết trang máu lẫn mồ hôi Từng dòng đánh đổi lấy ngô khoai Giữa khi ông chủ buôn văn ấy Tiệc rượu lầu cao ngả ngốn cười

(TRẦN HUYỀN TRÂN)(1)

Họ khát khao, mơ ước nhiều Những khát khao tội nghiệp thôi mà cũng chẳng được Có lẽ vì vậy mà họ cố đưa hồn mình đến những cõi huyền ảo hoặc

cố tạo ra những mơ mộng để tự huyễn mình:

Tôi chỉ là người mơ ước thôi,

Là người mơ ước hão! Than ôi!

Bình minh chói lói đâu đâu ấy, Còn chốn lòng riêng u ám hoài

Trang 14

Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm

(XUÂN DIỆU)

Nói về thơ mới, Xuân Diệu thường nhắc đến hai chữ “đau đời” Đau vì

nỗi đời vất vả Đau vì kiếp làm dân một nước nô lệ Đau vì tủi nhục, nghèo hèn

cứ gắn hoài với thân phân Theo tôi, nỗi đau đời chính là cái hạt cơ bản tạo nên cái đẹp cần giữ gìn, trân trọng trong “thơ mới” Thái độ mãn nguyện, sự lạuh nhạt, sự hững hờ trong cuộc sống là kẻ thù của sự sáng tạo nghệ thuật Có đau đời mới nảy ra khát vọng đổi đời Rõ ràng là trong “thơ mới” đã thấy thấp thoáng ngọn lửa của khát vọng đổi đời “Thơ mới” và các nhà “thơ mới” là sản phẩm tất yếu của lịch sử, của giai cấp, của thời đại Đừng đòi hỏi thơ của họ phải sáng chói như mặt trời hoặc sáng rực như ngọn đèn pha chiếu rõ đường phải đi, nơi phải đến Họ bị giam hãm trong một môi trường thiếu năng lượng, thiếu chất đốt của lòng tin làm sao thơ họ có đủ chất sáng? Điều đáng quý là trong “thơ mới” đã lập loè “ngọn lửa Đancô” trên thảo nguyên mịt mùng của cuộc đời: ngọn lửa của tình yêu người, yêu non sông đất nước, yêu tiếng mẹ đẻ,…

Cuối chặng đường của “thơ mới” ngày một hiện rõ sự bế tắc mà mầm mống của nó đã chứa sẵn từ chặng đường đầu tiên: sự chán nản, thất vọng Song, khi xem xét sự bế tắc này theo tôi, nên và rất cần nhìn thấy bên dưới, phía sau tấm chắn ấy là sự quằn quại, đau đớn của những tâm hồn, những con người

Trang 15

Đọc “thơ mới” nếu không cảm nhận được cái hồn của nhà thơ “tràn ra đầu ngọn bút”, không thấy các nhà thơ đã:

Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh

(HÀN MẠC TỬ) thì chỉ bằng chưa nên đọc hoặc phải đọc kỹ hơn, đọc bằng trái tim của mình rồi hãy truyền thông tin cảm nhận được để cho óc đoán định, xử lý sau

Cái đau đớn, cái bế tắc của “thơ mới” là ánh phản chiếu cái bể khổ bế tắc của xã hội cũ, là bóng hình, là tiếng kêu than về thân phận con người của các nhà thơ Về mặt nào đó có thể nói: hầu như thân phận của các nhà “thơ mới”,

của tác giả Thi nhân Việt Nam trong cuộc đời cũ na ná như thân phận nàng Kiều:

Những là rày ước mai ao

Thế rồi sau bao năm chìm nổi trong vũng bùn xã hội nhơ nhớp phải cất lên tiếng than đau đớn:

Đã buồn cả ruột lại dơ cả đời!

Trong dịp học tập bảo vệ Đảng tháng 5 - 1970, cha tôi có tự nhận xét về quãng đời thanh niên của mình:

“…Trong tuổi thanh niên, tôi không phải không cảm thấy cái nhục làm nô

lệ cho giặc ngoại xâm, tôi cũng muốn cất đầu lên Bị giặc đạp xuống, tôi mất tinh thần những vẫn chưa chịu cúi đầu hẳn Tôi vẫn muốn cất đầu lên thấp hơn lần trước một ít Nhưng cứ mỗi lần cố cất đầu lên thì lại bị chúng đạp xuóg sâu thêm một tầng nữa Và cứ thế cho đến lúc tôi không còn đủ sức cất đầu lên nữa”(1)

Đấy là bi kịch của Hoài Thanh và có lẽ cũng mang tính bi kịch chung của thế hệ các nhà “thơ mới” Hoài Thanh đã ghi lại rất đúng cái tâm trạng bế tắc lúc bấy giờ:

(1)Lý lịch khai trong dịp học tập bảo vệ Đảng ngày 24-5-1970 ( Di cảo viết tay của Hoài

Thanh)

Trang 16

“Đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ tôi Mất bề rộng ra đi tìm bề sâu Nhưng càng đi sâu càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên,

ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận

Cả trời thực, trời mộng vẫn nao nao theo hồn ta

Thực chưa bao giờ thơ ca Việt Nam buồn và nhất là xôn xao như thế

Cùng lòng tự tôn, ta mất luôn cả cái bình yên thời trước” (Thi nhân Việt Nam,

tr.54)

Xét cho cùng, cái bế tắc của “thơ mới” cũng giống như cái đêm tối mịt mùng của chị Dậu và cái đập phá, chửi bới khùng điên của Chí Phèo trong văn học hiện thực phê phán của thời ấy Nó có ý nghĩa nhân bản Từ đó vang lên lời kêu gọi khẩn thiết: “Hãy cứu lấy những con người đau khổ!”

*

Tháng 11- 1964 Lúc ấy cha tôi vừa viết xong bài : “ Một vài ý kiến về

phong trào “thơ mới” và quyển Thi nhân Việt Nam” Cũng thời gian này tôi tạm

biệt những người thân để lên đường đi công tác ở chiến trường Nam Bộ Phút tạm biệt, đã ra đến cầu thang tôi còn đề nghị cha tôi cùng tôi quay lại căn pòng

của gia đình Tôi muốn nghe một lần cuối bản Pôlônex nổi tiếng của M.

Ôghinxki(1) mà tôi rất yêu thích Đó là một bản nhạc có giai điệu tuy buồn da diết mà vẫn trong sáng và rất đẹp Cha tôi hỏi: “Tại sao trước giờ lên đường đi chiến trường con lại nghe một điệu nhạc buồn như vây?” Tôi trả lời tôi rất xúc động mỗi khi nghe bản nhạc này vì nhạc sĩ đã truyền cho tôi một tâm hồn đẹp qua làn suối trong vắt của âm thanh Bản nhạc tuy buồn nhưng lại gợi lên trong tôi tình yêu tha thiết và khát vọng trong sáng

-

(1) M Ôghinxki, nhạc sĩ Ba Lan (1765-1833) Bản Pôlônex nói ở đây là bản Từ biệt quê hương

Trang 17

Cha tôi ngồi yên lặng trong khi tôi khoác lại ba lô và chuẩn bị bước ra Bỗng cha tôi ngồi xuống ghế và bảo: “Con nghe thêm một lần nữa đi” Tôi bật công tắc máy hát Giai điệu đẹp của bản nhạc lại tràn ngâp căn phòng và tràn ngập lòng tôi, dạt dào những cảm xúc khó tả Từ buổi chia tay thiêng liêng

ấy, bản Pôlônex trở thành một hiện diện trong đời sống tinh thần của tôi trên

đường hành quân, trong chiến hào, địa đạo, trong những thương nhớ, bâng khuâng….và dài hơn là trên những chặng đường đời xa tít tắp

Năm 1972, tôi từ chiến trường vượt Trường Sơn lần thứ hai ra Hà Nội nhận công tác mới Cha con tôi lại chung sống với nhau Tôi thường trò chuyện với cha tôi về những năm tháng chiến trường Khi tôi kể chuyện hành quân dọc Trường Sơn và ở chiến trường tôi và đồng đội thưởng mở đài Sài Gòn để nghe thơ và nhạc tiền chiến vậy mà vẫn công tác và đánh giặc rất hăng, vẫn lạc quan yêu đời Cha tôi có vẻ không đồng tình nhưng không phê phán tôi Các bài thơ, bài hát ấy gắn liền với kỷ niệm thời thơ ấu Tôi kể tên các bài thơ tôi đã đọc

trong Thi nhân Việt Nam hồi còn nhỏ, nhắc lại cả lời bình của cha tôi Tôi

khẳng định với cha tôi các bài thơ đó vẫn hay Tôi thấy cha tôi suy nghĩ rất

nhiều về những điều tôi nói Nhưng, đến năm 1977 cha tôi lại viết bài “Thêm

một vài lời về quyển Thi nhân Việt Nam” mà tư tưởng chủ yếu của bài viết này

là đề phòng cho lớp thanh niên khỏi bị nhiễm lối sống buông xuôi trước những yêu cầu gắt gao của giai đoạn lịch sử

Đầu năm 1982, cha tôi thường xuyên là bệnh nhân nằm trong phòng cấp cứu của khu B bệnh viện Việt Xô Hà Nội Lúc này cha tôi đã suy tim nặng Tuy vậy trí óc của ông vẫn còn minh mẫn và tỉnh táo Tối tối tôi lại vào bệnh viện chăm sóc và bàn về chuyện thơ, chuyện đời với ông Một hôm tôi kể cho cha tôi nghe chuyện một cháu bé người lai Pháp đi cùng bố mẹ nó sang Hà Nội thăm người thân Trong suốt bữa tiệc gia đình, cháu bé đã ôm chặt con vịt trời bị thương còn sống khóc nức nở và phản đối người nhà định làm thịt chiêu đãi bố

mẹ cháu và cháu Từ chuyện này tôi than phiền với cha tôi: “Trẻ con ở nước ta hiện nay ít được giáo dục về nhân bản quá, Văn học ta hiện nay cũng chưa xem trọng vấn đề này” Cha tôi trầm ngâm một lúc rồi nói: “Có lẽ phải nghĩ lại xem chúng ta có quá nhấn mạnh đến vấn đề đấu tranh giai cấp không” Khoảng vài

Trang 18

ba tuần trước khi cha tôi mất, nhà xuất bản Văn học báo cho ông biết: Tuyển tập

Hoài Thanh tập I đã bắt đầu xếp chữ Cha tôi mừng lắm nhưng tỏ ra khó có hy

vọng được thấy mặt quyển sách của mình Lúc bấy giờ cha tôi đã yếu lắm nhưng ông vẫn vui vẻ chuyện trò với chú tôi (Hoài Chân), với chúng tôi và với bạn bè

về công việc làm tuyển tập Nhân đó tôi hỏi : “ Tại sao cha không cho tuyển

Một thời đại trong thi ca?”(1) Cha tôi trả lời dứt khoát: “Lúc này chưa nên”

Một lần khác, vẫn ở bên giường cấp cứu, sôi nổi, vui vẻ, chúng tôi bàn về thơ “chân dung nhà văn” đang lưu hành trong giới văn chương Cha tôi khe khẽ đọc lại mấy câu thơ “thơ chân dung” nói về ông mà ai đó đã đọc cho ông:

Vị nghệ thuật một nửa đời Nửa đời c òn lại vị người cấp trên (2)

“Thi nhân” còn một chút duyên Chẳng cầm cho vững lại lèn cho đau!

Đọc xong, cha tôi bình:

- Tay này nó biết mình mê Kiều nên nó dùng lối lẩy Kiều để vẽ chân dung mình thì khéo thật Tuy vậy câu thứ hai nói oan và nói ác quá Cha biết có không

ít người nghĩ như thế về cha

Nói xong, cha tôi có vẻ hơi buồn buồn

Tôi còn nhớ, đêm giao thừa tết năm 1982, tôi ngồi đón xuân với cha tôi trong phòng cấp cứu bệnh viện Đêm ấy ông nói với tôi rất nhiều buồn vui trong cuộc đời, trong thơ văn Tôi nhớ mãi lời ông nói với tôi đêm đó:

-

(1) Bài tổng kết phong trào Thơ mới ở đầu cuốn Thi nhân Việt Nam

trên”

Trang 19

“ Cha viết văn đã 50 năm nhưng công việc cha thích nhất là dạy học và bình thơ, bình thơ hay, vô luận là của ai Cha biết văn chương của cha cũng vầy

vậy thôi Nếu không có cuốn Thi nhân Việt Nam thì không chắc gì người ta đã

công nhân cha thực sự là một nhà văn

“ Một đời làm văn cha chỉ tìm cái hay cái đẹp để bình Đó là điều ham muốn của cha Vậy mà cha đã vấp phải khối chuyện phiền: kẻ yêu, người ghét Thậm chí cha còn bị vu cáo, bị nói oan Cha biết như vậy nhưng không thể sống khác, viết khác cái tạng của mình Điều mà cha có thể hoàn toàn yên tâm và tự hào trước lúc đi xa là cha đã sống và viết hoàn toàn trung thực Đó là cái quý nhất mà cha muốn để lại cho các con”

Tôi biết rõ cha tôi còn một điều chưa toại nguyện là chưa hoàn thành

được lòng mong muốn ấp ủ từ lâu: viết tiếp một Thi nhân Việt Nam mới, theo

cách của ông Ông đã bắt tay vào việc sưu tầm, ghi chép từ nhiều năm Di cảo của ông để lại bồn bề tài liệu, tư liệu cho công trình ấy Nhưng rồi,“ lực bất tòng tâm”…

Vì Đời và Thơ, ông đã sống mê say, sống hết mình Với ông, Thơ và Đời tuy hai mà một, tuy một mà hai, hoà quyện Ông đã đi xa, xa mãi nhưng chuyện thơ của ông vẫn ấm hơi nồng của cuộc sống

Phải chi Hoài Thanh còn sống cho đến hôm nay Khi đi xa, ông chưa biết

và chưa hình dung nổi chỉ vài năm sau nhiều tác phẩm có giá trị văn học đích thực xuất bản từ trước năm 1945 - những tác phẩm mà bấy lâu nay chúng ta dè dặt bởi lý do này khác nên chưa in lại thì nay đã trở lại bình thường trong đời sống tinh thần của nhân dân ta, được đông đảo bạn đọc chăm chút nâng niu Việc in lại các tác phẩn ấy thật có ý nghĩa Nó lấp những khoảng trống trong nền văn học hiện đại đất nước ta, phù hợp với lòng mong mỏi của nhiều thế hệ bạn

đọc Và bây giờ đến lượt Thi nhân Việt Nam hiện diện Không biết trong số bạn đọc có ai e ngại về sự hiện diện của Thi nhân Việt Nam hay không? Nếu có thì

xin hãy tin ở đông đảo công chúng đã từng trải của chúng ta Họ sẽ biết cánh tiếp nhận cái hay, cái đẹp cũng như biết cách loại bỏ cái chưa hay, chưa đẹp, thậm chí cả cái độc hại Bạn đọc của chúng ta có đủ bản lĩnh và trình độ cảm

Trang 20

nhận tác phẩm Thực tế đã chứng minh điều này Xin đừng lo Sâm là vị bổ mà dùng quá liều lượng cũng có thể gây chết người Nọc rắn là chất làm chết người nhưng biết dùng thì lại trị được bệnh, cứu được người Vấn đề đặt ra là mục đích, liều lượng và cách sử dụng cùng với sự am hiểu của người thầy thuốc

Tháng 10-1988

(“Lời cuối sách” Thi nhân Việt Nam , NXB Văn học, H,.1988)

Trang 21

VỚI “THI NHÂN VIỆT NAM”, CÓ PHẢI “ LÀ MỘT BƯỚC CHÌM SÂU HƠN NỮA VÀO CON ĐƯỜNG NGHỆ THUẬT

VỊ NGHỆ THUẬT” CỦA HOÀI THANH?

Trong cuốn “Nhà văn Việt Nam (1945-1975)” tập I, nxb Văn học H.1982,

cố giáo sư Phan Cự Đệ có bài nghiên cứu khá công phu về sự nghiệp văn học của Hoài Thanh Với cách nghiên cứu tỉ mỉ, nghiêm túc và đặc biệt là với tình cảm quý mến, trân trọng thể hiện qua từng trang viết, về cơ bản, giáo sư đã nêu bật được những đóng góp của Hoài Thanh cho nền phê bình văn học nước nhà- đặc biệt là từ sau Cách mạng tháng Tám Tuy vậy có một nhận định về tác phẩm

“ Thi nhân Việt Nam “ do cố giáo sư nêu ra theo tôi là chưa thoả đáng Phan Cự

Đệ cho rằng “Thi nhân Việt Nam”: “Là một bước chìm sâu hơn nữa vào con

đường nghệ thuật vị nghệ thuật”

Nhận định trên của Phan Cự Đệ đã không được ông Vũ Đức Phúc hoàn toàn đồng tình Trên “ Tạp chí Văn học” số 2 - 1982, ở bài viết về Hoài Thanh, ông Vũ Đức Phúc cho rằng nhận định ấy “ thì tất nhiên cũng đúng một phần nhưng chưa thấy được ưu điểm cơ bản của cuốn sách (TNVN - T.S chú)”

Riêng tôi, với tu cách là người có nghiên cứu về “ Thi nhân Việt Nam” tôi dám khẳng định rằng “Thi nhân Việt Nam” không thể và không phải là tác phẩm được úp lên cái mũ “ nghệ thuật vị nghệ thuật” Nó lại càng không phải là một sản phẩm “vị nghệ thuật” theo nội hàm của phái “ nghệ thuật vị nhân sinh” mà trong cuộc tranh luận “nghệ thuật v ị ” hồi 1935, 1936 đã gán cho Hoài Thanh

Trong bài viết ngắn này không tôi muốn lạm bàn về cuộc tranh biện ồn ào thuở xa ấy vì đã có nhiều bài viết, nhi ều cuốn sách nghiên cứu công phu, khách quan, khoa học cùng với những tư liệu gốc sinh động của nhiều giáo sư, nhà lý luận phê bình đã đánh giá đúng đắn về đúng/sai, về được / chưa được v.v…của cuộc tranh luận “ nghệ thuật vị…” Tôi tin rằng: với thời gian và những đổi mới của thời đại, mọi giá trị đã và sẽ trở về đúng vị trí của nó

Trở lại với “Thi nhân Việt Nam”, tôi xin bắt đầu bằng một vài tư liệu về thân phận “ chìm nổi” của “ Thi nhân Việt Nam”

Trang 22

“Thi nhân Việt Nam”, sau mười năm theo dõi và say mê nghiên cứu “Thơ mới” (từ 1932 đến 1941), Hoài Thanh ( cộng tác với Hoài Chân) đã viết xong

“Thi nhân Việt Nam” trong một căn nhà nhỏ số 5 đường Phó Đức Chính thành phố Huế Đó là một căn nhà (kiểu cấp 4) thuê của một viên đội xếp (chức vụ tương đương với trưởng công an phường hiện nay) Hoài Thanh vừa đi dạy học

ở trường Thuận Hoá (do ông Tôn Quang Phiệt và một số bạn bè của ông mở) vừa cắm cúi viết “ Thi nhân Việt Nam” trong tiếng bễ thụt phù phù và tiếng búa đập chát chúa của hàng xóm làm nghề lò rèn Sách viết xong cuối năm 1941 (tháng 11) được ông Hoài Chân (tức Nguyễn Đức Phiên) đưa ra nhà Thuỵ Ký ở

Hà Nội in ngay cuối năm ấy In theo phương thức “tự xuất bản” Vì vậy ở bìa trong của sách có ghi: “Nguyễn Đức Phiên xuất bản” Sách phát hành đầu năm

1942 (tự phát hành), bán rất chạy nên cuối năm 1942 đã phải tái bản và cũng được bán hết

Sau 1942, “ Thi nhân Việt Nam” chịu số phận mang kiếp “ bèo dạt mây trôi” chìm nổi như thân phận nàng Kiều ( chìm là chính), thời gian chìm nổi gấp hơn ba lần thân phận nàng Kiều: gần 50 năm (!)

Tôi vừa nói gần 50 năm, “Thi nhân Việt Nam” “ chìm là chính” vì mãi đến năm 1960, “ Thi nhân Việt Nam” mới được trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội xin phép in lại theo lối in rônêô với số lượng bản in rất hạn chế dành cho giáo viên và sinh viên khoa ngữ văn tham khảo

Ở Sài Gòn, năm 1968, nxb Hoa Tiên in lại hai lần một cách dè dặt (vì Hoài Thanh là ” Việt cộng”)

Năm 1985, nxb Đông Nam Á do một vị linh mục Thiên chúa giáo đứng ra xuất bản ở Paris Vị linh mục này có viết thư cho tôi biết rằng “sách bán chậm”

mà không nói lý do

Phải chờ đến năm 1988, nxb Văn học mới mạnh dạn tái bản “Thi nhân Việt Nam” theo đúng bản chính từ bìa cho đến nội dung toàn bộ cuốn sách theo

đề nghị của gia đình Hoài Thanh Một chi tiết thú vị: năm 1986, nxb Giáo dục

có đề nghị gia đình Hoài Thanh cho biên tập lại nội dung TNVN để in làm sách tham khảo trong nhà trường Gia đình không đồng ý Cùng năm 1986, nxb Văn học cùng có đề nghị tương tự nhưng gia đình vẫn không đồng ý Mãi đến năm

1988, nxb Văn học đáp ứng yêu cầu của gia đình nên mới được xuất bản Tuy

Trang 23

vậy để vượt qua được một số áp lực “nặng ký” bấy giờ, nxb Văn học tìm ra được một “cái chốt an toàn” là đề ở bìa trong của cuốn sách là “ Sách nghiên cứu”(!)

Một điều trớ trêu: tôi và Phan Hồng Giang là hai người con được Hoài Thanh ghi trong “Mấy lời để lại cho các con cháu” trước khi ông mất rằng hai chúng tôi có trách nhiệm giữ gìn và chăm sóc các công trình nghiên cứu, bài vở, bản thảo để lại của ông nhưng thật tình mà nói đến lúc này (tháng 5-2008) chúng tôi không thể đưa ra con số “ Thi nhân Việt Nam” đã được tái bản chính xác là bao nhiều lần Đơn giản là bởi cái tình trạng coi thường pháp luật về bản quyền của một số nhà xuất bản và nhất là một số doanh nghiệp có cái tên “nhà sách” này nọ đã cho in lại TNVN mà không một lời xin phép gia đình Hoài Thanh và những người thừa kế hợp pháp Mới gần đây thôi, khoảng đầu tháng 3-2008, tình cờ tôi xem một hàng sách ở via hè đường Nguyễn Chí Thanh thấy có bán TNVN Lật vội bìa sau thấy đề tên một nhà sách ở 808 đường Láng Điều ấy có nghĩa, theo quy định hiện hành, nhà sách ấy là “đầu nậu” in và phát hành Lật trang cuối cuốn sách có ghi: “Biên tập: Ban văn học nước ngoài” (của nxb Văn học) Chúng tôi gọi điện hỏi nxb Văn học: tại sao sách in từ năm 2006 mà gia đình không được hỏi ý kiến để cho phép in? Đại diện nxb trả lời đại ý: “ Nhà sách bậy lắm, họ in rồi cũng không báo và nộp sách cho nxb Để chúng tôi có ý kiến với họ” Ô hay, giấy phép nxb., cấp mà nxb cũng không theo dõi xem đối tác làm ăn thế nào Đấy chưa kể hà cớ gì “ Ban văn học nước ngoài” của nxb Văn học lại đứng ra “ biên tập” cuốn sách này? Không biết người ta “ vị…” cái

gì khi không chỉ nhà sách và nxb kể trên mà còn nhiều nhà sách làm “đầu nậu” cho vài nhà nxb khác đã in TNVN không biết bao nhiêu lần rồi mà chẳng một lời xin phép gia đình Hoài Thanh theo đúng quy định của pháp luật hiện hành

Tính đến nay (5-2008) “Thi nhân Việt Nam” đã được tái bản trên bốn mươi lần Tôi chỉ dám nói trên bốn mươi lần vì không kể 5 lần tái bản từ 1942 đến 1985 ở trong nước và ngoài nước đã kể trên thì từ 1988 đến nay đã có 5 nhà xuất bản in lại TNVN 37 lần Năm 1988, nxb Văn học tái bản lần đầu trong thời Đổi mới đã cho ấn hành tới 15.000 bản Nhà xuất bản Văn học cũng giữ kỷ lục

in lại “Thi nhân Việt Nam” ( trực tiếp tái bản hoặc liên kết xuất bản với các nhà sách hoặc tổ chức văn hoá) tới 33 lần, mỗi lần các nxb in lại đều đề số lượng in

là 1000 bản ( trên thực tế, số lượng thường vượt hơn 1000 bản) Tôi biết chắc

Trang 24

người ta đã in lại TNVN một cách không hợp pháp (không xin phép gia đình Hoài Thanh) ít nhất là 5 lần Những trường hợp in lậu theo lối “luộc sách” phổ biến hiện nay thực tình tôi không nắm chắc được là bao nhiều lần

Từ thân phận “chìm nổi” của TNVN vừa kể trên, có thể rút ra một vài nhận xét như sau:

- “Thi nhânViệt Nam” chìm hay nổi hơn sáu mươi năm qua có nguyên nhân là do biến thiên lịch sử , do “ thời tiết chính trị” Dấu ấn thời đại trong các thời điểm tái bản TNVN đều hiện ra rất rõ

- Có nhu cầu tìm đọc rất lớn của nhiều thế hệ công chúng nên TNVN là một trong nhiều tác phẩm văn học xuất bản trước Cách mạng tháng Tám được in

đi, in lại nhiều lần với số lượng phát hành rất lớn: cả trăm ngàn bản

Từ hai nhận xét nêu trên, khó lòng có thể xem TNVN là một tác phẩm

“chìm sâu hơn nữa vào con đường nghệ thuật vị nghệ thuật” Không lý gì nhiều

thế hệ bạn đọc hôm nay lại chạy theo trào lưu “nghệ thuật vị nghệ thuật” từng nhiều lần bị lên án một cách chính thống trong thời gian khá dài?

Vậy vì sao “Thi nhânViệt Nam” đã và đang tiếp tục được bạn đọc yêu mến, được đánh giá là một đỉnh cao của văn học hiện đại Việt Nam và tác giả của nó là một nhà phê bình văn học kiệt xuất, một “thiên tài” văn chương như nhiều nhà nghiên cứu và bạn đọc bình phẩm, thẩm định?

Trả lời cho câu hỏi này không thể khác ngoài giá trị văn chương đích thực của “Thi nhân Việt Nam” Đích thực trên cả hai phương diện: thơ của 46 nhà thơ cùng với 169 bài thơ của họ được tuyển vào TNVN hầu hết đều là những bài thơ hay và phương diện thứ hai là “ con mắt tinh đời”, “ lấy hồn tôi để hiểu hồn người” của Hoài Thanh Tác giả đã sưu tầm, tuyển chọn từ “ hơn một vạn bài thơ dở” qua nhiều sách báo trong suốt mười năm ( từ 1932 đến 1941), tổng kết một cách khoa học, khách quan với rất nhiều công sức, với trí tuệ sắc sảo, với những nhận xét tinh tế và đặc biệt là những lời bình duyên dáng, ý nhị, độc đáo, giầu chất thơ khiến “Thi nhân Việt Nam” đã trở thành tấm bia vàng không thể hao mòn, đánh dấu một thời huy hoàng cách tân nền thi ca dân tộc Công cuộc cách tân ấy đã đưa nền thi ca dân tộc đến một đỉnh cao rực rỡ hiếm thấy trong lịch sử văn học nước nhà Giờ đây những nhà nghiên cứu và đông đảo các thế hệ yêu thơ Việt Nam đều dễ dàng nhất trí rằng: nếu không có “Thi nhân Việt Nam”

Trang 25

không dễ gì các tác giả hàng đầu và các bài thơ hay còn sống mãi với thời gian trước bao biến đổi của thời đại suốt gần một thế kỷ vừa qua

Tôi xin phép không phân tích, chứng minh cho những nhận định có tính tổng quát về “Thi nhân Việt Nam” vừa nêu trên Bởi vì đã có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về “Thi nhân Việt Nam” được công bố trên các sách báo của nhiều tác giả đã đưa ra những nhận định đúng đắn, khoa học được chứng minh một cách đầy sức thuyết phục về giá trị đích thực và vĩnh cửu của “ thơ mới” và “ Thi nhân Việt Nam”

Lúc còn sống, những lần gặp tôi nhà thơ Huy Cận thường nói: “ Trong Thi nhân Việt Nam có 40 nhà thơ thì Hoài Thanh là nhà thơ 41” Huy Cận đánh giá rất cao sự nghiệp văn chương của Hoài Thanh Ông cho rằng Hoài Thanh

“ là một nhà bình luận văn chương “ không tiền khoáng hậu” hiếm thấy trong

văn học thế giới ( Xin xem : “ Hoài Thanh với khát vọng chân thiện mỹ “ - Từ

Sơn và Phan Hồng Giang biên soạn - Nxb Hội nhà văn, H 1999, tr.260)

Hồi 19 giờ ngày 17-6-2000 nhà thơ Huy Cận gọi điện cho tôi Ông bảo tôi hãy nghe và ghi lại bài thơ ông mới viết về Hoài Thanh Bài thơ ấy tôi đã mạn phép vong hồn nhà thơ Huy Cận đưa vào một bài viết của tôi đăng trên báo

“ Văn nghệ” số 24 ra ngày 16-6-2007 Tiện đây, tôi xin chép lại bài thơ ấy như sau:

Trang 26

sinh - Tác giả : Nguyễn Ngọc Thiện – nxb Khoa học xã hội, Hà nội 2004 tr.210)

Ông Phan Văn Dật viết: “ Nếu nghệ thuật mà không vì nghệ thuật thì còn đâu cái tính chất nghệ thuật của nó đã chứ? Còn nghệ thuật vị nhân sinh? Ba chữ “Vị nhân sinh” ấy cũng bằng thừa Thì nghệ thuật nào mà chẳng vị nhân sinh? Mà xét cho cùng, cái gì loài người đã bày ra trên cõi đất này, mà vần đời đời tồn tại, thì tất nhiên là vị nhân sinh rồi” Tác giả bài viết đã lần lượt điểm lại lịch sử hình thành thuyết “Nghệ thuật vị nghệ thuật” mà người khởi xướng là Théophile Gautier (và trước đó là V Hugo) rồi sự hưởng ứng nhiệt liệt của Bauđelaire, T.Banville, Buoilhet, Flaubert… Kế đó tác giả bài viết đã điểm lại khuynh hướng nghệ thuật vị nhân sinh mà Romain Rolland là người khởi xướng cho đến E.Picard (ở Bỉ), Puskin, Tolstoi, Gogol, Dostoevsky, Gorky… ở Nga v.v… là những tác giả thuộc khuynh hướng xã hội chủ trương nghệ thuật vị nhân sinh Phan Văn Dật đã chỉ ra rất cụ thể hoàn cảnh phát sinh cùng cái hợp lý và cái chưa hợp lý của từng khuynh hướng Cuối bài viết, Phan Văn Dật nói một cách khôi hài mà vẫn rất nghiêm chỉnh:” Nói tóm lại, hai chữ nghệ thuật vốn có cái nghĩa rất rộng Sự rộng rãi nếu quả không phải là một cái tội, thì tại sao người ta lại cứ tranh nhau thu hẹp cái phạm vi của nó là tại sao? Nó vốn có một thì cần gì phải tìm cách chặt đôi nó ra: nó đáng yêu đáng quý như một cô gái đồng trinh thì chuyện gì phải làm khổ nó mà bắt ép nó phải lấy những hai anh chồng mà anh nào cũng có cái máu ghen ghê gớm là sao? ” Phan Văn Dật cho rằng: “Ta

nên gọi một cách giản dị nghệ thuật là nghệ thuật ( xin chớ hiểu lầm với nghệ

thuật vị nghệ thuật) mà đừng bắt nó phải vị riêng cái gì cả, chỉ tổ gây ra những cuộc tranh luận không bao giờ xong mà thôi Một điều người ta không nên quên

là đã nói đến nghệ thuật thì phải dụng tâm làm thế nào cho thật có nghệ thuật

mà thôi” (Những dòng in nghiêng do tôi nhấn mạnh - T.S) Đọc lại bài viết của

ông Phan Văn Dật khiến tôi nhớ lại trong cuộc hội thảo khoa học do Viện Văn học tổ chức năm 1992 nhân 50 năm ra đời “Thi nhân Việt Nam” và 10 năm ngày mất nhà văn Hoài Thanh nhà thơ Hoàng Trung Thông có phát biểu một ý ngắn gọn nhưng rất sâu sắc: “ Nghệ thuật vị nghệ thuật là nghệ thuật vị nhân sinh”

Lại nhớ: trong Di bút của Hoài Thanh có đoạn kể lại: “ Anh Huỳnh Văn

Gấm, hoạ sĩ kể: Khoảng giữa năm 1947, anh Gấm lúc bấy giờ trong tỉnh uỷ Tân

An có chèo thuyền đưa anh Duẩn đi tránh giặc Tàu giặc chạy trên sông Vàm cỏ Tây Hai anh tránh vào một chỗ có lá che khuất nhưng vẫn nghe tiếng tàu giặc Anh Duẩn nói về nghệ thuật Anh nhắc đến cuộc tránh luận giữa Hoài Thanh và

Trang 27

Hải Triều, theo anh, nghệ thuật có thể phản ánh gián tiếp Không nhất thiết bức tranh nào cũng trình bày bằng hình ảnh công nông Một bông hồng rung rinh dưới ánh mặt trời trong sương sớm sao lại không được xem là nghệ thuật vị nhân sinh?Anh Gấm không biết do đâu mà lại có chuyện bông hồng này nó vốn

là một hình ảnh tôi từng đưa ra để nói về nghệ thuật và đã bị phái vị nhân sinh phê phán rất gắt gao Anh Duẩn lúc bấy giờ là bí thư xứ uỷ Nam Kỳ” ( Xem

Hoài Thanh - Di bút và di cảo - Từ Sơn sưu tầm và biên soạn – nxb Văn học -

Hà Nội 1993- tr.55)

Vậy là đã rõ quan điểm nghệ thuật của Hoài Thanh phù hợp với bản chất hằng tồn tại của nghệ thuật - một sản phẩm do con người tạo ra, vì con người, vì khát vọng hướng con người vươn tới một thế giới Chân - Thiện - Mỹ để con người có thể hoàn thiện chính mình và đồng loại

Tôi nghĩ: Với “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh đã và đang trên đường tìm về tâm hồn Việt thanh khiết, cao quý được thể hiện qua những vần thơ, những hồn thơ mang đậm hương sắc dân tộc trong một thời đại cơ hồ như bị Âu hoá và nỗi đau lớn nhất của con người Việt Nam lúc bấy giờ là bị làm nô lệ, bị mất nước Hoài Thanh cũng như các nhà thơ mới bị giam hãm trong một môi trường thiếu năng lượng, thiếu chất đốt của niềm tin nên thơ của họ cũng như cuộc sống của họ có những hạn chế, tầm nhìn của họ còn chưa đủ thấy được tương lai tươi sáng của ngọn lửa Cách mạng đang nhen nhóm để đưa dân tộc tới một cuộc đổi đời lớn sau này Nhưng dù sao trong trái tim họ cũng đã lập loè

“ngọn lửa Đancô” trên thảo nguyên mịt mùng của cuộc đời Đó là ngọn lửa của tình yêu con người Việt Nam, yên non sông đất nước Việt Nam, yêu tiếng mẹ

đẻ Họ “Muốn mượn tâm hồn bạch chung ( của dân tộc - TS) để gửi nỗi băn

khoăn riêng họ thấy cần phải tìm về dĩ vãng để vin vào những gì bất diệt đủ đảm bảo cho ngày mai” Đó là lời kết trong bài mở đầu cuốn “Thi nhân Việt

Nam”: Một thời đại trong thi ca

Với những điểm tôi nêu trên, không thể nói “Thi nhân Việt Nam” là một tác phẩm chìm sâu hơn vào con đường “nghệ thuật vị nghệ thuật” Để kết thúc bài viết này xin cho tôi mượn lời của gs.ts Phương Lựu phát biểu trong cuộc hội thảo khoa học do viện Văn học tổ chức ngày 13-8-1999 nhân kỷ niệm 90 năm

sinh Hoài Thanh : “ Ngày nay chúng ta càng nhận thấy Hoài Thanh không chỉ

là một nhà phê bình tài danh, mà còn là một gương mặt văn hoá dân tộc tiêu

Trang 28

biểu trong thế kỷ này… Theo tôi, nói quan điểm nghệ thuật của Hoài Thanh

trước cách mạng là “Vị dân tộc”( TS nhấn mạnh) có lẽ thoả đáng hơn cả”

(Xem “ Hoài Thanh với khát vọng Chân - Thiện - Mỹ”, Từ Sơn và Phan

Hồng Giang biên soạn nxb Hội nhà văn Hà Nội 2000 - tr.277)

Tháng 5 năm 2008 ( Bài này viết theo yêu cầu của một để tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước của khoa Ngữ văn - Đại học sư phạm Hà Nội Đã báo cáo tại một buổi hội thảo do Ban chủ nhiệm đề tài tổ chức hồi tháng 8-2008 Đã trích đăng một phần chủ yếu trên báo “Văn nghệ

công an” số 86 ra ngày 18-8-2008 với tiêu đề “Về một cuốn sách bảy nổi ba chìm với nước

non”)

Trang 29

THI NHÂN VIỆT NAM

Thi nhân Việt Nam : tác phẩm nghiên cứu - phê bình văn học về phong trào “ thơ mới” của Hoài Thanh và Hoài Chân, tác giả chủ yếu là Hoài Thanh (1909- 1982)

Thi nhân Việt Nam là một công trình nghiên cứu công phu, một bản tổng kết nghiêm túc có sức thuyết phục cao bởi các tư liệu phong phú, hệ thống, bởi các nhận định sắc sảo về quá trình phát sinh, về cuộc đấu tranh thắng lợi của cái mới, về sự phát triển mười năm của phong trào “ thơ mới” ( 1932-1941) đã làm nên một thời đại mới của thi ca trong nền văn học hiện đại nước nhà Công trình cũng đã nêu ra được những nguyên nhân từ xã hội, thời đại và từ con người sáng tạo thơ ca để lý giải sựphát sinh tất yếu của phong trào “Thơ mới” Các tác giả của Thi nhân Việt Nam còn đưa ra những gợi ý để hướng các nhà thơ gắn bó hơn nữa với cội nguồn dân tộc và ngôn ngữ dân tộc trong quá trình đổi mới sáng tạo thơ ca

Thi nhân Việt Nam còn được xem là một hợp truyền thơ đặc sắc Nét đặc sắc rõ nhất là tác giả Thi nhân Việt Nam đã “lấy hồn tôi để hiểu hồn người”

(TNVN tr.390-391) Không chỉ để hiểu mà còn say theo hồn người 169 bài thơ

của 46 nhà thơ có mặt trong Thi nhân Việt Nam như hoà với giọng bình của tác giả để hát lên bài ca sầu não, mộng mơ, vui vội, buồn sâu, đau đớn, ngơ ngác trước cuộc đời Đó là bài ca dường như tiếng nức nở, thở than một lớp thanh niên trí thức nặng tình với quê hươg đất nước, với ngôn ngữ dân tộc nhưng tự cảm thấy bất lực trước cuộc đời đầy nỗi đau nhân thế” Lớp người này cho rằng

mình đã “đầu thai lầm thế kỷ” nên mượn thơ ca, nghệ thuật để ru hồn mình “tận

cuối trời Quên” ( Thơ Vũ Hoàng Chương)

Một nét đặc sắc khác là tác giả Thi nhân Việt Nam đã chọn đúng những tác giả tiêu biểu của phong tràoThơ mới”, phát hiện đúng cái “ thần”, cái độc đáo trong sáng tạo của từng tác giả thông qua lời bình trang nhã, duyên dáng đầy cảm xúc chân thành, tế nhị với từng tác giả, từng bài thơ, câu thơ Nhiều nhà thơ trở thành tác giả quen thuộc của các thế hệ bạn đọc Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua một phần quan trọng là nhờ có mặt trong Thi nhân Việt Nam

Trang 30

“ Tôi rất say mê “ thơ mới” ngay từ khi “ thơ mới” ra đời “ Thơ mói” hầu

như là cái vui duy nhất của tôi hồi bấy giờ” ( Tuyển tập Hoài Thanh , tập I tr

303) Thi nhân Việt Nam là đứa con tinh thần được ra đời trong niềm đắm say

ấy Với tác giả Thi nhân Việt Nam , sự say mê ấy đã trở thành một thái độ sống: hình như trên đời chỉ có thơ là nơi trú ngụ bình yên của tâm hồn Thực ra, sau khi được hoà nhập vào cuộc sống lớn của Cách mạng, của dân tộc sau 1945, Hoài Thanh đã nghiêm khắc nhìn lại: “ Trong hoàn cảnh mất nước thì việc đầu tiên đối với nhà văn học cũng như nhà khoa học là phải góp sức giành lại chủ

quyền đầu có phải là miệt mài trong chuyện tiếng nói và văn thơ” ( Tuyển tập

Hoài Thanh, tập II tr 305) Sự tự phê bình về thái độ trách nhiệm của nhà văn

trước sự nghiệp dân tộc cũng như Hoài Thanh đã nhìn nhận là đúng đắn và cần thiết

Hơn nửa thế kỷ đã qua đi với bao đổi thay lớn lao của đất nước, của dân tộc Hầu hết các nhà thơ trong Thi nhân Việt Nam và tác giả Thi nhân Việt Nam

đã trở thành những nghệ sĩ - chiến sĩ trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc Ngày nay chúng ta trân trọng và giữ gìn và ghi nhận công lao của các thi sĩ thời

“ thơ mới” trong việc đổi mới thơ ca, làm giàu thêm tiếng việt và văn học Việt Nam Và với Thi nhân Việt Nam, cho đến nay vẫn là tác phẩm nghiên cứu - phê bình hay nhất về “Thơ mới” bởi nó đã dựng nên đài kỷ niệm bất chấp thời gian cho “Thơ mới” Tác phẩm mang rất đậm dấu ấn của người tạo ra nó: một Hoài Thanh tài hoa, tinh tế, thành thực - một nghệ sĩ, một nhà thơ độc đáo của ngành phê bình văn học Việt Nam

Xuất bản lần đầu năm 1942, được tái bản ngay cuối năm ấy Đến năm

1996 Thi nhân Việt Nam đã được tái bản mấy chục lần ở trong và ngoài nước với hàng chục vạn bản cho nhiều thế hệ bạn học Riêng nhà xuất bản Văn học (thuộc Bộ Văn hoá thông tin) từ 1988 đến nay (2009) đã xuất bản hoặc liên kết xuất bản Thi nhân Việt Nam tới ba mươi bảy lần(1) Trong lịch sử văn học hiện đại Việt Nam chưa có tác phẩm nghiên cứu phê bình văn học nào được tái bản nhiều lần như vậy

(1) Đến nay ( 2-2009) TNVN đã chính thức tái bản lần thứ 42 ( không tính các vụ in lậu, in nối bản khá nhiều ở các cái gọi là “nhà sách” không được phép gia đình nhà văn Hoài Thanh

Trang 31

HOÀI THANH - NGƯỜI THIẾT THA GẮN BÓ

VỚI VĂN HOÁ DÂN TỘC

Phát biểu khai mạc Hội thảo “ Hoài Thanh - cuộc đời và sự nghiệp” ngày

8-7-1999 nhân kỷ niệm 90 năm sinh nhà văn Hoài Thanh, nhà thơ Hữu Thỉnh bấy giờ là tổng thư ký Hội nhà văn Việt Nam (nay ông là chủ tịch Hội nhà Văn

Việt nam) nhận định: “ Toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Hoài Thanh cho

phép chúng ta đi đến kết luận: ông là một nhân cách lớn, đôn hậu, trung thực và giản dị; một tâm hồn gắn bó với Nhân dân và Đất nước; một tài năng văn học hiếm thấy trong nền văn hoá Việt Nam ở thế kỷ 20; người có những đóng góp xuất sắc cho sự hình thành và phát triển của nền văn học cách mạng nước ta” (1)

Nhận định vừa nêu trên là hoàn toàn chính xác và công bằng đối với cuộc đời và sự nghiệp nhà văn Hoài Thanh - một nhận định mà lúc Hoài Thanh còn sống và cả một thời gian không ngắn sau khi Hoài Thanh đi vào cõi vĩnh hằng không phải là không có một số người cố ý hoặc vô tình không nhìn nhận đúng những đóng góp của Hoài Thanh vào sự nghiệp văn hoá - văn nghệ Việt Nam thế kỷ 20 và nhân cách của một người cầm bút suốt cuộc đời vì dân tộc, vì sự trường tồn của nền văn hoá dân tộc

Một số người thường hiểu và đội cho Hoài Thanh cái mũ vốn rất không

hợp với dáng vẻ, khuôn mặt và tâm hồn của ông “chủ soái của phái nghệ thuật

vị nghệ thuật” Và, sau 8-1945, một số người đã “ nói oan, nói ác” ( chữ dùng

của Hoài Thanh ) cho ông là “ nửa đời còn lại vị người cấp trên” Song chân lý

bao giờ cũng là chân lý cho dù con đường đi tới chân lý phải trải qua nhiều khúc quanh gập ghềnh và không ít khi phải đương đầu với mưa to, gió lớn Tiếc rằng phải chờ đến những năm cuối cùng của thế kỷ với bao đổi thay quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, trong đời sống tinh thần; với những tư liệu đầy đủ về văn nghiệp của Hoài Thanh; với thời gian và sự tiếp nhận nồng nhiệt của công chúng văn học…sự công bằng trong nhận điịnh về cuộc đời và sự nghiệp của Hoài Thanh mới cất lên tiếng nói chính thức Tiếng nói ấy ngày càng được sự đồng tình của đông đảo công chúng văn học nhiều thế hệ

Trang 32

Giáo sư - nhà văn Đặng Thai Mai viết về Hoài Thanh: “Điều chắc chắn là

rồi đây nói đến văn học cổ điển, văn học hiện đại của dân tộc mỗi nhà nghiên cứu nghiêm túc sẽ không thể không đọc Hoài Thanh” (2) Thật vậy, cho đến

nay, theo tư liệu chúng tôi sưu tầm được, đã có hơn 150 công trình nghiên cứu, bài viết với độ dày tổng cộng chừng 2000 trang in nghiên cứu về Hoài Thanh Hầu hết các công trình và bài viết ấy đều ghi nhận những đóng góp xuất sắc của Hoài Thanh trên phương diện phê bình văn học nhất là trong lĩnh vực phê bình thơ Các học giả và các nhà nghiên cứu đều khẳng đinh: Hoài Thanh là một tài năng xuất sắc hiếm có trong lĩnh vực phê bình văn học Việt Nam thế kỷ 20 ( có tác giả đã không ngần ngại xếp Hoài Thanh là một thiên tài văn học nước nhà);

là một nghệ sĩ lớn, là một nhà thơ trong phê bình thơ v.v….Những đánh giá rất đúng và rất đáng trân trọng ấy đã dựng nên bức chân dung trung thực về một Hoài Thanh nhà văn, Hoài Thanh - nghệ sĩ Tuy vậy, sẽ có một bức chân dung hoàn chỉnh hơn về Hoài Thanh nếu nghiên cứu, tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của Hoài Thanh từ một cách nhìn tổng quát hơn để thấy Hoài Thanh là một nhà văn hoá lớn suốt một cuộc đời gắn bó thiết tha với dân tộc và văn hóa dân tộc

Văn chương đối với Hoài Thanh có một thời (thời trước Cách mạng tháng Tám) được ông xem như một thứ đạo, một tôn giáo để thờ phụng, phó thác niềm tin và tình yêu say đắm cái đẹp Nếu nghiên cứu không đầy đủ bối cảnh xã hội, hoàn cảnh sống của Hoài Thanh cùng với lớp thanh niên trí thức thời bấy giờ và quan sát bằng cách nhìn hiện nay thì ta dễ dàng cho Hoài Thanh là đồ đệ của chủ nghĩa duy mỹ của trường phái “ nghệ thuật vị nghệ thuật”

Trên thực tế, Hoài Thanh không phải là một con người như vậy Từ thưở thiếu niên, vào đầu những năm hai mươi của thế kỷ XX, cậu học trò trường Quốc học Vinh Nguyễn Đức Nguyên ( tên thật Hoài Thanh) theo lời kể của ông Nguyễn Đức Bính, (anh em con chú,con bác ruột với Hoài Thanh) chàng học sinh hiền lành và sợ sệt trước thầy giám thị ấy đã “ biến thành một kiểu lãnh tụ con phát động lên một phong trào sôi nổi lôi cuốn từng loạt học sinh trong trường cùng với mình thực hiện sống theo tinh thần dân tộc là: ăn, mặc, nói bằng

đồ Việt Nam, kiểu Việt Nam, tiếng Việt Nam thay cho tiếng Pháp” (3) Học rất giỏi, năm nào cũng đứng đầu lớp, được bằng danh dự và phần thưởng của nhà trường những Nguyễn Đức Nguyên “cuối năm học nào cũng thấy ( nhà trường) ghi là: “Đầu óc xấu, phải gíam sát chặt chẽ” (4)

Trang 33

Sinh ra từ một gia đình nhà Nho sa sút nơi làng quê xứ Nghệ nghèo nàn

nhưng rất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng “ Hoài Thanh là đứa con

đẻ mà lịch sử đã có đơn đặt hàng cho thời đại theo khuôn khổ của những truyền thống dân tộc Nói như vậy để nhấn mạnh vào một nét đặc biệt trong công thức

là sự kết hợp thành lứa đôi di truyền qua các thế hệ giữa hai yếu tố truyền thống

và yếu tố cách mạng của thời đại mà các thế hệ thừa kế sẽ tiếp thu qua dòng sữa

mẹ cùng một lúc với không khí của đất trời quê hương cùng những mùi vị thơm ngọt khác của đồ ăn trong cây cỏ” (5)

Trước khi trở thành nhà văn, Hoài Thanh là một thanh niên yêu nước đã dấn thân vào con đườngcủa người chiến sĩ cách mạng Ông đã tham gia việc đòi

ân xá cụ Phan Bội Châu và lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh Năm 1927, Hoài Thanh gia nhập Tân Việt Cách mạng đảng Năm 1930, ông bị thực dân Pháp bắt giam ở Hà Nội rồi lại giải về giam ở nhà lao Vinh, bị kết án tù treo 6 tháng Sau

đó ông lại bị đuổi khỏi trường Bưởi vì chứa sách cách mạng Tự học, thi đỗ tú

tài Tây, ông đi làm báo Phổ Thông rồi ra làm báo tiếng Pháp Le Peuple ( Nhân

dân) để đả kích thực dân Pháp mà không bị kiểm duyệt Tờ báo này ra được 3

số, số 4 đang in thì Hoài Thanh bị trục xuất khỏi Hà Nội để rồi bị quản thúc tại quê nhà Lúc ấy là cuối năm 1930 - khi phong trào Xô viết Nghệ An đang diễn

ra rầm rộ Hoài Thanh ngơ ngác không hiểu gì hết về phong trào này Ông kể lại trong một bài viết sau này rằng: đêm khuya, ông ngồi một góc vườn nghe người

làng đi biểu tình hô to khẩu hiệu: “ Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” ông băn khoăn: “ Vì sao lại bạo lực chính trị trong cuộc biểu tình đêm ấy không

chĩa vào bọn Pháp mà lại chĩa vào những người dẫu sao cũng là đồng bào của mình cả thôi” (6) Bây giờ nhìn lại, ta có thể thấy Hoài Thanh khi ấy chỉ ý thức

được vấn đề dân tộc mà chưa hiểu biết gì về vấn đề đấu tranh giai cấp là một ngọn cờ được giương lên trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh

Đầu năm 1931 Hoài Thanh vào Huế làm thợ chữa mo-rát cho nhà in Đắc Lập Từ thân phận làm người thợ đi guốc mộc, ở nhà tranh, với tâm trạng chán đời vì chưa tiếp nhận được lẽ sống lớn của dân tộc và thời đại Hoài Thanh chuyển sang nghề dạy học tư để rồi từ đó ông tìm được một nơi ẩn náu sự đời thu hút hầu như toàn bộ tâm hồn ông: văn chương cùng với giá trị trong nền văn hoá dân tộc Về sau này, vào tháng 5-1970 nhìn lại quãng đời trước 8-1945 ông

viết: “Từ chỗ chống đối đế quốc phong kiến bằng hoạt động cách mạng, tôi rút

Trang 34

lui một bước thứ nhất về chỗ viết bài những bài có tính chất chống đối trên mặt báo Rồi lại rút lui một bước thứ hai về chỗ chỉ còn ít nhiều chống đối lễ giáo phong kiến bằng văn thơ, thực chất là hoàn toàn thoát ly cách mạng, thoát lý chính trị chống đối và tìm chỗ ẩn nấp trong văn thơ” (7) Đó là lời tự phê bình

nghiêm khắc, triệt để, đầy tính Đảng của đảng viên Hoài Thanh vào lúc đã có 25 năm tuổi Đảng

Bi kịch của Hoài Thanh thời trước 1945 cũng là bi kịch chung của lớp thanh niên trí thức nặng lòng yêu nước, yêu dân tộc, ghét thực dân phong kiến nhưng bơ vơ giữa những ngã ba đường vì không tìm được người chỉ đường sáng suốt Lớp người ấy có khát vọng lớn nhưng “ lực bất tòng tâm” và, từ trong đấy sâu tâm hồn họ, ẩn dấu ít nhiều sự yếu đuối, khiếp sợ trước sự đàn áp tàn bạo của bọn thực dân phong kiến đang thống trị đất nước Hoài Thanh đã ghi lại rất

đúng tâm trạng đầy chất bi kịch ấy: “ Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi Mất

bề rộng ta đi tìm bề sâu Nhưng càng đi sâu càng lạnh Phương Tây đã trao trả hồn ta lại cho ta Nhưng ta bàng hoàng vì nhìn vào đó ta thấy thiếu một điều, một điều cần hơn trăm nghìn điều khác: một lòng tin đầy đủ…” Bi kịch ấy diễn

ra thường trực trong cuộc sống của họ Họ tìm lối thoát bằng cách: “ Bi kịch ấy

họ gửi cả vào tiếng Việt Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỷ đã chia sẻ vui buồn với cha ông Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt Tiếng việt, họ nghĩ là tấm lụa đã hứng vong hồn những thế hệ qua Đến lượt họ, họ cũng muốn mượn tấm hồn bạch chung để gửi nỗi băn khoăn riêng

Nhưng do đó trong thất vọng sẽ nẩy mầm hy vọng”(8)

Ở Hoài Thanh, đến văn chương là một sự trở về Trở về với các giá trị

tinh thần lâu đời và hiện có của dân tộc Văn chương, đối với ông như một tấm lụa bạch hứng vong hồn của các thế hệ ông cha nên nó rất thiêng liêng và có sức mạnh vô hình tạo nên sự trường tồn của nòi giống Việt Nam Ông viết với

những lời lẽ đầy tâm huyết trong Thi nhân Việt Nam: “ Di sản tinh thần của cha

ông đại khái vẫn còn nguyên vẹn Tôi tin rằng nó có thể đưa sinh khí đến cho thơ và cứu các nhà thơ ra khỏi một tình thế chừng như lúng túng….Nếu các thi nhân ta đủ chân thành để thừa hưởng di sản xưa, nếu họ biết tìm đến thơ xưa với một tấm lòng trẻ, họ sẽ phát huy được những gì vĩnh viễn hơn, sâu sắc hơn

mà bình dị hơn trong linh hồn nòi giống Nhất là ca dao sẽ đưa họ về với dân quê, nghĩa là với chín mươi phần trăm số người trong nước Trong nguồn sống

Trang 35

dồi dào và mạnh mẽ ấy họ sẽ tìm ra những vần thơ không phải chỉ dành riêng cho chúng ta, một bọn người có học mới, mà có thể làm nao lòng hết thảy người Việt Nam” (9) Như vậy, Hoài Thanh đã sớm nhận thức được con đường đúng

đắn nhất của nghệ thuật văn chương là bám chắc và gắn bó chặt chẽ với truyền thống dân tộc, tâm hồn dân tộc được hình thành và phát triển từ ngàn xưa cho đến nay từ lớp người đông đảo nhất của xã hội: người nông dân, người lao động

Trước khi viết Thi nhân Việt Nam, từ đầu những năm 30, Hoài Thanh đã

dành nhiều công sức và suy nghĩ vào việc tìm hiểu và phát hiện các giá trị tinh thần vô giá của nền văn hoá dân tộc Ông nghiên cứu lịch sử văn hoá Việt Nam

và đã viết một bài có giá trị phát hiện về cuốn Việt Nam văn hoá sử cương của Đào Duy Anh (10) Nghiên cứu Truyện Kiều của Nguyễn Du, Hoài Thanh đã

viết nhiều bài gây được chú ý và hoan nghênh của dư luận, đặc biệt là bài diễn

thuyết ở hội Quảng Tri ( Huế): Một phương diện của thiên tài Nguyễn Du: Từ

Hải(11) Hoài Thanh đặc biệt chú trọng nghiên cứu ca dao, tục ngữ và các thể

loại văn chương bình dân để từ đó ông đưa ra nhiều khuyến nghị đối với người

sáng tác thơ văn trong hàng loại bài viết như: Cần phải có một thứ văn chương

mạnh mẽ hơn, Xin mách các nhà văn một nguồn văn, Chân lý không ở trong sách Về văn học, xứ ta cũng còn là một đất hoang,…(12)

Sau cuộc tranh luận “ Nghệ thuật vị…” hồi 1935-1936 Hoài Thanh thấy

cần trình bày trước dư luận một cách đầy đủ và có hệ thống nhân sinh quan, thế giới quan và quan điểm văn học nghệ thuật của mình và những người có chung quan điểm với ông những điều mà trong cuộc tranh luận ông và các bạn ông

chưa nói hoặc không thể nói được Cuốn Văn chương và hành động ra đời hồi

giữa năm 1936 đã thể hiện ý tưởng ấy của Hoài Thanh ( viết chung với Lưư Trọng Lư và Lê Tràng Kiều với danh nghĩa văn phái Phương Đông do Hoài Thanh chủ biên và chấp bút) Cuốn sách vừa in xong, chưa kịp phát hành thì đã

bị chính quyền thực dân Pháp tịch thu và cấm lưu hành đến hơn 60 năm sau mới đến được với bạn đọc hôm nay (13)

Văn chương và hành động có phụ đề là “Thay lời tuyên ngôn của văn

phái phương Đông” rõ ràng không chỉ là bàn chuyện văn chương thuần tuý Điều đầu tiên các tác giả bàn là ý nghĩa đời người, bàn đến trách nhiệm của nhà văn trong tư cách là con dân nước Việt đang chịu cảnh đô hộ, lầm than, kêu gọi

“ cần phải hành động” để sao thoát khỏi “ Cái tủi nhục của dân mình, cảnh khốn

Trang 36

cùng của người mình” Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thiện đã nhận xét rất

đúng về cuốn Văn chương và hành động rằng cuốn sách “ vô hại về ý thức

nghệ thuật thuần tuý, nhưng lại chứa đựng những mần mống của tư tuởng tự do phóng túng vượt ra ngoài khuôn khổ gò bó, ở thái độ dám phê phán những mặt trái của xã hội, sự bất kính trước những tín điều nguỵ tạo cốt duy trì sự ổn định

và sự phục tùng, ở lời kêu gọi hành động, dấn thân để thay đổi tình thế Những

tư tưởng đó tuy chưa phải là những nhân tố của ý thức hệ vô sản, nhưng đã rõ cốt cách của tinh thần yêu nước và chủ nghĩa dân tộc của tầng lớp thanh niên trí thức tiểu tư sản thành thị - nó không hiền lành chút nào mà nguy hiểm cho sự cai trị nhân dân bằng các thủ đoạn ngu dân, thủ tiêu tự do, bóp nghẹt dân chủ, nuôi dưỡng bóc lột, bất công và áp bức tràn lan”.(14) Phải công nhận là bọn

thực dân Pháp thống trị thời ấy rất “ tinh”: chúng để cho các bên tham gia cuộc

tranh luận “ nghệ thuật vị…” tha hồ cãi nhau về vô sản, tư bản, phú hào về đấu

tranh giai cấp v.v nhưng hễ bàn tới việc cần hành động để thoát khỏi ách đè

nén thống trị của chúng như các tác giả Văn chương và hành động đã bàn thì

Giờ đây đọc lại những trang viết của Hoài Thanh trước 1945 chúng ta cảm nhận rõ tình yêu thiết tha đến mức say đắm của ông đối với các giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc đã có từ ngàn xưa và cả những giá trị mới xuất hiện đương thời Tất cả đều được ông nâng niu quý trọng dù các giá trị ấy có cái là khối vàng ròng to lớn dễ nhận biết, cái cái chỉ mới là những hạt vàng li ti lẫn trong cát hoặc còn là viên ngọc bị bao lớp bụi thời gian che phủ Với tấm lòng trân trọng và với con mặt tinh đời, ông đã làm sáng lên rực rỡ nhiều giá trị trong nền văn hoá, văn học của dân tộc góp phần không nhỏ cho các giá trị ấy trường tồn

*

Trang 37

Tác phẩm đầu tiên của Hoài Thanh viết sau Cách mạng tháng Tám là

cuốn Có một nền văn hoá Việt Nam được xuất bản hồi đầu năm 1946 (16) Đây

là tác phẩm giàu tính chiến đấu và có sức thuyết phục cao bởi lý lẽ sắc bén và tình cảm chân thành của tác giả đối với văn hoá dân tộc

Khẳng định mạnh mẽ có một nền văn hoá Việt Nam không phải là điều dễ

được sự đồng tình đối với những học giả thực dân và không ít người thuộc giới trí thức nước ta vào lúc ấy Họ th ường coi văn hoá Việt Nam là con số không khi đem so sánh với văn hoá phương tây Vào thời điểm ấy, khi toàn dân tộc đang hồ hởi bắt tay vào việc xây dựng và bảo vệ nước cộng hoà non trẻ dưới sự

lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh thì việc khẳng định có một nền văn hoá Việt

Nam rất đáng tự hào là điều hết sức cần thiết

Trong tác phẩm kể trên, Hoài Thanh đã là một trong những người đầu tiên phát hiện và khẳng định khả năng dị thường của văn hoá Việt Nam giúp cho dân tộc ta không bị đồng hoá suốt hàng ngàn năm nô lệ, giúp cho dân tộc ta chiến thắng ngoại xâm, mở mang bờ cõi, dựng nên một nền văn hiến lâu đời, tạo thế

và lực vững chắc trước mọi bão táp của lịch sử dân tộc.Tiếp đó, Hoài Thanh nêu lên một vài tính chất hết sức cơ bản thể hiện bản sắc của văn hoá Việt Nam Ông

đã phát hiện và chứng minh những nét đặc sắc của tình và điệu tâm hồn dân tộc

bộc lộ trong tiếng Việt, trong văn chương - nhất là văn chương bình dân để dẫn tới một nhận xét tinh tế rằng: “ người Việt chúng ta sống trong nhịp điệu, thanh

âm nhiều hơn trong tư tưởng” Từ nhận xét ấy, ông cho rằng dân tộc ta còn rất

trẻ, trẻ chứ không phải là sơ sinh, nên dân tộc ta còn nhiều sinh lực, còn tiến xa

Tác giả cho rằng: “ văn hoá Việt Nam quý ở phần tình cảm hơn ở phần tư tưởng, ở phần tiềm thức hơn ở phần hữu thức” Vì vậy, văn hoá Việt Nam rất

khó hiểu đối với học giả phương tây Muốn hiểu văn hoá Việt Nam phải có sẵn mối tình, phải là người đồng điệu

Một tính chất khác của văn hoá Việt Nam được Hoài Thanh chỉ ra là không thiên về lượng Tác giả bác bỏ quan điểm “ chuộng nhiều, chuộng to”

trong văn chương, nghệ thuật : “ một câu ca dao trên sáu dưới tám có thể quý

hơn hàng trăm pho sách nặng nề và một vài đường nét đơn sơ có thể quý hơn cả một lâu đài đồ sộ” Tác giả viết tiếp: “Văn hoá Việt Nam chỉ có vẻ nghèo nàn với những người không tinh ý Thực ra, công trình văn hoá tuy không nhiều,

Trang 38

không đồ sộ nhưng vẫn tiêu biểu cho một đời sống tinh thần dồi dào và nhiều vẻ”

Trong tác phẩm trên Hoài Thanh đã chỉ ra rất đúng mối quan hệ giao lưu văn hoá Việt Nam với các nền văn hoá khác Tác giả cho rằng tâm hồn rộng mở đón gió bốn phương của dân tộc ta từ ngàn xưa đến nay đã làm đẹp hơn, phong phú hơn vốn văn hoá dân tộc mà vẫn không đánh mất bản sắc của mình Tác giả kịch liệt phản đối lối “khư khư thủ cựu”, nệ cổ Tác giả đã tìm ra quy luật phát triển của văn hoá là biến đổi không ngừng theo cụôc sống của dân tộc và thời

đại : “ Gọi bằng Việt Nam là một sự thực luôn luôn thay đổi với cuộc sống

không ngừng Làm sao có thể níu lại cuộc sống không ngừng?Cái điều hôm nay

ta gọi là tính chất Việt Nam có phải từ bao giờ vẫn là tính chất Việt Nam đâu”

Ở phần cuối tác phẩm, tác giả chỉ ra quy luật kế thừa và phát triển của văn hoá trong mối quan hệ biện chứng: kế thừa để phát triển, phát triển để kế thừa Nhiệm vụ hàng đầu của sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới là sáng tác ( hiểu theo nghĩa sáng tạo như hiện nay chúng ta thường nói - T.S.) Sáng tạo ra nhiều giá trị văn hoá mới có tính dân tộc lại vừa có tính quốc tế như chủ tịch Hồ Chí

Minh đã chỉ rõ: “ Gốc của văn hoá mới là dân tộc : nếu dân tộc hoá mà phát

triển đến cực điểm thì tức là tới chỗ thế giới hoá đó; vì, lúc bấy giờ văn hoá thế giới sẽ phải chú ý đến văn hoá của mình, phải làm bạn với văn hoá của mình, và văn hoá của mình sẽ chiếm được một địa vị ngang với nền văn hoá thế giới Mình có thể bắt chước những cái hay của bất kỳ n ước nào ở Âu Mỹ, nhưng điều cốt yếu là sáng tác Mình đã hưởng cái hay của người thì mình cũng phải có cai hay cho người ta hưởng Mình đừng chịu vay mà không trả” (17)

Trong phần kết luận tác giả đưa ra những dự báo bước đầu về tương lai văn hoá Việt Nam Tác giả cho rằng với sức sáng tạo lạ lùng của dân tộc ta, trong tương lai: “Chúng ta sẽ đưa đến, trong thế giới ngày mai, không phải một tôn giáo hay một triết lý mà dẫu hay đến đâu cũng chẳng mấy ai theo; chúng ta

sẽ đưa đến, bàng bạc và linh động trong những nét, những lời, một đạo sống riêng để thay cho cái hỗn loạn, cái điên rồ vẫn ngự trị trong nền văn minh cũ đang phá sản Đến lúc đó, người ta mới thấy dân tộc Việt Nam là cần cho nhân loại Nó mà mất thì, sẽ tiêu diệt với nó một giá trị tinh thần vào bậc nhất Tôi biết vô số người đương bảo tôi điên Nhưng mặc Về phương diện này không thể không tin ở sức sáng tạo của nòi giống” Thật đáng trân trọng biết bao tấm lòng

Trang 39

yêu mến thiết tha và niềm tin mãnh liệt của Hoài Thanh đối với dân tộc Việt Nam và văn hoá Việt Nam Niềm tin ấy của ông đã được lịch sử chứng minh qua hai cuộc kháng chiến thần thánh vì độc lập tự do, vì phẩm giá của con người trong thời đại mới: thời đại Hồ chí Minh

Trước Cách mạng tháng Tám 1945 sự trở về với văn hoá dân tộc của Hoài

Thanh ít nhiều còn mang màu sắc duy tâm, siêu hình như ông đã có lần tự phê

phán Cách mạng và kháng chiến đã mở ra một con đường sáng tạo cho sự trở về

sâu sắc hơn, khoa học hơn Chúng tôi sẽ bàn tới vấn đề này vào một dịp khác bởi khuôn khổ bài viết này chỉ có hạn Ở đây chúng tôi chỉ xin nhắc đến tên một

số tác phẩm đáng chú ý mà ông đã dành nhiều tâm huyết để nghiên cứu các giá trị lớn của văn hoá dân tộc và các vấn đề có tính chiến lược trong đường lối để

đề xuất các kiến nghị nhằm xây dựng nền văn hoá mới của đất nước ta Đó là

các cuốn sách: Quyền sống của con người trong truyện Kiều, Nhân văn Việt

Nam, Xây dựng văn hoá nhân dân, Nói chuyện thơ kháng chiến, Phan Bội Châu, Phê bình và tiểu luận ( ba tập) và rất nhiều bài nghiên cứu, bài báo bàn về ngôn

ngữ Việt Nam, về các thể thơ xưa, về mối quan hệ giữa con người với vũ trụ, về nền giáo dục và sách giáo khoa, về việc đặt tên xóm, tên xã, về quyền làm chủ của người đọc, về đời sống văn hoá nông thôn hiện nay.vv….Nếu nhìn một cách tổng quát hơn ta có thể nói: toàn bộ sự nghiệp của Hoài Thanh đều hướng vào việc phát hiện, giữ gìn và phát huy mọi giá trị văn hoá dân tộc từ xưa đến nay

Thật vậy, nếu không có Thi nhân Việt Nam , Quyền sống của con người trong

truyện Kiều, Nói chuyện thơ kháng chiến cùng với các công trình nghiên cứu

đặc sắc về văn chương bình dân, về văn học cổ điển Việt Nam, về thơ Hồ Chí Minh, thơ Tố Hữu, thơ của các nhà thơ thời chống Pháp rồi chống Mỹ thì sẽ có không nhiều thì ít các giá trị hết sức quý báu trong đời sống tinh thần dân tộc hoặc sẽ bị lãng quên, hoặc sẽ không toả sáng được đầy đủ (18)

Huế, tháng 11-1934, Hoài Thanh viết trong nhật ký: “mỗi con người

chúng ta - dù là con người tầm thường nhất cũng tượng trưng cho một toàn bộ khó quan niệm những cố gắng của tự nhiên và của con người được theo đuổi không ngừng qua nhiều triệu thế kỷ Chỉ xét riêng điều này có lẽ đủ để làm cho chúng ta xem xét tia lửa mà chúng ta mang trong người như là vô cùng quý giá

và cuộc sống như là một cái gì vô cùng quan trọng” (19) Đọc những dòng này

ta có thấy một Hoài Thanh lấy tình yêu cuộc sống và con người luôn cố gắng

Trang 40

vươn tới sự hoàn thiện làm lẽ sống cho mình Về sau này khi ông đã nhiều chục năm đi vào cuộc sống lớn của cách mạng và dân tộc, ông nói rõ thêm về “ tia lửa” về sự huyền diệu của vũ trụ và cuộc sống mà ông đã nghĩ tới từ mấy chục

năm trước: “ Từng có lúc tôi nghĩ mỗi lớp người sinh ra, lớn lên, tung hoành

trong cuộc sống rồi tàn đi cũng ví như một đợt pháo hoa, gồm đủ màu sắc cứ kế tiếp nhau vô cùng vô tận, kể cũng đẹp nhưng cái đẹp đơn thuần màu sắc ấy vẫn chưa xứng với lịch sử đẹp tuyệt vời của vũ trụ Nhất là từ khi giữa cái mênh mông của vật chất vô tri, vô giác, sự sống bỗng xuất hiện và từ những hình thái nguyên thuỷ thô sơ không ngừng tiến lên những hình thái vô cùng phong phú ngày càng có thêm tự do, thêm ánh sáng Tia lửa thiêng cứ thế nhen lên, nhen lên mãi Vũ trụ thoát dần cảnh đêm dài mù mịt và cuối cùng đã bừng sáng lên trong bàn tay và khối óc của con người, lần đầu tiên tự mình nhìn thấy mình và

tự mình làm chủ lấy mình trong muôn một Từ bấy đến nay đã có mấy chục vạn năm, và chúng ta vẫn không ngừng tiến lên trong đấu tranh, trong đau khổ, trong phấn khởi hân hoan cho đến lúc cả cuộc đời toàn là tự do, toàn là ánh sáng, người thực sự trở thành chúa trời và người với trời là một “ (20)

Nghĩ nhiều về vũ trụ và nhân sinh để tìm một lẽ sống đúng, hài hoà trong tình yêu say đắm vẻ đẹp và sự huyền diệu của con người cùng cuộc sống là điều thường trở đi trở lại trong những dòng viết của Hoài Thanh Vẻ đẹp cùng với sự huyền diệu của vũ trụ và nhân sinh là lĩnh vực vô hạn vô cùng cho sự sáng tạo văn hoá, nghệ thuật Giá thử mọi sự thật, mọi con người đều có lời giải đáp sẵn, không cần tìm hiểu, khám phá thì thế giới này, cuộc đời này sẽ buồn tẻ biết bao

Và nếu vậy cũng sẽ không có sự tồn tại của niềm say mê lớn của nhân loại là sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá, nghệ thuật

Trước lúc đi vào cõi vĩnh hằng không lâu, Hoài Thanh ghi trong di bút:

“Không có một cái gì thoát ra ngoài không gian và thời gian Cho nên có thể nói

không cái gì thoát ra ngoài sự huyền diệu vẫn bao trùm vũ trụ và vây kín mọi cuộc đời Từ đó rất dễ dàng đi đến những tư tưởng bi quan, tiêu cực, thậm chí

mê tín, dị đoan Nhưng từ đó cũng có thể đưa đến một cái nhìn say người về cuộc đời về trời đất Trời đất này, cuộc đời này đúng là kỳ diệu Một sự kỳ diệu không cùng Những cảnh tuyệt đẹp của trời mây, của sông núi, những màu hoa, những ánh mắt, những nụ cười, những giọng hát đầm ấm mặn mà, những cử chỉ

âu yếm, thân thương, cả những tâm hồn trong như ngọc sáng như gương, tất cả

Ngày đăng: 28/04/2021, 03:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w