Thường thì bốn góc nhà mồ, họ dựng tượng người ngồi chống gối, tay chống cằm, vẻ măt tư lự, xung quanh là các pho tượng biểu trưng cho sự sống, phồn thực tượng nam giới khỏa thân, đối di
Trang 1
DÂN TỘC Ê ĐÊ
Khái quát chung :
các nhóm địa phương: Kpạ, Adtham, Krung, Mthur, Ktul, Dliê, Ruê, Bih, Blô, Kdrao, Dong Kay, Dong Mawawk, Ening, Arul, Hwing
Dân số: năm 2009 có 331.194 người Ê Đê trên toàn quốc
Địa bàn cư trú: Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Rai, Khánh Hòa…
Kinh tế
a, Nông nghiệp:
Người Ê Đê làm rẫy là chính, thường làm ở rừng già Sau khi đã tế lẽ thần linh, họ chặt cây, phát rẫy, đốt Khi gieo trồng họ dọn rẫy, dùng gậy trọc lỗ, tra hạt giống Tra giống xong họ làm lễ, rào quanh rẫy chống muông thú phá hoại, chờ mưa cho hạt giống nảy mầm Khi thu hoạch với lúa tẻ họ dùng tay tuốt thóc, lúa nếp thì cắt từng bông Các công đoạn canh tác trên rẫy của họ đều khá đơn giản Trên nương rẫy, ngoài trồng lúa họ còn trồng các cây lương thực khác (ngô, khoai, sắn, ), các loại cây thực phẩm (bầu, mướp, lạc, vừng, các loạirau, các loại đậu, ), các loại cây làm thuốc (nghệ, gừng ), các cây nguyên liệu và các loại cây ăn quả
Đặc diểm làm rẫy của người Ê Đê là luôn khoảnh, tức là những khu đất đang canh tác còn cónhững khu đất để phục hồi sự màu mỡ
Ngày nay, người Ê Đê trồng cây các công nghiệp (cà phê, cao su, hồ tiêu, ca cao )
b, Thủ công
Phổ biến là nghề bông dệt vải với kĩ thuật còn khá thấp, chỉ mới dùng khung dệt kiểu
Indonesia (buộc sợi dọc lên : cột, một đầu buộc vào ván, ván buộc vào lưng người dệt).
Bên cạnh có nghề đan lát mây tre làm đồ gia dụng
d, Chăn nuôi: khá phát triển Đa số các gia đình đều nuôi trâu, lợn, gà, Nhưng chăn nuôi
chủ yếu để phục vụ cho tín ngưỡng trong các lễ hội Đặc biệt người Ê Đê còn thuần dưỡng
và nuôi voi Kỹ thuật chăn nuôi của họ chủ yếu là thả rông, vào buổi ban đêm gia súc được lùa về nhà và nhốt ở gầm sàn, Với lợn gà thì họ thả rông, chỉ voi là được chăm sóc đặc biệt
Trang 2kiểu nhà hình thuyền, 2 đầu mái nhô ra, vách theo dạng thượng thu-hạ thách Nhà chỉ có 2 hàng cột ngang, kết cấu theo vì cột , không kết cấu theo vì kèo Không gian nội thất chia làm
2 phần theo chiều dọc Bộ khung kết cấu đơn giản Cái đặc trưng của nhà nhười Ê Đê là hìnhthức cầu thang, cột nhà và cách bố trí trên mặt sàn sinh hoạt Nửa đằng cửa chính là nơi tiếpkhách, sinh hoạt chung của cả nhà dài, bếp chủ, ghế khách, ghế chủ, ghế dài ( Kpan ) tới 200m, chiếng chè Nửa còn lại là bếp đặt chỗ nấu ăn chung và là chỗ ở của các đôi vợ chồng, chia đôi theo chiều dọc, phần về bên trái chia làm nhiều gian nhỏ, phần về bên phải làhành lang để đi lại, về phía cuối là nơi đặt bếp Mỗi đầu nhà có một sân sàn, còn gọi là sân khách Muốn vào nhà phải đi qua sân sàn, còn gọi là sân khách Muốn vào nhà phải đi qua sân sàn Nhà càng khá giả thì sân khách càng rộng và khang trang
b, Công trình kiến trúc:
Thuộc về các giá trị vật chất, còn phải kể đến nhà mồ và tượng nhà mồ Nhà mồ thường được đặt trên sườn đồi hoặc trên khoảng đất không xa để thoát nước khi nghĩa địa hư hại dập nát Các nhà mồ đều có nóc nằm theo hướng Đông-Tây Nhà mồ được trang trí cầu kì, kết hợp nhiều nghệ thuật chạm khắc, tạo thành quần thể kiến trúc nhà mồ khá phong phú và độc đáo Mỗi nóc nhà mồ được trang trí có thể là một con chim đại bàng bằng gỗ hoặc hình mặt trời bằng song mây Đặc điểm riêng biệt của nhà mồ chính là các bức tượng, kiệt tác điêu khắc, phong phú về mô típ, hoành tráng về kiểu dáng hình khối, sâu sắc về ý tưởng, đặcsắc về biểu trưng Thường thì bốn góc nhà mồ, họ dựng tượng người ngồi chống gối, tay chống cằm, vẻ măt tư lự, xung quanh là các pho tượng biểu trưng cho sự sống, phồn thực (tượng nam giới khỏa thân, đối diện với tượng nữ mang bầu, khỏa thân, thành từng cặp)
b, Trang phục:
Y phục cổ truyền của người Ê Đê là màu đen, có điểm những hoa văn sặc sỡ, Trang phục tradition (truyền thống) là phụ nữ quấn váy tấm dài đến gót, mùa hè thì ở trần hoặc mặc áo ngắn chui đầu Mùa lạnh nam nữ thường quấn thêm một tấm mềm Đồ trang sức có chuỗi hạt, vòng đống, vòng kền đeo ở cổ tay và cổ chân Trên đầu đội khăn, nón:
+ Trang phục nam: Nam giới để tóc ngắn và quấn khăn màu đen nhiều vòng trên đầu Y phục
tradition gồm áo và khố
* Loại áo dài trùm mông: Đây là loại áo khá tiêu biểu cho người Ê Đê, có tay áo dài, thân áo cũng dài chùm mông, có xẻ tà và khoét tay áo ở ngực, ở 2 bên bả vai, ở cửa tay, các đường viền cổ, nơi xẻ tà gấu áo được trang trí và viền vải đỏ trắng Điểm đặc biệt ở áo nam giới Ê
Đê đó chính là hình tam giác cân đặt ngược màu đỏ là biểu tượng của đại bàng giang cánh,
Trang 3tạo vẻ đẹp khỏe mạnh lực lưỡng áo Kteh, ở dọc 2 bên nách, gấu áo phía sau lưng có đính hạt cườm.
* Loại áo dài qua gối: có khoét cổ, ống tay bình thường không trang trí như loại áo dài trùm mông nói trên
+Trang phục nữ: Phụ nữ Ê Đê để tóc dài và buộc ra phía sau gáy Họ mang áo váy trong
trang phục thường nhật Xưa họ để tóc theo kiểu búi và đội nón duôn bai Họ mang đồ trang sức bằng bạc hoặc bằng đồng Vòng tay thường đeo vòng vào nhau họ có thể nhận ra ngườithân của mình
* Áo: Áo phụ nữ là loại ngắn, ống tay dài, khoét cổ (loại cổ thấp hình thuyền), mặc kiểu chui đầu Thân áo dài đến mông, khi mặc cho ra ngoài váy Trên nền áo màu chàm thẫm các bộ phận được trang trí là cổ áo lan sang 2 bên bả vui xuống giữa cánh tay, áo có cửa tay và gấu
áo Đó là các đường viền kết hợp với các dải hoa văn nhỏ bằng sợi màu đỏ, trắng, vàng Cái khác của trang phục phụ nữ Ê Đê với phụ nữ Gia Rai là không có đường ở giữa thân áo Đêk
là tên gọi mảng hoa văn chính ở gấu áo Ngoài ra phụ nữ còn có áo lót cộc tay (áo yếm)
* Váy: Đi cùng với áo là váy hở (tấm vải rộng quấn lại thành váy) Cũng trên nền chàm, váy được gia công trang trí các sợi sọc nằm ngang ở mép trên và dưới thân váy Đây cũng là điểm khác biệt giữa váy của người Gia Rai và Ê Đê Váy có nhiều loại phân biệt ở dải hoa văn gia công ít hay nhiều Váy loại tốt là myêng đêk, rồi đến myêng đrai, myêng piek, loại thường là bong để mặc đi làm rẫy Ngày nay phụ nữ Ê Đê thường mặc váy kín
Kĩ thuật trang trí trên đồ vải của người Ê đê là dệt hoa văn Mô típ hoa văn trang trí gồm: hình động vật, cỏ cây, hoa, lá, nỏ, mũi tên, hoặc là hoa văn kỷ hà, đính hạt cường, tua chỉ màu vào vạt áo, vạt khố
+Khố: Khố có nhiều loại và được phân biệt ở sự ngắn dài có trang trí hoa văn như thế như thế nào Đẹp nhất là các loại Kteh, drai, đrêch, piek, còn có các loại bong và băl là loại khố thường
+Áo thường ngày ít có hoa văn Bên cạnh các loại áo trên còn có loại áo cộc tay đến khủy, hoặc không tay
d, Ẩm thực:
Người Ê Đê ăn cơm tẻ bằng cách nấu trong nồi đất nung hay nồi đồng cỡ lớn Thức ăn có
muối ớt, măng, rau, củ do hái lượm và cá, thịt, chim thua do săn bắn Cách chế biến đồ ăn của họ chủ yếu là luộc, nấu canh và nướng Cổ truyền họ ăn bốc bằng tay, khi ăn cả nhà quây quần xung quanh nồi cơm, bát canh, bát muối ớt Dùng tay bốc đồ ăn khô, dùng thìa múc nước anh Khi có cỗ họ bày đồ ăn lên lá chuối tươi, để quanh ché rượu cần Thức uống
Trang 4có rượu cần ủ trong các ché bằng sành Xôi nếp chỉ dùng trong dịp cúng thần Nam nữ đều
có tục ăn trầu cau
Ăn uống trong cưới xin, ma chay, đặc biệt là trong lễ bỏ mả (cơm nhà mả) của dân tộc Ê Đê,
có đôi chút khác biệt với các bữa ăn ngày thường Đó là bữa ăn của cộng đồng, ngay tại rừng ma Bữa ăn này cũng có cơm, canh, các loại rau Ngoài các loại thịt gia súc nấu canh,
cỗ bỏ mả còn có món thịt sống trộn với gạo rang, tiết trâu, bóp với chanh và ớt (nga năp), món an hăm lắp (thịt băm, trộn tiết, phèo, muối), món an hăm (thịt băm trộn tiết nấu với bột gạo) Cơm ăn trong lễ bỏ mả là nướng trong các ống nứa (cơm lam) Ngoài các món để ăn tại chỗ, lễ bỏ mả còn có các món biếu khách: Thịt xâu (a nhăm pai), thịt chia cho , thịt trâu thái miếng, xiên vào que tre mang nướng
4, Văn hóa phi vật thể
a, Ngôn ngữ: Tiếng nói của người Ê Đê thuộc ngôn ngữ Nam Đảo (Malayo-Plinesiens)
Tiếng Ê Đê có quan hệ gần gũi với tiếng Gia Rai, Chăm, Malaysia, Indonesia, Philippin Tiếng
Ê Đê ngày nay phát triển 1 âm tiết đơn lập, đây là kết quả của sự ảnh hưởng của tiếng Khmer
Môn-b, Chữ viết: So với các dân tộc ít người khác ở Việt Nam, người Ê Đê là dân tộc có chữ viết
theo bảng chữ cái lating khá sớm, họ có chữ viết từ những năm 1920
c, Tôn giáo tín ngưỡng:
Người Ê Đê tin vạn vật linh thiêng (vạn vật hữu linh) Theo họ, tất cả vạn vật đều có ma quỷ, thần thánh ẩn tàng, đó chính là giàng (yang)
Người Ê Đê tin có các vị thần phân phối lúa (ae đu), thần bảo vệ lúa (hbia đung), thần canh tác lúa (mtao kla), thần kho lúa (hbia klu), thần sinh trưởng (sri mli luc), hồn lúa (ae mghan), thần bão (yang liê), thần gió (yang brieng), thần sấm (yang găm), thần mưa (ae yut), thần mặttrăng (yang mlan), thần mặt trời (yang hroe), thần cai quản mặt đất (ae mghi) Đối với người
Ê Đê ae điê là vị thần khổng lồ tạo ra vũ trụ
Người Ê Đê cho rằng con người có hồn vía Khi con người chết đi, hồn vía biến thành ma Người Ê Đê tin mỗi người có 3 hồn: mngat nhập vào người từ khi mới thụ thai, mngah làm cho hài nhi cất tiếng chào đời, chui ra khỏi bụng mẹ, tlang hên thoát ra khi con người vừa chết Họ cho rằng tổ tiên dòng mẹ đã tạo ra tlang hên
Tin vào thần linh, ma quỷ, nên các tộc người Nam Đảo cầu cúng rất nhiều Việc cúng bái gắnliền với mọi hoạt động đời sống của họ, nhằm cầu xin may mắn, ngăn chặn rủi ro, tai họa Cúng bái của họ gắn chặt với khấn cầu và hiến sinh (trâu, lợn, gà ) Lễ ăn trâu trong nghi
Trang 5thức mừng chiến thắng, mừng được mùa, cầu an, lập làng, khánh thành nhà, bỏ mả, là nét đặc biệt trong văn hóa người Ê Đê.
Người Ê Đê không thờ cúng tổ tiên nhưng thờ cúng vua lửa (ptao pui) và vua nước (ptao ia)
Họ cho rằng 2 vị vua này là những thần linh, phù thủy có phép thuật cao nhất Vua lửa có thanh gươm thiêng, vua nước có tảng đá thần Họ tin vào sức mạnh siêu nhiên của 2 vị vua này và khi cầu mưa cầu nắng họ đều cúng tế Tín ngưỡng này điển hình ở người Gia Rai và ảnh hưởng tới người Ê Đê
d, Lễ hội:
Người Ê Đê ăn tết vào tháng chạp (tháng 12 âm lịch) khi mùa màng đã thu hoạch xong
(không vào tháng 1 ngày nhất định, tùy theo từng buôn) Sau tết ăn mừng cơm mới (hma ngắt) rồi mới đến Tết (mnăm thun) ăn mừng mùa vụ bội thu Đó là tết lớn nhất, nhà giàu có khi mổ trâu, bò để cúng thần lúa, nhà khác thì mổ lợn, gà Vị thần lớn nhất là đấng, sáng tạc
Aê Điê và Aê Đu Nghi lễ theo đuổi cả đời người là lễ cầu phúc, lễ mừng sức khỏe cho từng
cá nhân Ai tổ chức được nhiều nghi lễ này và các nghi lễ lớn hiến sinh bằng nhiều trâu bò, ché quý thì người đó càng được kính nể
Các nghi lễ liên quan đến trồng trọt, nông nghiệp chiếm phần lớn việc cúng tế, lễ hội của người Ê Đê Theo tục lệ Ê Đê, hàng trăm họ tổ chức cúng thần đất, thần nước, cúng bến nước Khi phát rẫy họ cúng thần gió, cúng trỉa hạt, cúng tưới lúa, cúng cơm mới, cúng khi
mở kho lúa lấy thóc ăn
e, Văn học dân gian: văn học truyền miệng Kho tàng văn học dân gian của họ gồm: Tiểu
thuyết, thần thoại, cổ tích, ngụ ngôn, trường ca/sử thi Nội dung của các câu chuyện quanh các chủ đề:
Hình thành trời đất, vũ trụ: Truyện cổ Ê Đê kể rằng Ae Điê và Ae Đu là 2 vị thần khổng lồ tạo
ra vũ trụ và muôn loài Vũ trụ theo họ có 2 tầng, trời và đất
- Nguồn gốc các dòng họ: Người Ê Đê có tục thờ cúng vật tổ (totem) Mỗi dòng họ có 1 vật tổ riêng, có thể là con vật, cây cối, hoặc vật gì đó trong tự nhiên Đó là nguồn gốc chung chung của các thành viên, tên gọi riêng của các thị tộc, dòng họ Vật tổ được thờ cúng, kiêng đụng đền, kiêng săn bắt, kiêng ăn thịt Mỗi dòng họ dều có truyền thuyết vật tổ của mình Đó là những câu chuyện truyền miệng, ly kì và hấp dẫn Người
Ê Đê có truyền thuyết về hang Adren, kể về nguồn gốc người Ê Đê và nguồn gốc các dòng họ Ê Đê Bên cạnh đó, người Ê Đê có truyền thuyết về thanh gươm thần, kể về
sự gắn bó giữa các tộc người
Trang 6- Kể về sự tích núi, sông, hồ thác và các hiện tượng tự nhiên: Người Ê Đê có truyện
kể về sự tích tục cà răng, căng tai, sự tích nhà mồ, thế giới người chết và sự sống
- Đặc biệt Trường ca (sử thi) còn gọi là Khan: Trường ca nổi tiếng của người Ê Đê là Đăm Săn, Đăm Di, Xinh Chơ niep, Đăm Kteh Mlan Nếu Đăm Di là trường ca trữ tình,thì Xinh Xhơ Niep ca ngợi tài năng, sự quả cảm của con người, trong đấu tranh chống cường quyền, giải cứu những con người bị bắt làm tôi tớ, Đăm Săn kể về tù trưởng, người anh hùng
- Ca dao, tục ngữ, thành ngữ là thành tố important của kho tàng văn nghệ dân gian của người Ê Đê gọi những tác phẩm đó là “klei duê klei bhian kdi” Lễ ca là 1 bộ phậm đặc biệt của văn học dân gian và có giá trị cao Đó chính là những bản văn tế, được truyền miệng qua các thế hệ
5, Văn hóa xã hội
a, Tổ chức làng người Ê Đê:
Người Ê Đê gọi làng là buôn Mỗi buôn gồm vài ba xóm (alú) Xóm có thể tách ra làm buôn mới Mỗi xóm, buôn gồm nhiều gia đình lớn mẫu hệ Các thành viên trong buôn đều là thân thuộc, cùng huyết thống hoặc thân thuộc do quan hệ hôn nhân Do đó, cộng đồng buôn đượcduy trì khá bền vững Xưa kia trong các buôn Ê Đê, những gia đình cùng học thường quần tụ
ở 1 xóm, do trưởng tộc họ đứng đầu (khoa djue) Tính cố định của các gia đình trong buôn chue yếu dựa trên tư liệu sản xuất (đất đai, núi rừng, bến nước )
Mỗi buôn đều có phạm vi đất đai của mình, được xác định bởi những đường ranh giới tự nhiên Tuy sở hữu chung của buôn, nhưng việc sử dụng đất đai trong buôn phải tuân thủ luậttục Các thành viên trong buôn phải có trách nhiệm giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất và sinh hoạt Tương trợ, giúp đỡ trong buôn còn thể hiện trong đám ma, đám cưới, đám làm nhà mới, bảo vệ các thành viên
b, Dòng họ Ê Đê: theo chế độ mẫu hệ
Bao gồm các cá nhân có nguồn gốc được xác định dòng dõi về phía mẹ, có cùng quan hệ thừa kế tài sản Các gia đình thuộc cùng một dòng họ thường ở quây quần cạnh nhau Dòng
họ có bảo vật (ngọn giáo, hòn đá ) và có 1 người đứng đầu Đứng đầu dòng họ Ê Đê là bà chủ đất (pô lăn) Mỗi dòng họ thờ cúng 1 vật tổ riêng, dựa theo một truyền thuyết riêng và có nghĩa vụ giúp đỡ bảo vệ lẫn nhau Người trong cùng 1 dòng họ của người Ê Đê gồm cả quan
hệ hôn nhân mà có Không chỉ 2 gia đình thông gia có quan hệ với nhau mà các thành viên thân thuộc trong gia đình đó cũng có quan hệ thân thuộc với nhau
Trang 7c, Gia đình người Ê Đê: Theo chế độ mẫu hệ Gia đình người Ê Đê thường cư trú trong nhà
dài Hạt nhân của gia đình lớn mẫu hệ là cặp ông bà chủ nhà, hoặc bà chủ (pô sang/khoa sang) Phụ thuộc pô sang/khoa sang là các tiểu gia đình và con cháu của họ Về mặt cấu trúc, tính theo các các nhóm quan hệ, gia đình lớn mẫu hệ gồm:
* Nhóm các thành viên nữ, là con cháu, chắt sinh ra trong gia đình (ana go/nồi cái) Đây là
nhóm chủ sở hữu đất đai (pô lăn), chủ của buôn Ngày nay chủ buôn có thể là đàn ông (thay mặt vợ) là người thực hiện nhiệm vụ do vợ ông ta, bà chủ buôn đích thực giao phó Vai trò của ông chủ buôn sẽ mất nếu vợ ông ta chết, hoặc ông ta bị vợ bỏ Trong gia đình mọi việc đều bị chi phối bởi ông bà chủ nhà Người đàn bà cao tuổi nhất chính là chủ nhà Khi bà ta qua đời, hoặc ốm yếu không thực hiện được chức năng chủ nhà nữa, cô con gái út của bà
ta, sẽ là người thay thế trọng trách đó Nếu có con gái út còn quá thơ bé, chị cả của cô ta
sẽ thay thế Khi nào cô út trưởng thành, chị cả sẽ trao vai trò cho em mình
Bà chủ gia đình hoặc chủ gia đình tương lai được ở gian đầu tiên trong nhà dài, nơi đặt các bầu nước, bếp nấu ăn và phân phối thức ăn hàng ngày cho các thành viên Gian của bà chủ nhà là nơi thực hiện chức năng nuôi dưỡng các con cháu, chắt của bà tổ Gian đầu tiên, cũng là chỗ ở của cô con gái út của bà chủ nhà Gian bà chủ nhà là nơi đặt cột cùng Yang, sát ngay nơi để của cải chung của đại gia đình
Nhóm Ana go thay mặt bà chủ nhà giữ các báu vật, của cải của tổ tiên truyền lại và các sản vật do các thành viên trong nhà làm ra Theo tập quán pháp Ê Đê, các cảu cải xưa, các đồ trang sức xưa của tổ tiên, tất cả phải được dùng chung, phải giúp vào việc trông coi gìn giữ
nó, đó là trách nhiệm chung của các thành viên trong gia đình, Tài sản gia đình là của chung nhưng chỉ bà chủ nhà có quyền quản lí, kho lương thực của gia đình chỉ có bà chủ nhà mới được lấy ra Nếu bà chủ ốm hoặc vắng mặt, 1 người trong nhóm Ana go được ủy quyền mới được phép làm việc đó Các thành viên nam không hề biết, không quan tâm đến các loại tài sản trong nhà Ông chồng bà chủ nhà hỗ trợ đắc lực cho bà ta Ngoài sản xuất, nhóm ana gocòn lo toan, đáp ứng mọi nhu cầu khác của các thành viên
Trong hôn nhân, phụ nữ Ê Đê chủ động đi tìm chồng, gia đình nhà gái phải cưới con rể, sau
đó chú rể phải sang ở nhà gái Trẻ con sinh ra trong các gia đình này được các sản phẩm vậtchất của các bà, các mẹ và mang tên họ mẹ Nếu chẳng may mẹ chúng qua đời, chúng sẽ được chị em gái của mẹ nuôi dưỡng Quyền của bà chủ nhà còn thể hiện ở việc làm chủ đám tang, chặt nhát đầu tiên và cuối cùng khi đẽo cột làm nhà, làm chiêng, làm cầu thang Kích thước ngôi nhà được làm theo kích thước cơ thể (gang tay, sải tay, cẳng tay ) Bà chủ
có quyền mang theo lửa lên nhà mới, người duy nhất giao tiếp đối ngoại Vì vậy người phụ
Trang 8nữ được kính trọng, là chủ đề chính trong trang trí, kiến trúc, văn học, nghệ thuật của người Ê Đê Do đó, người Ê Đê thích đẻ con gái, phải có con gái thừa kế, nối dõi.
* Nhóm nam (đăm đêi) là anh em ruột của ana go Đây là nhóm không ổn định trong gia đình
Ê Đê vì đến tuổi trưởng thành, họ sẽ bị cưới về nhà vợ, trở thành “người nuôi” Khi vợ chết
mà họ nhà vợ không có người thay thế, hoặc bị vợ bỏ họ lại quay về sống với các chị em gái ruột Tuy vậy, nhóm này có vai trò quan trọng Khi cần bàn bạc, nhóm ana go thường trao đổivới nhóm đăm đêi Việc mua sắm các tài sản lớn trong gia đình do nhóm đăm đêi đảm
nhiệm Trong hôn nhân, đăm đêi có quyền quyết định cưới chồng cho các cháu gái Khi dựngnhà, đăm đêi là những người dựng cột chính, đặt đôn nóc Trong thị tộc, đăm đêi là lực lượng chăm lo việc chiến đấu, phòng thủ, bảo vệ các gia dình Thực tiễn xã hội, đăm đêi là niềm tự hào của ano go và ana go phải có trách nhiệm chăm sóc Khi đăm đêi chết phải được mang về nghĩa địa của thị tộc mẹ Mặc dù vậy thì đăm đêi không có quyền thừa kế tài sản Khi được cưới làm chồng, họ được hưởng hồi môn
* Nhóm các chàng rể (pô rông/người nuôi) khi trở thành người nuôi, đàn ông trong gia đình chỉ là những người hành công việc, do các bà chủ nhà giao phó Khi đã trở thành người nuôi nhà vợ, các pô rông phải lao động nặng nhọc, làm rẫy, dựng nhà, săn bắn Khi bị coi là lười nhác, không tốt các ông chồng bị đem trả về nhà mẹ đẻ và họ phải hoàn trả lại mọi tổn phí
đã chi cho việc cưới họ
6, Phong tục tập quán
a, Hôn nhân: phụ nữ Ê Đê chủ động tìm chồng Sau đó lễ cưới gồm:
- Lễ hỏi chồng Nao Nuh: Trai gái tìm hiểu nhau, quyết định đi đến hôn nhân thì trước tiên phải
thông qua đám hỏi Nhà gái chuẩn bị lễ hỏi gồm 1 ché rượu và 1 vòng đồng để cúng thần, sau đó cô gái cùng ông mối đến nhà trai Nếu ở khác buôn thì đám hỏi mang theo cơm nếp với ý nghĩa đôi trai gái gắn bó với nhau như cơm nếp Đăm đêi cầm chiếc vòng đã được cúng thần để hỏi chàng trai, nếu chàng trai ưng thuận thì trao vòng: Cô gái và chàng trai chạm tay vào chiếc vòng (đây là lời giao ước hôn thù) Từ đó 2 gia đình đã trở thành thông gia Mỗi gia đình cử ra 1 người đỡ đầu, đại diện cho 2 gia đình giúp đôi trai gái nên vợ nên chồng, cũng như tham gia khuyên răn và giảng hòa những bất đồng giữa 2 gia đình Trong trường hợp chàng trai không đồng ý thì nhà trai làm 1 cái lễ nhỏ mời nhà gái đến dự để tỏ lòng tôn trọng và duy trì sự hòa thuận với nhau Theo quan niệm của người Ê Đê, việc từ chối hôn lễ là từ chối hôn nhân của 1 dòng họ, làm ảnh hưởng và gây tổn thương tới lòng
tự trọng không chỉ 1 gia đình mà cả 1 dòng họ Do đó cần phải có sự thể hiện gắn bó đoàn kết của 1 cộng đồng dân tộc
Trang 9- Thách cưới Knăm: 2 gia đình gặp nhau và bàn việc thách cưới do nhà trai đưa ra Đồ
thách cưới gồm trâu, bò, chiêng, chè và ngày nay có thể là vàng Nếu 2 nhà đồng ý, họ sẽ chọn ngày đưa cô gái về sống tại nhà chồng 1 thời gian để thử thách Nếu cô gái không trả nổi lễ vật thách cưới thì phải ở lại làm việc ở nhà chồng đến khi hết nợ mới được rước chồng
về nhà mình lúc này người con gái đó mới có quyền làm lễ gọi chồng Trường hợp trả
không hết nợ thì cô gái phải ở luôn bên nhà chồng
- Lễ gọi chồng ( Yâu ung) : Khi đã đủ đồ thách cưới , nhà gái sẽ trao trả cho nhà trai và
xin cưới , tức là làm lễ gọi chồng Ngoài đồ thách cưới nhà gái phải mang 3 đồ lễ vật bắt buộc cho mẹ chồng : 1 ché rượu bằng đồng để trả cho mẹ chồng đẫ tắm cho chồng lúc còn nhỏ bằng thau đồng, 8 vòng đồng tượng trưng 8 lễ cúng trong chu kì của 1 con người trước khi lập gia đình , 1 cái chăn trả cho mẹ chồng đã tắm cho chồng lúc còn nhỏ Ngoài ra còn nhiều vòng đồng để phát cho các thành viên trong gia đình nhà chồng
- Lễ rước rể : Nhà trai tiễn con bằng 1 ché rượu và 1 con lợn Trên đường về nhà gái chú rể
được tặng nhiều vòng đồng – coi đó là lời cam kết thủy chung và lời chúc tụng hạnh phúc Thường thường trong khi rước rể , một tốp thanh niên sẽ đón đường té nước vào chú rể để thay lời chúc phúc cho đôi bạn trẻ hạnh phúc Trong nghi lễ khi chủ nhà và khách đã yêu vị , mọi người tiến hành cùng cho mẹ chồng 1 ché rượu và 1 con lợn Sau đó là lễ cúng tổ tiên gồm 5 ché rượu và 1 con lợn Một Đăm dei lấy máu con vật hiến sinh bôi lên chân đôi vợ chồng mới cưới , chúc cho 2 người 2 miếng cơm và 3 sừng rượu Vị trưởng họ nhà gái đại diện 2 bên trao vòng đồng cho đôi vợ chồng trẻ chạm tay và nhắc nhở lòng chung thủy ở mỗingười Khách dự lần lượt đi qua mặt 2 vợ chồng để chúc tụng và tặng quà
b Tang ma:
- Khi có người chết thì tục nối dòng phải được thực hiện Người chết già và chết bệnh thì tang lễ được tổ chức tại nhà rồi đưa ra nghĩa địa để thổ táng Xưa kia có tục người trong cùng 1 dòng họ chết cùng 1 thời gian gần nhau thì các quan tài được chôn chung 1 huyệt Vùquan niệm thế giới bên kia là tái hiện thế giới bên này nên người chết được chia tài sản ở nhà mồ Khi dựng nhà mồ ễ bỏ mả được tổ chức linh đình , sau đó kết thúc là phần chăm sócvong linh và phần mộ
- Khi gia đình có người chết , gia đình sẽ đánh 1 hồi trống báo cho dân làng biết Nghe tiếngtrống cả làng kéo đến để giúp đỡ , lo liệu ma chay Mọi người mang đến 1 gói cơm , quả trứng “ làm quà tặng cho người chết “ Người ta còn mang đến cho tang gia những đồ cúng như gạo , rượu , gà có khi là trâu, lợn Những người không có thì đến giúp việc cho gia chủ
Trang 10- Nhân dịp này gia đình có người chết trước còn giữ mả , mang đồ ăn thức uống để gửi người vừa tắt thở mang cho người thân về thế giới bên kia Người vừa chết là sợi dây liên kết giữa người sống và người chết , trong dịp này thân chủ đến khóc, goi hồn người đã khuất
- Trong những ngày tang ma , dân làng đều ngừng sản xuất , không trao đổi mua bán , không đi ra khỏi làng Thi thể người chết được gia đình lau chùi sạch sẽ , mặc quần áo ngày lễ và đeo đồ trang sức quý giá Thi thể được liệm và phủ chăn kín ở phòng cuối nhà sát góc phía Đông, đầu về hướng Tây Một quả trứng luộc, bát gạo , bát cơm được bày lên mâm cúng Thịt gà moi lòng bỏ ruột kẹp cả con rồi dựa vào bên vách phía để thi hài
- Người Ê kiêng k làm sẵn quan tài Khi có người chết họ mới lên rừng, chọn gỗ, làm áo quan Hình khối quan tài giống như sàn nhà , đầu bao giờ cũng to hơn cuối Trên đầu nóc phía đầu áo quan gắn hình con diều hầu tượng trưng cho linh hồn người chết Áo quan vẽ hoa văn hình kỳ đà và hoa erang được vẽ bằng máu con vật hiến sinh ( lợn, trâu ) Trong thời gian làm áo quan , người thân của người chết phải ăn uống, nghỉ ngơi xung quanh thi hài để
tỏ niềm đau buồn và thương tiếc Buổi tối người ta đánh chiêng , gõ trống , thổi đinh , buốt tút
và hát múa suốt đêm để tiễn linh hồn người chết sang thế giới bên kia
- Áo quan làm xong thì đưa thi hài vào và làm lễ cúng linh hồm người chết 1 lần nữa Vật hiến sinh là lợn, gà hoặc trâu tùy theo gia đình giàu hay nghèo Những nhạc cụ của người chết như điếu, nhạc cụ , trang sức cũng được bỏ vào áo quan Khâm liệm xong , 2 gia đìnhhọp lại đẻ tìm người thay thế cho người chết ( Tục nối dây được thực hiện ngay sau ngày cótang, lúc thi thể còn để ở nhà Khi đã chôn thì không nối dây được nữa , linh hồn kẻ quá cố
sẽ không phù hộ sau lễ này Tài sản và quyền thừa kế chuyển sang cho người thay thế Nếu không nối dây lúc này thì người sống chỉ được đi bước nữa với người ngoài sau khi làm lễ
bỏ mả cho người chết )
- Thông thường sau khi bỏ quan 1 ngày là bắt đầu đưa chôn Khi đưa tang người , người ta thường đem theo 2 con gà , 1 con gà mẹ và 1 gà con Lúc hạ huyệt , gả mẹ được thả xuống
để làm tài sản cho người chết về thế giới bên kia, thả gà con chạy vào rừng tượng trưng cho
sự giải thoát cho linh hồn và sẽ không trở lại quấy rầy người sống Trong tang lễ thì bả chủ nhà là làm chủ tang lễ Đàn ông lo việc làm áo quan , múc nước đổ vào ché rượu , thịt trâu
bò , công việc trông coi tang lễ và tiếp khách đến phúng viếng do bà chủ đảm nhiệm Khi đưa tang quan tài được khiêng ra sàn và chuyển xuống sàn Thầy cúng tiễn hồn , tang chủ
đi trước , thầy cúng bước theo sau , rồi đến những người khiêng qua tài Những người phụ