Thiết kế dây chuyền băm gỗ dăm Thiết kế dây chuyền băm gỗ dăm Thiết kế dây chuyền băm gỗ dăm luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA CƠ KHÍ
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
THIẾT KẾ DÂY CHUYỀN BĂM GỖ DĂM
Đà Nẵng, 2019
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI DẦU……… 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN CHUNG VỀ GỖ VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN THIẾT KẾ
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ GỖ ……… 2
1.1.1 Vị trí của lâm sản trong nền kinh tế quốc dân……… ……… ………….… 2
1.1.2 Giới thiệu về gỗ……….3
1.1.2.1 Cấu tạo của gỗ………3
1.1.2.2 Tính chất của gỗ……….4
1.1.2.3 Phân loại nhóm gỗ……… 7
1.2 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN GỖ……… ……… 9
1.2.1 Những đặc điểm chính của nguyên liệu làm dăm……….9
1.2.2 Nhiệm vụ và nội dung của khoa học cắt gọt gỗ……… 9
1.2.3 Các dạng gia công cắt gọt gỗ và nhữn định nghĩa cơ bản……… 10
1.2.3.1 Các dạng gia công chế biến gỗ……….10
1.2.3.2 Các dạng gia công cơ bản ……… 11
1.2.3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến cắt gọt……….15
1.2.4 Chế độ cắt………16
1.3 GIỚI THIỆU VỀ DÂY CHUYỀN BĂM GỖ……… 17
1.3.1 Quy trình sản xuất dăm mảnh……….17
1.3.2 Quy cách sản phẩm gia công……… 18
1.4 PHÂN TÍCH VÀ CHỌN PHƯƠNG ÁN THIẾT KẾ……… ……… … 19
1.4.1 Phân tích và chọn phương án cho máy băm……… 19
1.4.1.1 Máy băm dăm mảnh kiểu phun dăm………20
1.4.1.2 Máy băm dăm mảnh kiểu xã dăm ……… 21
1.4.1.3 Lựa chọn phương án hợp lý để thiết kế……… …………22
1.4.2 Lựa chọn thiết bị cho hệ thống phân loại………23
1.4.2.1 Máy sàng rung……… 23
1.4.2.2 Máy sàng phẳng……… 24
DUT.LRCC
Trang 31.4.2.4 Lựa chọn phương án thiết kế………26
1.4.3 Phân tích các phương án vận chuyển thành phẩm……… 26
1.4.3.1 Gàu tải……… 26
1.4.3.2 Vít tải……… 27
1.4.3.3 Băng tải………27
1.4.3.4 Máng khí động……….28
1.4.3.5 Lựa chọn phương án………28
1.4.4 Lựa chọn tấm băng tải……….28
1.4.4.1 Tấm băng tải làm bằng tấm thép……… 28
1.4.4.2 Tấm băng tải làm bằng các lớp cao su ghép lại với nhau………29
1.4.4.3 Lựa chọn phương án………29
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ SƠ ĐỒ ĐỘNG HỌC VÀ TÍNH TOÁN CÁC THÔNG SỐ CHỦ YẾU CỦA MÁY 2.1 THIẾT KẾ SƠ ĐỒ ĐỘNG HỌC………30
2.2 CÁC THÔNG SỐ KỸ THUẬT CỦA MÁY THIẾT KẾ……… 30
2.2.1 Xác định công suất cắt cần thiết của động cơ truyền động cho đĩa băm……31
2.2.2 Tính công suất động cơ và chọn động cơ điện………32
2.2.3 Xác định công suất truyền động của động cơ sàng lắc……… 33
2.3 Tính toán kết cấu băng tải……… 37
2.3.1 Số liệu ban đầu……… 37
2.3.2 Tính bề rộng băng tải……… 37
2.3.3 Tính lực kéo băng tải……… 37
2.4 Thiết kế các bộ truyền………39
2.4.1 Thiết kế bộ truyền đai truyền từ động cơ chính đến trục đĩa băm……… 39
2.4.2 Thiết kế bộ truyền đai từ động cơ sàng lắc đến trục của sàng………44
2.4.3 Thiết kế bộ truyền xích truyền động từ động cơ đến băng tải cấp gỗ……….49
CHƯƠNG 3: TÍNH TOÁN SỨC BỀN VÀ KẾT CẤU TRỤC CHÍNH MÁY
BĂM 3.1 THÔNG SỐ HÌNH HỌC CỦA DAO CẮT………52
DUT.LRCC
Trang 43.3 CẤU TẠO TRỤC CHÍNH MÁY BĂM……… 55
3.4 TÍNH TOÁN THIẾT KẾ TRỤC CHÍNH MÁY BĂM……….……56
3.5 THIẾT KẾ THEN……… 61
CHƯƠNG 4: YÊU CẦU ĐỐI VỚI MÁY - HƯỚNG DÃN SỬ DỤNG - AN TOÀN LAO ĐỘNG 4.1 YÊU CẦU CHUNG ……….63
4.1.1 Yêu cầu đối với vật liệu……… 63
4.1.2 Yêu cầu về chất lượng gia công……… 63
4.1.3 Yêu cầu về lắp ráp……… 64
4.1.4 Yêu cầu về hình dạng ngoài của máy……… .… 65
4.2 PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA………65
4.2.1 Kiểm tra không tả i……… 66
4.2.2 Kiểm tra có tải ………66
4.2.3 Kiểm tra độ chính xác của máy ……… 66
4.3 TÀI LIỆU SỬ DỤNG VÀ BẢO HÀNH MÁY ……… 67
4.3.1 Hướng dẫn sử dụng……….67
4.3.2 Bảo dưỡng……… 68
4.3.3 Sữa chữa các khuyết tật, nguyên nhân và cách khắc phục……… 69
4.4 AN TOÀN LAO ĐỘNG……… 69
4.4.1 Các qui định về an toàn khi vận hành máy……….69
4.4.2 An toàn về điện……… 70
4.4.3 An toàn về cơ……… 70
KẾT LUẬN……… 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 72
PHỤ CHƯƠNG: MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HOẠ THIẾT BỊ TRONG DÂY CHUYỀN BĂM GỖ………73
DUT.LRCC
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, ở nước ta ngành công nghiệp chế biến gỗ, mà đặc biệt là chế biến gỗ
xuất khẩu đang ngày càng phát triển mạnh mẽ và trở thành một trong những ngành
xuất khẩu lớn của Việt Nam, mang lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn cho đất nước
Nước ta có được điều kiện tự nhiên thuận lợi, nguồn tài nguyên đa dạng và phong
phú mà đặc biệt là tài nguyên rừng Với nguồn gỗ phong phú về chủng loại và dồi
dào về sản lượng, đó là những tiền đề hết sức quan trọng để chúng ta phát triển
ngành chế biến gỗ Điều cốt yếu còn lại là ta phải có những trang thiết bị hiện đại để
đáp ứng được nhu cầu phát triển mạnh mẽ đó Và ngành cơ khí mà đặc biệt là cơ
khí chế tạo máy là một ngành quan trọng vào loại bậc nhất của nền công nghiệp
nước ta phải đảm trách nhiệm vụ đó Bản thân là một sinh viên chuyên ngành cơ khí
chế tạo máy em cũng nhận thức được tầm quan trọng đó Vì vậy, em đã được sự cho
phép của Thầy Giáo và cùng với sự nỗ lực của bản thân, em đã chọn đề tài cho đồ
án tốt ngiệp của mình, đó là: Thiết kế dây chuyền băm gỗ dăm
Nhờ những kiến thức trong 5 năm học đại học, cũng như sự tận tình hướng dẫn
của Thầy Giáo: PGS.TS Trần Xuân Tuỳ cũng như các thầy cô khác trong khoa,
trong trường, em đã hoàn thành đồ án của mình Nhưng trong khoảng thời gian
ngắn và kiến thức còn hạn chế nên đồ án của em còn nhiều thiếu sót Em kính
mong các Thầy - Cô chỉ bảo thêm nữa để em được cũng cố chắc hơn những kiến
thức chuyên môn của mình
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của Thầy Giáo PGS.TS Trần
Xuân Tuỳ và các Thầy - Cô đã truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích tronh thời
gian học tập ở trường cũng như các bạn, các công ty như: Công ty PISICO Huế và
Công ty VI JACHIP Đà Nẵng đã giúp đỡ em trong thời gian thực hiện đồ án của
mình Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày 27 tháng 5 năm 2019
Sinh viên thực
Hoàng Hữu Cường
DUT.LRCC
Trang 6CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN CHUNG VỀ GỖ VÀ
LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN THIẾT KẾ
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ GỖ
1.1.1 Vị trí của lâm sản trong nền kinh tế quốc dân
Đất nước ta được xem là một đất nước có rừng vàng biển bạc - đất phì nhiêu
Điều đó có nghĩa là bên cạnh nước ta có đất đai màu mở, tài nguyên khoáng sản
phong phú thì nước ta còn có một nguồn tài nguyên rừng vô cùng phong phú và đa
dạng Hiện nay, để bảo vệ môi trường, nước ta đã cấm khai thác rừng, đặc biệt là
rừng nguyên sinh, rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ…Tuy nhiên, ở những khu rừng
tái sinh, những khu rừng nhà nước cho phép khai thác, nếu chúng ta biết khai thác
đi đôi với trồng rừng thì tài nguyên rừng đóng góp một phần lớn trong nền kinh tế
quốc dân Khai thác rừng sẽ cho ta nguồn lâm sản vô cùng phong phú và đa dạng
Lâm sản là nguyên liệu - vật liệu được sử dụng lâu đời và rộng rãi nhất, là một
trong những vật tư chủ yếu của nền kinh tế quốc dân Lâm sản được dùng rộng rãi
trong công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, kiến trúc xây dựng …
Lâm sản có thể thay thế bông vải, tơ tằm, lông cừu Với phương pháp chế biến
hóa học từ 1 3
m gỗ có thể phân ly thành 200 kg thớ và chế tạo ra 160 kg t ơ nhân tạo, dệt vải có thể may được 300 bộ quần áo hoặc dệt thành 4000 đôi tất, tương đương
với sản lượng bông của 1/2 ha trong 1 năm, hoặc bằng số tơ của 320.000 con tằm,
hoặc bằng số lượng lông lấy được từ 25 đến 30 con cừu trong 1 năm
Với công nghệ thủy phân từ lâm sản có thể chế tạo thành đường, rượu, thức ăn
cho gia súc, phần nguyên liệu chính để tạo nên tơ nhân tạo, làm phim, đĩa hát,
giấy mica, áo mưa
Với công nghệ nhiệt phân từ gỗ tạo ra các sản phẩm than, axit axetit, phenol,
rượu mêtylic, dầu gỗ
Gỗ có thể thay thế gang thép, gỗ do có nhiều tế bào hình ống tạo nên, sau khi sấy
khô, nước trong gỗ bốc hơi, nhường chỗ cho không khí Gỗ có khối lượng thể tích
trung bình 0,5 đến 0,7 g/cm3, nếu lạng hoặc bóc gỗ thành những tấm mỏng, tấm
DUT.LRCC
Trang 7keo, xếp thành nhiều lớp ngang dọc, rồi ép với áp suất và nhiệt độ cao sẽ biến gỗ
thành loại vật liệu mới Loại gỗ này rất ít thấm nước, không co giãn, cách nhiệt,
cách điện tốt, chịu được ma sát, khả năng chịu lực gần như Gang - Thép, dùng để
sản xuất thoi dệt, bánh xe răng, các loại đinh ốc, ống dẫn trong các phân xưởng hóa
chất
1.1.2 Giới thiệu về gỗ
1.1.2.1 Cấu tạo của gỗ
Cấu tạo gỗ là nhân tố ảnh hưởng đến tính chất của gỗ Cấu tạo và tính chất của
gỗ quan hệ mật thiết với nhau Cấu tạo có thể xem là biểu hiện bên ngoài tính chất
Những hiểu biết về cấu tạo là cơ sở để giải thích bản chất các hiện tượng sản sinh
trong quá trình gia công, chế biến và sử dụng gỗ Muốn nhận mặt gỗ, xác định tên
để buôn bán và sử dụng cho thích hợp, trước hết cần nắm vững những kiến thức cơ
bản về cấu tạo Trong thực tế, có rất nhiều loại gỗ rất giống nhau cần đi sâu phân
loại một cách chính xác, phải tiến hành khảo sát cấu tạo hiển vi của gỗ Mặt khác,
do ảnh hưởng của hoàn cảnh bên ngoài, không những các loại gỗ khác nhau mà
từng cây trong cùng một loài và ngay cả từng bộ phận khác nhau trong cùng một
cây cũng có sự khác nhau Muốn phân tích được những hiện tượng đó, cần có
những kiến thức sâu sắc và toàn diện về cấu tạo hiển vi của gỗ
Tóm lại, muốn nhận biết được tên gỗ cho chính xác, muốn tìm hiểu về tính chất
gỗ, muốn áp dụng các biện pháp kỹ thuật thích hợp trong quá trình gia công ch ế
biến, muốn sử dụng hợp lý và tiết kiệm gỗ trước hết phải hiểu biết về cấu tạo của
gỗ Đây là một trong những biện pháp căn bản để nâng cao chất lượng sử dụng gỗ
Giới thực vật chia làm hai nhóm: Nhóm thực vật th ượng đẳng và nhóm thực vật
hạ đẳng
- Đối tượng nghiên cứu của gỗ là gỗ lá kim và gỗ lá rộng Ở mỗi loài thực vật
thân gỗ chia làm ba phần:
+ Rể giữ cho cây đứng vững, hút nước và muối khoáng từ trong lòng đất làm
nguyên liệu cho quá trình quang hợp tạo chất dinh dưỡng nuôi cây
DUT.LRCC
Trang 8+ Gốc, thân, cành vừa là sườn, cột chống đỡ tàn lá, vừa là đường dẫn truyền
nhựa nguyên qua gỗ và nhựa luyện được vận chuyển qua vỏ xuống các bộ phận
khác nuôi cây Đây là bộ phận cung cấp gỗ chủ yếu
+ Lá là cơ quan hô hấp, thoát hơi nước để ổn định nhiệt độ cho cây, là nơi tổng
hợp chất hữu cơ nuôi cây
- Thực vật thân gỗ không ngừng lớn lên theo đường kính Sinh trưởng theo chiều
cao dựa vào tác dụng phân sinh của chồi ngọn Lớn lên theo đường kính chủ yếu do
hoạt động của tầng phát sinh libe-gỗ Tế bào của tầng phát sinh không ngừng phân
sinh ra những tế bào mới về phía bên trong làm thành vòng gỗ, về phía bên ngoài
làm thành lớp vỏ Trong quá trình phân sinh này, số tế bào cung cấp cho phần gỗ
luôn luôn nhiều hơn tế bào cung cấp cho phần vỏ, nên sự tăng trưởng theo chiều
ngang của thân cây chủ yếu do phần gỗ ngày một dày thêm
1.1.2.2 Tính chất của gỗ
Vì nguyên liệu gỗ có những đặc tính khác biệt so với các nguyên liệu khác Do
đó, quá trình gia công chế biến gỗ cũng có những đặc điểm khác biệt so với các
nguyên liệu khác.Chẳng hạn như:
+ Khối lượng riêng của gỗ tương đối nhẹ
+ Cơ lý tính thấp dẫn đến lực cắt thấp
+ Độ chính xác gia công đòi hỏi không cao
+ Diện tích phân xưởng chiếm nhiều
+ Cấu trúc nguyên liệu không đồng nhất, do đó chế độ cắt khi gia công phức
Trang 9N/cm2, tức là đã giảm 80% Tăng hay giảm độ ẩm của gỗ dẫn đến thay đổi tính chất
cơ học của gỗ và tất nhiên các hiện tượng xảy ra trong quá trình cắt gọt cũng thay
đổi theo
b Khối lượng của gỗ
Khối lượng riêng của mỗi loại gỗ đều khác nhau, gỗ có khối lượng riêng càng
cao thì càng khó gia công và ngược lại Tuy vậy, có một số loại gỗ có khối lượng
riêng không cao lắm nhưng do cấu tạo của gỗ, lại khó gia công như ngát, ràng
ràng…
c Nhiệt độ của gỗ
Dưới tác dụng của nhiệt độ, gỗ sẽ thay đổi tính chất cơ lý, quá trình cắt gọt cũng
thay đổi Do đó, trong nhiều khâu cắt gọt gỗ cần lưu ý đến vấn đề này
d Tính chất cơ học của gỗ
Quá trình tách gỗ thành phoi khỏi phôi bằng cắt gọt, nhiều hiện t ượng cơ học
xuất hiện như: biến dạng đàn hồi, xê dịch, uốn, nén Những hiện tượng này chịu
ảnh hưởng nhiều của tính chất cơ học gỗ
e Độ cứng vững và đàn hồi của gỗ
Nói đến tính chất cơ học của gỗ là nói đến khả năng chống lại tác dụng của ngoại
lực Trong đó đáng chú ý là độ cứng, độ bền vững theo kéo, nén, uốn, tách Gỗ là
hợp chất hữu cơ tự nhiên mang 3 tính chất: đàn hồi, dẻo, dai Vì vậy dưới tác dụng
của ngoại lực, gỗ sẽ bị biến dạng, song khi ngoại lực thôi tác dụng, gỗ có xu h ướng
trở lại trạng thái ban đầu, nhưng do tính dẻo nên sau khi lực thôi tác dụng gỗ vẫn bị
biến dạng Tất nhiên, do tính không đồng nhất, nên hiện tượng biến dạng không
giống nhau theo các chiều của thớ gỗ Đặc trưng là tỉ số:
=
L L
(1.1)
L
: Lượng biến dạng (mm)
L : Kích thước ban đầu
: Biến dạng tương đối
DUT.LRCC
Trang 10f Ứng suất nén
Gỗ có cấu tạo xốp, lúc bị nén gỗ có hiện tượng co lại theo chiều tác dụng của lực
nén.Mặt khác, theo chiều vuông góc với chiều của lực nén, gỗ có xu h ướng nở ra
Nếu chúng ta tìm cách hạn chế sự nở đó thì quá trình biến dạng của gỗ trong lúc nén
sẽ khác đi Đó là đặc điểm của quá trình nén gỗ Có hai quá trình:
* Nén hở: là quá trình nén được tiến hành theo hai mặt đối diện của vật, còn các
chiều khác hoàn toàn tự do Biến dạng tăng từ lúc có lực tác dụng đến ứng suất phá
hủy Tất nhiên, sự biến dạng này khác nhau khi ta nén theo các chiều thớ gỗ khác
nhau: nén dọc thớ, nén tiếp tuyến và nén xuyên tâm Khi nén gỗ, gỗ co lại theo
chiều của lực nén, song lại có xu hướng nở ra theo chiều vuông góc với lực nén
* Nén kín: là quá trình nén mà các phía khác nhau của vật nén đều bị giới hạn
Trong quá trình cắt gọt, tùy từng dạng, hiện tượng nén kín toàn phần, một phần,
hoặc hở đều có thể xảy ra
g Hiện tượng trượt của gỗ
Dưới tác dụng của ngoại lực, các lớp gỗ thường bị trượt hoặc xê dịch lẫn nhau
Đặc trưng là ứng suất trượt [] Ứng suất trượt của gỗ biểu thị khả năng chống lại sự
xê dịch hoặc trượt Giữa các lớp gỗ dưới tác dụng của ngoại lực theo một tiết diện
nào đó cùng nằm trong phương tác dụng của ngoại lực Vì vậy, nó được tính bằng
N/cm2 Khi lực tác dụng lên gỗ thì hiện tượng trượt của gỗ xảy ra phức tạp hơn so
với một số vật liệu khác Điều này có thể thấy được lúc nén gỗ theo hướng xuyên
tâm, khi tách hoặc chẻ gỗ
h Sự phá hủy của các thớ gỗ
Quá trình cắt gọt là quá trình phân chia phôi theo từng lớp phoi để tạo ra sản
phẩm Nói cách khác, nó được tiến hành bằng cách phá hủy mối liên kết giữa các
thớ gỗ dưới tác dụng của ngoại lực Sự phá hủy mối liên kết này đã gây ra nhiều
hiện tượng khác nhau Một trong những hiện tượng đó là sự biến dạng của phoi Sự
biến dạng này xảy ra khi cắt gọt ở điều kiện khác với điều kiện thử tính chất cơ lý
DUT.LRCC
Trang 111.1.2.3 Phân loại nhóm gỗ
Tiêu chuẩn về gỗ phải dựa trên cơ sở những tính chất tự nhiên của gỗ nguyên
liệu và các yếu tố ảnh hưởng đến tính chất đó, đồng thời căn cứ vào yêu cầu kỹ
thuật và kinh nghiệm của từng ngành và người sử dụng, cũng như các điều kiện và
khả năng sản xuất và chế biến gỗ
Trong nền sản xuất phát triển, tiêu chuẩn hóa là động lực nâng cao chất lượng
sản phẩm, sử dụng hợp lý nguyên liệu, giảm bớt phế phẩm, đơn giản hóa và hợp lý
hóa toàn bộ quá trình sản xuất từ đầu đến thành sản phẩm Điều quan trọng hơn là
tiêu chuẩn hóa có tác dụng thúc đẩy việc tổ chức lao động và giá thành sản phẩm,
tạo điều kiện để sản xuất liên tục, hàng loạt làm cho sản phẩm không ngừng phát
triển
Tùy theo tính chất và phạm vi ảnh hưởng của các loại sản phẩm mà phân loại
tiêu chuẩn thành cấp nhà nước, cấp ngành hay cấp xí nghiệp Trong đó các tiêu
chuẩn đưa ra không phải là vĩnh cửu mà có sự thay đổi sau từng thời kì lịch sử, theo
sự phát triển của sản xuất và những tiến bộ kỹ thuật Việc xét tiêu chuẩn sao cho
phù hợp với thực tế sản xuất và đời sống là việc làm có tính chất kế thừa và liên tục,
nhằm thúc đẩy nền sản xuất và kỹ thuật phát triển tốt hơn
Trong công nghệ khai thác rừng thì gỗ là tài nguyên lớn và có vai trò quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân nên việc xây dựmg những tiêu chuẩn và phân loại gỗ là
cần thiết Để xây dựng tiêu chuẩn cho các sản phẩm của công nghệ khai thác rừng
và chế biến gỗ cần phải nghiên cứu những tính chất tự nhiên của nguyên liệu gỗ,
các giai đoạn sản xuất ra sản phẩm gỗ và các điều kiện sử dụng gỗ
Nghiên cứu những tính chất tự nhiên của nguyên liệu gỗ cần chú ý đến cơ cấu
các loại gỗ khác nhau, các tính chất cơ bản của từng loại cây khác nhau như cấu tạo,
tính chất vật lí, tính chất cơ học, tính chất hóa học, độ bền tự nhiên, khuyết tật gỗ,
các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu và tính chất của gỗ, các yếu tố liên quan khác nh ư
trữ lượng, khả năng cung cấp và gây trồng rừng cũng là đối tượng của tiêu chuẩn
hóa và phân loại các hạng gỗ
DUT.LRCC
Trang 12Qua các giai đoạn sản xuất ra sản phẩm gỗ, tính chất riêng biệt của từng sản
phẩm được biểu hiện bằng hình dạng và kích thước của sản phẩm Mỗi phương
pháp pha chế của từng giai đoạn chế biến khác nhau cho những sản phẩm có hình
dạng và kích thước khác nhau Tùy theo các giai đoạn chế biến, các hạng gỗ có
những hình dạng, phẩm chất và kích thước khác nhau Vì vậy chính nó là tiêu chuẩn
để phân loại xếp hạng các sản phẩm của công nghệ gỗ
Trong các điều kiện sử dụng sản phẩm gỗ thì mục đích sử dụng là yếu tố quan
trọng nhất, chỉ khi biết rõ được mục đích sử dụng thì mới có thể biết chắc chắn
những yếu tố kỹ thuật cần thiết trong phân loại xếp hạng, tức là những yêu cầu tối
thiểu cần và đủ để thỏa mãn cho nhu cầu sử dụng
Việc xây dựng các tiêu chuẩn và phân loại sản phẩm công nghệ gỗ xuất phát từ
lợi ích của toàn bộ nền kinh tế xã hội, là cơ sở không thể thiếu để sử dụng hợp lý và
tiết kiệm nguyên liệu gỗ, đồng thời đảm bảo chất lượng sản phẩm tốt đến tay người
sử dụng về mặt hình dạng, kích thước, tính chất và các đòi hỏi khác Đó là nhiệm vụ
của tất cả các ngành từ nghiên cứu khoa học đến sản xuất và sử dụng đều có nhiệm
vụ tham gia
Dựa vào các điều kiện trên, người ta phân loại gỗ thành 8 nhóm:
• Nhóm I: Gồm 41 loại (Cẩm lai, Dáng hương, Gụ, Hoàng đàn, Huê mộc, Lát
xanh, Sơn huyết, Trầm hương )
• Nhóm II: Gồm 26 loại (Đinh, Dâu đen, Kiền kiền, Lim xanh, Nghiến, Sến
mật, Xoay, Trai lý, Song xanh, Táu nước )
• Nhóm III: Gồm 24 loại (Bàng lang, Bình linh, Cà chắc, Chai, Chò chi, Chua
khắc, Dâu vàng, Săng lẻ, Sao đen )
• Nhóm IV: Gồm 34 loại (Bời lời, Chau chau, Dầu lông, Gội nếp, Hà nu,
Long não, Mít, Thông nàng )
• Nhóm V: Gồm 65 loại (Chò lông, Chò xanh, Chôm chôm, Dầu, Giẻ xanh,
Hoàng linh, Muồng, Sếu, Thông nhựa, Xà cừ )
• Nhóm VI: Gồm 70 loại (Bạch đàn chanh, Bứa núi, Khhé, Lòng mang,
Đước, Mận rừng, Mù u, Quế, Thị rừng )
DUT.LRCC
Trang 13• Nhóm VII: Gồm 46 loại (Cao su, Cà lồ, Giẻ trắng, Trám trắng, Trám đen )
• Nhóm VIII: Gồm 48 loại (Ba bét, Ba soi, Chay, Dâu da bắc, Sồi bấc )
1.2 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN GỖ
1.2.1 Những đặc điểm chính của nguyên liệu làm dăm
Nguyên liệu làm dăm khá phong phú Hiện nay, nguyên liệu chủ yếu để sản xuất
dăm là các loại gỗ thuộc nhóm VI Nhóm này bao gồm các loại nh ư:Bạch đàn, keo
lai,
Bạch đàn là cây được trồng phổ biến ở các nước có khí hậu nhiệt đới, loại này
rất dễ trồng, phù hợp với điều kiện khí hậu của nước ta đặc biệt là các tỉnh Miền
Trung và Tây Nguyên Loại gỗ này có thời gian thu hoạch rất ngắn từ 4 đến 8 năm,
trong ngành sản xuất dăm vỏ cây được bóc ra trước khi băm nên cây này rất phù
hợp Thân cây tương đối mềm, thớ gỗ có màu trắng
1.2.2 Nhiệm vụ và nội dung của khao học cắt gọt gỗ
Để thực hiện được quá trình gia công gỗ bằng cơ giới, trong thực tiễn cần giải
quyết hai vấn đề:
✓ Một là, cần có những thông số cơ bản ban đầu như lực cắt, công suất, mối
tương quan giữa các yếu tố Dựa trên những thông số c ơ bản đó để tính toán thiết
kế mới, cải tiến công cụ, máy thiết bị, giải quyết các quá trình gia công, tính toán
kinh tế
✓ Hai là, từ những điều kiện cho trước, như máy móc thiết bị, công cụ gỗ
cần xác định chế độ gia công hợp lý để đạt được năng suất cao nhất, hao tốn ít nhất
về nguyên - nhiên liệu mà thành phẩm đạt được chất lượng cao nhất hoặc theo yêu
cầu cho trước Hai vấn đề này có liên quan mật thiết với nhau, là một thể thống nhất
của quá trình chế tạo và sử dụng Giải quyết vấn đề thứ nhất là giải quyết bài toán
thuận, giải quyết vấn đề thứ hai là giải quyết bài toán nghịch Từ đó, chúng ta thấy
khoa học cắt gọt gỗ có nhiệm vụ cụ thể sau đây: Xác định mối tương quan giữa các
yếu tố của ba đối tượng vật liệu được gia công, công cụ cắt gọt và máy Ngoài ra,
khoa học cắt gọt gỗ phải tìm các biện pháp gia công mới, khoa học h ơn, đạt kết quả
DUT.LRCC
Trang 14cao hơn về năng suất, chất lượng, ứng dụng vào thực tế sản xuất để tạo ra các sản
phẩm mới
Giải quyết đúng đắn đối với khoa học cắt gọt gỗ sẽ tạo ra khả năng lớn cho việc
hoàn thiện các quá trình kỹ thuật gia công chế biến gỗ, đẩy mạnh sản xuất đáp ứng
được nhiệm vụ của ngành hiện nay cũng như sau này
1.2.3 Các dạng gia công cắt gọt gỗ và những định nghĩa cơ bản
1.2.3.1 Các dạng gia công chế biến gỗ
Công nghệ gỗ là tổng quát cả quá trình và cả ph ương tiện được áp dụng vào sản
xuất để tạo ra được những sản phẩm từ gỗ
a Gia công chế biến hóa học: Là quá trình gia công tạo từ gỗ ra các sản
phẩm mà bản chất của gỗ đã bị thay đổi như sản xuất đường, giấy, rượu…
b Gia công cơ hóa: Là dạng gia công kết hợp giữa hóa học và cơ học như
gia công áp lực có ngâm tẩm
c Gia công chế biến cơ giới: Là quá trình gia công từ gỗ ra sản phẩm bằng
cách thay đổi hình dạng, kích thước, còn bản chất của gỗ thì cơ bản không thay
đổi Dạng này có thể phân ra thành 4 phương pháp chủ yếu: gia công cắt gọt, gia
công áp lực, gia công va đập, gia công tách chẽ
✓ Gia công cắt gọt làm phá hủy mối liên hệ giữa các phần tử vật chất gỗ theo
một hướng nhất định nhờ công cụ cắt Vật gia công được chia thành hai thành phần
cùng với phoi hoặc không có phoi Như cưa, bào bóc, phay, khoan Là cắt gọt có
phoi Như: cắt, xén là cắt gọt không có phoi
✓ Gia công áp lực không làm phá hủy mối liên hệ giữa các phần tử của vật
được gia công mà chủ yếu dùng áp lực để làm thay đổi hình dạng, kích thước vật
gia công như kéo, nén uốn
✓ Gia công va đập làm phá hủy mối liên kết giữa các phần tử vật chất được
gia công thành những phần nhỏ, không theo một dạng kích thướt hình hình học qui
định trước, như gia công bọt gỗ làm giấy, thuốc súng,
✓ Gia công tách chẻ làm phá hủy mối liên kết giữa các phần tử gỗ theo các
lớp mà không theo một hướng nhất định cho trước, như chẻ củi, tước gỗ,
DUT.LRCC
Trang 151.2.3.2 Các dạng gia công cơ bản
a) Giới thiệu chung về nguyên lý băm gỗ
Băm gỗ là quá trình cắt gọt lấy đi từ vật gia công một lớp hoặc nhiều lớp phoi
Quá trình này được thực hiện nhờ một vật rắn nhỏ có dạng hình nêm gọi là dao cắt
Phần phôi còn lại với phoi được xác định theo một ranh giới quy định trước
Băm là một quá trình công nghệ, nhờ tác dụng trực tiếp của dao mà phôi được
phân chia để tạo ra sản phẩm có hình dạng và kích thước cho trước
Phoi là một phần vật chất, thường rất nhỏ được cắt ra từ phôi sau một lần
chuyển động của dao hoặc phôi Phoi được tạo ra phù hợp với khả năng cắt của dao
và máy Như vậy, để thực hiện quá trình cắt gọt, phôi có thể đứng yên, dao chuyển
động hoặc ngược lại Và sau mỗi lần chuyển động chúng ta sẽ có được một lớp phoi
từ phôi Trong quá trình băm gỗ phải có hai chuyển động:
- Chuyển động thứ nhất: là chuyển động của dao hay phôi để cắt được một
lớp phoi Thường chuyển động này có tốc độ rất lớn gọi là chuyển động chính, được
gọi là chuyển động cắt gọt Chuyển động tuyệt đối của dao hay phôi cần thiết và đủ
để cắt được một phần phoi người ta gọi là chuyển động cắt gọt
- Chuyển động thứ hai: là chuyển động của phôi hoặc dao để đảm bảo cho
lần cắt tiếp theo tạo ra phoi mới Thường chuyển động này có tốc độ rất nhỏ so với
chuyển động thứ nhất gọi là chuyển động phụ, hay còn gọi là chuyển động ăn dao
Chuyển động tuyệt đối của phôi hay dao để đảm bảo cho lần cắt tiếp theo tạo ra
phoi mới gọi là chuyển động ăn dao
Như vậy trong quá trình cắt gọt của dao được tiến hành theo một chu kỳ nhất
định, cứ mỗi một chu kỳ chúng ta có được một phoi Trong một chu kỳ dao hoàn
thành hai bước, nếu phôi đứng yên và ngược lại nếu dao đứng yên Bước thứ nhất,
trong chu kỳ phoi sẽ được cắt ra, ta gọi là bước hữu ích hoặc là bước có công Bước
thứ hai, dao hoặc phôi trở về vị trí ban đầu để chuẩn bị cắt phoi mới, trong bước này
phoi không được tạo ra, người ta gọi là bước vô ích hay còn gọi là bước không
công
DUT.LRCC
Trang 16Nếu trong quá trình cắt gọt ở khoảng thời gian nào đấy không có chuyển động ăn
dao mà chỉ có chuyển động cắt gọt, thì đường mũi dao vẽ nên gọi là quỹ đạo cắt
gọt Ngược lại, nếu như trong quá trình cắt gọt, ở khoảng thời gian nào đấy không
có chuyển động cắt gọt, thì quỹ đạo mũi dao vẽ nên gọi là quỹ đạo cắt gọt tương đối
hay còn gọi là quỹ đạo cắt gọt thực
Tốc độ chuyển động của dao hoặc vật gia công theo quỹ đạo cắt gọt gọi là tốc độ
cắt gọt Vậy tốc độ cắt gọt là quãng đường đi được của dao hoặc phôi theo quỹ đạo
cắt gọt trong một đơn vị thời gian, thường được kí hiệu bằng chữ v, đơn vị là
mét/giây (m/s) Tốc độ của dao hoặc phôi theo quỹ đạo ăn dao, người ta gọi là tốc
độ ăn dao Vậy tốc độ ăn dao là quãng đường đi được của dao hoặc phôi theo quỹ
đạo ăn dao trong một đơn vị thời gian Thường tốc độ này được kí hiệu bằng chữ U
Đơn vị là mét/phút Trong gia công chế biến gỗ, tốc độ ăn dao có thể đạt tới 150
m/phút Nếu cả hai chuyển động đồng thời tồn tại, thì dao sẽ chuyển động tương
quan với phôi theo tốc độ bằng tốc độ tổng hợp hai vectơ tốc độ trên, người ta gọi là
tốc độ tương đối hay gọi là tốc độ thực của dao Thường kí hiệu là V
Vậy tốc độ tương đối hay tốc độ thực của dao hoặc phôi là quãng đường đi được
của dao hoặc phôi theo quỹ đạo thực trong một đơn vị thời gian
b) Phân loại cắt gọt gỗ vă băm gỗ
So với các quá trình cắt gọt một số nguyên vật liệu khác, quá trình cắt gọt gỗ
phức tạp hơn Vì gỗ có cấu trúc không đồng nhất, hơn thế nữa trong nhiều dạng gia
công gỗ, phoi lại là thành phẩm, để đảm bảo cho phoi trong trường hợp này có chất
lượng thì việc nghiên cứu các quá trình cắt gọt chúng đòi hỏi mức độ cao hơn Do
đó, trong quá trình nghiên cứu cắt gọt gỗ người ta chia làm hai bước hay hai giai
đoạn: Bước thứ nhất là nghiên cứu cắt gọt cơ bản và bước thứ hai là nghiên cứu cắt
gọt chuyên dùng
+ Cắt gọt cơ bản: Đặc điểm của cắt gọt này là có hạn chế một số điều kiện
của các yếu tố tham gia vào quá trình cắt gọt, nhằm đưa đến dạng căn bản nhất, để
dễ nghiên cứu chúng Những kiến thức nghiên cứu được về cắt gọt này sẽ làm cơ sở
để nghiên cứu các dạng cắt gọt chuyên dùng
DUT.LRCC
Trang 17Dạng cắt gọt cơ bản có bốn đặc điểm sau đây:
✓ Qúa trình cắt gọt được thực hiện ở một cạnh chính của dao cắt, dao phải
có dạng hình nêm, các mặt trước, sau của dao phải là mặt phẳng, góc cắt, góc sau
phải cố định, độ dài của cạnh cắt phải lớn hơn chiều rộng của phôi và chiều rộng
của phoi, hình thức cắt như vậy người ta gọi là cắt hở Nếu quá trình cắt gọt được
thực hiện ở hai cạnh cắt, chiều rộng của dao bằng chiều rộng của phoi, chiều rộng
của phôi lớn hơn chiều rộng của dao người ta gọi là cắt nửa kín Nếu như trong quá
cắt gọt được thực hiện ở ba cạnh của dao và tạo ra ba mặt cắt, chiều rộng phoi bằng
chiều rộng dao, chiều rộng phôi lớn hơn chiều rộng dao người ta gọi là cắt kín Hình
thức đầu tiên thuộc cắt cơ bản, còn hình thức hai và ba thuộc cắt phức tạp
✓ Quỹ đạo cắt gọt thực của dao phải là đường thẳng, tốc độ cắt và tốc độ ăn
dao cố định, hướng của các tốc độ cắt phải vuông góc với cạnh cắt và không đổi
✓ Chiều dày của phoi là một đại lượng cố định
✓ Đặc điểm cuối cùng là mặt phẳng chuyển động và hướng chuyển động
của dao phải vuông góc hoặc song song với chiều của thứ gỗ Từ đặc điểm này
trong cắt gọt gỗ có thể có ba trường hợp cắt gọt cơ bản sau đây: cắt ngang, cắt dọc
và cắt bên
+ Cắt gọt chuyên dùng: Tức là các dạng cắt gọt đã được ứng dụng vào những
trường hợp gia công cụ thể, nhằm những mục đích công nghệ nhất định như cưa,
bào, lạng, phay Thường thì các dạng này phức tạp hơn, số lượng yếu tố tác động
lên quá trình cắt gọt cũng nhiều hơn
+ Quá trình cắt gọt có 3 dạng: cắt hở, cắt nửa kín và cắt kín
DUT.LRCC
Trang 191.2.3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình cắt gọt
Gỗ là đối tượng gia công của ngành chế biến gỗ bằng cơ giới Gỗ có những tính
chất đặc thù của nó Vì vậy để hiểu được các hiện tượng xảy ra trong quá trình cắt
gọt gỗ, chúng ta xét những tính chất chính của gỗ có ảnh h ưởng đến quá trình cắt
gọt
a Hướng cắt: Theo ba mặt phẳng: mặt cắt đầu, cắt xuyên tâm, cắt tiếp tuyến gỗ có
những tính chất khác nhau Vì thế, theo các hướng cắt khác nhau thì trị số cản cắt sẽ
khác nhau
b Loại gỗ: Loại gỗ khác nhau, tính chất của gỗ cũng khác nhau, bởi vậy trị số công
suất cắt khác nhau và phụ thuộc vào loại gỗ thuộc nhóm nào
c Độ ẩm của gỗ: Độ ẩm của gỗ có ảnh hưởng đến quá trình cắt gọt Tăng hay giảm
độ ẩm của gỗ dẫn đến thay đổi tính chất cơ học của gỗ và tất nhiên các hiện tượng
xảy ra trong quá trình cắt gọt cũng thay đổi theo Gỗ có độ ẩm càng lớn thì trở lực
cản cắt càng nhỏ và cũng dễ bị sơ tướp Đối với trường hợp cắt dọc và ngang thớ thì
khi độ ẩm gỗ càng lớn thì công suất cắt sẽ giảm nhưng đối với cắt mặt đầu thì giảm
không đáng kể
d Khối lượng riêng của gỗ: Khối lượng riêng tuyệt đối của bất cứ loại gỗ nào
cũng gần bằng nhau và bằng 1,54 g/cm3
Song khối lượng riêng của gỗ thì lại khác
nhau, gỗ có khối lượng riêng càng cao thì càng khó gia công và ngược lại
e Nhiệt độ của gỗ: Dưới tác dụng của nhiệt độ, gỗ sẽ thay đổi tính chất Cơ -Lý và
quá trình cắt gọt cũng thay đổi
f Chiều dày phoi: Khi chiều dày cắt của phôi tăng thì công suất cắt sẽ giảm Phoi
càng dày thì trị số công suất cắt riêng giảm và ngược lại
g Góc cắt , góc sau , và góc mài trước
Trị số góc cắt tăng lên (khi góc sau không đổi) trị số công suất cắt sẽ tăng lên
Khi tăng góc sau trong giới hạn nhất định thì công suất cắt sẽ giảm xuống Nhưng
nếu trị số góc sau tiến gần đến 00
thì không được vì cạnh cắt sau của lưỡi dao cắt sẽ
tiếp xúc nhiều với gỗ gây nên sự biến dạng
DUT.LRCC
Trang 20h Mức độ cùn của dao: Lưỡi dao bao giờ cũng có một độ cùn nhất định, trong khi
làm việc nó ngày càng bị cùn hơn, ảnh hưởng đến quá trình cắt gọt và giảm độ
chính xác gia công
k Tốc độ cắt: Khi tăng tốc độ cắt từ 30 m/s đến 50 hoặc 60 m/s thì công suất cắt
giảm nhưng tăng tốc độ cắt lên cao hơn nữa thì công suất cắt tăng lên
1.2.4 Chế độ cắt
Để thực hiện một nguyên công cắt gọt gỗ, cần phải có nhiều điều kiện khác
nhau gọi là chế độ cắt Những điều kiện đó là các thông số góc của dao, tốc độ cắt
và tốc độ đẩy
Trong quá trình làm việc phải biết chọn các loại dụng cụ cắt, tốc độ đẩy cho
thích hợp, còn tốc độ cắt là trị số có thể thay đổi được Trong lựa chọn chế độ cắt
phải nhằm mục đích đạt được năng suất cao nhất
Cần tính toán từng yếu tố trong chế độ cắt để có bề mặt gia công đạt độ nhẵn
cần thiết, sử dụng hết công suất và khả năng gia công của dụng cụ cắt
DUT.LRCC
Trang 211.3 GIỚI THIỆU VỀ DÂY CHUYỀN BĂM GỖ
Dây chuyền băm gỗ dùng để tạo ra các loại dăm làm nguyên liệu cho ngành giấy
mà nguyên liệu đầu vào là các loại gỗ tròn có đường kính nhỏ hơn 25cm Dây
chuyền này bao gồm các thiết bị cơ bản như sau:
5 4
3
2 1
Hình 1.4: Sơ đồ tổng quan dây chuyền băm gỗ
1: Băng tải cấp liệu
2: Máy băm gỗ
3: Ống phun dăm
4: Xylo chứa dăm sau khi vừa băm xong
5: Máy sàng
1.3.1 Quy trình sản xuất dăm mảnh
- Nhiệm vụ của đề tài: Thiết kế dây chuyền b ăm gỗ nhằm sản xuất dăm mảnh
cung cấp nguyên liệu cho nhà máy giấy phục vụ cho ngàng giấy
DUT.LRCC
Trang 22- Nguyên liệu: Bao gồm các loại gỗ nhóm VI ( Bạch đàn, các loại keo ), các
loại gỗ từ thân cây cành có đường kính không lớn hơn 180 mm, khối lượng và thể
tích của gỗ nằm trong khoảng từ 0,4 đến 0,6 g/cm3
Năng suất đầu ra: 15 m3/h
Kích thước dăm tiêu chuẩn (mm)
Chiều dài
( theo chiều dọc thớ gỗ)
Chiều rộng (theo chiều ngang thớ gỗ) Chiều dày
25 ÷ 35 15 ÷ 25 7 ÷ 10
* Quy trình sản xuất dăm mảnh
Máy sản xuất dăm mảnh cung nguyên liệu cho ngành sản xuất giấy bao nhiều
công đoạn Ban đầu gỗ đã được làm sạch theo yêu cầu và được đưa vào máy băm
gỗ để băm theo băng tải cấp liệu vào Sau khi qua máy băm sẽ tạo ra các dăm vụn
theo yêu cầu Sau đó, dăm theo đường ống dẫn (Đối với máy băm kiểu phun dăm)
đến silo chứa.Ở đây dăm gỗ sẽ được dự trữ và cho xuống sàng để phân loại Khi
phân loại sẽ cho xuống băng tải dăm Có bố trí các băng tải như: Băng tải dăm đạt
yêu cầu, băng tải dăm không đạt yêu cầu Nếu dăm đạt yêu cầu thì cho vào kho để
chờ xuất xưởng Nếu dăm không đạt yêu cầu thì sẽ được cho vào máy để băm lại
1.3.2 Quy cách sản phẩm gia công
Đối tượng mà dây chuyền chuẩn bị thiết kế sẽ gia công: Trên cơ sở thực tế của
Công ty VIJACHIP tại Cảng Tiên Sa và Công ty PISICO Huế phôi liệu ban đầu mà
máy chuẩn bị thiết kế gia công có đặc điểm sau:
Nguyên liệu đầu vào để tạo ra sản phẩm khi qua dây chuyền chuẩn bị thiết kế là
các loại gỗ tròn có đường kính nhỏ hơn 250 mm Sau khi gia công sản phẩm phải
đạt được là dăm gỗ có kích cỡ:
- Chiều dài không lớn hơn 60 mm
- Chiều rộng không lớn hơn 50 mm
- Chiều dày không lớn hơn 10 mm
Chất lượng dăm gỗ:
DUT.LRCC
Trang 23- Dăm gỗ phải sạch, được lẫn các loại tạp chất cơ học như: đất, cát, đá, sỏi, than,
mùn cưa, kim loại, thuỷ tinh, sành sứ nhưng không quá 1%
- Vỏ cây còn sót lại trong dăm gỗ không vượt quá 10%
- Độ ẩm quy đổi khối lượng dăm gỗ là 50%
Phôi liệu ban đầu đưa vào máy có chiều dày nhỏ, tiết diện ngang và dọc có hình
dạng tròn với các kích thước như sau:
+ Chiều dài của sản phẩm gia công L = 3000 mm
+ Đường kính của sản phẩm gia công D < 250 mm
Gỗ mà máy sẽ gia công thuộc nhóm VI đó là bạch đàn, keo lai các loại, có các
* Các yêu cầu chung của dây chuyền thiết kế
Các kích thước cho phép của máy băm:
- Chiều cao lớn nhất : Hmax = 1720 mm
- Chiều rộng lớn nhất: Bmax = 1145 mm
- Chiều dài lớn nhất : Lmax = 2667 mm
1.4 PHÂN TÍCH VÀ CHỌN PHƯƠNG ÁN THIẾT KẾ
1.4.1 Phân tích và chọn phương án cho máy băm
Băm là một trong những phương pháp biến các vật liệu có kích thước lớn thành
những vật liệu có kích thước nhỏ hơn dưới tác dụng của va đập, ném vỡ, chà xát,
chia cắt và các yếu tố khác Trong phần này chỉ phân tích các máy băm tác động
theo phương pháp cắt Theo đó, dưới tác dụng của lực cắt lên dao cắt, gỗ sẽ được
cắt ra thành từng mảnh Những mảnh đó gọi là dăm, phần còn lại gọi là phoi Trong
DUT.LRCC
Trang 24giới hạn của đề tài tốt nghiệp này ta chỉ đi phân tích 2 loại máy băm phổ biến nhất
hiện nay Đó là máy băm dăm mảnh kiểu phun dăm và máy băm dăm mảnh kiểu xả
Nguyên liệu nạp vào máy băm thông qua băng tải cấp liệu, được nạp vào
máy theo hướng gỗ vào (3) Các đĩa thép được gắn các dao đĩa, chuyển động quay
nhờ động cơ điện (2) - Đây là động cơ điện 3 pha Khi đĩa quay sẽ làm cho dao
quay theo Khi nguyên liệu được nạp vào sẽ được dao đĩa băm cắt vụn tạo ra dăm
mảnh Trên đĩa băm có gắn cố định những lá quạt, các lá quạt này có nhiệm vụ thổi
dăm lên trên theo hướng ra dăm (4) Tuỳ thuộc kích cỡ của dăm mảnh mà người ta
có thể điều chỉnh được góc nghiêng của dao Sau khi dăm ra sẽ được đổ vào sàng
phân loại để phân loại và vào các băng tải theo yêu cầu
DUT.LRCC
Trang 25c) Ưu - nhược điểm
* Ưu điểm
- Kết cấu đơn giản
- Năng suất máy cao
* Nhược điểm:
- Phế phẩm nhiều do dăm phun lên trong đường ống va đập vào thành
ống và va đập giữa các mảnh dăm với nhau
- Thường xuyên bị hư hỏng cánh quạt
- Phôi dễ bị kẹt trong đường dẫn
- Công suất máy cao do trên đĩa băm phải gắn các cánh quạt
1.4.1.2 Máy băm dăm mảnh kiểu xả dăm
Trang 265 Hướng ra dăm
b) Nguyên lý hoạt động
Nguyên lý hoạt động của máy băm dăm kiểu xả dăm giống với máy băm dăm
kiểu phun dăm Nhưng trên đĩa gá dao không có gắn các lá quạt thổi Khi dăm mãnh
được tạo ra sẽ được xả xuống dưới đáy và được đổ vào sàng để phân loại Sau đó,
tuỳ thuộc vào sản phẩm sau khi phân loại mà được đổ vào các băng tải theo công
dụng của nó
c) Ưu - nhược điểm
* Ưu điểm
- Kết cấu đơn giản hơn máy băm kiểu phun dăm
- Năng suất máy cao
- Ít phế phẩm hơn máy băm kiểu phun dăm
- Công suất động cơ không lớn lắm
* Nhược điểm
- Phải bố trí đường băng tải dưới miệng xã nên thao tác khó khăn
- Dể bị kẹt dăm dưới miệng xã
1.4.1.3 Lựa chọn phương án hợp lý để thiết kế
Qua sự phân tích các dạng máy băm dăm gỗ, so sánh ưu nhược điểm của từng
loại máy, ta thấy máy băm dăm mảnh kiểu xã dăm rất phù hợp với sự phát triển của
công nghệ chế biến gỗ ở nước ta hiện nay Ta chọn phương án thiết kế này bởi
những lý do sau đây:
- Sản phẩm dăm gỗ hiện nay phát triển rất mạnh và tiêu thụ rất lớn trên thị
trường Do đó, cần có những máy có năng suất cao để đáp ứng được những nhu cầu
đó
- Sản phẩm làm ra trên máy có chất lượng cao và ít bị nát, bị vỡ vụn do không bị
va chạm trong quá trình xã dăm Bên cạnh đó nó có độ chính xác cao mà những
máy khác không thể đáp ứng được
- Máy có độ cứng vững và tính ổn định cao, ít gây tiếng ồn
DUT.LRCC
Trang 271.4.2 Lựa chọn thiết bị cho hệ thống phân loại
1.4.2.1 Máy sàng rung
Hình 1.7: Sơ đồ máy sàng rung Dựa theo nguyên tắc hoạt động máy sàng rung có thể có: sàng rung tự do, sàng
rung quán tính, sàng rung tự cân bằng Máy sàng rung tự do(sai tâm) Dùng để sàng
ở giai đoạn cuối hay giai đoạn trung gian trong dây chuyền sản suất vật liệu xây
dựng Biên độ dao động của hộp sàng không phụ thuộc vào tải trọng trên mặt sàng
và luôn luôn không đổi Tuy nhiên, loại máy sàng như vậy có kết cấu tương đ ối
phức tạp
Mômen của đối trọng có thể điều chỉnh phụ thuộc vào tải trọng lên sàng và trọng
lực của nó cùng các lưới sàng Nhờ vậy mà lực ly tâm quán tính của các khối lượng
lắc của sàng sẽ cân bằng với lực ly tâm của đối trọng
+ Máy sàng rung quán tính: Dùng để sàng các loại vật liệu Ở đây, hộp sàng lại
nhờ lực ly tâm quán tính sinh ra khi quay bánh lệch tâm Biên độ dao động của sàng
sẽ phụ thuộc vào lực quán tính, tính chất giảm chấn và tải trọng lên sàng Để hạn
chế sự mài mòn của đai và hạn chế sự truyền rung động lên trục động cơ thì bánh
đai dẫn động được đặt trên trục với một độ lệch tâm có khoảng cách lệch tâm gần
DUT.LRCC
Trang 28bằng biên độ dao động của sàng Máy sàng được tựa hoặc treo qua bộ phận giảm
chấn Khi tăng tải trọng lên sàng, biên độ dao động của hộp sàng sẽ giảm tương ứng
còn tải tác dụng lên các ổ trục trên thực tế không thay đổi, như vậy máy sàng rung
quán tính có tính chất tự bảo vệ khỏi quá tải Tính chất này cho phép sử dụng có
hiệu quả khi sàng các loại vật liệu thô có kích thước lớn
+ Máy sàng rung tự cân bằng : Thường dùng để sàng vật liệu ở giai đoạn cuối,
kết cấu của loại này phức tạp hơn loại trên do sử dụng bộ phận tạo rung với dao
động định hướng Đồng thời, với loại kết cấu này cho phép đặt bề mặt sàng theo
phương ngang, điều đó cho phép giảm kích thước thiết bị theo chiều cao Máy sàng
loại này thường sử dụng trong các thiết bị nghiền sàng di động hay ở những nơi bị
khống chế độ cao Loại sàng này có khung máy gắn với hộp sàng hoặc hai bánh
lệch tâm gắn trên hai trục Trục 1 nhận truyền động từ động cơ qua bộ truyền đai,
truyền chuyển động cho trục hai (bánh lệch tâm thứ hai) qua bộ truyền bánh răng
với tỉ số truyền bằng 1 Như vậy, hai bánh lệch tâm được quay đồng bộ và ngược
chiều nhau Đường nối 2 tâm trục bánh lệch tâm tạo với phương ngang góc 550
, nhờ đó tạo dao động tịnh tiến cho hộp sàng hợp với mặt sàng một góc 350
Ngoài
ra, trong một số trường hợp khi sàng những loại vật liệu nhỏ sử dụng máy sàn g với
bộ phận tạo rung mặt sàng là nam châm điện
1.4.2.2 Máy sàng phẳng
+ Mặt sàng: là cơ quan làm việc chính của máy sàng có thể dùng loại ghi hoặc
loại lưới Ghi theo kết cấu có loại: trung bình và nhỏ
+ Ghi thanh: làm từ các thanh bằng thép hoặc gang ghép song song nhau và liên
kết với nhau thành một mạng, kích thước khe hở của các thanh được xác định theo
kích thước khe hở cục vật liệu qua khe Ghi thanh thường dùng các loại vật liệu có
kích thước lớn
+ Ghi tấm : là các tấm thép có khoan lỗ hoặc dập lỗ Lỗ thường có dạng hình
vuông, hình chữ nhật, hình sáu cạnh, hình ovan, hình tròn …Các lỗ được phân bổ
song song và lệch nhau để tạo điều kiện cho việc sàng tốt nhất Để cục vật liệu
DUT.LRCC
Trang 29không bị kẹt thì chiều dày của tấm phải nhỏ hơn đường kính lỗ Ghi tấm thường
được dùng để sàng sàng vật liệu trung bình và nhỏ
+ Lưới : dùng để sàng mịn và sàng nhỏ Lưới được đan từ những sợi thép hợp
kim Ưu điểm của lưới là có diện tích tự do lớn chiếm đến 70% diện tích toàn bộ
lưới và cho phép sàng kích thước rất nhỏ (kích thước lỗ theo khe sàng trong khoảng
2,5mm ÷ 40 mm)
1.4.2.3 Sàng lắc phẳng
Sàng lắc phẳng làm việc được chủ yếu do tác dụng của lực quán tính và ma sát
Việc sàng chỉ thực hiện được khi có sự dịch chuyển tương đối củ a hạt vật liệu trên
mặt sàng, nghĩa là chỉ khi gia tốc sàng truyền cho vật liệu lực quán tính thắng lực
ma sát giữa vật liệu và lưới sàng Sàng lắc phẳng có 2 loại cơ bản và thông dụnh
nhất Đó là sàng dùng các trục lệch tâm làm gối đở và sàng lắc dùng các sợi cáp để
treo sàng trên không gian
a/ Sàng lắc phẳng kiểu trục lệch tâm
Hình 1.8: Sơ đồ máy sàng lắc kiểu trục lệch tâm
Đây là loại sàng dùng khá phổ biến hiện nay Nh ưng sàng loại này cần phải bố
trí ít nhất 04 trục lệch tâm ở 04 góc Như vậy, các trục lệch tâm sẽ làm cho tổn hao
lực lắc sàng do có lực ma sát giữa các ổ bi và di chuyển khối lệch tâm
DUT.LRCC
Trang 30b/ Sàng lắc phẳng kiểu cáp treo
Hình 1.9: Sơ đồ máy sàng lắc kiểu cáp treo
Loại sàng này hiện nay dùng rất phổ biến Về cấu tạo và nguyên lý hoạt động
thì loại sàng này gần giống với sàng dùng các gối đở Nhưng để treo sàng lên trên
khong gian ta dùng những sợi cáp Chỉ cần những sợi cáp để treo sàng lên không
gian và thực hiện sàng theo phương pháp lắc
1.4.2.4 Lựa chọn phương án thiết kế
Dựa vào những phân tích trên và dựa vào thực tế của máy chuẩn Để phù hợp
với vật liệu cần sàng đó là dăm gỗ, ta chọn phương án cho máy phân loại đó là máy
sàng bằng phương pháp lắc dùng cáp treo
1.4.3 Phân tích các phương án vận chuyển thành phẩm
1.4.3.1 Gàu tải
Đây là loại thiết bị vận chuyển liên tục có bộ phận kéo là xích, dùng để chuyển
những vật liệu từ thấp lên cao
+ Gàu tải kiểu tấm: Bộ phận tải là các tấm thép liên kết với xích bằng các
bulông
DUT.LRCC
Trang 31+ Gàu tải kiểu treo: Vật liệu được cho vào những máng và được xích tải vận
chuyển lên cao
+ Gàu tải kiểu càng: Vật liệu được cho vào những máng và di chuyển nhờ các
tấm càng
* Ưu điểm và nhược điểm của gàu tải:
- Ưu điểm:
+ Khả năng vận chuyển lớn
+ Có khả năng vận chuyển được vật liệu ở nhiệt độ cao
+ Có khả năng vận chuyển được vật liệu lên rất cao
- Nhược điểm:
+ Giá thành chế tạo, lắp đặt cao
+ Kết cấu, trọng lượng lớn
+ Trong quá trình làm việc gây ra tiếng ồn
+ Vật liệu dễ bị đổ một phần ra ngoài, nhất là tại nơi nạp liệu và nơi xả
liệu
1.4.3.2 Vít tải
Đây là loại thiết bị vận chuyển liên tục không có bộ phận kéo Bộ phận chính
của nó là trục vít tải, trên đó có gắn các cánh xoắn.Vật liệu được vận chuyển theo
+ Không thích hợp với những loại vật liệu có kích cỡ lớn
+ Năng suất vận chuyển nhỏ
1.4.3.3 Băng tải
Đây là loại thiết bị vận chuyển liên tục có bộ phận kéo là tấm b ăng tải đồng thời
là bộ phận mang vật liệu Chuyển động được nhờ sự ma sát giữa tang và tấm băng
DUT.LRCC
Trang 32Tấm băng là bộ phận chính của băng tải, kích thước tấm băng thường được tiêu
chuẩn hóa Tấm băng được chế tạo từ những lõi bằng các sợi cáp bên ngoài bọc cao
+ Không làm việc ở nhiệt độ cao
+ Không vận chuyển được vật liệu từ thấp lên cao
1.4.3.4 Máng khí động
Đây là loại máy vận chuyển liên tục, vật liệu được vận chuyển trong máng nhờ
dòng khí nén Do vậy nó chỉ vận chuyển được những loại vật liệu có kích cỡ rất bé,
trọng lượng riêng nhỏ
* Ưu điểm và nhược điểm:
+ Ưu điểm: Vật liệu được vận chuyển trong máng kín nên tránh được bụi,
không gây hao hụt trong quá trình vận chuyển, không bị lẫn các tạp chất hoặc rát rửi
trên đường vận chuyển
+ Nhược điểm: Không vận chuyển được vật liệu có kích cỡ lớn
1.4.3.5 Lựa chọn phương án
Theo yêu cầu về kỹ thuật thì vật liệu được vận chuyển là những hạt vật liệu có
kích cỡ từ (05 ÷ 30) mm, năng suất 300T/h Do vậy, qua 4 phương án trên thì ta
chọn phương án vận chuyển bằng băng tải là thích hợp nhất Vì nó đảm bảo được
năng suất vận chuyển, kích cỡ sản phẩm, không gian làm việc, và một số đặc điểm
kỹ thuật nổi trội của nó
1.4.4 Lựa chọn tấm băng tải
1.4.4.1 Tấm băng tải làm bằng tấm thép
DUT.LRCC
Trang 33Đây là loại băng tải dùng để vận chuyển những vật liệu có trọng lượng lớn, vật
liệu có ma sát lớn, làm việc ở nhiệt độ cao
1.4.4.2 Tấm băng tải làm bằng lớp cao su ghép lại với nhau
Đây là loại tấm băng bên trong có gắn những sợi cáp Đây là loại tấm băng tải
chịu lực va đập lớn, vận chuyển được những loại vật liệu có kích cỡ lớn và nhỏ
+ Năng suất vận chuyển cao
+ Làm việc được trong môi trường bụi
+ Giá thành không cao
+ Ít làm hỏng các chi tiết khác
- Nhược điểm: Không làm việc ở môi trường nhiệt độ cao
1.4.4.3 Lựa chọn phương án
Qua 2 phương án trên thì ta chọn phương án thứ 2 là thích hợp nhất vì phương
án này đảm bảo được năng suất vận chuyển và kích cỡ hạt, đồng thời có nhiều ưu
điểm hơn phương án 1, phù hợp với yêu cầu cần vận chuyển của máy thiết kế
DUT.LRCC
Trang 34CHƯƠNG 2
THIẾT KẾ SƠ ĐỒ ĐỘNG HỌC VÀ TÍNH TOÁN CÁC
THÔNG SỐ CHỦ YẾU CỦA MÁY
Trang 354: Băng tải dăm chưa qua sàng
5: Bộ truyền đai động cơ máy băm
6: Động cơ máy băm
7: Máy băm gỗ
8: Bộ truyền xích băng tải gỗ vào
9: Băng tải gỗ vào
2.2 CÁC THÔNG SỐ CỦA MÁY THIẾT KẾ
Chuyển động chính của máy là chuyển động quay của trục chính Vì vậy, ta cần
xác định ntc (Số vòng quay trục chính)
Với chế độ cắt để thực hiện được nguyên công cắt gọt gỗ, cần phải có nhiều điều
kiện khác nhau Ví dụ như: các thông số của dao, tốc độ cắt v, tốc độ đẩy u
Ta phải chọn dao và tốc độ đẩy cho phù hợp Còn chế độ cắt của đa số các máy
là không đổi Do đó, ta phải lựa chọn chế độ cắt phải nhằm mục đích đạt năng suất
cao nhất
2.2.1 Xác định công suất cắt cần thiết của động cơ truyền động cho đĩa băm
(Động cơ chính)
Xu hướng gia công gỗ hiện nay là tạo mọi điều kiện để nâng cao tốc độ
đẩy.Nhưng nếu nâng tốc độ đẩy lên quá cao dẫn đến chất lượng giảm, công suất
máy tăng, lực cắt tăng Vì vậy, việc lựa chọn tốc độ đẩy thích hợp cho một đối
tượng gia công cụ thể ở trên một máy nào đấy có ý nghĩa rất lớn Hiện nay, tốc độ
đẩy gỗ được xác định theo mấy căn cứ sau: Công suất điện, theo yêu cầu chất lượng
sản phẩm gia công, theo khả năng cắt gọt của dụng cụ, theo độ bền vững của máy
và các bộ phận khác của nó
Xác định công suất cắt cần thiết của động cơ dựa theo tốc độ đẩy u = 28 m/p và
lượng đẩy của gỗ vào một dao uz = 1,8 m/p
Từ công thức tính công suất cắt:
Trang 36k: Công cắt riêng b: Chiều rộng lớp gỗ bị hớt đi (mm)
h: Chiều dày lớp gỗ bị hớt đi (mm)
a K
t p
.0
.a1.a v.a w.a t ( N/ mm2 ) (2.2) Với: a1: Hệ số kể đến ảnh hưởng của loại gỗ
7
.2,25,1
Trang 3728 50 60 97 , 4
= x x x = 68,2 (Kw)
2.2.2 Tính công suất động cơ và chọn động cơ điện
Để truyền chuyển động từ động cơ đến máy băm gỗ ta dùng bộ truyền đai Như
vậy, đường truyền từ động cơ đến trục chính của máy băm là qua bộ truyền đai và
các ổ đở trục chính, nên công suất động cơ được tính:
Trong đó: 1 = 0,96 : Hiệu suất của bộ truyền đai
2 = 0,98 : Hiệu suất một cặp ổ lăn
Suy ra: Nđc = 0,960,98
2,68
x = 72,4 (Kw) Tra bảng 2P- Sách thiết kế chi tiết máy : Nguyễn Trọng Hiệp - Nguyễn Văn
Lẫm.Ta chọn động cơ điện che kín có quạt gió kiểu AO2 - 91 - 1 có:
Công Suất: N = 75 (kw)
Số vòng quay: n = 1470 (vòng/phút)
Hiệu suất = 92,5%
2.2.3 Xác định công suất truyền động của động cơ lắc sàng
Sàng lắc phẳng làm việc được chủ yếu do tác dụng của lực quán tính và ma sát
Việc sàng chỉ thực hiện được khi có sự dịch chuyển tương đối của hạt vật liệu trên
mặt sàng, nghĩa là chỉ khi gia tốc sàng truyền cho vật liệu một lực quán tính thắng
lực ma sát giữa vật liệu và lưới sàng
Để xác định gia tốc làm việc của lưới ta có sơ đồ
DUT.LRCC
Trang 38Hình 2.2: Sơ đồ phân tích lực tác dụng lên cục vật liệu trên sàng
Theo sơ đồ ta có lực quán tính tác dụng lên cục vật liệu :
Pqt = m.a (N) (2.4)
m: Khối lượng cục vật liệu kg
a : Gia tốc của lưới sàng, m/ giây2
Lực quán tính có thể được xác định thông qua lực ma sát giữa vật liệu và mặt sàng
Công thức (*1) cho biết giá trị gia tốc nhỏ nhất cần có của sàng để bắt đầu từ giá
trị đó trở đi sẽ có sự dịch chuyển tương đối của vật liệu trên sàng có nghĩa là bắt
đầu quá trình sàng
Từ giá trị gia tốc tới hạn trên ta có các thông số cho s àng lắc theo phương
nghiêng
Xác định gia tốc tới hạn a1 và a2 để cục vật liệu dịch chuyển lên phía trên và
dịch chuyển xuống phía dưới theo phương nghiêng của sàng lắc dọc theo phương
nghiêng với trục sai tâm đối xứng như sau:
Để vật liệu dịch chuyển lên phía trên :
DUT.LRCC
Trang 39Pqt ≥ Gf cosα + Gsinα (*2)
(G: Trọng lượng của vật liệu, N)
Nhưng lực quán tính cũng được xác định :
Pqt = ma1 = G g a1 (*3)
Từ (*2) và (*3) ta có :
a1 = g (fcosα + sinα)
α: Góc nghiêng của sàng (đạt tới 200)
f: Hệ ma sát : Cho loại trung bình : f = 0,3
Cho loại nhỏ và ướt : f= 0,6
Tương tự, ta có gia tốc để vật liệu dịch chuyển về phía dưới sàng :
a2= 9,81 ( 0,3 0,985 -0,174 ) = 1,2 giây2
Như vậy, gia tốc tới hạn để vật liệu chuyển động theo sàng xuống dươi a2 nhỏ
hơn gia tốc a1cho vật liệu dịch chuyển lên trên Như vậy, ở sàng lắc dọc theo
phương nghiêng với cơ cấu sai tâm đối xứng vật liệu sẽ dịch chuyển về phía dưới
theo phương nghiêng Góc nghiêng của sàng cần phải nhỏ hơn góc ma sát để tránh
hiện tượng trượt của vật liệu theo sàng
α < φ
Trường hợp sàng lắc nghiêng với thanh đẩy nằm dưới mặt sàng, về kết cấu
không khác nhiều so với loại trên nhưng lực quán tính Pqt ở đây không song song
DUT.LRCC
Trang 40với mặt sàng mà hợp với mặt sàng một góc α nên sẽ có 2 thành phần lực quán tính
G = mg
Ta có : 4 2
n r ( 1+ f.tgα ) ≥ f - tgα Trường hợp góc ma sát vật liệu φ ta có f = tgφ nên ta nhận được :
4n2.r ≥ tgtg
tg tg
.1+
− = tg (φ – α )
Như vậy, để vật liệu di chuyển về phía dưới thì n phải nhỏ hơn giá trị ở (*4)
Vì thế, để vật liệu vận chuyển xuống dưới thì :
Ở đây ta nhận thấy khi Pqt (1) > Gcosα sẽ làm bắn vật liệu lên nhưng thường
trong thực tế vật liệu không được bắn lên tuy nhiên thành phần Pqt (1) xới vật liệu
DUT.LRCC