1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Phân tích bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt

16 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Giới thiệu bài thơ “Bếp lửa” (bài thơ viết về tình cảm bà cháu): Viết về người bà trong gia đình, với tình thương và đức hy sinh cao cả, bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt là một t[r]

Trang 1

VĂN MẪU LỚP 9 NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

ĐỀ BÀI: PHÂN TÍCH BÀI THƠ BẾP LỬA CỦA BẰNG VIỆT

A SƠ ĐỒ TÓM TẮT GỢI Ý

B DÀN BÀI CHI TIẾT

I Mở bài

- Giới thiệu bài thơ “Bếp lửa” (bài thơ viết về tình cảm bà cháu): Viết về người bà trong gia đình, với tình thương và đức hy sinh cao cả, bài thơ “Bếp lửa” của Bằng

Việt là một trong những bài thơ lắng sâu trong tâm hồn tuổi thơ mỗi chúng ta

- Trở lại đề (nêu lại phần gợi ý ở đề bài): Bài thơ đã cho thấy tình yêu quê hương đất nước chan hòa với bao kỷ niệm tuổi thơ vô cùng thiết tha về người bà kính yêu, người bà đôn hậu và tần tảo sớm khuya sáng bừng lên như một ngọn lửa thần kỳ và thiêng liêng

II Thân bài

1 Mạch cảm xúc và cảm hứng chủ đạo của bài thơ

Trang 2

- Bài thơ mở ra với hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi về những kỷ niệm tuổi ấu thơ sống với bà, làm hiện lên hình ảnh bà chăm sóc, lo toan vất vả với tình thương yêu vô

bờ dành cho cháu

- Đứa cháu nay trưởng thành, từ nơi xa suy ngẫm, thấu hiểu về bà Cuối cùng người cháu gởi niềm thương nỗi nhớ về với bà

 Vậy mạch cảm xúc của bài thơ là đi từ quá khứ đến hiện tại, từ kỷ niệm đến suy ngẫm theo dòng hồitưởng

 Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là tình cảm bà cháu, là nỗinhớ, lòng kính yêu

và biết ơn vô hạn của người cháu với bàmình cũng là với gia đình và quê hương đất nước

2 Phân tích bài thơ (theo mạch cảm xúc - bố cục bài thơ)

a 3 câu đầu: Khơi nguồn dòng hồi tưởng cảm xúc

- Hình ảnh bếp lửa được hình dung trong trí nhớ của tác giả (phân tích từ láy “chờn vờn”, “ấp iu”)

- Từ hình ảnh bếp lửa liên tưởng tới người nhóm lửa - người bà (phân tích hình

ảnh ẩn dụ “biết mấy nắng mưa”)

b Khổ thơ thứ 2 (năm câu tiếp theo: “Lên bốn tuổi sống mũi còn cay”): Kỷ niệm tuổi thơ, kỷ niệm buồn khó quên

- Nhớ lại quá khứ: Nhớ những năm tháng chiến tranh chống Pháp gian khổ (đói mòn đói mỏi, khô rạc ngựa gầy)

- Hình ảnh chi tiết ám ảnh mãi đến bây giờ: mùi khói bếp (đến bây giờ sống mũi

còn cay)

c Khổ 3: (11 câu: “Tám năm ròng trên những cánh đồng xa”)

- Chi tiết tiếp theo hiện lên trong hồi ức của cháu: tiếng chim tu hú kêu trong ngày

hè, là âm thanh của đồng quê

- Tiếng chim tu hú vang vọng giúp tác giả lại nhớ về bà

d Đoạn tiếp theo (10 câu: Năm giặc đốt làng niềm tin dai dẳng): Những phẩm chất

cao quý của bà

- Vững long tin trước mọi tai họa thử thách (“Vẫn vững lòng được bình an”)

- Bếp lửa thành ngọn lửa bất diệt, ngọn lửa của tình thương

 Ý chí, bản lĩnh sống của bà, của người phụ nữ Việt Nam

Trang 3

người bà kính yêu, về bếp lửa trong mỗi gia đình Việt Nam

- Điệp từ “nhóm”

- Lời khẳng định ca ngợi: “Ôi kỳ diệu và thiêng liêng - bếp lửa”

f Bốn câu cuối: Tình thương nhớ, lòng kính yêu và biết ơn của đứa cháu nay đã đi

xa

- Bốn câu kết thể hiện một cách đằm thắm tình thương nhớ, lòng kính yêu và biết

ơn của đứa cháu bé bỏng nay đã đi xa:

“Giờ cháu đã đi xa

Có ngọn khói trăm tàu

Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở -Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”

 Như vậy, hình ảnh trung tâm (bếp lửa) mở đầu, khơi nguồn mạch cảm xúc của bài thơ, của dòng hồi tưởng đã được khép lại bằng chính hình ảnh ấy

III Kết bài

- Ý nghĩa của bài thơ: Bài thơ “Bếp lửa” của nhà thơ Bằng Việt là một bài thơ hay

của thi ca Việt Nam đọc xong bài thơ mỗi chúng ta đều muốn được chạy về nhà

để sà vào lòng bà để mà được nghe bà hát ru trong những trưa hè oi ả

- Nét đặc sắc về nghệ thuật: Lời thơ đẹp, chất thơ trong trẻo, trẻ trung Hình

tượng thơ: “bếp lửa” “khói hun”, “ngọn lửa”, “tiếng chim tu hú” bổ sung kết hợp

thật tự nhiên giữa kể và tả bằng dòng hồitưởng và suy ngẫm rất thơ và đầy ấn tượng

C BÀI VĂN MẪU

Đề bài: Em hãy viết bài văn nghị luận văn học phân tích bài thơ “Bếp lửa” của nhà thơ

Bằng Việt để cho thấy tình yêu quê hương đất nước chan hòa với bao kỷ niệm tuổi thơ vô cùng thiết tha về người bà kính yêu, người bà đôn hậu và tần tảo sớm khuya

sáng bừng lên như một ngọn lửa thần kỳ và thiêng liêng

Gợi ý làm bài

Bài văn mẫu 1

Trang 4

Viết về người bà trong gia đình, với tình thương và đức hy sinh cao cả, bài thơ

“Bếp lửa” của Bằng Việt là một trong những bài thơ lắng sâu trong tâm hồn tuổi thơ

mỗi chúng ta

Bài thơ đã cho thấy tình yêu quê hương đất nước chan hòa với bao kỷ niệm tuổi thơ

vô cùng thiết tha về người bà kính yêu, người bà đôn hậu và tần tảo sớm khuya sáng

bừng lên như một ngọn lửa thần kỳ và thiêng liêng

Bài thơ mở ra với hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi về những kỷ niệm tuổi ấu thơ sống

với bà, làm hiện lên hình ảnh bà chăm sóc, lo toan vất vả với tình thương yêu vô bờ

dành cho cháu Đứa cháu nay trưởng thành, từ nơi xa suy ngẫm, thấu hiểu về bà Cuối

cùng người cháu gởi niềm thương nỗi nhớ về với bà Vậy mạch cảm xúc của bài thơ là

đi từ quá khứ đến hiện tại, từ kỷ niệm đến suy ngẫm theo dòng hồi tưởng

Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là tình cảm bà cháu, là nỗi nhớ, lòng kính yêu và biết

ơn vô hạn của người cháu với bà mình cũng là với gia đình và quê hương đất nước

Hình ảnh đầu tiên hiện lên trong trí nhớ của tác giả là hình ảnh bếp lửa ở một làng quê Việt Nam từ thời thơ ấu:

“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm”

“Chờn vờn” là từ láy tượng hình vừa giúp ta hình dung làn sương sớm đang bay nhè

nhẹ quanh bếp lửa vừa gợi cái mờ nhòa của hình ảnh ký ức theo thời gian Từ “ấp iu”

là một sáng tạo mới mẻ của nhà thơ Đó không phải là từ láy, từ ghép đơn thuần mà

là sự kết hợp và biến thể của hai từ “ấp ủ” và “nâng niu” “Ấp iu” gợi đến bàn tay kiên

nhẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút của người nhóm bếp, lại đúng với công việc nhóm lửa cụ thể

Từ hình ảnh bếp lửa liên tưởng tự nhiên đến người nhóm lửa, nhóm bếp - đến nỗi nhớ, tình thương với bà của đứa cháu đang ở xa:

“Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”

“Biết mấy nắng mưa” là một cách nói ẩn dụ gợi ra phần nào cuộc đời vất vả lo toan

của bà

Khổ thứ hai nói về từ thời ấu thơ rất xa hiện về, đó là kỷ niệm buồn khó quên:

Trang 5

“Lên bốn tuổi, cháu đã quen mùi khói Năm ấy, là năm đói mòn, đói mỏi

Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến bây giờ sống mũi còn cay!”

Hình ảnh những năm tháng chiến tranh chống Pháp gian khổ được hiện về qua thành

ngữ “đói mòn, đói mỏi” - cái đói kéo dài làm mệt mỏi, kiệt sức (cuối năm 1944 đầu

năm 1945, nạn đói kinh khủng đã xảy ra, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói) Hình ảnh con ngựa gầy rạc thì chắc người bố đánh xe cũng gầy khô

Nhưng ấn tượng sâu đậm nhất vẫn là mùi khói bếp: khói hun nhèm mắt cháu, khói

nhiều cay khét Đó là kỷ niệm về “mùi khói”, về “khói hun”, một cảnh đời nghèo khổ

gắn liền với bếp lửa gia đình trước cách mạng Vần thơ là tiếng lòng thời thơ ấu gian

khổ, rất chân thật cảm động “Nghĩ lại đến giờ” (đó là 1963, 19 năm đã trôi qua), mà đứa cháu vẫn cảm thấy “sống mũi còn cay!” Kỷ niệm buồn, vết thương lòng, khó quên

là vậy!

Đoạn thơ thứ ba gồm mười một câu, nhắc lại một vài kỷ niệm sâu sắc về bà trong

suốt thời gian:

“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa”

Hình ảnh, chi tiết tiếptheochợt đến trong hồi ức của nhân vật trữ tình là tiếng chim tu hú:

“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa

Tu hú kêu trên những cánh đồng xa Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà”

Chim tu hú kêu những ngày hè, tiếng tu hú kêu trên những cánh đồng xa cứ khắc khoải kêu mãi, kêu hoài, trong hiện thực đã tha thiết, trong nỗi nhớ lại càng trở nên

da diết hơn Tiếng chim tu hú là âm thanh đồng quê thật tha thiết Tiếng chim tu hú

trở thành một mảnh tâm hồn tuổi thơ Tiếng chim tu hú, những chuyện kể của bà về Huế thân yêu đã trở thành kỷ niệm:

“Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!”

Trang 6

Tám năm ấy, đất nước có chiến tranh: “Mẹ cùng cha bận công tác không về”, cháu ở

cùng bà, cháu lớn lên trong tình thương và sự chăm sóc nuôi dưỡng của bà:

“Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe

Bà dạy cháu làm , bà chăm cháu học”

Hai câu thơ 16 chữ mà chữ bà, chữ cháu đã chiếm đúng một nửa Ngôn từ đã hội tụ

tất cả tình thương của bà dành cho cháu, gợi tả tình bà cháu quấn quýt yêu thương,

một tình thương ấp ủ, chở che Hay nhất, hàm súc nhất là từ ngữ “cháu ở cùng bà”,

“bà bảo”, “bà dạy”, “bà chăm” đã diễn tả một cách sâu sắc tấm lòng đôn hậu, tình

thương bao la , sự chăm chút của bà đối với cháu nhỏ Trong nhiều gia đình ViệtNam,

do nhiều cảnh ngộ khác nhau, mà vai trò của người bà đã thay thế vai trò của người

mẹ hiền

Năm tháng đã trôi qua thế mà bà vẫn “khó nhọc”, vất vả “nhóm bếp lửa” Nghĩ về ngọn

lửa hồng của bếp lửa, nghĩ về tiếng chim tu hú gọi bầy, đứa cháu gọi nhắn thiết tha

chim tu hú “kêu chi hoài” Câu thơ cảm thán và câu hỏi tu từ diễn tả nỗi thương nhớ

bà bồi hồi tha thiết Nhà thơ đắm chìm trong suy tưởng để trò chuyện với con chim quê hương, trách nó không đến ở với bà để bà đỡ nhớ cháu, đỡ cô đơn tuổi già Câu

thơ thật tự nhiên, cảm động, chân thành:

“Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc

Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

Năm chữ “nghĩ thương bà khó nhọc” nói lên lòng biết ơn bà của đứa cháu đã và mang

nặng trong tráitim mình tình thương của bà dành cho cháu

Miên man theo dòng cảm xúc hồi tưởng, hình ảnh bà càng hiện lên rõ nét, cụ thể với

những phẩm chất cao quý: Bình tĩnh, vững lòng, đinh ninh vượt qua mọi thử thách

khốc liệt của chiến tranh,làm trọn nhiệm vụ hậu phương để người đi xa công tác

được yên lòng Bà là chỗ dựa tinh thần vững chắc Sống trong những năm chiến

tranh, khi “giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi” được sự “đỡ đần” của bà con hàng xóm,hai

bà cháu mới dựng lại được túp lều tranh, thế nhưng bà vẫn “vững lòng” trước mọi tai

họa thử thách:

“Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:

Trang 7

“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố Mày có viết thư chớ kể này kể nọ

Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!””

Lời dặn trực tiếp của bà khi cháu viết thư cho bố không chỉ giúp ta hình dung giọng

nói, tiếng nói, tình cảm và suy nghĩ của bà mà còn làm sáng lên phẩm chất của người

bà, người mẹ Việt Nam yêu nước, đầy lòng hy sinh, kiên trì nhóm lửa, giữ lửa

Từ “bếp lửa”, đứa cháu nghĩ về “ngọn lửa” Một hình tượng rất tráng lệ “Bếp lửa bà nhen” sớm sớm chiều chiều đã sáng bừng lên thành ngọn lửa bất diệt, ngọn lửa của

tình thương “luôn ủ sẵn”, ngọn lửa của niềm tin vô cùng “dai dẳng” bền bỉ và bất diệt Cùng với hình tượng “ngọn lửa”, các từ ngữ chỉ thời gian: ”rồi sớm rồi chiều”, các động từ: “nhen”, “ủ sẵn” ,“chứa” (chứa niềm tin dai dẳng) đã khẳng định ý chí, bản lĩnh sống

của bà, cũng là của người phụ nữ ViệtNam giữa thời loạn lạc:

“Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”

Điệp ngữ “một ngọn lửa” và kết cấu song hành đã làm cho giọng thơ vang lên mạnh

mẽ, đầy xúc động tự hào

Tám câu thơ tiếp theo là những suy ngẫm sâu sắc của nhà thơ, của đứa cháu về người

bà yêu kính, về bếp lửa trong mỗi gia đình Việt nam chúng ta Cuộc đời bà nhiều “lận đận”, trải qua nhiều “nắng mưa” vất vả Bà cần mẫn lo toan, chịu thương chịu khó,

thức khuya dậy sớm vì bát cơm, manh áo của con cháu trong gia đình Vần thơ chứa đựng bao nghĩa nặng tình sâu Cháu vô cùng cảm phục và biết ơn bà:

“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”

Bà không chỉ là người giữ bếp giữ lửa mà còn là người nhóm bếp, nhóm lửa:

“Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

Trang 8

Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”

Điệp từ “nhóm” trong 4 câu thơ có điểm chung là cùng gắn với hành động nhóm bếp

nhóm lửa của bà nhưng lại khác nhau ở những ý nghĩa cụ thể: khi thì nhóm bếp lửa

ấp iu, nồng đượm để sưởi ấm cho bà cháu qua cái lạnh của sương sớm; đến câu tiếp

theo thì đã vừa nhóm bếp luộc khoai, luộc sắn cho cháu ăn đỡ đói lòng mà như còn

đem đến cho đứa cháu nhỏ cái ngọt bùi của sắn khoai, của tình thương vô hạn của bà

Đến câu tiếp theo thì lòng bà còn mở rộng hơn cùng với nồi xôi gạo mới là tình cảm

xóm làng đoàn kết, gắn bó, chia ngọt sẻ bùi và đến câu thứ tư thì hoàn toàn mang nghĩa trừu tượng: nhóm dậy tâm tình tuổi nhỏ Tâm hồn và khát vọng tuổi thơ đã

sáng bừng lên từ ngọn lửa do bà ”nhóm” suốt mất chục năm trời

Chính từ đó mà, theo mạch suy ngẫm, nhà thơ đi lên khái quát rất tự nhiên và hợp lý:

“Ôi kỳ diệu và thiêng liêng - bếp lửa” Đúng vậy, vì bếp lửa thật giản dị , bình thường

và phổ biến trong mọi gia đình Việt Nam, nhưng bếp lửa cũng thật cao quý, kỳ diệu và

thiêng liêng vì nó luôn gắn liền với bà - người giữ lửa, nhóm lửa, truyền lửa, người tạo nên tuổi thơ của cháu Bếp lửa trở thành một mảnh tâm hồn, một phần không thể

thiếu trong đời sống tinh thần của cháu

Bốn câu kết thể hiện một cách đằm thắm tình thương nhớ, lòng kính yêu và biết ơn

của đứa cháu bé bỏng nay đã đi xa:

“Giờ cháu đã đi xa Có ngọn khói trăm tàu

Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở -Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”

Cuộc đời mới thật vui, thật đẹp, đã “có ngọn khói trăm tàu” đã “có ngọn lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả”, nhưng cháu vẫn không nguôi nhớ bà, nhớ bếp lửa gia đình

thương yêu Không gian và thời gian xa cách, và dù cuộc đời có đổi thay, nhưng tình

thương nhớ bà vẫn thiết tha mãnh liệt Trở về thời hiện tại, nhà thơ lại muốn hỏi bà, nhắc bà việc nhóm bếp để nói cái ý không bao giờ quên quá khứ, không bao giờ quên

được hình ảnh bà với bếp lửa của một thời thơ ấu nghèo khổ, gian nan mà ấm áp nghĩa tình

Như vậy, hình ảnh trung tâm (bếp lửa) mở đầu, khơi nguồn mạch cảm xúc của bài

Trang 9

thơ, của dòng hồi tưởng đã được khép lại bằng chính hình ảnh ấy

“Bếp lửa” là một bài thơ hay và độc đáo Bài thơ không chỉ nói về bà, về tình bà

cháu mà còn có ý nghĩa triết lý thầm kín; Những gì là thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi

người đều có lúc tỏa sáng, nâng đỡ con người suốt cả cuộc đời Tình yêu thương và lòng biết ơn bà chính là một biểu hiện của tình yêu thương, gắn bó với gia đình, quê hương và đó cũng là khởi đầu của tình người, tình yêu nước

Lời thơ đẹp, chất thơ trong trẻo, trẻ trung Hình tượng thơ: “bếp lửa” “khói hun”, “ngọn lửa”, “tiếng chim tu hú” bổ sung kết hợp thật tự nhiên giữa kể và tả bằng dòng hồi

tưởng và suy ngẫm rất thơ và đầy ấn tượng

Bài văn mẫu 2

“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nộng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa

Ôi kì là và thiêng liêng bếp lửa!”

Thơ của bằng Việt thật thiết tha và nồng đượm Chỉ là 1 tiếng gà mái nhảy ổ cục tác trong nắng trương, chỉ là 1 bếp luẳ chờn vờn sương sớm … mà sao tha thiết nghĩa tình thế, mà sao lắng sâu đến thế Thì ra có khi những điều nhỏ nhoi, giản dị nhất lại

ẩn chứa tâm tình, chắt đọng những điều thiêng liêng, lại hiện hình lên những tình cảm thiết tha, chân thành không thể nao quên Cứ thế bài thơ Bếp lửa đã đọng trong lòng ta nhưng dư vị ngọt ngào

Nếu như “Tiếng gà trưa” đánh thức trong Xuân Quỳnh những kỷ niềm về 1 thời

thơ ấu trong tình thương yêu của bà Thì với Bằng Việt lại là hình ảnh bếp lửa, nó là biểu tượng cho sự ấm áp, nồng đượm của tình bà cháu Bếp lửa đã khơi gợi nhom len,

lan tỏa, tan chảy mãi dòng hồi ức tuổi ấu thơ, thao thức, đượm đùa … Hình ảnh bếp lửa thật giàu ý nghĩa cho nên mở đầu bài thơ chính là mở đầu cho nỗi nhớ của tác giả Nỗi nhớ bà, nhớ chính cái bếp lửa thân quen ấy

“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nộng đượm

Trang 10

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”

Những hình ảnh mở đầu vừa thực vừa hư như trong truyện cổ tích Ngọn lửa nhỏ mờ trong sương sớm mai 2 hình ảnh lúc ẩn lúc hiện … tạo nên 1 quãng cãnh trữ tình làm

lay động cảm xúc dạt dào của tác giả Bếp lửa! Hình ảnh bếp lửa từ trong sâu thẳm tiềm thức khi ẩn khi hiện, khi mờ trong nỗi nhớ nôn nao của đứa cháu khi xa cách lâu

ngày Từ "ấp iu" được dúng rất sáng tạo Đó là kết quả rút gọn và nối kết của bao từ

"ấp lửa, chắt chiu , nâng niu" Đi với động từ này là tính từ "nồng đượm" Những điều

đó đã nói lên rằng bếp lửa đã có 1 linh hồn, trờ thành bếp lửa ủ chứa tình thương của

cháu đôi với cuộc đời lam lũ, trải qua "nắng mưa" của người Bà Từ đây 2 hình ảnh, 2

nỗi nhớ đan xen nhau thành 2 bệ phóng cho cảm xúc nhà thơ thăng hoa Rồi tác giả

đã vận dụng 6 giác quan để làm sống lai đời thơ bé cùng sống với người bà chịu thương chịu khó

“Lên 4 tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy”

Từ thị giác "chờn vờn sương sớm" cảm giác "ấp iu nồng đượm" và khứu giác "hun nhèm mắt cháu" để nói về đoạn đời đói khổ, đói đến mòn ỏi, hình ảnh ngừời bố đi

đánh xe về khô rạc với con ngựa gầy còm Tất cả đều hội tụ trong mùi khói hun đến ngẹt thở nao lòng cả tuổi thơ Đó là 1 vòm trời cổ tích nào cao rộng và nhuốm màu lãng mãn trong thời thơ bé, hay nói đúng hơn khói bếp đã bao trùm suốt khung trời tuổi thơ của tác giả Ấn tượng về cuộc sóng đói khổ và khói bếp nhà nghèo đã đọng lại

và da diết trong kí ức của nhà thơ "nghĩ bây giờ sống mũi còn cay" Quá khứ tuổi thơ

cay cực đã qua rồi mà dư vị 1 thời thơ bé vẫn ám ảnh Bằng Việt Nghĩ lại trhấy xót thương trong hồi ức về bà … Tuy chỉ là 1 đoạn thời thơ ấi những thời gian ấy dài lắm những 8 năm

“Cháu cùng bà nhóm lửa

Tú hú kêu trên những tầm gần xa Khi tu hú kêu bà còn nhớ ko bà

Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế”

Ngày đăng: 23/04/2021, 09:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w