Ngồi nghề dệt ra, người Khmer ở đây cịn cĩ nghề làm đường thốt nốt, đĩng xe bị, rèn…+Theo những người Tà Khốt cho biết,trước đây người trong sĩc biết trồng bơng vải trên rẫy,triền núi,tr
Trang 1DÂN TỘC KHMER
I.Khái quát chung
Dưới góc độ địa lí, lịch sử,văn hóa, nhân văn: vùng Nam Bộ được tính từ đường giáp ranh giữa tỉnh Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu với các tỉnh Đắc Nông, Lâm Đông, Bình Thuận và kết thúc ở Mũi Cà Mau
Khí hậu: Nhiệt đới ẩm gió mùa với 2 màu mưa và mùa khô rõ rệt
Địa hình: đồng bằng chiếm diện tích lớn
Sông ngòi: dày đặc với hệ thống kênh rạch chằng chịt Có hai mùa nước lũ
và mùa nước nổi
Hệ sinh vật vô cùng phong phú và đa dạng
Nam Bộ là nơi cư trú của nhiều cư dân khác nhau: Mạ, Xtieng, Mnông, Chơ-ro, Chăm, Khơ-me, Hoa, Kinh (Chăm, Hoa,Kinh, Khơ-me sống ở vùng đồngbằng)
Tạo nên sắc thái vùng đất mới Nam Bộ là những nét văn hóa của các tộc người sinh sống ở nơi đây
-nơi hội tụ và sản sinh ra các tôn giáo: Phật Giáo, Đạo giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Cao Đài, Hòa Hảo,
Các điệu múa dân gian
Các kho tàng tri thức dân tộc
Tạo nên sắc thái vùng đất Nam Bộ vô cùng phong phú ấy không thể không nhắc đến dân tộc Khmer
- Tên gọi:
Bắt nguồn từ tiếng Pali-sancrit gọi là Khemara: bình an và hạnh phúc
Tên gọi khác: người Việt gốc Miên, Khơ-me-Krôm, người Thổ, ngườiCao Man, Kam Pu, Kam Bốt, Cur, Cul, Cu
Có 3 loại Khơ-me
1 Khơ-me Crom ( người Khơ- me sống vùng thấp)
Trang 22 Khơ-me Lơ (người Khơ -me sống vùng cao)
3 Khơ-me Kandal (người Khơ-me sống vùng giữa)
Sống ở vùng đất mặn và vùng đất phèn, cư trú trên từng dải của giồng đất, duyên hải hoặc những dải đất ven sông
Có 3 vùng môi sinh
1 Vùng đất nội địa: nơi sinh sống cổ xưa nhất có chùa tháp từ khoảng bốn trăm năm trước, là vùng đất phù sa Điểm tụ cư gọi là Sroc, mỗi Sroc có vài Phum
2 Vùng ven biển: Trà Vinh qua Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang
3 Vùng đồi núi biên giới Tây Nam: bên cạnh tứ giác Long Xuyên An Giang và Kiên Giang tụ cư trên các gờ đất, giống đất và kênh ngoài ra ở trong các thị trấn
4 Dân số: 1.260.640 (năm 2010)
5 Thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn- Khơme
6 Tôn giáo: Phật giáo tiểu thừa
7 Tập trung đông nhất ở Sóc Trăng Trà Vinh, Kiên iang, An Giang, Cần Thơ
I KINH TẾ DÂN TỘC KHMER
1 Sản xuất nông nghiệp
a.Trồng trọt.Họ chia đất gieo trồng 2 loại:ruộng và rẫy.Ruộng là đất trồng lúa,rẫy(chõm ka) là đất trồng hoa màu ,cây lương thực.Có nơi vụ này trồng lúa ,vụ sau trồng dưa hấu rau đậu khi đó gọi là rẫy
Ruộng:
**Chủ yếu canh tác nông nghiệptrồng lúa nước và có kinh nghiệm trong việc canh tác lúa nước Đồng bào phân biệt nhiều loại ruộng đất gieo – trồng
và các giống lúa, biện pháp kỹ thuật thích hợp cho từng loại đất
Loại ruộng gò (xrê tuôl): phù hợp với lúa sớm (xrâu sêral) và các giống lúa như néang vơk, néang khlai…
Loại ruộng thấp (xrê tumniếp): được cấu tạo từ phù sa cận sinh, chứa nhiều đất pha cát, có khả năng lưu trữ nước lâu hơn nên rất thích hợp với giống lúa mùa (xrâu rơđâu)
Trang 3 Loại ruộng rộc (xrê lattô): nằm giữa 2 giồng, tích tụ được nhiều chất hữu
cơ, có nước quanh năm, thích hợp với nhiều vụ lúa và hoa màu trong mùakhô,
Loại ruộng lúa nồi (xrê lơn tưk): phổ biến ở vùng tứ giác Long Xuyên, thích hợp với kỹ thuật sạ lúa với các giống néang tây, néang dum…
Loại ruộng vùng bưng trũng (xrê chơmrơn): giàu chất đạm nên nông dân Khmer cấy lúa 2 lần Ở các vùng đất bưng, bàu được cải tạo thành ruộng này, họ thường phát cỏ, đắp bờ, cho trâu bò giẫm đạp cỏ xuống đất bùn
để biến thành phân tốt Loại ruộng này thích hợp với giống lúa có thời gian sinh trưởng dài ngày, cho năng suất cao
Họ đã biết sử dụng 150 giống lúa tẻ vá nếp khác nhau với Các vụ lúa:
-Vụ lúa mùa :vụ lúa chính phổ biến của vùng.Sau tết Chol Thnam thmei người khmer bắt đầu làm đất,gieo mạ cùng với những cơn mưa đầu mùa.Vụ mùa bắt đầu tháng 4 (đầu mùa mưa) đến tháng 12(đầu màu khô).Và thángGiêng năm sau
-Vụ lúa sớm(vụ lúa nhẹ) :gieo cuối tháng 2 đầu tháng 3 dương lịch thu hoạch tháng6,7
-Vụ lúa muộn :gieo cấy ruộng bưng,thời gian sinh trưởng khá dài
-Vụ lúa nổi:gieo cuối tháng 6 ,thu hoạch dầu tháng 11khi nước bắt đầu rút
**
Quy trình:làm đất-gieo mạ -cấy lúa –chăm sóc-thu hoạch:
Sau tết Chol Thanm Thmei:
+ Bắt tay vào làm đất ,cày bừa và dọn ruộng khi đó đầu mùa mưa ,đất dễ cày
sới(công việc nam giới đảm nhiệm ,họ dùng cày để sới).Sau đó phơi đất cho khô ảirồi mới dùng bừa tơi ra.Họ dùng loại trục đất bằng gỗ hình trái khế.Trước khi cấy ruộng được:cho nước vào bừa sục ,phẳng,cho mạ chóng bén rễ
+Sau đó ,ủ giống thóc cho mọc mầm rồi gieo vào ruộng có bùn mỏng trên mặt.Khi bón ,họ tháo nước lấp xấp cho mầm phát triển.Ngày gieo mạ được chọn ngay tốt nhờ Acha xem Ngày cấy lúa được chọn sau khi đã có sự chuẩn bị ruộng và mạ đã
Trang 4đạt yêu cầu.(Đó là gày thagoi sok-ngày tốt).Khi cấy phụ nữ dàn hàng ngang.Ở nơi ruộng cứng phải dùng nọc cấy để trọc lỗ.
+Trước đây ,họ không biết dùng phân bón và làm cỏ.Việc chăm bón lúa chỉ là giữ nước.Họ biết chống côn trùng chuột cua phá lúa Họ chỉ biết cúng thần:mục
súc ,thần ruộng.Sau mói biết dùng thuốc trừ sâu diệt chuột
+Thu hoạch:cuối mùa mưa đầu mùa khô(cuối tháng11-12) cho dến tháng Giêng năm sau là mùa thu hoạch.Ngày đầu tiên tổ chức lễ cúng thần lúa(hồn lúa)và các thần mục súc,thần đồng ruộng.Bó lúa đầu tiên được buộc bàng chỉ và treo rên bồ thóc ở nhà(vì đó là nơi thần lúa trú ngụ).Liềm và các loại hát dùng gặt lúa.Lúa bó thành đượm và đập lúa tại ruộng hoặc gánh về dùng chân đạp lên sân.Thóc được phơi khô ,quạt sạch bảo quản và sử dụng
thloeng)
- Ở những vùng gần sông rạch và bị nhiễm mặn, phèn: Trà Cú, Long Toàn, Long Phú…đồng bào còn lợi dụng thủy triều lên xuống để đưa nước vào ruộng rồi đắp những đập nhỏ (tronup) để giữ nước xổ phèn hay giữ phù sa lại làm màu Trước đây do tiếp thu của người Việt, người Khmer thường sử dụng guồng (rohăt luk)
- khác với hệ thống thủy lợi của người Khmer ở Campuchia, các công trình thủy lợi của người Khmer nước ta có quy mô nhỏ, không cần huy động nhiều nhân lực Ở đồng bằng sông Cửu Long, từ rất sớm người Khmer đã tạo ra những hình thức tương trợ trong sản xuất Các dôk đăy :mượn tay luôn phiên là những tổ chức vần công, đổi công nhằm giúp đỡ nhau trong sản xuất cũng như đời sống
Trang 5Trước đây do tiếp thu của người Việt, người Khmer thường sử dụng guồng (rohăt luk).Gần đây ,cũng như người Việt họ sử dụng phổ biến các loại máy bơm nhỏ.
**Công cụ:
+ Ở những vùng đất phù sa ven sông, ven biển, ven rừng trước đây của người Khmer thường phát cỏ bằng “phảng” sau đó dùng loại bừa cào to mà kéo cỏ gom lại thành vồng, rồi dung dây nọc to để xoi đất
+Ở những vùng dùng cày (cày :chắc chắn, dài hơn, lưỡi cày xới đất sâu hơn thích hợp với đất đai Nam Bộ) Bừa của người Khmer cũng có răng dài Mặt khác việc sử dụng trục lăn đất (thlôc) phổ biến hơn ở Campuchia
+ Người Khmer cũng sử dụng 2 loại cuốc chính là cuốc tai tượng và cuốc tiều Cuốc tiều đã có từ lâu đời, cán gỗ chắc, lưỡi dày, nặng, khó gãy vì gờ nối dài ở mặtsau, cán gỗ chắc Gọi là cuốc tiều vì người Khmer mua cuốc ở tiệm người Hoa, người Hoa đặt người Kinh làm
Xưa kia năng suất mỗi vụ trung bình 5-6 giạ/công Những năm dưới chế độ cũ, nông dân Khmer đã sử dụng phân bón hóa học, máy bơm nước…nên năng suất caohơn, trung bình 10-11 giạ/công Sau ngày giải phóng, tiếp tục truyền thống canh tác và áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất, đời sống của người dân ngày càngđược nâng cao
b.Chăn nuôi
-Trâu ,bò chó, heo là gia súc chủ yếu trong chăn nuôi gia đình,việc nuôi trâu bòcũng khá phổ biến(vùng Tri Tôn,Bẩy Núi) Nơi đây có nhiều trò chơi, tập tục
Trang 6khuyến khích việc nuôi trâu bò Chợ phiên trâu bò ở núi Sam được đồng bào đông đảo tham gia.)
-Chăn nuôi nhìn chung vẫn còn gắn với nông nghiệp Ngoài đa số gia súc, gia cầm nuôi trong sân vườn, có nơi còn hàng ngàn con vịt tàu để lấy trứng và thịt:như
1 số gia đình ở Cửu Long và Hậu Giang
-Từ sau những năm 1965,khi máy kéo máy bừa du nhập vào nông thôn người khmer ,đàn trâu đàn bò giảm đi đáng kể
2 Thủ công nghiệp:(Đóng thuyền,Đan lát-thủ công mây tre;Dệt chiếu;Làm Gốm;Thổ cẩm-dệt;Nấu đường thốt nốt ngoài ra nhiều nghề khác
như:đóng xe bò,làm diều,nắn nồi ,chế tác nhạc cụ truyền thống, )
**Đóng thuyền:
-Người khmer có tục đua thuyền (ghe ngo) vào tháng 10 hàng năm âm lịch trong dịp Lễ Chào mặt trăng(Ok om bok) để tỏ lòng biết ơn, cảm tạ trăng đã đem nước đến cho mùa màng tươi tốt và nay xin mặt trăng
nhường uy lựu cho mặt trời chiếu nắng làm cho lúa chóng chín để mùa gặt sắp tới thu được nhiều lúa
-ghe ngo là một biểu tượng tiêu biểu cho cuộc sống nông nghiệp của họ
**Quy trình:
-chọn cây-đốn cây-đóng ghe-hạ thủy-điểm nhãn
Đóng 1 chiếc ghe mất khoảng 2 tháng rưỡi đến 3 tháng.ghe làm bằng gỗ sao:
+vốn mọc trên núi cao có voi thần canh giữ.trước khi hạ cây dâng lễ lên thần voi gồm:thủ lợn 1 nải chuối rồi ghi lên thân cây xin sau 7 ngày đến
hạ cây mòi thấn linh ra khỏi cây trong thời hạn đó
+sau cây sao mọc(trồng) trong chùa khi hạ cây phải được đồng ý vị sư trụ trì.Phải dâng lễ(hương nến ,bánh trái)lên thần đất,thàn nước bảo vệ
chùa,cầu xin hạ cây nge cho chùa để duy trì tập tục truyền thống
Dùng rìu đẽo thân cây
+Lễ hạ thủy:đầu ghe quay về hướng Đông,trên đó đặt lễ vật có lọng đỏ che.Lễ vặt cúng:được đặt thanh giằng thứ 5 –thanh giằng giữa –thanh
Trang 7giằng đuôi.(Riêng thanh giữa có đựng túp lều để mời thần :đất ,nước chứng giám buổi lễ).Đầu và đuôi ghe ngo được treo vải đỏ.
Lễ hạ thủy là để cầu mưa và để đạt được phúc lành,bao giờ tổ chức ở chùa,rất nghiêm trang
+Nhạc nổi lên ,Lễ Điểm nhãn được bắt đầu.Tương truyền:mắt ghe chỉ được gắn khi có một trinh nữ đi qua và không để cho người con gái đó biết.Người thợ lập tức dùng đinh đóng mắt vào thuyền,như vậ “linh” của người chinh nữ sẽ phù hộ cho các tay chèo có sức cường tráng trong cuộcđua Vị chủ lễ mời thần linh đến chứng giám để hộ trì cho cuộc đua và chữa lành bệnh tật
+Ngoài ra,có lên đồng trong buổi lễ.Vị cô đồng khi nhập vào đồng sẽ ban phước cho ghe,cho đội chèo ghe,cho cử tọa
Đặc điểm:
+Đầu và đuôi trông giống con cá(trong tài liệu văn hóa khmer nam bộ nét đẹp trong bản sắc Việt nam) có tài liệu ghi rằng:hình thù tựa con rắn,mình thon thoai thoải về phía trước,hai bên đầu hge uốn cong hơi thấphơn so với đằng sau một chút(tai liệu văn hóa người khmer ĐBSCL)dài khỏang 30,4m.có khi hơn
Theo Khang Khái thời Đông Ngô(thế kỷ 3)ghi trong “Phù Nam
Ký”.Thân cây thành thuyền độc mộc dài 12 sải ,rộng 3 phần sải(3/4
sải).Thuyền nào cũng có trang trí những tấm mành sắt trổ hoa.Thuyền lớn chứa được trăm người.Mỗi người đều cầm 1 chèo bơi dài hoặc ngắn và 1 cây sào.Từ đầu đến đuôi thuyền có 50 người,hoặc hơn 40 người,tùy theo thuyền lớn ,bé
+ghe và mái chèo quýet sơn màu đen.ở đầu ghe tô 3 vòng tròn vàng và đỏ.Tựa như vòng tròn trên cổ rắn hổ mang
Chiếc ghe ngo vật thể thiêng trong văn hóa phi vật thể:từ lúc chọn đốn cây -đóng ghe-đến lúc hạ thủy và điểm nhãn.Lễ hội đua ghe ngo là lễhội lớn của vùng
cây-***Nghề đan lát( thủ công mây tre đan) rất phổ biến ở nông thôn Khmer và thường được tiến hành trong những lúc nông nhàn
-Vật liệu: có sẵn,song,mây ,lá dừa ,tre nứa và các loại cây rừng
Trang 8-Sản phẩm:những đồ đựng, đồ chứa, giỏ xách,giỏ đựng cơm hay hộp đựng trầu cau,… các đồ nghề đánh cá đan tre như lờ, đó, đăng,ruốc … (đặc biệt Xà gọm –một nông cụ bắt tép bằng nan tre là sản phảm tiêu thụ khá nhiều)
-Các sản phẩm đan lát bền đẹp ,rất khéo léo đa dạng và phong phú kiểu
dáng,tinh tế trong đan cài và mang nhiều sắc thái dân tộc trong quá trình tạo thành
***Nghề đan đệm, dệt chiếu là một nghề truyền thống lâu đời của người khmer
Do người phụ nữ đảm nhiệm
-chiếu nhiều loại ,kích cỡ khác nhau như để cúng chùa (loại dài) hay sử dụng trong gia đình(loại nhỏ).Để dệt được mất bốn ,năm ngày.Chỉ dệt tháng mùa mưa (tháng 8 đến tháng 10).Vì lúc đó nước lên mới có lát mọc
-Nguyên liệu:các loại dây cây-sợi cói,kok(lạt),thuốc nhuộm.sử dụng các màu tựnhiên:màu vàng từ nghệ;màu đen từ lá bàng;màu tím từ mực viết pha ra
-Dệt cần có 2 người cùng làm:một người điều khiển khung dệt còn người kia xỏcác sợi lác vào khung.Để chuẩn bị lác dệt ,người ta nhổ từng cọng lác(loại dài tròn),lấy dao gọt bỏ ruột,phơi nắng cho khô.Sâu đó, nấu nước màu rồi nhúng bó lácvào nhuộm,phơi khô 2 ngày
-Hoa văn truyền thống hoa văn hình:tháp,cánh vuông,thoivà nửa hình thoi,có thể được dệt thành hoa văn chính trên chiếu
Tuy nhiên ,để đáp ứng nhu cầu thị trường.Họ thay đổi hoặc kết hợp truyền thống và hiện đại.Chiếu thường in các loại hoa văn như:
Chữ Việt –thường là tên người hoặc dòng chữ tiếng Anh: Happy New Year ,được dệt giữa chiếu,xung quanh là cá hoa văn truyền thống người khmer
Hoa văn :cánh hoa vuông,dệt thành chiếu hoa,hình cò ,hình khòi:các đường thẳng song song,hình tháp các đừng ziczac
Tiêu thụ :thực hiện qua mối quan hệ thân quentrng nhà ngoài xóm,sản phẩm có thể được bán ở chợ hay có người đến tìm mua.Người mua thường là người quen trong địa phương đến làm đặt để sử dụng trong nhà.Hiện nay chỉ còn khoảng hai ,ba gia đình dệt chiếu
Trang 9- truyền thống làm đồ gốm từ lâu đời Tiến hành thời kỳ nông nhàn Hai trung tâm làm gốm của đồng bào là Tri Tôn và Sóc Xoài (Kiên Giang) Phẩm chất và hình dạng gốm Sóc Xoài có khác vì đất ở đấy không dẻo bằng Tri Tôn
-Nguyên liệu:đất sét(mềm dẻo,mịn,chịu nhiệt,kết dính tốt)
**Quy trình:Chọn đất –nhào nặn-vỗ và tạo hình sản phẩm-làm bóng-tạo hoa văn sản phẩm.Sau đó phơi nắng trên tấm ván để kiệt nước.sau 1 tuần hoặc 10 ngày cho vào lò đốt nung
-Kỹ thuật :đơn giản, dựa vào đôi bàn tay của phụ nữ
-Công cụ :chủ yếu hòn kê,bàn đập, dựa vào đôi bàn tay của phụ nữ, chưa có bàn xoay,chưa có lò cố định,gốm mộc ,không màu
-Sản phẩm phơi khô và nung chín ở 600-800 độ Ngoài các dụng cụ gia đình, sản phẩm gốm còn phổ biến là nồi (cà om), các cà rang, bếp lò, các loại trống cúng thần
***Dệt thổ cẩm(lụa khmer):
Dưới chế độ cũ, người khmer từng biết trồng dâu ,nuôi tằm dệt lụa ,dệt
vải.Việc nhập các hàng vải đã bóp chết nghề nuôi tằm, dệt vải, chăn nuôi của người Khmer Trước đây làng Lương Hòa – Nguyệt Hóa (Châu Thành – Cửu Long), Cầu Ngang, Trà Cú… có thể nổi tiếng về nuôi tằm, dệt lụa Nhề dệt đã bị mai một cho đến trước 1975,nghề dệt hầu như Thất truyền
Ở vùng Tịnh Biên và Tri Tôn, vì đồng bào còn mặ chăn (Sampôt) nên nghề dệt rất phát triển ngoài dệt các loại Sampôt, đồng bào còn dệt các loại khăn tằm, khăn đội, được người Việt ưa thích Cũng ở Tịnh Biên và Tri Tôn, đi đôi với nghề dệt là nhuộm (mặc nưa) Đồng bào lấy trái mặc nưa lúc mới già đem giã nhỏ, quậy với nước lạnh để nhuộm đen hàng tơ lụa rất tốt vì càng ra nắng lại càng lên màu
Trang 10Nơi cịn sĩt lại nghề dệt của người Khmer đĩ là sĩc Tà Kốt, phum Tropeng Tchâu ( nghĩa là ao sâu) thuộc xã Văn Giáo – Tịnh Biên,cách huyện lỵ 5km trên dường từ Tịnh Biên đi Tri Tơn Sĩc cĩ khoảng 45 hộ gia đình Khmer, trong đĩ khoảng 15 hộ cĩ khung dệt Ngồi nghề dệt ra, người Khmer ở đây cịn cĩ nghề làm đường thốt nốt, đĩng xe bị, rèn…
+Theo những người Tà Khốt cho biết,trước đây người trong sĩc biết trồng bơng vải trên rẫy,triền núi,trong vườn.Bơng trái thu hoạch được cán bằng xa cán đểloại bỏ hột,se thành con cúi và kéo thành sợi.Sợi bơng được hồ bằng bột gạo và nhuộm màu.Người khmet nhuộm màu bằng lá cây,rễ cây,trái cây với các màu đen ,đỏ ,vàng
Kỹ thuật nhuộm:dùng các loại thuốc nhuộm theo phương pháp cổ truyền
cĩ nguồn gốc từ thiên nhiên
Trước khi nhuộm tơ người dệt định hình sẵn trong đầu những má họa tiết hoa văn dự định dệt ,rồi mới mắc những lọn tơ thành mành treo trên cột nhà để phân phối màu
Nhuộm bao nhiêu màu đánh bấy nhiêu sợi Sau đĩ dùng nilơng buộc kín thành tùng khúc Nhuộm xong màu nào ,bĩ đoạn đĩ lại và tiếp tục
mở đoạn khúc ra để nhuộm màu khác.Cơng đoạn nhuộm màu cho mỗi tấm vải thổ cẩm cĩ khi mất cả tháng trời
Hiện nay,khơng trồng nhiều vải,nhuộm màu như xưa.Thay vào đĩ mua sợi nhuộm sẵn từ Châu Đốc ,Long Xuyên đem dệt
+ Quy trình nhuộm tơ phức tạp,quy trình dệt rắc rối hơn:
Các cơng đoạn nghề dệt của người Khmer ở Tà Kốt cũng qua 1 số bước như: mắc sợi, luồng go, bắt sợi dọc lên khung dệt…
khung dệt của người Khmer ở Tà Kốt đã cĩ từ rất lâu và truyền lại qua nhiều đời khổ vải dệt quá rộng từ 80cm hoặc hơn, hệ thống go cĩ phần phức tạp và được điều khiển bởi hệ thống dây treo kết hợp với bàn đạp chân Trục sợi và trục cuộn vải cố định ở 2 đầu, người dệt phải ngồi cố định ở phần đầu vải đã dệt, thoi dệt khá dài Kỹ thuật bắt hoa văn cũng cĩphần phức tạp…
Trang 11+Nghề dệt của người Khmer ở Tà Kốt, toàn bộ các công đoạn đều do người phụ nữđảm nhiệm và hầu như chỉ thực hiện vào thời kỳ nhàn rỗi giữa các hoạt động canh tác nông nghiệp Năng suất dệt khá thấp, do kỹ thuật bắt hoa văn đòi hỏi nhiều công phu và sự tỉ mỉ.
Hoa văn :các hình kỳ hà, các đường viện tạo thành dải với một số mảng cáchđiệu được lặp lại khá đơn điệu tạo nên những ô hình thoi… Đáng lưu ý, là những tấm vải, phần màu nền chủ yếu là màu vàng hoặc sẫm, hoa văn được khuôn vào các ô hình quả trám tạo bởi các đường chéo đan nhau Những hoavăn trên vải, rất gần với các trang trí hoa văn thường bắt gặp ở các chùa Khmer
+Dệt lụa thổ cẩm để mặc xà rông hoặc khăn choàng:người khmer sử dụng kỹ thuật dệt 3 lớp sợi tơ vói 3 màu khác nhau.Loại thổ cẩm này nhìn ngang thấy màu
xanh,nhìn nghiêng bên trái thấy màu cam,nghiêng bên phải thấy màu đỏ.Còn loại thổ cẩm làm bức họa hoặc khăn trải bàn,do mẫu hoa văn thương phỏng theo các tích truyện cổ nên kỹ thuật dệt phúc tạp hơn
+Sản phẩm:các tấm cải dùng làm xà rông cho đàn ông hoặc váy cho phụ nữ, khăn
để địu con…
+ Quy mô nghề dệt theo từng gia đình và năng suất thấp nên sản phẩm dệt chỉ
để dùng trong gia đình hoặc phum sóc, và các trang phục từ vải dệt này chủ yếu là
để dùng trong các dịp lễ, tết truyền thống của người Khmer ở địa phương
+Nghề dệt của người Khmer ở Tà K ốt hiện nay đang có chiều hướng suy sút,
số gia đình có nghề dệt còn không nhiều, và những người biết nghề dệt, biết các kỹthuật bắt hoa văn cũng còn rất ít, phần nhiều là những người già hoặc có tuổi
***Đặc biệt làm đường thốt nốt cũng khá phát triển và phổ biến.Sản phẩm đường thốt nốt đóng gói và được người tiêu dùng trong và ngoài nước tin dùng.-Gắn liền đời sống sinh hoạt của người khmer An Giang.Trồng nhiều huyện Tịnh Biên và Tri Tôn
-Loại vây thân cột không có cành nhánh,quả kết thành buồng ,lá và hoa mọc tùng chùm ,lá cây xòe rộng như lá cọ ,tất cả bẹ tập trung ở bẹ,kết thành một khối
Trang 12tán tròn.Thốt nốt có cây đực và cái.Cây đực có bông nhưng không đậu trái,thường lấy nước thốt nốt từ nhánh bông này.Cây cái cho nhiều trái và nước không
nhiều.Để làm đường thốt nốt ,không dùng nước từ quả (vì hàm lượng đường khôngcao)
Trồng 15 năm thu hoạch ,cao trùng bình 15 m.Dịch thốt nốt cho liên tục được 4 tháng ,rồi ngưng chảy.Cây sẽ ra hoa mới.Mỗi cây,mỗi lưa cho trên dưới 50
trái.Chờ 1 tháng bắt đầu thu hoach tiếp,cứ khai thác đến bốn, năm chục năm
Quy trình:
+Lấy dịch thốt nốt (muốn thế phải trèo lên tận ngọn ,dùng cây tre buộc vào thâncây)và cât mặt bông thốt nốt và hứng những giọt nước rỉ ra từ vết cắt mang về nấu đường.Nước của cây đem về ,chủ lò (lò nấu đường bằng gạch,bên ngoài tô đát sét trộn với trấu rất bền.Họ đun lửa bằng trấu hay lá cây bạch đàn )
+ Đổ vào chảo ,nổi lửa nấu đến khi cô đặc,trở về màu vàng tươi ,đỏ ra cho nguội đóng thành cây hoặc lấy lá thốt nốt bao quanh rồi mang đi bán
+Nước thốt nốt để qua 12 tiếng là hư nên mỗi ngày thợ lấy nước treoc lên cây bốn dến năm lần.Leo lên hàng trăm cây mỗi ngày rất nguy hiểm.Mỗi cây chỉ cho khoang 20kg/mùa.Đường thốt nốt có mặt trên thị trường theo mùa:từ tháng 10 nămtrước đến tháng 4 năm sau
Vị đường thốt nốt không ngọt gắt như đường mía,mùi thơm,vị béo đậm đà khó quên
Ngoài ra lác đác ở nông thôn khmer còn một số nghề:thợ nề,thợ mộc,nghề rèn, đóng xe bò,lấy phân rơi,làm nghề ăn ong(lấy mật và sáp)… Nhìn chung, những nghề nàycó quy mô nhỏ theo từng gia đình, còn các sản phẩm thủ công khác, chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu gia đình, phum sóc, kỹ thuật sản xuất mang tính cổ truyền, năng suất thấp.Ở thị trấn còn một số ít thợ bạc làm vật dụng như:ô trầu ,hộpthuốc,đồ nữ trang và câc bình bằng bạc
3 Săn bắt và hái lượm
**Đánh cá:
Trang 13-Người Khmer ở vùng sông rạch hay biển như Long Toàn (Cửu Long), Vĩnh Châu, Giarai…đã sử dụng những kỹ thuật đánh bắt cá nước ngọt và nước mặn Rất
ít người Khmer sống nghề chài lưới trên biển tuy cũng có 1 số gia đình chung lưng hùn vốn mua thuyền và lưới đánh cá
-Kỹ thuật đánh bắt cá sông, cá đồng của người Khmer cũng như các ngư cụ: lưới, đăng, đó, giống với người Việt ngoại trừ các xaneng Trên sông Hậu, sông Tiền phần nhiều dùng lưới và giăng câu.Còn cá sông nhỏ kênh rạch :dùng
vó,lờ xiên Cá kiếm được cải thiện bữa ăn hoặc dư thừa mang ra chợ bán hay làmkhô.Nhiều loại dùng làm mắm(mắn bò hóc)-món ăn độc đáo của dân tộc
**Ngoài ra còn có sự khai thác lâm thổ sản trong rừng
4 Thương nghiệp
-Dưới chế độ cũ ở nông thôn Khmer đã xuất hiện ở 1 vài quán bán buôn bán lẻ
Số người Khmer sống về nghề buôn bán rất ít, phần nhiều là những người sống ở các thị trấn và thường có quan hệ với người Hoa Từ sau ngày giải phóng, số ngườiKhmer bị dồn về các thị trấn, thị xã sống tạm bằng dịch vụ nay càng giảm bớt, họ trở lại nông thôn hoặc làm nông nghiệp ven đô
-Dođặc điểm là vùng sông nước cư trú ven sông,ven kênh,và con rạch nhỏ nên khu chợ nổi cũng là nơi trao đổi không thể thiếu của người Khmer:
họp cả ngày: Đi chợ nổi phải đi thật sớm, từ lúc mới rạng đông đến gần trưa, nhất
là vào buổi sáng, khi trời còn mát,nắng còn dùi dụi, đông nhất khoảng 8 - 9
giờ Mặt trời lên cao, bắt đầu nắng gắt, là chợ vãn khách
+Hàng hóa chủ yếu là trái cây miệt vườn, các loại rau bán thực phẩm, quà bánh,
đồ ăn, cà-phê, giải khát, thuốc chữa bệnh, sửa chữa các loại dụng cụ và mỗi 1 thuyền buôn đều treo hàng hóa bán trên 1 thân cây cột buộc đầu thuyền ,thường bán buôn hàng hóa đụng trong sọt lớn.Thuyền còn là nơi cư ngụ của các gia đình thương lái ở trên đó Mọi sinh hoạt đời sống đều diễn ra trên thuyền
Trang 14+Trước mỗi mũi ghe, người ta thường cắm hoặc gác ngang một cây sào dài, bên trên treo lủng lẳng những hàng hóa mà chủ nhân muốn bán Ai bán loại trái cây gì thì cắm một cái sào trên mũi thuyền và treo sản phẩm mình muốn bán lên cái sào
đó để mời gọi bạn hàng - còn gọi là "treo bẹo" hay "bẹo hàng".Tức là quảng cáo hàng tại chỗ Người mua cứ nhìn cây "bẹo" đó, từ xa biết để cặp thuyền đến thỏa thuận bán mua mà chẳng cần phải hỏi thêm
Hiện nay, ở chợ nổi có những hình thức “bẹo hàng” hiện đại hơn như những bảng hiệu, hộp đèn, áp phích, băng rôn của các ghe hàng
II VĂN HÓA XÃ HỘI
Tổ chức xã hội và thiết chế làng bản
1, Tổ chức cộng đồng của ng Khmer là Phum và Sóc( Srốc), Phum và Sóc là những đơn vị xã hội, hình thái cư trú của ng Khmer đc hình thành và sáng tạo trongquá trình khai phá và định hướng NB
- Phum trong tiếng Khmer đc quan niệm tương tụ như làng, xóm của ng Việt Trong tiếng Khmer “Phum” có nghĩa là đất, thổ cư, hay vườn tổng hợp của gia đình trên đất ở, Phum có thể có ranh giới tự nhiên, mức độ tập trung các nhà trên một Phum k cố định, có Phum chỉ có một nóc nhà, có Phum là nơi cộng cư của vài ba gia đình cùng huyết tộc, thông thường là gia đình là ng cha và các con của ông, và những gia đình nhỏ của con gái ông ta, song cũng có Phum lớn có cả trăm gia đình thuộc nhiều dòng họ khác nhau, nhưng k mấy khi quy một ấp thành một đơn vị hành chính
- Mỗi Phum đều có tên riêng thường lấy tên ng sáng lập rap hum, như phum
Tả, Phum Đon…
- Việc quản lý các Phum do một “mê phum” đảm nhiệm, đó là một ng đàn ông, đàn bà lớn tuổi có uy tín và thuộc vai lớn trong dòng họ Mê phum chịu trách nhiệm đại diện cho các thành viên trong phum lo điều hành quan hệ của Srốc trongphum liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng
- Phum là dấu vết của nông xã nông thôn mang tính chất sinh hoạt tự quản của cộng đồng, vừa có quan hệ huyết thống vừa có quan hệ láng giềng Srốc, sóc trong tiếng khmer có hàm nghĩa khá rộng ngoài việc chỉ một địa vực cư trú tương đương với làng bản, sóc có nghĩa là quê hương, xứ sở, sốc trước đây tương đương với đợn vị huyện
Trang 15- Các Srốc lâu đời thường có lũy tre bao bọc hoặc hàng rào cây gai dày đặc,giữa srốc là đường đi rộng, nhà của thường dọc theo đó
- Mỗi Srốc thường có một ngôi chùa , tên gọi của Srốc thường trùng với tên giồng đất cư trú, nếu nhiều Srốc tên gọi tính theo vị trí ở giồng (Srốc giữa kaldal, Srốc đông…)
- Việc quản lý Srốc đc giao cho một số người đứng đầu gọi là chủ Srốc
“Mesrok”( mẹ sóc) tập trung trong “ ban quản trị” những ng đứng đầu các phum lựa chọn và đc quần chúng ủng hộ
- Ban quản trị bầu ra các Mesrok là ng đàn ng đàn ông lớn tuổi biết phong tục có uy tín cao, ban quản trị có nhiệm vụ trong công việc nội bộ, quan hệ bên ngoài Srốc với nhà chùa
- Quan hệ giữa các thành viên trong Srốc mang tính bình đẳng thương yêu
và giúp đỡ nhau thành viên có trách nhiệm chấp hành các quy định tập tục truyền thống đoàn kết trong Srốc, tự giác đóng góp phục vụ đối với nhà chùa qua đó cộng đồng đánh giá
- Srốc là đợn vị kinh tế- xã hội đọc lập đóng kín trong xã hội cổ truyền, hiện nay mê phum, mê sóc chỉ các chức vụ ấp trưởng, xã trưởng mà bộ máy của bộ máy
cũ chụp lên
- Người khmer đặt tên con theo lối “phụ tử liên danh” lấy tên của cha đặt làm họ cho con cái hoặc dùng từ “chau”( chàng, nàng) và “neang”( nàng/nữ)
2 Giai cấp và thành phần xã hội:
- Nông dân là giai cấp chiếm đa số ở vùng nông thôn có công khai phá ĐBSCL tư liệu sản xuất chính là ruộng đất, chỉ có số ít đất đai thuộc quyền sở hữu của họ, có hai tầng lớp là: trung nông và bần nông
+ Trung nông là những ng có ruộng đất từ 5-10ha/1 gia đình
+ Bần nông là tầng lớp k ổn định, luôn bị phân hóa chiếm tỉ lệ khá đông 65%
- Một số k có ruộng phải sống bằng làm thuê mướn cho qua ngày là tầng lớp
Trang 16lời Họ bóc lột bằng hình thức “thuê mướn nhân công nông nghiệp” và sản xuất nông sản mang tính hàng hóa
- Tầng lớp sư sãi: gồm các bộ phận sư sãi và các tín đồ PG đang tu hành tại các chùa, hệ thống chùa chiền tạo ra tầng lớp sư sãi khá đông đảo, họ họp thành giáo phái riêng có tổ chức quản lý chặt chẽ Tầng lớp sư có vị trí đặc biệt quan trọng trong xh khmer do ảnh hưởng của PG
- Tầng lớp tri thức: những ng am hiểu giáo lý PG các chức sắc sư sãi đã hoàn tục, giáo viên nông thôn các vị Acha là ng thông hiểu tập tục văn hóa khmer
- Các saha, maha có kinh nghiệm về sản xuất nông nghiệp dự đoán thời tiết gieo trồng, chọn giống, tri thức khmer gắn liền với nông thôn với sản xuất nông ngiệp đc nông dân quý mến kính trọng
3, Thiết chế làng bản:
- Phum là thổ cư trên đó gồm các căn nhà của vài gia đình có quan hệ huyết thống hay quan hệ hôn nhân với nhau, thường là nhà của người cha, gđ các con gáicủa ông, gđ bà con bên mẹ nếu có
- Phổ biến trong các phum nhỏ này cũng có những ng đứng đầu gọi là
mêphum, những ng này k có vai trò tộc trưởng, k cần ng ở vai bên trong 1 gđ mà
ng có khả năng và uy tín, mê phum, mê sóc là những ng già cả có kinh nghiệm uy tín đc dân chúng bầu lên để trông coi phum sóc
- Gia đình nhỏ là hình thức phổ biến ở vùng khmer mặc dù vẫn tồn tại loại
gđ lớn gồm 3,4 thế hệ sống chung trông các phum nhỏ
- Đứng đầu gia đình nhỏ là ng chồng hay ng cha, ông ta là ng thay mặt gđ giao dịch với bên ngoài, tuy nhiên trong nội bộ gia đình vai trò của ng đàn ông k có
gì nổi bật, ông ta phải tham khảo ý kiến của vợ và vẫn đc sư đồng ý trong việc chi tiêu mua bán, lễ lạt và cả đi tu nữa, ng phụ nữ khmer cũng chia sẻ ới chồng trong mọi lao động vợ là thủ quỹ chính của gia đình
- Số con trung bình hiện nay của gia đình khmer là từ 5-6, quan hệ giữa cha
mẹ và con cái cởi mở và nhẹ nhàng, trong gia đình k có thành kiến phân biệt trai gái, con gái chịu nhiều ràng buộc vì gia đình là nơi duy nhất và trực tiếp dạy dỗ họ,con trai thường đc giao phó cho nhà chùa rèn luyện thêm theo quan điểm của PG
- Thừ kế tài sản k có sự phân biệt giữa bên cha và bên mẹ, giữa con trai và con gái, ngoài tài sản chung sau khi kết hôn vợ chồng đầu có quyền có tài sản riêng
về đất đai cũng như các lạo tài sản khác do cha mẹ cho, khi ly dị tài sản của ai ng nấy giữ tài sản chung chia đều, vừa thừa kế tài sản cha và mẹ đều có quyền để cho con, phần con k phân biệt trưởng thứ, trai gái đc hưởng như nhau
Trang 17- Hôn nhân một vợ một chồng là phổ biến, trường hợp đa thê cũng say ra ở Tầng Lớp giàu có nhưng k phổ biến, hôn nhân con cô cậu, con chú, bác, con dì đều
đc chấp nhận, có hiên tượng an hem chồng và chị em vợ
- Hôn nhân thường do cha mẹ sắp đặt và có sự thỏa thuận với con cái
nguyện vọng của con cái đc cha mẹ quan tâm, có tục ở rể bên nhà vợ trước lễ cưới
1 thời gian để bù lại chi phí vào lễ cưới do nhà vợ đảm trách
trong quá trình cư trú và phát triển bên cạnh sự giao lưu và tiếp biến với các dân tộc xung quanh Dân tộc Khmer vẫn giữ được bản sắc riêng Nét đặc sắc của văn hóa Khmer thể hiện qua phong tục tập quán, lễ hội , cách ăn mặc, nhà ở, dụng
cụ sinh hoạt, sản xuất, cùng nhiều loại hình văn hóa truyền thống, loại hình sân khấu cổ điển như Rô Băm, Dù kê, Trang phục của người Khmer thể hiện sự ứng
xử của con người với moi trường tự nhiên, nét văn hóa tộc người và tín ngưỡng, bảo lưu nhiều yếu tố văn hóa tộc người, song bên cạnh đó cũng có sự tiếp thu với các tộc người xung quanh
III VĂN HÓA VẬT CHẤT
1 Kiến trúc dân gian
Kiến trúc dân tộc khơ-me
Kiến trúc dân gian của các tộc người là các công trình về nhà ở, công trình tôn giáo, công trình công cộng, thành quách, cầu cống, công trình phụ…được tạo
ra từ vật liệu tự nhiên, nhân tạo, bằng kỹ thuật thủ công với tư duy kỹ thuật của cáctộc người
1.1 Nhà cửa của người khơ-me
Cũng như nhiều tộc người nhóm ngôn ngữ khmẻ khác, người khmer ở đồng bằng sông Cửu Long trước đây ở nhà sàn làm bằng gỗ, tre, nứa, dừa nước…Ngày nay nhà sàn Khmẻ còn lại rất ít ở Tri Tôn, Châu Đốc ( tỉnh An Giang) Trước đây sau khi cưới, chú rể về cư trú với vợ trong ngôi nhà sàn do anh ta dựng tại “phum” của cha mẹ vợ Nhà được làm trên nền các “đất giồng duyên hải” Nhà hiện nay chủ yếu là loại một gian ( Katan mui lờ quên), hai gian, ( Katan pê lờ quên), ba gian (Katan bây lờ quên) Nhà ai gian và ba gian được một gian
Nhà của người khmẻ có hai loại: nhà mái lá, nền đất và nhà xây Loại nhà lá nền đất có các loại cỡ nhỏ và cỡ lớn
Loại nhỏ phổ biến của đại đa số nông dân khmer ,một gian (rộng 3m,dài 5m,cao 2,5m , có 6 cột : 2 lớn, 4 nhỏ, 3 kèo, 18 đòn tay ), dùng lạt dừa buộc kèo vàcột, mái thấp, vách không cửa sổ nên bên trong rất tối… loại lớn là của nông dân
Trang 18có mức sống khá hơn ( kbhung nhà có kích thước rông 8m × dài 12m × cao
4,5m), phía sau gian chính thường nối them bgian phụ để tăng diện tích sinh hoạt, trổ cửa sổ Đóa là loại nhà 2 mái lợp vây quanh bằng lá dừa nước (nipa pructican)
…Loại nhà xây là nhà của tầng lớp trung, phú nông khmer khá giả ở thị xã, thị trấn, nhà có kết cấu khung kích thước rộng (10m× dài 15m × cao 6m), nền gạch, ximăng, tường ván , gạch xây, mái ngói, tôn… Nhiều bộ vì kèo nhà khơ-me có trạm trổ mô típ chày cối… Dù nhà lớn hay nhỏ nét bày trí cơ bản giống nhau
Cột nhà là yếu tố chính trong ngôi nhà khmer, do vậy khi chọn gỗ, đào lỗ dựng cột, lễ nghi khi dựng cột … được coi trong Khi ăn mừng nhà mới, người khmer mặc y phục cột chỉ trắng cho cột cái, hoặc cột vòng hoa tươi vào tay chủ nhà Họ quan niệm cột cái quan tọng như vai trò của người đàn bà trong chế độ mẫu hệ xưa Nhà trên là nơi tiếp khách và sinh hoạt tín ngưỡng, nhà kho là nơi để các công cụ sản xuất và các đồ dùng khác
1.2 Công trình tôn giáo.
Chùa là trung tâm sinh hoạt tôn giáo xã hội và là quần thể kiến trúc quan trọng trong các điểm cư trú của người khmer Chùa được xây cât ở vị trí trung tâm
và trang trọng nhất của phum, sóc Ngôi chính diện ( vihia) của chùa luôn quay về hướng đông theo lối kiến trúc có hành lang rộng 4 phía theo kiểu “cấp mái” Mái chính thường lợp ngói sơn màu đỏ, vàng và lục nhạt Mỗi cấp mái nhà 3 nếp ( nếp giữa cao và dốc hơn 2 bên) Chỗ giao tiếp cái nếp ( mái và hồi) thường có các mô típ rồng, rắn trang trí Chính diện là nơi thờ phật Thích Ca và tiến hành các nghi thức tôn giáo Phía sau hoặc hai bên chính điện có các nhà “Sala” thường được xâydựng dưới dạng nhà sàn – nơi chứa kinh Phật, nơi các sư sãi học tập, sinh hoạt, tiếpkhách, nới tínđồ trong sóc đến cúng bái, hội họp, vui chơi…Khuôn viên chùa còn
có một số chòi nhỏ ( tóp hoặc liêu ) được cất theo kiểu nhà sàn ( diện tích 2m × 3m) làm nơi cho các nhà sư ở trong mùa “nhập hạ”; có tháp đựng cốt (pichet đây) theo kiểu bát giác, trên đỉnh chạm đâu thần 4 mặt “Maah prum” Sau khi hỏa táng, cốt được gửi vào tháp này Khuôn viên chua còn có tháp Chiên Xúc ( Tì bái xá)
Có chùa xây tháp thiêu xác rất đồ sộ và mang tính mỹ thuật như chùa Phướn ( thị
xã Trà Vinh), có chùa xây rất đơn giản như chùa Bãi Xào Rơi ( huyện Trà cú, Trà Vinh)
Tín ngưỡng dân gian khmer trong khuôn viên chùa là những miếu thờ Neaktà( thò các hòn ốc) hoặc làm các nhà sàn nhỏ bằng tre lá đơn sơ ( tóp xăm lathí) để tín đồ ngồi vào đó tượng niệm về kiếp trước của mình…nhiều chùa còn có nhà để
Trang 19Ghe ngo của Phum, sóc để dùng, trong dịp đua vào dịp tết cúng trăng ( ok om bók) hằng năm Nghệ thuật dân gian Khmer một phần lớn được biểu hiện tập trung ở lối trang trí, kiến trúc ngôi chính diện của các chùa Nghệ thuật trang trí ở chùa Khơ-me thể hiện rõ sự uyên thâm, hình tượng hóa những mô típ động vật thần thoại ( thần thoại Balamon giáo, phật giáo và tín ngưỡng dân gian) qua nghệ thuật điêu khắc, vẽ tranh lịch sử nhà phật lên tường bên trong các ngôi chùa…
Kiến trúc và trang trí kiến trúc khmer biểu hiện trong nhiều loại công trình, song tập trung nhất là ở kiến trúc tôn giáo – chùa, tháp Kiến trúc và trang trí chùa khmer là tổng thể không gian ngoại thất và nội thất, của kỹ thuật xây dựng, nghệ thuật điêu khắc, trang trí kiến trúc Ngôi chính diện của chùa thường xây trên nền cao 2,3 cấp chính diện là công trình trung tâm trong khuôn viên chùa Mái chính diện lợp ngói theo kiểu 3 cấp mái, mỗi cấp lại chia làm 3 nếp, nếp ở giữa được nâng cao hơn 2 nếp bên Cấp mái thứ nhất dốc khoảng 600, cấp mái ở giữa và cấp mái dưới thoải hơn, tạo ra vẻ nhẹ nhàng của kiến trúc Cấp mái so le nhau tạo nên
vẻ hài hòa trong kiến trúc chùa Các góc mái của chính điện không cong mà là các góc thẳng được bổ sung bức phù điêu hình rồng, hoặc hoa lá dạng “sừng uốn cong”hoặc “ đuôi rồng” làm cho kiến trúc mái mềm mại hẳn đi Đuôi rồng trơn cao đến 2m uốn ngược lên trên Bờ mái là than rồng với các vây lưng được tỉa rõ từng chiếc.Đầu rông thường gắn với vị trí các góc đao của mái luôn trong tư thế ngóc lên từng đôi một Rồng từng được trang trí trên mái và các cột cái trong chính điện của chùa Các cột cái có hình rông cuốn giống mô típ rồng của người Kinh thế kỷ XIX Rồng là con vật thiêng trong Phật thoại đã biến thành thuyền để đưa đức phậtvượt biển tới các nơi để thuyết pháp, truyền kinh, cứu độ chúng sinh Người
Khmer trang trí hình rồng trên mái là để mong đức phật dừng lại ngôi chùa của mình để che chở cứu giúp cho phật tử nơi đó…trên các nếp mái một số chỗ còn được trong trí những chiếc ghe ngo đang đua bơi Tại các đầu dốc của mái trên cùng thường bịt bằng gỗ hoặc xây kín và thường được trang trí hình Bồ tát chắp tay ngồi trên tòa sen ở vị trí trung tâm, quanh đó là hình chạm trổ hoa dây… về cở bản phong cách kiến trúc và trang trí mái chùa Khơ-me là vậy, song tưng chùa tùy thuộc vào điều kiện cụ thể lại có lối trang trí khác đi đôi chút
Chùa khmer do bố trí nội thất nơi thờ ở một phía và phần dành cho phật tử làm lễ rộng, thoáng hơn nhiều so với các chùa của người kinh Kích thước của chính điện luôn tuân thủ nguyên tắc: chiều dài phải gấp đôi chiều ngang, chiều cao bằng chiều dài, kể cá trong các diện tích của khung cửa nhà ở và điện thờ Chính điện luôn có 2 cửa chình trông ra hướng đông và cửa chính trông ra hướng tây
Trang 20cùng với 7 cửa sổ trông ra hướng nam và 7 cửa sổ trông ra hướng bắc Hiện nay trong quá trình xây dựng 1 số chùa không hoàn toàn tuân thủ nguyên tắc đó mà có
sự biến đổi chút ít Chính điện có hành lang ( Chời tiên) bao quanh và luôn quay vềhướng đông theo triết lý đức phật từ phương tây quay về hướng đông để ban
phước Khi chính điện xây xong phải làm “lễ khánh thành” ( bầy chôi xây ma) mộtcách trang trọng với sự tham gia của sư sãi trong chùa và chùa lân cận, cùng bà conphum, sóc đến tụng kinh Trong lễ khánh thành có việ phải đào 8 hố xung quanh nền chùa về 8 hướng và dựng mối hố 1 vị bò tát được tạc bằng đá với nghĩa định vịđịa giới và trấn giữ “ ma quảy” không được xâm phạm vào khu chính điện của chùa…
Công trình xây dựng tiếp theo trong khuôn viên chùa thường là ngôi tháp tương đối rộng để cho thiêu thi hài của các tín đồ phật tử (xá lị) Do vậy việc quyêngóp kinh phí để xây dựng ngôi tháp này được các tín đồ tự giác tích cực đóng góp Tháp đựng cốt và một số tháp khác trong chùa thường có thần 4 mặt, đầu đội mũ tháp nhọn cao vút.Trong khuôn viên chùa còn có một số ngôi nhà khác ( kol riêng) làm nơi ở cho các sư sãi; hoặc nhà dùng làm trường học Nhà thiêu thi hài, nhiều chùa xây cất và trang trí rất công phu.Cổng chùa cũng được xây công phu, “đồ sộ” sát đường cái với nhiều phong kỹ thuật và trang trí không hoàn toàn giống nhau.Trang trí bên ngoài chùa thường là các tác phẩm phù điêu, tượng tròn dâo gian với những đề tài gắn với triết lý sống của cộng đồng Mô típ phổ biến là hình tượng của rồng, tiên nữ hình chim (tếp pro nam), chim thần ( garuda hoặc Na ha krut), vũ nữ - chim ( kây no), “chàng” ( yak), thần đất (hêng prô ất thô ni), linga Trên các đường đi trong phum, sóc nhất là ở các ngã 3, ngã 4 còn có các chòi gọi là Thala được làm 4 mái vuông không vách Thala được sử dụng như nhà công cộng để cúng tế, hội họp nghỉ chân cho người đi đường hoặc làm chợ nhỏ trong phum sóc
2 Trang phục của người Khmer
Khăn được làm từ vải sợi bông, dài trung bình 180cm, rộng 75-80cm Khăn
có nhiều loại khác nhau song phổ biến 2 loại: loại không có hoa văn thường có
Trang 21màu trắng, và loại có hoa văn (thông thường hoa văn là đường kẻ dọc và ngang với màu sắc khá đa dạng như đỏ, đen, trắng) Đầu khăn dệt kẻ ô vuông.
Khác với các tộc người cùng cư trú, khăn của người Khmer ít dùng để cuốn lên đầu mà thường là vắt xuôi hoặc vắt chéo ở vai Khi vắt chéo ở vai khăn được vắt từ nách vắt sang lên vai trái rồi luồn qua nách phải, một đầu khăn cuốn lên phíangực và một đầu khăn được thả sau lưng trái Kiểu khăn này cũng rất phổ biến ở phụ nữ Nam Bộ Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là kiểu khăn truyền thống củaphụ nữ người Khmer, sau đó được người Kinh tiếp thu và trở thành vật dụng truyền thống
Áo của người Khmer có 2 kiểu thông dụng là kiểu áo dài và áo ngắn:
Áo dài (áo quyện, áo giây) : Đây là kiểu áo dài chui đầu, may bít tà, không
xẻ nách, không cài cúc ở thân áo Từ cổ đến gấu áo dài trung bình 100cm, tay áo khoảng 50cm Áo thường may bằng vải hoa màu đen gọi là vải xăng đầm (vải Mỹ A) Áo có các bộ phận : tay áo, cổ áo, thân áo, bông hoa trên tà áo, nút buộc Đây
là áo cổ truyền của đông bào Khmer vùng Trà Vinh Loại áo này sử dụng trong ngày thường gọi áo giây, khi sử dụng trong đám cưới gọi là áo quyện Trên áo thường là các dạng hoa văn có cây, hoa quả như hình bông sen, bắp ngô, cành hoa
Hiện nay, thường ngày loại áo này ít được sử dụng, phần lớn phụ nữ có tuổi người Khmer ở trà Vinh mặc bộ bà ba đen giống phụ nữ người Kinh, các cô gái mặc áo cánh hoa hoặc áo sơ mi, nhưng có thể nói áo quyện là một trong những y phục được lưu giữ khá lâu dài và được mặc trong lễ hội và trong đám cưới của người khmer
Áo ngắn được may bằng vải phin, dạng cộc tay, cổ vuông, rộng, áo may chít
nách và hơi xòe rộng ở phần gấu
Váy (xà rông) thường là một mảnh vải thổ cẩm rộng 100-350cm Nền vải
màu có in nhiều họa tiết hoa văn đẹp, trong đó, mô típ hình thoi là chủ đạo Ở đài
và gấu thường có các đài hoa văn chạy theo hàng ngang với 9 chữ thập đối xứng nhau, tượng trưng cho các ngôi sao trên trời Trên thân váy trang trí 4 đài hoa văn chạy theo lối băng ngang, cách đều nhau 16cm với mô típ hoa văn kiểu chân đèn
và các vì sao cách điệu
Phần gấu váy là mô típ hoa văn chân đèn cách điệu chạy xung quanh Bên cạnh chân đèn là họa tiết hình sao
Trang 22Cạp váy có trang trí ô hình tam giác, hình tháp nhọn màu đen Kiểu váy này được mặc trong các ngày lễ hội và ngày cưới, ngày thường người Khmer rất hiếm khi mặc.
Người Khmer sử dụng kỹ thuật nhuộm truyền thống là ikat và batik để vải vóc, lụa óng có màu sắc không phai
Phụ nữ thường mặc váy, áo đẹt bằng sợi tơ tằm hay sợi bông, có dệt chỉ kim tuyến với các loại hoa văn khác nhau Điểm nổi bật trên trang phục lễ hội truyền thóng của người Khmer là mô típ trang trí đính hạt cườm hay kim sa sáng loáng kết hợp với hoa văn tinh xảo Thêm vào đó là gam màu sặc sỡ làm tăng thêm vẻ đẹp cho người mặc y phục
Tùy vào khung cảnh: ở nhà, lên chùa Phật hay về nhà chồng, trang phục của người Khmer cũng khác nhau Trong dịp tết cổ truyền năm mới (Chôl chnăm thmây) hay vào dịp tết Nguyên đán của người Kinh, cô gái Khmer bao giờ cũng mặc những bộ váy áo đẹp nhất, kèm theo đó là nhiều đồ dùng trang sức đẹo mắt rộn rã cùng nhau lên Chùa lễ Phật hay tập trung ở bãi nào đó trong phum sóc để hẹn hò tìm hiểu nhau Chiếc váy điển hình nhất là xăm pốt chân khen, váy quấn từ một tấm vải rộng quanh thân từ hông ngang đùi phần vải phía sau luồn giữa hai chân dắt lên phí trước cạnh hông, tạo thành chiếc quần ngắn, rộng Họ mặc xà rông
có đính chuỗi hạt cườm ở cạp cùng với chiếc áo dài dệt bằng tơ tằm, sợi bông hay chỉ kim tuyến với các loại hoa văn khác nhau màu trắng hoặc màu vàng là chủ đao.Mầu vàng còn là màu chủ đạo trong trang trí kiến trúc tôn giáo truyền thống, đặc biệt là chùa của Phật giáo tiểu thừa
Hiện nay thường ngày người phụ nữ Khmer mặc áo dài, quấn xà rông Phụ
nữ Khmer ở giáp biên giới VN cà Campuchia như ở Hòn Đất, Kiên Lương, Hà Tiên ở tỉnh Kiên Giang thường mặc các loại áo, váy, khăn in hoa lá sặc sỡ mua từ Campuchia Để đơn giản trong sinh hoạt thường ngày người Khmer mặc bộ trang phục giống người Kinh Nam Bộ Vì vậy có thể nói, trang phục của người Khmer chịu ảnh hưởng nhiều luồng giao thoa văn hóa, từ đó dẫn đến biến đổi trong trang phục tộc người
Y phục truyền thống của cô dâu
Trong ngày cưới trang phục truyền thống của cô dâu bao gồm:mũ, dây buộc tóc, dây buộc trán, dây đeo cổ, khăn quàng vai, áo dài, váy, dây buộc cổ tay, yếm
Mũ cô dâu trong ngày cưới gồm 2 phần: phần dưới được làm vải đỏ Trên
nền vải đỏ được xếp thành nhiều lớp giấy, xung quanh đính kín các hạt cườm và
Trang 23những bông hoa nhuộm nhiều màu Cuối cùng là các tua cườm bằng nhựa dài khoảng 3cm treo ở xung quanh.
Phần trên cao khoảng 10cm là những cánh hoa cắt bằng giấy bìa cứng ghép lại Trên những bông hoa đều đính các bông hoa bằng nhôm mỏng xung quanh trang trí giấy màu và các hạt cườm đủ màu sắc
Mũ được mở ở phía sau gáy Khi đội họ buộc dày lại để mũ nằm chắc chắn trên đầu
Dây buộc tóc được làm bằng một dải màu đỏ có độ dài khảng 17cm, rộng
1,5cm Trên dây người ta đính 4 bông hoa màu đỏ, 3 hàng cườm dẹp và dây hoa văn bằng cánh một loại côn trùng màu đỏ thẫm Dây buộc tóc dùng để buộc tóc ở phía sau gáy
Dây buộc trán dài chừng 40cm Đây là 1 dải vải ghép cho dày, nền đỏ Trên
dải đỏ trang trí hoa văn bằng những chuỗi hạt cườm dẹp, hai đầu dây đính những chuỗi hạt cườm hình ống
Dây đeo cổ làm bằng một miếng vải đỏ, dài 28cm, rộng 2,5cm Trên đó
người ta đính 3 hàng hạt cườm nhựa dẹp, ở cuối hàng cùng đính các dây cườm nhỏ
có đủ màu sắc xanh, đỏ, tím, vàng Điểm giữa của dây đeo được gắn một bông hoa kim loại màu vàng Dây đeo cổ dùng trang trí ở cô cô dâu cho thêm phần trang trọng
Khăn quàng vai khoảng 100cm, rộng 25-30cm Khăn làm bằng vải lụa hoa
với kỹ thuật khâu tay Trên mạt khăn đính tua màu vàng đính hạt cườm xung quanh khăn.Ở trung tâm trang trí 2 vòng tròn bằng chỉ thêu màu xanh và đính hạ cườm dẹp Khăn dùng để vắt từ vai trái qua nách phải sau khi đã mặc váy áo
Áo cắt may bằng vải dài hơn 100cm, nách rộng 50cm, được may theo kiểu
áo dài, bít tà, thắt bó sát thân trên và hơi xòe ở phần dưới Cổ áo tròn kiểu chui đầu, dùng dùng cúc cài mà dùng khóa mở phía nách phải Tay áo rộng vừa phải, cửa tay còn được đơm 1 cúc bấm, khi mặc xong cô dâu bấm cúc lại để táy áo bó sát cổ tay, làm nổi rõ cánh tay thon thả
Yếm được làm bằng tấm vải đỏ hình trái tim, mở và cài cúc ở phía sau gáy
Khi đeo yếm người ta đeo lên cổ rồi bấm cúc lại cho chặt Trên mặt yếm đính những hạt cườm dẹp và hạt cườm hình ống đủ màu sắc Xung quanh mép yếm đều được thêu chỉ màu xanh gấp khúc và đính kín các hạt cườm hình ống
Dây buộc cổ tay của cô dâu trong ngày cưới gồm 2 dây vải đỏ, mỗi dây dài
17cm, rộng 1,5cm Trên mặt dây người ta trang trí 2 vòng dây kiểu xà tích màu vàng, ở giữa là hạt cườm dẹp và hạt cườm hình ống dẹp bằng nhựa Ngời ra trên
Trang 24mặt day còn đính 2 cánh hoa Hai đầu dây đơm cúc bấm, khi đeo vào cổ tây thì bấm cúc lại.
Váy (xà rông) của cô dâu thuộc loại váy ống, dài 90cm, rộng 75cm Váy
thường may bằng vải hoa nền xanh, cạp liền Trên thân váy trang trí các cây hoa màu đỏ, màu vàng và hình con chim Đây là loại xà rông kiểu xưa có màu sắc sặc sỡ
Trên đây là bộ trang phục cô dâu cách đây khoảng 30 năm trở về trước, trong kí ức của người lớn tuổi nó là bộ trang phục cổ và mang đặc trưng riêng biệt của người Khmer Ngày nay những bộ y phục như thế không còn nữa, thay vào đó
là những bộ y phục cắt may ttheo kiểu mới
Những thay đổi trong y phục cô dâu
Trong thời gian gần đây trang phục của cô dâu đãcó sự cải biên rất nhiều Xuất phát từ nguyên vật liệu có sẵn và có sự thay đổi về quan niệm tộc người theo
xu thế mới Bộ trang phục cô dâu ngày nay không còn 9 thứ như trước nữa, mà giản tiện chỉ còn 3 thứ: khăn quàng vai, áo, váy
Khăn quàng vai dài 172cm, rộng 20cm được may bằng 2 lớp vải Lớp dưới
bằng vải sa tanh đỏ, lớp trên bằng vải dệt đỏ có in hoa Toàn bộ phần giữa khăn được gắn 7 hàng hạt kim sa màu vàng tạo thành bông hoa Hai bên mép khăn cũng được gắn chuỗi kim sa tạo thành những dây hoa
ở hai đầu dây khăn được gắn kim sa kiểu đứng và một bông hoa to, ngoài cũng được tua hạt cườm nhỏ màu vàng dài 6cm Toàn bộ quá trình gắn kim sa và hạt cườm đều bằng tay Kỹ thuật ghép dây hoa thẳng hàng và các dây hoa ở hai mép khăn chứng tỏ người làm đã đạt trình độ khá điêu luyện Khăn được dùng sau khi mặc áo, vát từ nách phải vắt lên vai trái và đính lại ở đó
Áo được cắt bằng vải đỏ theo kiếu áo yếm Áo che kím từ ngực trở xuống
Áo có 2 dây dài 24cm, rộng 3,5cm Phần thân áo dài 25cm được đính đầy các chuỗi kim sa với những kiểu trang trí khác nhau Phần ngực áo được đính các hàngkim sa chạy dọc, ở phần bụng các chuỗi hạt kim sa hình hoa được đính thành một dải hình chữ nhật Gấu áo được cắt lượn sóng theo hình đuôi tôm Phần gấu áo không trang trí kim sa mà chỉ là hoa văn của vải Khi mặc luồn áo qua đầu và kéo khóa phía sau, áo chỉ che đến cạp váy
Váy dài từ 105-110cm, được ghép bởi 2 tầm vải liền mảnh đường ghép ở hai
bên
sườn Riêng mặt trước của váy, vải được xếp gấp lại thành một dải vải chạy suốt từcạp đến gấu váy ở dải vải này trên nền đỏ ngoài các dạng hoa văn in sẵn như hình
Trang 25thoi, hoa văn hình cây, họ còn đính kim sa hình cây hoa Toàn bộ mặt trước của váy được đính các hạt kim sa tạo thành mô típ hình hoa trong ô hình chữ nhật.
Cạp váy cao khoảng 4cm được mở phía sau bằng khóa kéo
Phần gấu váy được trang trí bởi các dãy kim sa thẳng đứng chạy song song với nhau trên nề đỏ có dệt hoa văn kim tuyến
Đây là bộ trang phục kiểu mới của cô dâu người Khmer Tuy nhiên số ngườidùng kiểu trang phục này không nhiều Bởi vì muốn có bộ trang phục như vậy mất rất nhiều thời gian Hiện nay trang phục cưới của cô dâu người Khmer khu vực thành thị chủ yếu là bộ áo váy dài theo kiểu phương tây hay bộ áo dài khăn xếp theo kiểu cách tân của người Kinh
b, Y phục của nam giới người Khmer
Quần được cắt may bằng vải phin màu chân que, cạp, đũng, ống quần may
rộng như quần của người Kinh
Y phục chú rể
Bộ y phục của chú rể người Khmer gồm có áo và váy:
- Áo được may theo kiểu bà ba, cổ hình lá sen, nút áo được làm bằng các
mảnh vải bó lại Đây là kiểu áo chú rể truyền thống của chú rể người khmer
- Gần đây ở người Khmer đã có kiểu áo được cắt may bằng vải ka tê Áo dàikhoảng 70-80cm, rộng 50cm Vạt trước trang trí 4 túi g, gồm 2 túi nhỏ và hai túi dưới to hơn ở 2 cầu vai, mỗi bên dài 12cm có đơm một túi giả Tay áo dài khoảng 45cm, rộng 15-18cm, phần tay áo không trang trí hoa văn
- Váy: trong xã hội cổ truyền của nam giới Khmer nhất thiết phải có váy
Váy là y phục quan trọng của nam giới, thể hiện đẳng cấp của người sử dụng Hiệnnay, trong cưới xin và lễ hội người Khmer như một hình thức nhớ về văn hóa truyền thống của tộc người
Váy được làm bằng vải lụa in hoa, dài 150cm, rộng 100cm Đây là loại vải rộng gập đôi khâu lại Hoa văn trên váy có hai dạng cơ bản hoa văn hình tháp và hoa văn hình cây
c, Y phục của các tầng lớp sư sãi Khmer
Trang 26 Y phục của sa di mới vào chùa
- Theo phong tục của người thoe Phật giáo tiểu thừa, thiếu niên từ 12 tuổi trở lên thường đi tu ở chùa
- Trước khi đi tu người đó phải thay quần bằng chiếc xà rông, thay áo bằng
tầm vải màu trắng gọi là pea nea than chứng tỏ mình đã từ bỏ thế tục và được mọi người gọi là nec.
- Sau khi nghe lời giảng dạy và được phổ biến điều luật đi tu, người đi tu thay cà sa
- Tấm choàng đi cùng với bộ cà sa thường có kích thước 200×250cm bằng vải nâu Tấm vải làm váy có kích thước 100×112cm và một dây thắt lưng làm bằngvải màu vàng
- Khi mặc y phục người ta quấn váy vào nửa thân dưới và dùng dây thắt lưng buộc lại Tiếp đó dùng khăn choàng ra phía sau lưng, hai đầu váy được vắn xoắn vào phía bên trong cho đến khi sát người, sau đó vắt mấu nối về phía bên tay phải
Bộ cà sa của sa di
- Những bộ cà sa của sư sãi người Khmer có cách cắt may giống nhau, màu sắc khác nhau ở từng cấp sư Trừ sư cả mặc màu đỏ còn các sư khác mặc áo màu nâu hoặc màu vàng Ngoài bộ cà sa, sư còn có tấm khăn choàng để vắt về một bên
- Y phục của sa di thường có 6 thứ:
Túi: kích thước 29×29,5cm được cắt may bằng vải phin Túi có 2 lớp, lớp
trong có màu trắng, lớp ngoài có màu vàng Có quai đeo dài 36cm, rộng 6cm Một bên túi được thêu 3 bông hoa sen bằng chì nâu Đây là loại túi đựng đồ tư trang của
sư khi ra ngoài
Váy của sư là váy ống, kích thước 94,5×95cm, được làm bằng vải phin
màu vàng Khi mặc họ gấp xếp lại ở bụng và buộc dây nịt lại
Áo mặc trong là một tấm vải được gấp đôi và mở ở một bên nách để chui
đầu và cách tay khi mặc
Áo khoác ngoài là một tấm vải rộng 190×280cm, 4 rìa vải được viền lại
cùng màu vải Khi mặc chiếc áo trong họ gấp đôi tấm vải này lại theo chiều rộng rồi khoác từ vai phải qua nách trái và dùng dây nịt buộc ngang bụng
Dây nịt dài 160-170cm, rộng 10cm, làm bằng vải màu đỏ hoặc vải phin
màu vàng, 4 mép vải được may viền, nó có tác dụng như chiếc thắt lưng
Trang 27Thắt lưng dài 170-175cm, rộng 20cm, bằng vải phin màu vàng Thắt lưng
được may viền 4 cạnh, khi dùng họ gấp đôi lại theo chiều ngang rồi buộc ngang bụng cùng dây nịt
Y phục của sư cả trong chùa
- Cơ bản y phục của sư cả giống như các sa di khác, màu sắc chủ yếu của sư
cả là màu đỏ và màu vàng Có tấm choàng ngoài, kích thước 190×260cm màu đỏ Khi dùng gập khăn theo chiều dài và vắt ở vai trái, 2 đầu buông xuống 2 bên trươc
và sau vai trái
Chất liệu y phục của các sư sãi trong chùa thường là vải bông thô, thường là màu
đỏ hoặc vàng, không có hoa văn, cắt may đơn giản
d, Y phục trong lễ hội và nghệ thuật dân gian của người Khmer
a, Y phục trong sân khấu Rô băm (múa Chằng)
- Trang phục bao gồm:
Yếm cổ nhìn tổng thể có hình tròn, đường kính 38cm, được làm bằng 2 lớp
vải Lớp bên trong là vải đen, lớp bên ngoài sát vành cổ được ghép bằng vải xanh,
đỏ, vàng, trên vành vải đỏ có đính cúc nhựa, khoảng tiếp theo ghép vải trắng, trên vành vải trắng có đính 6 chiếc gương đều bằng nhau (đường kính 4cm) ở mép ngoài cùng của yếm đáp vải xanh, đỏ rồi đính một hàng cúc nhựa chạy vòng theo yếm, sau cùng là các dải màu vàng Yếm có 2 đôi dây buộc về phía sau
Khăn nịt ngực làm bằng vải màu vàng, dài 162cm, rộng 30cm, 2 đầu khăn
khâu diềm
Yếm trước bụng gồm có cạp yếm: bên trong lót vải đen, 2 mép viền vải
đen, bên ngoài ghép 2 mảnh vải màu trắng, xanh ở khoảng giữa 2 đầu cạp ghép thêm một miếng vải màu vàng 9×7cm, giữa chiếc gương có đính cúc nhựa Ngoài
ra trên mặt yếm còn đính 3 lớp vải đen, trắng, vàng may theo kiểu cờ đuôi nheo Yếm có 3 tầng Tầng trên là vải trắng giống hình thang, có hai đường chéo bằng vải đỏ, trên vải đỏ có đính cúc Tầng thứ 2 bằng vải đỏ có hai đường chéo bằng vảixanh, trên có đính cúc, ở giữa có đính 2 gương tròn Tầng 3 là vải xanh trên có đính mảnh vải màu cắt chéo góc tạo thành hình vuông, ở giữa có đính gương ở haiđầu phần yếm có hai dải vải màu cắt hình cờ đuôi nheo trên ghép vải màu vàng, xanh, đỏ và mỗi đuôi nheo đính 2 chiếc gương
Yếm sau lưng: cắt may giống hình tam giác cân (38×38×58cm) với 2 lớp,
lớp trong bằng vải đen, lớp ngoài bằng vải xanh, xung quanh viền bằng vải đỏ
Trang 28Bao tay: dài 15cm, có 2 lớp, lớp trong lót vải đen, lớp ngoài vải đỏ xung
quanh viền vải vàng Trên mặt ngoài bao tay người ta sử dụng 2 vải vải xanh may vào tạo thành 2 đường chéo Có 2 đôi dải để buộc vào tay
Bao buộc chân gần giống hình thang, mép trên viền vàng, mép dưới viền
đỏ, hai bên viền xanh, vàng, đen
b, Y phục múa Dù kê
- Dù kê là loại hình sân khấu ca , ra đời vào khoảng đầu thế kỉ XX Trang phục sử dụng trong múa Dù kê đi theo các nhân vật:
Vai vua: mặc áo vàng, cổ đứng, mặc xà rông và đeo săng hoa, đi hài mũi
cong và không đội mũ
Vai hoàng tử: đầu đội khăn lụa giáp mối cột thành chùm bông giữa trán,
vành khăn trên đầu có gắn đuôi chim tượng trững cho tài sản săn bắn, thể hiện nghệ kiếm cung Áo mặc thuộc kiểu dài tay, cổ áo có trang trí Dùng thắt lưng bản lớn và giáp bao cổ tay Quần dài, chân quấn dây nịt 3 tua
Công chúa: mặc áo màu, ống tay áo ngắn, choàng mảnh vải sau lưng,
trước ngực đeo yếm Thắt lưng, mặc áo dài, váy dài, đầu đội một vành khăn thêu ren óng ánh có kết hoa ở bên đầu
Vai tướng: mặc áo cổ đứng, áo có trang trí họa tiết óng ánh, tay áo dài, có
giáp bao cổ tay Mặc quần dài có giáp bao cổ chân
Vai thú: tùy từng nhân vật là khỉ, ngựa, chim mà nhân vật này mang lốt
cho giống vẻ mặt và tính cách của con thú đó
Ngoài ra còn nhiều vai phụ khác Tùy theo vị trí xã hội và hoàn cảnh mà trang phục cho phù hợp, thông thường thì nam mặc quần dài, áo dài tay, đầu có chít khăn đỏ, giải thòng xuống vai, kết hoa hay vòng kim tuyến trên tóc
Mặt nạ múa được làm bằng bìa cát tông, vải quét sơn, rơm và gỗ Trước
tiên người ta phải làm khuôn bằng đất sét, có khuôn rồi mới lót vải quét sơn Khi đất khô mới đục và khoét đất ra Có tới 36 mặt nạ sử dụng trong múa Chằng, khi múa mặt nạ kết hợp với bộ trang phục nhiều màu
e Y phục tang ma của người Khmer
- Trong thế giới tâm linh của người Khmer chất là giai đoạn chuyển sang thếgiới khác Con đường đi đến thế giới bên kia đầy khó khăn khúc khuỷu Gia đình các chức sắc tôn giáo cũng như cộng đồng người Khmer luôn dành cho người chết những nghi lễ chu đáo mong họ được tiếp ở thế giới bên kia
- Trong các nghi lễ tang ma, y phục của người tham gia lễ tang không thê thiếu mảnh vải trắng Đối với thầy acha mảnh vải trắng được vắt trên vai, đối với
Trang 29các cô gái rải hoa và người nhà, mảnh vải trắng được vắt vai hoặc quàng chéo như các thầy acha Tang phục gần giống như trang phục thường ngày, nữ giới mặc áo chít nách và xà rông truyền thống, nam giới mặc áo cộc tay, quần chân què hoặc
xà rông Tuy nhiên trong đám tang người Khmer tránh mặc trang phục diêm dúa, cầu kì như trong cưới xin, lễ hội
2.2Trang sức của người Khmer
Trang sức vừa mang yếu tố thẩm mỹ vừa mang yếu tố tâm linh
Quan niệm: khi đeo trang sức ở cổ, tai, hoặc đeo ở thắt lưng một sợi dây bùa có gắn những mảnh xương, hay răng của con thú dữ như hổ, cá xấu, heo rừng
có thể ngăn độc và trừ tà Nhưng chiếc vòng cổ hay lắc tay có trang điểm hình lưỡi liềm, hình trái cây hay hình cầu là những vật không thể thiếu của mỗi người
phụ nữ Khơ-me
Trang sức thường ngày của người phụ nữ Khmer hoa tai, vòng cổ, vòng tay,
nhẫn, chất liệu chủ yếu làm bằng vàng, bạc, hạt cườm
Trong đám cưới chú rể luôn đeo một con dao, con dao này được gọi là condao cưới Được chú rể sử dụng trong đám cưới để mở đường, khắc trầu câu để côdâu ăn cùng Ngoài ra theo tích của ngườ Khmer con dao này tượng trưng cho lòngchung thủy và sẵn sàng hi sinh cho tình yêu Cô dâu trong đám cưới sẽ có một dảikhăn để cuốn cổ và lội cái nón được gọi là chóp 3 tầng trên đó có trang trí nhiềubông hoa hình tròn, những hạt đá lấp lánh tượng trưng cho tuổi trẻ tươi đẹp củangười phụ nữ người Khmer
- Người Khmer có nghề làm các đồ trang sức theo tập quán gia truyền Trang sức là vật không thể thiếu trong đời sống của họ Những đồ trang sức là của hồi môn có thể truyền qua nhiều đời
3, Đồ dùng sinh hoạt
- Đồ dùng sinh hoạt của một gia đình, một cộng đồng phản ánh trình độ phát triển kinh tế-xã hội, truyền thống của tộc người đó trong lịch sử và hiện tại
Đồ dùng sinh hoạt mang đậm bản sắc văn hóa tộc người
- Đồ dùng sinh hoạt của người Khmer khá dơn gian chủ yếu là các đồ dựng như chum, bể đựng nước, bàn ghế, giường tủ, nong nia, thúng mủng, các loại mâm bát để bầy lễ cúng
4, Phương tiện đi lại vận chuyển
Trang 30- Phương tiện vận chuyển là một sáng tạo văn hóa phục vụ cho cuộc sống mưu sinh và đời sống của tộc người gắn với môi trường tự nhiên
- Phương tiện vân chuyển của người Khmer như xe trâu, xe bò, thuyền ghe trên sông nước đặc trưng nhất là chiếc “ghe ngo”
5, Công cụ sản xuất
- Công cụ sản xuất và vũ khí dân gian là một giá trị văn hóa vật thể gắn bó và phản ánh trình độ phát triển của các tộc người.nó phản ánh nền kinh tế chiếm loạt và sự tự bảo vệ của con người trong đời sống hay trong các cuộc chiến vì sự sinh tồn của dân tộc
- Khmer là tộc người có loại hoạt động kinh tế sản xuất và chiếm loạt khá đa dạng, nên công cụ sản xuất khá phong phú với các loại nộng cụ, nguw cụ, công cụ sản xuất, đồ tthur công
- Nông cụ gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp: cày làm đất, nọc cấy, hái cắt lúa
6,VĂN HÓA ẨM THỰC CỦA NGƯỜI KHMER NAM BỘ.
( Vi Xuân Thành )
Ẩm thực là tiếng dùng khái quát nói về việc ăn và uống Văn hóa ẩm thựcbao gồm cả cách chế biến, bày biện và thưởng thức từng món ăn, thức uống, từđơn giản, đạm bạc đến cầu kỳ mỹ vị Chung nhất là vậy, song khi nói đến văn hóa
Trang 31ẩm thực ở một vùng/miền nào đó thì nhất thiết phải nói lên “đặc điểm tình hình”mới có thể nêu được bản sắc văn hóa đặc trưng cụ thể của vùng/miền ấy.
Tìm hiểu văn hóa Khmer ở Nam bộ, phần đông các nhà nghiên cứu nhắc đếncác công trình kiến trúc chùa chiền, gắn liền với những lễ hội phong phú, hoặcnhững điệu múa truyền thống, uyển chuyển mềm mại đầy tính nhân văn …, nhưnglại ít đề cập và đi sâu đến văn hóa ẩm thực của người Khmer Trong giới hạn bàiviết em xin nêu một số nét đặc trưng về văn hóa ẩm thực của người Khmer gắnchặt với đời sống văn hóa phong tục tập quán của họ
6.1 Đôi nét về nếp ăn của người Khmer.
Bữa ăn của người Khmer cũng gọi là cơm như người Kinh, cơm gạo tẻ là tốchất cơ bản nuôi sống người Khmer Người Khmer ăn cơm tẻ và cơm nếp, họ cũngcấy được nhiều loại lúa nếp để chế biến các món ăn từ gạo nếp như: xôi, bánh tét,bánh chưng, bánh chuối, bánh ú, làm rượu cất từ gạo nếp rồi chưng lại uống – mộtmón rượu nổi tiếng của người Khmer Trong bữa nhậu người Khmer thường dùngcháo như cháo vịt, cháo cá Người Khmer có món ăn đặc sản là bún nước lèokhông thể thiếu được vào ngày mồng một tết ở chùa và trong mỗi gia đình Búndẻo sợi nhỏ, khô, chan ăn với nước lèo cá quả tán nhỏ cùng các loại gia vị, rauhành ăn không chán Thức ăn hằng ngày có tôm, cá, ếch, nhái, rau… được bắt ởkênh rạch, sông ngòi Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, luộc, khovới nước cốt dừa Ngoài ra, họ thường phơi các loại cá ăn dần và chế thành nhiều
loại mắm từ cá Họ chế biến nhiều loại mắm, nổi tiếng nhất là mắm “Bhóc” còn gọi là prahok làm từ cá sọc, cá trê, có thể ăn kèm với cơm, bún, cho vào canh, làm nước lèo chan bún Ngoài mắm bhóc người Khmer còn có các loại mắm khác như: mắm ơn pử làm bằng tôm tép, mắm pô inh làm từ cá sặc… Gia vị được sử dụng và
ưa thích nhất của họ là từ quả me hay mà; các vị cay, tiêu, ớt, tỏi, sả, càri… cũngđược ưa thích
6.2 Đặc điểm ẩm thực của người Khmer.
Người Khmer Nam Bộ cũng có cơ cấu bữa ăn thông thường là cơm canh rau - tôm cá, với các món ăn đặc trưng như mắm prahoc, canh sòm lo ko kô,
-bún sòm lo mun mờ chat Mắm prahoc(người Việt gọi là mắm bò hóc) được làmbằng nhiều loại cá, cách làm rất công phu và tốn thời gian (khoảng hơn 4 tháng).Bên cạnh đó còn có các loại mắm pro ot (bò ót), ơng pa, pơ ling làm bằng tépmồng, tép bạc, và một loại mắm chua rất ngon có tên là pha ơk (mắm chao) Dùngtôm tép trộn muối và cho vào nhiều thính (gạo rang) xong đem phơi nắng khoảng7-10 ngày Khi ăn người ta trộn với đu đủ xanh thái nhỏ, củ gừng, củ riềng, ớt,chuối chát xắt mỏng Canh sòm lo ko kô (canh sim lo) thì có cách nấu rất côngphu, phải dùng thịt, cá tươi nấu với rau ngổ, chuối rém, hoặc trái đu đủ non và nêm
Trang 32bằng mắm prahoc Đây là món canh phổ thông được dùng ở nhiều nơi Mónbún sòm lo mun mờ chat (bún nước lèo) thì cả người Khmer và người Việt đều có
và ưa thích Ngoài ra, người Khmer còn có món canh vừa chua vừa cay vừa béogọi là sòm lo mò chu được nấu với cơm mẻ rất đặc sắc, hoặc thêm trái chuối xiêmcòn xanh và một ít mắm prahoc gọi là sòm lo mò chu pha le rất ngon
Do đặc điểm địa hình và sinh hoạt kinh tế, văn hóa Khmer ở Nam bộ chịutác động rất lớn của nền văn minh sông nước, mà ở đó người Việt là chủ thểchính Ở đó nguồn lương thực - thực phẩm chính là lúa, cá và rau quả kể cả cácloại rau đồng, rau rừng Từ sự phong phú, dư dật ấy mà trải suốt quá trình khaihoang dựng nghiệp, món ăn, thức uống hàng ngày của người Khmer cho dù tronghoàn cảnh nào, thiếu thốn đạm bạc, hay đầy đủ ngỏa nguê, họ không thể khôngkhám phá và sáng tạo nhiều phương thức nuôi trồng, đánh bắt để chế biến vô sốmiếng ngon một cách có bài bản từ những đặc sản của địa phương Cũng giốngnhư cư dân người Việt sống ở đây, phong cách thưởng thức “mùa nào thức nấy” vàquan niệm “ăn để mà sống” của người Khmer hầu có đủ dưỡng chất tái tạo sức laođộng, họ đã tỏ ra rất sành điệu trong việc phối hợp các yêu cầu cao nhất của miếngăn: thơm, ngon, bổ, khỏe Câu nói “ăn được ngủ được là tiên” rất được ngườiKhmer quan tâm, xem trọng, cho nên ngồi vào bàn ăn, khi chủ nhà giới thiệu mónnào, dù là cá thịt hay rau quả, kể cả rượu, họ thường nhắc nói: ăn món này bổxương, hoặc trị suy dinh dưỡng, bổ gan, bổ phổi ; rượu thuốc này giải quyết đượcbệnh “tê bại” nhức mỏi; tráng dương, bổ thận v.v Và không quên “động viên”gắp đũa nằm, hoặc dùng muỗng múc (mới được nhiều), cứ tự nhiên, hãy ăn thiệttình “đừng mắc cỡ”, thậm chí ép ăn! Dùng bữa, thấy khách ăn nhiều, ngon miệngchủ nhà không thể không cảm thấy sung sướng, hài lòng Thông thường cho dù giađình nghèo khó hay khá giả, khi có khách đến nhà họ thường đãi những món quýnhất trong nhà Qua đó, cho thấy được sự hiếu khách của họ
Khẩu vị dân tộc trong món ăn của người Khmer nam Bộ là vị chua và vị cay
Vị chua chủ yếu được lấy từ quả me hoặc “con mẻ” (một loại vi khuẩn nảy sinh từcơm để chua) Gia vị nổi tiếng này của người Khmer mang vị chua cho món canhchua (xiêm lo mo chu), hoặc món canh cá dùng với gỏi rau chuối (xiêm lo prohơ) chấm với “con mẻ” với được người Khmer xem là món ăn thường xuyên trong cácbữa ăn Còn vị cay có trong phần lớn các món ăn của người Khmer có lẽ do ảnhhưởng văn hóa Ấn Độ từ xa xưa trong cách thức nêm rất nhiều hương vị như tiêu,tỏi, ớt, sả, cà ri,…Người Việt Nam Bộ trong quá khứ tiếp thu một số món ăntruyền thống độc đáo của người Khmer như món “bún nước lèo”, món “canh chua
cá lóc” và đã cải tiến, điều chỉnh nó trở thành những món ăn hợp khẩu vị của dântộc mình Trong việc sử dụng lượng đạm thực vật từ quả dừa đã thể hiện rõ rệt sựgiao tiếp văn hóa giữa hai dân tộc Việt và Khmer Nam Bộ Trong hầu hết món ăn
Trang 33mặn và ngọt của người Khmer và người Việt Nam Bộ đều có tập quán nấu với dừaqua kĩ thuật nạo cùi dừa khô,nhồi với nước để vắt nước cốt béo, làm tăng thêm vịthơm ngon của món ăn
Về nơi ăn, với những bữa cơm thường ngày trong gia đình thì tùy điều kiệnkhông gian căn nhà rộng hay hẹp mà bố trí hợp lý: hoặc trên bàn, hoặc ngay trênsàn nhà Nếu là bạn thân rủ nhau nhậu chơi thì có thể trải đệm dưới gốc cây trongsân vườn hay ngoài đồng, tùy thích Nhưng khi nhà có đám tiệc thì không xuề xòa
mà bày biện cỗ bàn rất nghiêm chỉnh trong tinh thần quý trọng khách mời, tạo nênnét văn hóa rất riêng mà cũng rất chung, hài hòa giữa phong tục truyền thống vớiđặc điểm văn minh vùng sông nước Người Khmer đã biết tận dụng, khai thác vàchế biến “của trời cho” một cách kịp thời theo “đơn vị tính” thời gian là “tháng”,
“ngày” thậm chí “giờ” Thật đúng như thế nếu ai đó ở vùng đầu nguồn, có việcphải đi xa nhằm vào tháng cá mờm hoặc cá linh non xuất hiện thì đành phải chịunhịn, vì sau đó chừng một tháng cá mờm đã lớn thành cá cơm, cá linh non cũngthế Hoặc trong một năm mới có được mấy ngày “cá ra” (nước trên đồng giựt cạn,
cá rút xuống kinh, mương để ra sông) Rau trái cũng không khác Đặc biệt đối vớirau, như bông điên điển, rau dừa, rau muống nếu hái muộn, từ lúc trời đã trưanắng đến chiều sẽ không giòn, mất ngon, chức năng kích thích thèm ăn, ngănchống lão hóa của rau do đó cũng bị giảm rất đáng kể
Văn hóa của người dân tộc Khmer có xuất phát điểm từ rất sớm Dân tộcKhmervới nền văn minh lúa nước đã tạo cho mình một nét văn hóa khác hẳn trongnghệ thuật ẩm thực Nền văn minh lúa nước của người Khmer đã kéo theo nếp ănuống đặt thù trong đời sống ẩm thực Và nét đặc thù đó đã làm nên một diện mạoriêng cho người Khmer Nếu người Trung Quốc với những món ăn giàu chất tinhbột được làm từ lúa mì, lúa mạch thì người Khmer Nam bộ thức ăn chủ yếu đượclàm từ gạo, nếp Đây là nhóm sản phẩm đặc thù của nền văn minh lúa nước
Trong bữa ăn của người Trung Quốc, những chiếc bánh bao nóng hổi,những chiếc bánh giò-cháo-quẩy giòn tan có thể là món ăn chính Nhưng với ngườiKhmer, trong bữa ăn chính của họ không thể thiếu món cơm Đó cũng là một sựkhu biệt rõ ràng Đối với thức ăn đi kèm bữa chính, người Khmer không thể thiếucác món ăn được chế biến từ mắm, từ khô của các loại cá Nhưng đối với nhiềudân tộc khác thì món ăn đi kèm cũng là các loại cá nhưng được chế biến tươi sống.Tại sao người Khmer lại chuộn các loại thức ăn được chế biến từ mắm, từ khô?Đối với họ, đồng ruộng mênh mông lúa nước vừa là nơi ở, nơi sống; vừa là tài sản;vừa là quê hương Và đồng ruộng mênh mông lúa nước đó lúc nào cũng vậy, lượn
lờ dưới những gốc lúa là những đàn cá đen bóng Do lượng cá dồi dào, lúc nàocũng có sẵn và thời gian rảnh rỗi sau những vụ mùa khá dài nên họ đã tự tìm chomình những loại thức ăn mới bằng chất liệu là những con cá có sẵn quá nhiều