1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nhóm 02 - PLT02A - Phan Như Quỳnh

24 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 350,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊMôn học: NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN II Đề tài: PHÂN TÍCH CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO Ở VIỆ

Trang 1

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Môn học: NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ

NGHĨA MÁC-LÊNIN II

Đề tài:

PHÂN TÍCH CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO Ở VIỆT

NAM HIỆN NAY

Sinh viên thực hiện: Phan Như Quỳnh

Mã sinh viên: 20A4050305

Mã học phần: PLT02A Nhóm lớp: 02 Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Tuấn Hùng

HÀ NỘI 2021

Trang 2

MỤC LỤC

I KHÁI QUÁT LÝ LUẬN 3

1 Cơ sở lý luận 3

2 Khái niệm, nguyên tắc cơ bản 3

2.1 Về vấn đề dân tộc 3

2.1.1 Khái niệm dân tộc: 3

2.1.2 Những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc 4

2.2 Về vấn đề tôn giáo 5

2.2.1 Khái niệm tôn giáo 5

2.2.2 Những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo 5

II THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ VỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 7

1 Thực trạng về vấn đề dân tộc ở Việt Nam hiện nay 7

2 Thực trạng về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay 11

III GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 15

1 Giải pháp giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam hiện nay 15

2 Giải pháp giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 3

I KHÁI QUÁT LÝ LUẬN

Trong xã hội có rất nhiều dạng quan hệ giữa người với người Trong đó mốiquan hệ giữa các dân tộc là mối quan hệ cơ bản và có tác động mạnh mẽ và trực tiếptới bản thân con người nói riêng và xã hội nói chung Vì vậy việc nghiên cứu vấn đềdân tộc là rất cần thiết Cùng với đó, vấn đề tôn giáo từ lâu cũng là một vấn đề nhạycảm với nhiều nước trên toàn thế giới Hiện nay, tôn giáo đang ngày càng can thiệpsâu hơn vào đời sống chính trị với nhiều hình thức khác nhau Vì thế để giải quyết cácvấn đề về tôn giáo cần có sự hiểu biết sâu sắc về chủ đề này

Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nền tảng lý luận cơbản để Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc và tôngiáo Vấn đề dân tộc và tôn giáo cũng được xem như vấn đề có vị trí chiến lược, cầnđược nhận thức và giải quyết theo từng quan điểm cụ thể, phù hợp với tình hình thựctiễn trong từng giai đoạn cụ thể

2.1 Về vấn đề dân tộc

2.1.1 Khái niệm dân tộc:

Khái niệm dân tộc thường được dùng với hai nghĩa:

- Thứ nhất, khái niệm dân tộc dùng để chỉ cộng đồng người cụ thể nào đó có

những mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữchung của cộng đồng và trong sinh hoạt văn hóa có những nét đặc thù so vớinhững cộng đồng khác; xuất hiện sau cộng đồng bộ lạc; có sự kế thừa và pháttriển hơn những nhân tố tộc người ở cộng đồng bộ lạc và thể hiện thành ý thức

tự giác của các thành viên trong cộng đồng đó

- Thứ hai, khái niệm dân tộc dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định, bền vững

hợp thành nhân dân của một quốc gia, có lãnh thổ chung, nền kinh tế thốngnhất, quốc ngữ chung, có truyền thống văn hóa, truyền thống đấu tranh chungtrong quá trình dựng nước và giữ nước

Như vậy, nếu theo nghĩa thứ nhất, dân tộc là bộ phận của quốc gia, là cộngđồng xã hội theo nghĩa là các tộc người, còn theo nghĩa thứ hai thì dân tộc là toàn bộnhân dân một nước, là quốc gia – dân tộc Với nghĩa như vậy, khái niệm dân tộc và

Trang 4

khái niệm quốc gia có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, dân tộc bao giờ cũng ra đời trongmột quốc gia nhất định và thực tiễn lịch sử chứng minh rằng những nhân tố hình thànhdân tộc chín muồi thường không tách rời với sự chín muồi của những nhân tố hìnhthành quốc gia, Đây là những nhân tố bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau trong quá trìnhphát triển

2.1.2 Những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc

- Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng

Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là quyền thiêng liêng của các dân tộc Tất cảcác dân tộc, dù đông người hay ít người, có trình độ phát triển cao hay thấp đều cóquyền lợi và nghĩa vụ như nhau, không có đặc quyền đặc lợi về kinh tế, chính trị, vănhóa, ngôn ngữ cho bất cứ dân tộc nào

Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc phảiđược pháp luật bảo vệ và phải được thực hiện trong thực tế, trong đó việc khắc phục

sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa giữa các do lịch sử để lại có ýnghĩa cơ bản

Trong quan hệ giữa các quốc gia – dân tộc, quyền bình đẳng dân tộc gắn liềnvới cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa bá quyền nước lớn;chống sự áp bức, bóc lột của các nước tư bản phát triển đối với các nước lạc hậu, chậmphát triển về kinh tế Mọi quốc gia đều bình đẳng trong quan hệ quốc tế

- Các dân tộc được quyền tự quyết:

Quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc, quyền tự quyết địnhcon đường phát triển kinh tế, chính trị - xã hội của dân tộc mình Quyền dân tộc tựquyết bao gồm quyền tự do phân lập thành cộng đồng quốc gia dân tộc độc lập (vì lợiích của các dân tộc, chứ không phải vì mưu đồ và lợi ích của một nhóm người nào đó)

và quyền tự nguyện liên hiệp lại với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng

Khi xem xét giải quyết quyền tự quyết của dân tộc, cần đứng vững trên lậptrường của giai cấp công nhân: ủng hộ các phòng trào dân tộc tiến bộ, kiên quyết đấutranh chống lại những mưu toan lợi dụng quyền dân tộc tự quyết làm chiêu bài để canthiệp vào công việc nội bộ các nước, đòi ly khai chia rẽ dân tộc

Trang 5

- Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc:

Đây là tư tưởng, nội dung cơ bản trong “Cương lĩnh dân tộc” của V.I.Lênin

Tư tưởng này là sự thể hiện bản chất quốc tế của giai cấp công nhân, phong trào côngnhân và phản ánh tính thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc với giải phónggiai cấp

Đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc có ý nghĩa lớn lao đối với sự nghiệpgiải phóng dân tộc Nó có vai trò quyết định đến sự xem xét, thực hiện quyền bìnhđẳng dân tộc và quyền dân tộc tự quyết Đồng thời, đây cũng là yếu tố tạo nên sứcmạnh bảo đảm cho thắng lợi của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trongcuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc

2.2 Về vấn đề tôn giáo

2.2.1 Khái niệm tôn giáo

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại và tồntại phổ biến ở hầu hết các cộng đồng người trong lịch sử hàng ngàn năm qua Nóichung, bất cứ tôn giáo nào, với hình thái phát triển đầy đủ của nó, cũng đều bao gồm:

ý thức tôn giáo (thể hiện ở quan niệm về các đấng thiêng liêng cùng những tín ngưỡngtương ứng) và hệ thống tổ chức tôn giáo cũng với những hoạt động mang tính chấtnghi thức tín ngưỡng của nó

Tôn giáo ra đời bởi nhiều nguồn gốc khác nhau nhưng cở bản là từ các nguồngốc kinh tế - xã hội, nhận thức và tâm lý Khi trình độ con người thấp kém, bất lựctrước sức mạnh của tự nhiên và của xã hội, con người đặt hy vọng vào những lựclượng siêu nhiên Khi những hiện tượng tự nhiên, xã hội không thể giải thích được,thay vào đó người ta giải thích bằng tôn giáo Tôn giáo góp phần bù đắp những hụthẫng trong cuộc sống, nỗi trống vắng trong tâm hồn, xoa dịu nỗi đau của con người

2.2.2 Những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo

Tín ngưỡng, tôn giáo là những vấn đề nhạy cảm và phức tạp Do đó, những vấn

đề nảy sinh từ tôn giáo cần phải được xem xét, giải quyết hết sức thận trọng, cụ thể vàchuẩn xác, có tính nguyên tắc với những phương thức linh hoạt theo quan điểm củachủ nghĩa Mác - Lênin

Trang 6

Một là, giải quyết những vấn đề phát sinh từ tôn giáo trong đời sống xã hội phải

gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ; xây dựng xã hội mới Chủ nghĩa Mác - Lênin

và hệ tư tưởng tôn giáo có sự khác nhau về thế giới quan, nhân sinh quan và conđường mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân Vì vậy, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêucực của tôn giáo phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới

Hai là, tôn trọng tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân Khi tín

ngưỡng tôn giáo còn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân thì nhà nước xãhội chủ nghĩa phải tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡngcủa mọi công dân Công dân có tôn giáo hay không có tôn giáo đều bình đẳng trướcpháp luật, đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau Cần phát huy những giá trị tích cựccủa tôn giáo, nghiêm cấm mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng và không tínngưỡng của công dân

Ba là, thực hiện đoàn kết những người có tôn giáo với những người không có

tôn giáo, đoàn kết các tôn giáo, đoàn kết những người theo tôn giáo với những ngườikhông theo tôn giáo, đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ đất nước Nghiêm cấmmọi hành vi chia rẽ cộng đồng vì lý do tín ngưỡng tôn giáo

Bốn là, phân biệt rõ hai mặt chính trị và tư tưởng trong vấn đề tôn giáo Mặt tư

tưởng thể hiện sự tín ngưỡng trong tôn giáo Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xãhội, khắc phục mặt này là việc làm thường xuyên, lâu dài Mặt chính trị là sự lợi dụngtôn giáo của những phần tử phản động nhằm chống lại sự nghiệp cách mạng, sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Đấu tranh loại bỏ mặt chính trị phản động khẩntrương trong lĩnh vực tôn giáo là nhiệm vụ thường xuyên, vừa phải khẩn trương, kiênquyết, vừa phải thận trọng và phải có sách lược phù hợp với thực tế

Năm là, phải có quan điểm lịch sử - cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo.

Phải nhìn nhận vai trò tác động của tôn giáo tới đời sống xã hội trong thời kìlịch sử khác nhau là có thể rất khác Quan điểm, thái độ của các giáo hội, giáo sĩ, giáodân về các lĩnh vực, các vấn đề của xã hội có sự khác biệt Bởi vậy mối quan hệ vớitôn giáo cũng cần phải rất linh hoạt và mềm dẻo, có những thời điểm phải biết sử dụngtôn giáo như một thứ vũ khí lợi hại để chống lại kẻ thù chung của cả dân tộc

Trang 7

II THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

HIỆN NAY.

1 Thực trạng về vấn đề dân tộc ở Việt Nam hiện nay

Các dân tộc Việt Nam cư trú, sinh sống xen kẽ nhau và có sự chênh lệch khálớn về nhiều mặt Theo kết quả chính thức được công bố tại Hội nghị tổng kết tổngđiều tra dân số và nhà ở năm 2019, dân số thuộc dân tộc Kinh là trên 82 triệu người,chiếm 85,3% và chủ yếu sinh sống tại các thành phố, vùng đồng bằng, trung du Trong

53 dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng 14% dân số cả nước, 6 dân tộc có dân số trên 1triệu người là: Tày, Thái, Mường, Mông, Khmer, Nùng; 11 dân tộc có dân số dưới5.000 người Địa bàn sinh sống chủ yếu của người dân tộc thiểu số là vùng trung du vàmiền núi phía Bắc và Tây Nguyên và một số tỉnh khu vực duyên hải miền Trung Tuy

số dân có sự chênh lệch đáng kể, nhưng các dân tộc luôn luôn coi nhau như anh emmột nhà, quý trọng, thương yêu đùm bọc và gắn bó với nhau, chung sức xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Nét chủ đạo, sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử mấy nghìn năm của dân tộcViệt Nam là mối quan hệ, đoàn kết keo sơn giữa các dân tộc nước ta, giữa dân tộc đa

số và các dân tộc thiểu số, giữa các dân tộc thiểu số với nhau Truyền thống đoàn kết,tương trợ đó được thể hiện qua sự nghiệp dựng nước và giữ nước của các dân tộc tronglịch sử, đó là quy luật phát triển của dân tộc Việt Nam

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhândân các dân tộc trên đất nước ta đã phát huy cao độ tinh thần đoàn kết chặt chẽ dưới sựlãnh đạo của Đảng Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đạt được trong quá trìnhđổi mới cho thấy khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta đã có tầm cao mới và chiều sâumới, là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của đất nước, làm cho thế và lực củacách mạng nước ta ngày càng được tăng cường Giữ gìn và tiếp tục phát huy truyềnthống đoàn kết dân tộc hiện nay vẫn là một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược Tăngcường đoàn kết, nâng cao cảnh giác, kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động chia

rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ của mỗi người dân Việt Nam.Những người anh hùng dân tộc như anh hùng Núp (dân tộc Ba Na) trong kháng chiếnchống Pháp, đồng bào dân tộc Pa Cô anh dũng trong kháng chiến chống Mỹ,… đó lànhững tấm gương tiêu biểu của đồng bào dân tộc thiểu số góp phần vào thành công

Trang 8

chung của cách mạng nước nhà Các dân tộc Việt Nam đều có một bản sắc riêng tạonên sự thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam Trong đó, bản sắc văn hóa củacác dân tộc chính là yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam nói chung Xuấtphát từ những vấn đề thực tiễn đã và đang đặt ra hiện nay cũng chính là cơ sở quantrọng để đề ra những chính sách dân tộc đúng đắn, phù hợp

- Những thành tựu về việc xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta

hiện nay.

Từ Đại hội Đảng lần thứ VI, sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt đượcnhững thành tựu to lớn: quốc phòng, an ninh được đảm bảo, đất nước được giữ vữngđộc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xãhội chủ nghĩa, cơ bản giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Chính sách dântộc ở nước ta chính là việc cụ thể hóa những quan điểm, đường lối của Đảng về vấn đềdân tộc, tác động trực tiếp đến việc giải quyết mối quan hệ dân tộc, xây dựng và thựchiện chính sách dân tộc dựa vào những nguyên tắc cơ bản, như: bình đẳng, đoàn kết,giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc và giúp nhau cùng phát triển Về mục tiêu,chính sách dân tộc khai thác mọi tiềm năng và thế mạnh của các dân tộc và của cả đấtnước, từng bước khắc phục và xóa bỏ khoảng cách chênh lệch vùng miền, xóa đóigiảm nghèo, thực hiện sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh”

Nói về những thành tựu trong thực hiện chính sách dân tộc, có thể khẳng định,

ở nước ta hiện nay, tất cả mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng,giới tính… đều bình đẳng về chính trị, pháp luật và mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội.Khối đại đoàn kết dân tộc được giữ vững, sự gắn kết giữa 54 dân tộc ngày càng đượccủng cố, tăng cường trên cơ sở tôn trọng, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng phát triển,chung tay xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Công tác dân tộcthời gian qua đã góp phần tích cực trong việc thay đổi diện mạo vùng nông thôn, miềnnúi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, quyền bình đẳng giữa các dân tộc ngày càngđược thể chế hóa, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào ngày càng được nânglên rõ rệt Theo số liệu từ Cục thống kê 2010 - 2015, chỉ tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo củacác địa phương vùng dân tộc thiểu số và miền núi đều đạt và vượt, bình quân từ 3 -4%/năm Trong Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện 8 mục tiêu thiên niên kỷ (2010),

Trang 9

Liên hợp quốc đã đánh giá Việt Nam là một trong những nước thành công nhất trongviệc xóa đói, giảm nghè

Không những công tác xóa đói, giảm nghèo đạt được kết quả khả quan mà đối vớicông tác giáo dục dân trí của đồng bào các dân tộc cũng được cải thiện Hiện nay,vùng đồng bào dân tộc và miền núi đã phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sởtheo độ tuổi và cơ bản xóa mù chữ Đời sống văn hóa của các dân tộc được giữ gìn vàphát huy, mạng lưới thông tin, truyền thông rộng khắp và giúp cho đồng bào dân tộctiếp cận được chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.Các giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát huy, nhiều di sản văn hóa củađồng bào dân tộc đã được UNESCO công nhận (Ví dụ: Không gian văn hóa CồngChiêng Tây Nguyên)

Đảng và Nhà nước Việt Nam đã không ngừng đẩy mạnh công tác xóa đói, giảmnghèo, nâng cao mức sống của đồng bào các dân tộc thiểu số Thông qua các chươngtrình phát triển kinh tế - xã hội và chính sách cụ thể đối với các vùng, các dân tộc đểgiúp đồng bào vươn lên thoát nghèo, nâng cao dân trí, cải thiện chất lượng cuộc sốngcủa làng bản Hiện nay, tốc độ tăng GDP trung bình vùng dân tộc thiểu số hàng nămđạt 8 - 11% (6,5%) Chương trình 135 giai đoạn I đã đầu tư 9.142 tỷ đồng từ ngân sáchNhà nước để xây dựng, duy tu, bảo dưỡng 3.295 công trình; hỗ trợ trực tiếp cho 1.512triệu hộ nghèo, cận nghèo Tập huấn cho 103 ngàn người, dạy nghề cho 720 ngànngười, góp phần giúp con em tìm kiếm việc làm Ngân hàng chính sách xã hội đã cho1,4 triệu hộ vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số vay 45.194 tỷ đồng để phát triểnsản xuất, tăng thu nhập Sau đó, chương trình 135 giai đoạn 2 nâng tổng số vốn đầu tư

là 14.000 tỷ đồng chi từ Ngân sách cho đồng bào dân tộc Ngoài ra, Đảng và Nhà nước

ta đã có nhiều chính sách ưu tiên trên nhiều lĩnh vực cho người dân vùng sâu, vùng xa,vùng đồng bào dân tộc thiểu số, như: Chính sách ưu tiên trong lĩnh vực giáo dục, chiếu

cố tiêu chuẩn để học sinh dân tộc thiểu số được tham gia học tập ở bậc cao đẳng, đạihọc (điểm cộng, chế độ cử tuyển); ưu tiên bằng kéo dài thời gian đào tạo ở cả khâuchuẩn bị đầu vào lẫn khâu đào tạo chính thức ở bậc đại học, cao đẳng Trong lĩnh vực

y tế: chế độ phát thẻ Bảo hiểm y tế miễn phí và nhiều chính sách y tế ưu đãi cho đồngbào các dân tộc … Như vậy, có thể khẳng định rằng, bằng nhiều hình thức, Đảng vàNhà nước đã thể hiện sự quan tâm, chăm lo cho đời sống bà con đồng bào các dân tộc

Trang 10

- Những luận điểm xuyên tạc của các thế lực thù địch về vấn đề dân tộc.

Đến nay, nét nổi bật nhất là các dân tộc ở Việt Nam cư trú xen kẽ Nhiều tỉnh

có tới trên 20 dân tộc như: Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, LâmĐồng Riêng tỉnh Đắk Lắk hơn 40 dân tộc anh em Phần lớn các huyện miền núi có từ

5 dân tộc trở lên cư trú Nhiều xã, bản có tới 3 hoặc 4 dân tộc cùng sinh sống Tìnhtrạng cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ở nước ta, một mặt là điều kiện để tăng cườnghiểu biết nhau, đoàn kết, xích lại gần nhau, xây dựng cộng đồng các dân tộc ngày cànggắn bó vững chắc, cùng nhau tiến bộ và phát triển, sự cách biệt về trình độ phát triểntừng bước thu hẹp lại; mặt khác, cần đề phòng trường hợp có thể do chưa thật hiểunhau, khác nhau về phong tục, tập quán làm xuất hiện mâu thuẫn, tranh chấp về lợiích, nhất là lợi ích kinh tế, dẫn tới khả năng va chạm giữa những người thuộc các dântộc cùng sinh sống trên một địa bàn Là cơ sở để các thế lực thù địch lợi dụng, khoétsâu những va chạm, mâu thuẫn trong quan hệ dân tộc để chia rẽ, làm suy yếu sự đoànkết các dân tộc để dễ dàng thực hiện ý đồ xâm lược hoặc duy trì ách thống trị củachúng

Thời gian qua, các thế lực thù địch đã lợi dụng các vấn đề nhạy cảm về lịch sử,đất đai và tập quán sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số cũng như những khó khăncủa một bộ phận người dân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa để vu cáo Nhà nước ta

“phân biệt đối xử”,“đàn áp người dân tộc thiểu số”, “ép” người dân tộc thiểu số theolối sống” văn minh” của người dân tộc Kinh… Bên cạnh đó, chúng còn lợi dụng tìnhtrạng một số cán bộ, Đảng viên “tha hóa, biến chất” đã có những ứng xử không phùhợp với đồng bào dân tộc để gây ra hiềm khích, tạo tâm lý tiêu cực nhằm để tuyêntruyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước, phủ nhận thành tựu mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã dày công xây dựng

Đặc biệt, chúng tìm cách kích động, lôi kéo đồng bào dân tộc đòi “quyền dântộc tự quyết, tự quản”, đòi thành lập Nhà nước riêng, thoát ly khỏi sự quản lý của Nhànước, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc như: “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc, “Nhànước Tin lành Đề-ga” ở Tây Nguyên, “Vương quốc Khmer Krom” ở Tây Nam Bộ,…Thông qua sự bùng nổ và phát triển của không gian mạng, các thế lực thù địch pháttán, truyền bá các tài liệu, văn bản, những đoạn clip “dàn dựng” nhằm xuyên tạc tìnhhình dân chủ, nhân quyền, trong đó có quyền của người dân tộc thiểu số ở trong nước,

Trang 11

nhằm hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế… Có thể thấy, một số vụ bạo loạnxảy ra ở Tây Nguyên, Tây Bắc do các thế lực thù địch công kích, lợi dụng những sơ

hở, thiếu sót của ta trong thực hiện các chính sách dân tộc, tôn giáo nhằm âm mưu chia

rẽ, phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc của ta

2 Thực trạng về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

Có thể thấy vấn đề tôn giáo đã được quan tâm từ lâu và trở thành vấn đề mangtính quốc gia Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà; ngày03/9/1945 tại phiên họp Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến vấn đề tôngiáo, người nói “Tôi đề nghị Chính phủ tuyên bố tín ngưỡng tự do và lương – giáođoàn kết” Ngày 14/6/1955, người đã ký Sắc lệnh số 234/SL xác định “Việc tự do tínngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân” Qua đây cho thấy vấn đề tôn giáothực sự rất quan trọng, đó không chỉ là hoạt động thể hiện truyền thống uống nước nhớnguồn của dân tộc mà nó còn phát huy những giá trị nhân văn sâu sắc của dân tộc Cóthể thấy hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng làm đẹp thêm nền văn hóa dân tộc, giúp vănhóa dân tộc thêm phong phú, đa dạng nhưng vẫn mang những nét đặc trưng của vănhóa đất Việt

Tôn giáo tại Việt Nam khá đa dạng, gồm có các nhánh Phật giáo như Đại thừa,Tiểu thừa, Hòa Hảo…, một số nhánh Kitô giáo như Công giáo Rôma, Tin Lành, tôngiáo nội sinh như Đạo Cao Đài, và một số tôn giáo khác Nền tín ngưỡng dân gian bảnđịa cho tới nay vẫn có ảnh hưởng nhất định tại Việt Nam Ngoài ra, ở Việt Nam còn cómột số tôn giáo khác nhưng nó nhỏ lẻ không đáng kể và còn có một số người không cótôn giáo Theo Hội nghị tổng kết tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, có 16 tôngiáo được phép hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Tổng số có 13,2 triệu người theotôn giáo chiếm 13,7% tổng dân số cả nước Trong đó, số người theo Công giáo là đôngnhất với 5,9 triệu người, chiếm 44,6% tổng số người theo tôn giáo và chiếm 6,1% tổngdân số cả nước Tiếp đến là số người theo Phật giáo với 4,6 triệu người, chiếm 35%tổng số người theo tôn giáo và chiếm 4,8% dân số cả nước

Tuy nhiên, với tác động của tình hình quốc tế, mặt trái của toàn cầu hóa và cơchế thị trường, âm mưu “chính trị hóa tôn giáo” của các thế lực thù địch đã làm chođời sống tôn giáo bị tác động và không ngừng biến đổi, tiềm ẩn nhiều “nguy cơ”, nổi

Trang 12

lên các vấn đề như: Lợi dụng hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật, thậm chí mang

“màu sắc chính trị”; lợi dụng một số bất cập trong quản lý tôn giáo để xuyên tạc chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; mâu thuẫn nội bộ,tranh giành chức quyền, hoạt động tôn giáo xa rời chuẩn mực đạo đức và văn hóatruyền thống dân tộc, trục lợi, sa sút đạo hạnh trong một số tổ chức tôn giáo; xuấthiện một số loại hội, nhóm mang danh tôn giáo, đạo lạ Những vấn đề nêu trên khôngchỉ gây khó khăn cho công tác tôn giáo mà còn là nguyên nhân và điều kiện để các thếlực thù địch lợi dụng tiến hành các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dântộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội Cụ thể là:

- Lợi dụng tôn giáo để hoạt động chống Đảng và Nhà nước Việt Nam, gây mất

ổn định chính trị - xã hội

Thời gian qua, lợi dụng tính nhạy cảm của vấn đề tôn giáo, một số phần tử cựcđoan trong tôn giáo cấu kết với các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Đảng và Nhànước Việt Nam tổ chức các cuộc “hội luận”, “họp báo”, soạn thảo và tán phát các tàiliệu có nội dung xuyên tạc, bịa đặt để tuyên truyền chống Đảng và Nhà nước ViệtNam, nhất là trên các lĩnh vực dân chủ và nhân quyền Họ đẩy mạnh xuyên tạc Đảng

và Nhà nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, Việt Nam “không có tự do tôn giáo” Họcho rằng Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (trước đây) và Luật Tín ngưỡng, tôn giáohiện nay là sự “đàn áp tôn giáo” bằng pháp luật của Nhà nước Việt Nam, không tạođiều kiện cho các tôn giáo phát triển; từ đó, khoét sâu mâu thuẫn giữa các tôn giáo vớichính quyền các cấp Đồng thời, móc nối, câu kết với một số tổ chức, cá nhân ở trongnước và nước ngoài thành lập hoặc tích cực tham gia các hội, nhóm trái pháp luật,mang danh nghĩa tôn giáo để tập hợp, phát triển lực lượng chống đối Một số chức sắccực đoan lợi dụng các vấn đề chính trị - xã hội phức tạp để kích động tín đồ xuốngđường biểu tình, gây mất ổn định chính trị - xã hội Điển hình như, lợi dụng sự cố môitrường ở các tỉnh miền Trung do Formosa gây ra, một số chức sắc cực đoan trongCông giáo thuộc Giáo phận Vinh đã tổ chức, kích động giáo dân tổ chức nhiều cuộcbiểu tình, tuần hành dưới danh nghĩa “bảo vệ môi trường”, gây ảnh hưởng xấu đến anninh, trật tự tại các địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân những ngườikhông theo tôn giáo, khiến cho mối quan hệ đoàn kết lương - giáo có nơi, có lúc bị rạn

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w