Mặt khác, việc áp dụng những giải pháp nêu trên , để nâng cao chất lượng dạy học môn lịch sử tại trường PTDT Nội trú còn phụ thuộc rất nhiều vào sự hiểu biết và tâm huyết của người giáo [r]
Trang 1A CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
“ Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ Lịch sử loài người mà chúng ta học là toàn bộ những hoạt động của con người từ khi xuất hiện đến ngày nay Lịch sử
có nghĩa là khoa học tìm hiểu và dựng lại toàn bộ những hoạt động của con người và
xã hội loài người trong quá khứ” (Lịch sử 6)
Việc dạy học lịch sử ở THCS hiện nay có một vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nó không những góp phần truyền thụ cho học sinh những kiến thức cơ bản, trọng tâm về quá trình hình thành và phát triển của lịch sử dân tộc cũng như lịch sử xã hội loài người Việc dạy học lịch sử sẽ giúp cho các em có cách nhìn nhận, đánh giá theo một quan điểm đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời, việc dạy học lịch sử còn có lợi thế mà không môn học văn hoá nào có được là trực tiếp góp phần giáo dục con người mới – xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là những phẩm chất về lòng tự hào, tự tôn dân tộc, lòng yêu nước, yêu tự do, yêu hoà bình… cho học sinh
Đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng là một vấn
đề lớn thu hút sự quan tâm không chỉ của những người làm công tác dạy học mà ngay
cả các ngành, các cấp ở trung ương và địa phương Qua 6 năm thực hiện chương trình đổi mới, chúng ta đã đạt được những kết quả nhất định Song bên cạnh đó, trong quá trình trực tiếp giảng dạy bộ môn lịch sử THCS tại trường PTDT Nội trú, tôi nhận thấy một số tồn tại sau:
Kiến thức lịch sử là kiến thức quá khứ, là những gì đã diễn ra trong quá khứ mà chúng ta phải dựng lại, tái hiện lại cho học sinh trong một lượng thời gian xác định Trong khi đó lượng kiến thức lịch sử THCS lại nhiều (Bắt đầu từ thời nguyên thuỷ cho đến ngày nay – 2001 ) Yêu cầu đổi mới phương pháp nâng cao tính chủ động, tự giác, tích cực của học sinh trong quá trình học tập đã làm cho quá trình dạy - học của giáo viên và học sinh gặp nhiều khó khăn
Đối tượng học sinh của trường PTDT Nội trú 100% là học sinh dân tộc: Thái, Mường, Mông, Dao Khơ mú do khả năng tiếp thu kiến thức văn hoá còn hạn chế, chưa linh hoạt, chưa sáng tạo, còn thụ động Chính vì vậy mà việc tiếp thu, lĩnh hội, vận dụng những kiến thức xa xưa, trừu tượng với tính chủ động của học sinh thật là khó
Mặt khác, trong quá trình dạy học lịch sử hiện nay, đang đặt ra yêu cầu cần phải
sử dụng kết hợp, đan xen giữa kiến thức lí thuyết với việc sử dụng linh hoạt, hiêụ quả
đồ dùng trực quan Dù vậy, tại trường PTDT Nội trú số lượng đồ dùng trực quan còn thiếu, chưa đồng bộ, việc sử dụng đồ dùng của một số giáo viên còn chưa có kinh nghiệm, thiếu lô gíc và chưa linh hoạt dẫn đến hiệu quả giáo dục chưa cao
II NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY - HỌC
MÔN LỊCH SỬ TRONG TRƯỜNG PTDT NỘI TRÚ
Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, từ việc hưởng ứng cuộc vận động hai không với bốn nội dung của Bộ giáo dục Tôi mạnh dạn đưa ra một số giải
Trang 2pháp sau để làm cơ sở kinh nghiệm trong hoạt động công tác chuyên môn của mình, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn lịch sử tại trường PTDT Nội trú Bắc Yên trong thời gian tới
1 Về việc sử dụng sách giáo khoa.
Theo tôi có thể phân ra ba cách sử dụng SGK:
* Sử dụng SGK để chuẩn bị bài giảng: GV cần nghiên cứu nội dung kiến thức toàn bài trong SGK để xác định kiến thức cơ bản của bài Hiểu rõ nội dung, tinh thần
mà tác giả mong muốn ở HS về từng mặt kiến thức, tư tưởng, kĩ năng Từ đó giáo viên xác định được phần nào là trọng tâm, phần nào nên lướt qua để vừa đảm bảo về kiên thức giúp HS không bị phân tán và quá tải khi học vừa đảm bảo về thời gian
* Sử dụng SGK trong quá trình dạy học trên lớp: HS thường theo dõi bài giảng của giáo viên rồi đối chiếu, so sánh với SGK, thậm trí có HS không ghi theo bài giảng
mà lại chép trong SGK Vì vậy, bài giảng của giáo viên cần linh hoạt không nên lặp lại ngôn ngữ trong SGK một cách máy móc, y hệt mà nên kết hợp giữa SGK và lời văn của mình Trong SGK, phần lớn các bài đều có những đoạn chữ in nhỏ Kiến thức thể hiện trong những đoạn này nhiều khi rất quan trọng Thường nó là nguồn tư liệu
để làm nổi bật nội dung cơ bản của phần mục, của bài, cho nên giáo viên cần phải sử dụng triệt để Nếu nó đề cập đến những kiến thức khó, phức tạp thì giáo viên lấy làm nguồn tư liệu dùng để miêu tả hoặc kể chuyện Nếu dễ thì cho học sinh đọc, sau đó giáo viên kiểm tra khả năng cảm thụ và nhận thức của các em
* Học sinh sử dụng SGK khi học ở nhà: Vở ghi ở trên lớp và SGK là phương tiện, là nguồn kiến thức chủ yếu để HS tự học ở nhà Khi hướng dẫn HS học ở nhà theo SGK nên hướng dẫn có trọng điểm, ví dụ: Ở các bài 12, 13 “Khởi nghĩa Lam Sơn” (SGK lịch sử 7), cần nêu rõ: Ai lãnh đạo ? Thời gian, những chiến thắng lớn ? Hoặc hướng dẫn các em sử dụng từ trong SGK điền vào bảng sau:
Những người lãnh đạo Năm, tháng Chiến thắng lớn Ý nghĩa
Khi được giao những công việc cụ thể các em sẽ phải hoàn thành và phải học một cách độc lập, sáng tạo
2 Sử dụng đồ dùng trực quan
Đồ dùng trực quan nếu được sử dụng tốt sẽ huy động được sự tham gia của nhiều giác quan, sẽ kết hợp được chặt chẽ hai hệ thống tín hiệu với nhau: tai nghe, mắt thấy, tạo điều kiện cho học sinh dễ hiểu, nhớ lâu, gây được những mối liên hệ thần kinh tạm thời khá phong phú, phát triển ở học sinh năng lực chú ý, quan sát, húng thú Theo tôi có ba cách sử dụng đồ dùng trực quan:
* Sử dụng hình vẽ, tranh, ảnh trong SGK: Cho học sinh quan sát hình vẽ, tranh, ảnh trong những tình huống có vấn đề, trong những nhu cầu cần thiết phải trả lời một vấn đề cụ thể Như vậy tư duy học sinh sẽ dần phát triển trong những tình huống có vấn đề Từ việc quan sát thường xuyên các tranh ảnh lịch sử, giáo viên
Trang 3luyện cho các em thói quen và khả năng quan sát các vật thể một cách khoa học, có phân tích, giải thích để đi đến những khái quát, rút ra những kết luận lịch sử Ví dụ trong bài đầu tiên của lịch sử lớp 8 “Mấy nét chính của lịch sử thế giới từ công xã nguyên thuỷ đến cách mạng Hà Lan” GV cho các em quan sát hình 2 “Một số tiến bộ thời nguyên thuỷ” (tr.5), và giới thiệu sơ bộ các hình vẽ trong hai ô của SGK: “ Ở ô vuông trên có bốn hình, biểu hiện bốn giai đoạn của thời kì công xã nguyên thuỷ Các
em quan sát và nêu rõ nội dung biểu hiện của từng bức tranh”
* Sử dụng chân dung nhân vật lịch sử trong SGK: Chân dung các nhân vật lịch sử có ý nghĩa rất lớn trong việc giảng dạy và học tập lịch sử Khi sử dụng chân dung nhân vật lịch sử trong dạy học cần phải chú ý đến mục đích giáo dục, giáo dưỡng và phát triển tư duy Đối với các anh hùng dân tộc, lãnh tụ cách mạng, giáo viên cần phải làm nổi bật tính cách ấy thông qua việc miêu tả hình thức bề ngoài, hay nêu khái quát ngắn gọn tiểu sử của nhân vật ấy, làm cho học sinh húng thú, kích thích tính tò mò, phát triển năng lực nhận thức Qua việc sử dụng chân dung nhân vật lịch
sử, học sinh học tập được tài trí, đạo đức của họ, từ đó các em rèn luyện mình theo tấm gương của nhân vật
* Sử dụng bản đồ: Trên bản đồ lịch sử, các sự kiện luôn được thể hiện trong một không gian, thời gian, địa điểm cùng một số yếu tố địa lý nhất định, nên kết hợp với lời nói để tạo biểu tượng lịch sử Việc sử dụng bản đồ lịch sử góp phần phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ năng đọc bản
đồ, củng cố thêm về kiến thức địa lý Khi sử dụng nhất thiết phải giới thiệu cụ thể các
kí hiệu trên bản đồ, đồng thời tập cho các em quan sát, đọc bản đồ và tìm hiểu nội dung lịch sử được thể hiện trên bản đồ
Bản đồ câm (bản đồ trống), không thể hiện đầy đủ nội dung lịch sử được phản ánh trong SGK mà chỉ là những nét cơ bản về phạm vi lãnh thổ, một vài địa danh chính, làm nền, có tác dụng định hướng cho nội dung lịch sử để giáo viên đưa vào trong quá trình giảng bài, với hình thức vẽ phấn, mảnh giấy ghi sẵn kí, số hiệu, hình ảnh Giáo viên treo bản đồ câm và tường thuật nội dung lịch sử, tường thuật đến đâu thì sử dụng kí, số hiệu, hình ảnh có sẵn điền vào bản đồ Cuối cùng cho học sinh đọc các kí, số hiệu, hình ảnh đó, và khi các em đọc được thì các em đã hiểu được nội dung lịch sử cần thể hiện Việc sử dụng bản đồ câm trong dạy học lịch sử làm cho học sinh húng thú, tích cực học tập vì được tìm hiểu bài một cách sinh động, các sự kiện được quan sát rõ ràng, dễ nhớ
3 Sử dụng hệ thống câu hỏi để phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử:
* Nêu câu hỏi đầu giờ học: Trước khi cung cấp kiến thức của bài học mới, giáo viên nên nêu ngay câu hỏi định hướng nhận thức cho các học sinh Câu hỏi loại này thường có tính chất bài tập, muốn trả lời phải huy động kiến thức của toàn bài Nêu câu hỏi đầu giờ học có hai tác dụng lớn: thứ nhất nó xác định rõ ràng nhiệm vụ nhận thức của học sinh trong giờ học; thứ hai là hướng học sinh vào những kiến thức trọng tâm của bài, huy động cao nhất hoạt động của các giác quan học sinh trong quá trình học tập: nghe, nhìn, kết hợp với tư duy có định hướng Khi đặt câu hỏi này không yêu
Trang 4cầu HS trả lời ngay mà giáo viên ghi câu hỏi này vào phiếu học tập lớn, treo lên bên phải góc bảng (cho học sinh ghi vào vở bài tập của mình) Sau khi dạy xong, phần cuối bài, giáo viên mới quay trở lại yêu cầuhọc sinh trả lời câu hỏi trên Học sinh trả lời được câu hỏi này là đã hiểu được kiến thức chủ yếu của bài (giáo viên có thể lấy điểm kiểm tra thường xuyên cho học sinh)
Ví dụ: Trong bài “Những biến đổi trong xã hội” (SGK lịch sử 6), có thể đặt câu hỏi
đầu giờ: Các em chú ý theo dõi bài giảng, tích cực học tập để cuối bài trả lời cho
thầy câu hỏi: Những biến đổi lớn trong gia đình, trong làng bản và trong xã hội thời kì đầu của nước Văn Lang như thế nào ?
* Hệ thống câu hỏi ở trên lớp: Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của các kiến thức lịch sử mà có thể phân ra các loại câu hỏi sau:
- Loại câu hỏi về sự phát sinh các sự kiện, hiện tượng lịch sử: hỏi về nguyên
nhân, hoàn cảnh, bối cảnh của các sự kiện lịch sử Ví dụ: Nguyên nhân bùng nổ các cuộc cách mạng tư sản ?; Nguyên nhân dẫn đến cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất ?
- Loại câu hỏi về quá trình diễn biến và phát triển của sự kiện, hiện tượng lịch sử: hỏi về diễn biến các cuộc khởi nghĩa, các cuộc cách mạng, các cuộc chiến
tranh…Ví dụ: Hãy thuật lại cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ? Những chuyển biến trong xã hội nước ta thế kỉ I – XV ?
- Loại câu hỏi nêu lên đặc trưng, bản chất của các của sự kiện, hiện tượng lịch sử: Bao gồm sự đánh giá và thái độ của học sinh đối với các sự kiện, hiện tượng
lịch sử được đưa ra Ví dụ: Tại sao hồi ấy nhân dân ta lại quý trọng các nhà sư ? Tại sao nói cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789 là cách mạng dân chủ tư sản triệt để
?
- Loại câu hỏi tìm hiểu kết quả, nguyên nhân dẫn đến kết quả đó và ý nghĩa lịch sử của nó: Lịch sử chính là quá trình phát triển liên tục, đan xen nhau giữa các sự kiện hoặc một hiện tượng hay một quá trình lịch sử nào đó Cần cho học sinh thấy được kết quả của sự vận động ấy, nguyên nhân thắng lợi hay thất bại và ảnh hưởng
của nó đến quá trình phát triển của lịch sử Ví dụ: Ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 03 tháng 02 năm 1930 ? Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiêm của các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kì và cuộc binh biến Đô Lương ?
- Loại câu hỏi đối chiếu, so sánh giữa sự kiện, hiện tượng lịch sử này với sự kiện, hiện tượng lịch sử khác cùng loại: Đây là loại câu hỏi khó đối với học sinh THCS, nhưng nó sẽ giúp các em củng cố, ôn tập lại kiến thức và tiếp nhận kiến thức
mới Ví dụ: Khởi nghĩa Yên Thế có những đặc điểm gì khác so với các cuộc khởi nghĩa Ba Đình, Bãi Sậy, Hương Khê ?
Các loại câu hỏi trên tạo thành một hệ thống câu hỏi hoàn chỉnh, giúp cho học sinh trong quá trình học tập lịch sử phát hiện ra nguyên nhân, diễn biến, kết quả và ý nghĩa của một sự kiện hay quá trình lịch sử Những câu hỏi đó không chỉ cho các em biết sự kiện mà đi sâu hiểu bản chất của sự kiện; nó không chỉ đòi hỏi học sinh nhớ sự kiện lịch sử cơ bản mà phải suy nghĩ, nhận thức sâu sắc bản chất của sự kiện lịch sử
Trang 54 Kiểm tra, đánh giá:
* Kiểm tra miệng: Theo đúng mẫu giáo án hiện hành thì bao giờ vào đầu tiết học giáo viên thường dành 4 phút để kiểm tra bài cũ Nhưng chúng ta đã biết kiến thức lịch sử là kiến thức nối tiếp theo mạch thời gian: Sự kiện, hiện tượng lịch sử nào diễn ra trước thì học trước, diễn ra sau thì học sau theo lối móc xích và các sự kiện, hiện tượng lịch sử thế giới có những liên quan, ảnh hưởng đến lịch sử Việt Nam và ngược lại Hơn nữa, nếu tiết học nào cũng mở đầu với 4 phút kiểm tra bài cũ, thì sẽ dẫn đến tình trạng học sinh học vẹt, học thuộc một lần và giơ tay trả lời để lấy điểm miệng xong là thôi Do vậy, cần phải kiểm tra miệng thường xuyên, kiểm tra với nhiều hình thức: có thể kiểm tra kiến thức cũ trong quá trình cung cấp kiến thức mới, kiểm tra khả năng nhận thức và hiểu bài ngay trên lớp của học sinh trong phần trả lời câu hỏi nêu đầu giờ học…Việc kiểm tra như vậy sẽ giúp học sinh tích cực học tập, rèn cho các em khả năng ghi nhớ lâu bền
* Kiểm tra định kì: Căn cứ vào chương trình môn lịch sử THCS, mỗi một khối lớp cả năm học có 4 bài kiểm tra, trong đó, mỗi học kì có 1 bài kiểm tra 45 phút
và 1 bài kiểm tra học kì, trong khi đó lượng kiến thức đưa ra ở mỗi khối lớp là tương đối nhiều Do đó, bài kiểm tra cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Bài kiểm tra phải đảm bảo bố cục hai phần: phần trắc nghiêm và phần
tự luận Đảm bảo tỉ lệ giữa hai phần: 3 điểm cho phần trắc nghiệm và 7 điểm cho phần tự luận, có như vậy mới đảm bảo được tính chất rộng và sâu của kiến thức lịch
sử, đảm bảo được hai yếu tố sử và luận trong dạy học lịch sử
- Cần lựa chọn kiến thức lịch sử rộng cho phần trắc nghiệm và kiến thức lịch sử sâu, kiến thức lịch sử trọng tâm, kiến thức lịch sử có liên quan nhiều đến nội dung lịch sử khối lớp trên cho phần tự luận
- Cần đảm bảo cả hai phần kiến thức lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam theo tỉ lệ: Kiến thức lịch sử thế giới chiếm 3 điểm, kiến thức lịch sử Việt Nam chiếm
7 điểm
- Trong phần trắc nghiệm: Số câu hỏi thông thường là 6 câu với 0,5 điểm cho mỗi câu trả lời đúng, câu hỏi trắc nghiệm cần đa dạng, bao gồm: Trắc nghiệm nhiều lựa chọn, trắc nghiệm đúng sai, trắc nghiệm điền khuyết, trắc nghiệm nối các
dữ kiện…
- Phần tự luận: Số câu hỏi thường là 3 câu, trong đó có 1 câu là lịch sử thế giới (2 điểm) Câu hỏi tự luận gồm: Trình bày, chứng minh, giải thích
- Đề kiểm tra cần phải được phô tô, mỗi học sinh một đề
- Tiến hành coi và chấm nghiêm túc, chặt chẽ
III KẾT LUẬN
Trên đây là một số giải pháp mà qua quá trình trực tiếp giảng dạy môn lịch sử THCS tại trường PTDT Nội trú tôi đã đúc rút được, với suy nghĩ và nhận thức của bản thân, tôi nhận thấy đây là những kinh nghiệm có thể khắc phục được thực trạng
Trang 6nêu trên, góp phần vào quá trình đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học môn lịch sử THCS tại trường PTDT Nội trú trong thời gian tới
Bên cạnh đó, để nâng cao được chất lượng dạy học môn lịch sử THCS tại trường PTDT Nội trú, tôi xin có ý kiến đề xuất, kiến nghị sau:
- Đối với ngành giáo dục cần nghiên cứu, tổ chức các đợt tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để giáo viên có nhiều điều kiện hơn nữa để trao đổi, thảo luận, học tập về những kinh nghiệm, phương pháp đổi mới áp dụng theo đặc trưng của các đơn vị trường
- Đối với BGH và tổ chuyên môn cần xây dựng kế hoạch, tổ chức các đợt dự giờ, thao giảng, tổ chức sinh hoạt, ngoại khoá chuyên đề, rút kinh nghiệm để tìm ra và thống nhất các phương pháp tối ưu tích cực, phù hợp với đối tượng học sinh của nhà trường
Mặt khác, việc áp dụng những giải pháp nêu trên , để nâng cao chất lượng dạy học môn lịch sử tại trường PTDT Nội trú còn phụ thuộc rất nhiều vào sự hiểu biết và tâm huyết của người giáo viên: Người giáo viên cần phải nắm vững, chủ động về kiến thức, cần phải sưu tầm, nghiên cứu các tư liệu, tài liệu tham khảo, đặc biệt phải có ý thức yêu nghề, tâm huyết với sự nghiệp giáo dục của mình
NGƯỜI THAM LUẬN
Ngô Văn Huynh