1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tâm lý học đại cương

75 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 679,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng của tâm lí học là các hiện tượng tâm lí, với tư cách là một hiện tượng tinh thần do thế giới khách quan tác động vào não người sinh ra.. Tâm lí người có tính chủ thể, có bản ch

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Tài liệu Tâm lí học đại cương được biên soạn theo Chương trình đào tạo giáo viên

trung học (đào tạo theo hệ thống tín chỉ) của Trường Đại học An Giang

Tài liệu cung cấp cho sinh viên những tri thức khoa học, cơ bản, hiện đại có hệ thống

về tâm lí học đại cương, xây dựng cho sinh viên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật

lịch sử về tâm lí người và các quy luật tâm lí; giúp sinh viên hình thành các kỹ năng nghiên

cứu, phân tích tâm lí phục vụ cho việc rèn luyện, tự tu dưỡng hoàn thiện nhân cách

Tài liệu này được dùng cho sinh viên sư phạm làm tài liệu học tập

Tài liệu Tâm lí học đại cương gồm 7 chương:

Chương 1: Tâm lí học là một khoa học

Chương 2: Cơ sở tự nhiện và cơ sở xã hội của tâm lí

Chương 3: Sự hình thành và phát triển tâm lí, ý thức

Chương 4: Hoạt động nhận thức

Chương 5: Tình cảm và ý chí

Chương 6: Trí nhớ

Chương 7: Nhân cách và sự hình thành, phát triển nhân cách

Tài liệu này còn có những thiếu sót nhất định, mong các đồng nghiệp và các bạn sinh

viên đóng góp Xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

Chương 1: TÂM LÝ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC

1 ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ, Ý NGHĨA CỦA TÂM LÍ HỌC

1.1 TÂM LÍ VÀ TÂM LÍ HỌC

1.1.1 Tâm lí là gì ?

Mọi người trong chúng ta, ít nhiều đều quen với từ “tâm lí” Chúng ta thường gặp những

hiện tượng khen hoặc chê nhau: Anh này rất tâm lí, chị kia không tâm lí chút nào, những lời khen

chê đó muốn nói lên thái độ hoặc cách ứng xử hoặc xử lý công việc nào đó của con người Nhưng

thực ra, tâm lí không chỉ có bấy nhiêu hiện tượng mà tâm lí của con người rất đa dạng và phong

phú Nó luôn luôn gắn liền với hoạt động của con người và trong bất cứ một hoạt động nào của

con người đều nảy sinh hiện tượng tâm lí Ví dụ: Một học sinh vui mừng khi được điểm cao, một

cô gái thẹn thùng khi có một chàng trai khen mình đẹp, một bạn trai nhớ về người yêu của mình,

một người suy nghĩ về tương lai của mình

Tất cả những hiện tượng nêu trên (vui mừng, thẹn thùng, nhớ, suy nghĩ) đều là hiện tượng

tâm lí Các hiện tượng tâm lí có đặc điểm chung là:

- Các hiện tượng tâm lí quan hệ với nhau rất chặt chẽ, ảnh hưởng lẫn nhau;

- Hiện tượng tâm lí rất quen thuộc, gắn bó gần gũi với con người;

- Các hiện tượng tâm lí có một sức mạnh vô cùng to lớn trong đời sống con người;

- Hiện tượng tâm lí rất đa dạng và phong phú;

- Hiện tượng tâm lí là hiện tượng tinh thần, tồn tại trong đầu óc con người, chúng ta không

thể định lượng được chúng

Như vậy, theo nghĩa chung nhất, tâm lí bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần nảy sinh

trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động của con người

1.1.2 Tâm lí học là gì ?

Tâm lí học là một khoa học nghiên cứu các hiện tượng tâm lí, phát hiện ra các sự kiện khoa

học tâm lí Đối tượng của tâm lí học là các hiện tượng tâm lí, với tư cách là một hiện tượng tinh

thần do thế giới khách quan tác động vào não người sinh ra Tâm lí học nghiên cứu sự hình thành,

vận hành và phát triển của hoạt động tâm lí

1.2 NHỮNG TRƯỜNG PHÁI TÂM LÍ HỌC ĐẦU THẾ KỶ XX

1.2.1 Tâm lí học hành vi

Tâm lí học hành vi ra đời năm 1913 ở Mỹ do J.Watson (1878-1958) sáng lập J.Watson

cho rằng tâm lí học không mô tả, giảng giải các trạng thái ý thức mà chỉ nghiên cứu hành vi của

cơ thể Ở con người cũng như ở động vật, hành vi được hiểu là tổng số các cử động bề ngoài

được nảy sinh để đáp lại một kích thích nào đó, theo công thức: Kích thích - phản ứng (S – R)

(Stimulus – Reaction)

Trang 3

Với công thức trên, J.Watson đã nêu lên một quan điểm tiến bộ trong tâm lí học: Coi hành

vi là do ngoại cảnh quyết định, hành vi có thể quan sát được, nghiên cứu được, từ đó có thể điều

khiển hành vi theo phương pháp “thử – sai” Nhưng chủ nghĩa hành vi đã quan niệm một cách cơ

học, máy móc về hành vi, đánh đồng hành vi của con người với hành vi của con vật, hành vi chỉ

còn là những phản ứng máy móc nhằm đáp lại kích thích, giúp cơ thể thích nghi với môi trường

xung quanh Như vậy, họ đã làm mất tính chủ thể, tính xã hội trong tâm lí của con người

1.2.2 Tâm lí học gestalt (Tâm lí học cấu trúc)

Tâm lí học gestalt do bộ ba M.Wertheimer (1880-1943), V.Kler (1887-1967) và K.Koffka

(1886-1947) sáng lập ra ở Đức Đây là một trong những dòng tâm lí học duy tâm khách quan

chuyên nghiên cứu về tri giác và ít nhiều có nghiên cứu về tư duy Trường phái này đã đưa ra một

số qui luật:

- Hình ảnh của tri giác có tính chất không đổi

- Qui luật hình và nền trong tri giác

- Qui luật bổ sung của tri giác

- Qui luật bừng hiểu trong tư duy

Các nhà tâm lý học gestalt ít chú ý tới vai trò của vốn kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã

hội - lịch sử

1.2.3 Tâm lí học phân tâm

Tâm lí học phân tâm do S.Freud (1856-1939) bác sĩ tâm thần người Áo xây dựng nên

S.Freud tách con người thành ba khối: cái ấy (cái vô thức), cái tôi và cái siêu tôi

Cái ấy bao gồm các bản năng vô thức: ăn uống, tình dục, tự vệ, trong đó bản năng tình dục

giữ vai trò trung tâm, quyết định toàn bộ đời sống tâm lí và hành vi của con người

Cái tôi - con người thường ngày, con người có ý thức, tồn tại theo nguyên tắc hiện thực

Cái tôi theo S.Freud là cái tôi giả hiệu, cái tôi bề ngoài của cái nhân lõi bên trong là “cái ấy”

S.Freud cho rằng: Cái tôi thực là cái tôi vô thức, cái tôi ý thức là cái tôi bề ngoài, cái tôi lừa dối

Cái siêu tôi là cái siêu phàm, “cái tôi lí tưởng” không bao giờ vươn tới được và tồn tại theo

nguyên tắc kiểm duyệt, chèn ép

Và do đó, theo S.Freud, trong mỗi chúng ta đều tồn tại ba con người: Con người vô thức

tồn tại theo nguyên tắc bản năng, con người ý thức tồn tại theo nguyên tắc hiện thực, con người

siêu tôi tồn tại theo nguyên tắc chèn ép, kiểm duyệt của xã hội

Tóm lại: Ba trường phái tâm lí học nói trên ra đời cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX góp phần

đấu tranh với trường phái chủ quan trong tâm lý học, đưa tâm lí học theo trường phái khách quan,

nhưng có những hạn chế nhất định

1.2.4 Tâm lí học nhân văn

Dòng tâm lí học này do C.Rogers (1902 – 1987) và A.Maslow (1808 – 1970) sáng lập Họ

quan niệm rằng: Bản chất con người vốn tốt đẹp, con người có lòng vị tha, có tiềm năng kì diệu

A Maslow đã nêu năm mức độ nhu cầu cơ bản của con người xếp theo thứ tự từ thấp

đến cao:

Trang 4

- Nhu cầu sinh lí cơ bản (những nhu cầu về thân thể)

- Nhu cầu an toàn

- Nhu cầu về quan hệ xã hội (tình yêu thương và thân thiết)

- Nhu cầu được kính nể và ngưỡng mộ (lòng tự trọng)

- Nhu cầu phát huy bản ngã, thành đạt (sự phát triển nhân cách)

C.Rogers cho rằng con người ta cần phải đối xử với nhau một cách tế nhị, cới mở, biết lắng

nghe và chờ đợi, cảm thông với nhau Tâm lí học cần phải giúp con người tìm được bản ngã đích

thực của mình, để có thể sống một cách thoải mái, cởi mở, hồn nhiên và sáng tạo Tuy nhiên, tâm

lí học nhân văn vẫn đề cao những điều cảm nghiệm, thể nghiệm chủ quan của bản thân mỗi

người, tách con người khỏi những mối quan hệ xã hội, chú ý tới mặt nhân văn trừu tượng trong

con người vì thế thiếu vắng con người trong thực tiễn

1.2.5 Tâm lí học nhận thức

Đại biểu nổi tiếng của tâm lí học nhận thức là G.Piaget (1896 – 1980), người Thụy sĩ Tâm

lí học nhận thức coi hoạt động nhận thức là đối tượng nghiên cứu của mình Đặc điểm nổi bật của

tâm lí học nhận thức là nghiên cứu tâm lí con người, nhận thức của con người trong mối quan hệ

với môi trường, với cơ thể và với não bộ Vì thế họ đã phát hiện ra nhiều sự kiện khoa học có giá

trị trong các vấn đề tri giác, trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ; đồng thời họ cũng xây dựng được nhiều

phương pháp nghiên cứu cụ thể đóng góp cho tâm lí học trong những năm 50 – 60 của thế kỉ XX

Tuy nhiên, tâm lí học nhận thức cũng có những hạn chế nhất định: Họ coi nhận thức của con

người như là sự nỗ lực ý chí để đưa đến sự thay đổi kinh nghiệm, vốn tri thức của chủ thể, nhằm

thích nghi, cân bằng với thế giới; họ chưa thấy hết ý nghĩa tích cực, ý nghĩa thực tiễn của hoạt

động nhận thức

Các trường phái tâm lí học nói trên đều có những đóng góp nhất định cho sự hình thành và

phát triển của khoa học tâm lí Song do những hạn chế lịch sử, họ vẫn chưa có quan niềm đầy đủ

và đúng đắn về con người, về hoạt động tâm lí của con người Sự ra đời của tâm lí học mác xít

(tâm lí học hoạt động) đã góp phần khắc phục những hạn chế trên và đưa tâm lý học lên đỉnh cao

của sự phát triển

1.2.6 Tâm lí học hoạt động

Trường phái tâm lí học này do các nhà tâm lí học Xô viết sáng lập, như L.X Vygotxky

(1896 – 1934), X.L Rubinstein (1902 – 1960), A.N Leontiev (1903 – 1979), A.R Luria (1902 –

1977) Dòng tâm lí học này lấy triết học Mác – Lênin làm cơ sở lí luận và phương pháp luận

và coi tâm lí là sự phản ánh thế giới khách quan vào não, thông qua hoạt động Tâm lí người

có tính chủ thể, có bản chất xã hội, tâm lí người được hình thành và phát triển, thể hiện trong

hoạt động và trong các mối quan hệ giao lưu của con người trong xã hội (Các quan điểm này

sẽ được nghiên cứu sau)

1.3 NHIỆM VỤ, VỊ TRÍ, Ý NGHĨA, CẤU TRÚC CỦA TÂM LÍ HỌC

1.3.1 Tâm lý học có các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Nghiên cứu bản chất của hoạt động tâm lí cả về mặt số lượng và chất lượng;

Trang 5

- Phát hiện các quy luật hình thành và phát triển tâm lí;

- Tìm ra cơ chế của các hiện tượng tâm lí;

- Nghiên cứu các quy luật về mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lí

Cụ thể, tâm lí học phải làm rõ:

- Những yếu tố khách quan, chủ quan nào đã tạo ra tâm lí con người;

- Cơ chế hình thành, biểu hiện của hoạt động tâm lí;

- Chức năng, vai trò của tâm lí đối với hoạt động của con người;

Trên cơ sở các thành tựu nghiên cứu, tâm lí học đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc

hình thành, phát triển tâm lí, sử dụng tâm lí trong nhân tố con người có hiệu quả nhất

1.3.2 Vị trí, ý nghĩa của tâm lí học

a Vị trí của tâm lí học

- Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau Trong các khoa

học nghiên cứu về con người thì tâm lí học chiếm một vị trí đặc biệt

Tâm lí học có quan hệ với nhiều ngành khoa học Tâm lí học nằm ở vị trí trung tâm của

khoa học tự nhiên, xã hội và triết học (1):

Triết học TLH

Khoa học tự nhiên Khoa học xã hội

- Triết học cung cấp cơ sở lí luận và phương pháp luận chỉ đạo cho tâm lí học những

nguyên tắc và phương hướng chung giải quyết những vấn đề cụ thể của mình

- Tâm lí học có quan hệ chặt chẽ với khoa học tự nhiên: giải phẫu sinh lí người, hoạt động

thần kinh cấp cao,…

- Tâm lí học gắn bó hữu cơ với các khoa học xã hội và nhân văn

- Tuy nhiên những thành tựu của tâm lý học được ứng dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xã

hội, pháp luật, y học,…đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục Tâm lí học là cơ sở khoa học của giáo

dục Trên cơ sở những thành tựu của tâm lí học mà giáo dục học cần vận dụng vào việc xây dựng

nội dung, phương pháp dạy học và giáo dục,…

b Ý nghĩa của tâm lí học

- Tâm lí học có ý nghĩa rất cơ bản về mặt lí luận, góp phần vào việc đấu tranh chống lại các

quan điểm phản khoa học về tâm lí con người

(1)Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên) 2003 Tâm lí học đại cương Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm

Trang 6

- Tâm lí học trực tiếp phục vụ cho sự nghiệp giáo dục

- Tâm lí học giúp ta giải thích một cách khoa học những hiện tượng tâm lí xảy ra trong bản

thân mình, ở người khác, trong cộng đồng; tâm lí học là cơ sở của việc rèn luyện, tự hoàn thiện

nhân cách và xây dựng tốt mối quan hệ giao lưu,…

1.3.3 Cấu trúc của tâm lí học

Ngoài bộ môn tâm lí học đại cương, tâm lí học còn có nhiều tâm lí học chuyên ngành

* Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động cụ thể, người ta có thể chia tâm lí học thành các ngành

tâm lí học sau:

- Tâm lí học lao động có những phân ngành như: Giám định lao động, tổ chức lao động một

cách khoa học, tâm lí học kỹ sư;

- Tâm lí học sư phạm có những phân ngành: Tâm lí học dạy học và giáo dục, khoa học chẩn

đoán tâm lí, giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp, tâm lí học người thầy giáo;

- Tâm lí học y tế: Tâm lí học thần kinh, bệnh lý, tâm lí dược liệu học, vệ sinh học tâm thần,

tâm thần bệnh học;

- Tâm lí học pháp lý có những phân ngành như: Điều tra, hỏi cung, toà án, hình pháp, pháp

quyền, cải tạo lao động, cán bộ tư pháp;

- Tâm lí học thương nghiệp, tâm lí người bán hàng;

- Tâm lí học quảng cáo;

- Tâm lí học thể thao;

- Tâm lí học quân sự;

* Căn cứ vào sự phát triển tâm lí để phân loại, ta có:

- Tâm lí học lứa tuổi có những phân ngành: Tâm lý trẻ sơ sinh, trẻ ấu nhi, trẻ mẫu giáo,

tuổi nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, trung niên, tuổi già và lão tuổi;

- Tâm lí học đặc biệt nghiên cứu tâm lí về trẻ mù, câm, điếc và trẻ chậm phát triển

* Căn cứ vào sự quan hệ của con người đối với xã hội người ta chia thành các ngành tâm lý

học sau đây:

- Tâm lí học xã hội gồm có các phân ngành: Dân tộc, tôn giáo, giới tính, nghề nghiệp;

- Tâm lí học quản lý; tâm lí học tuyên truyền cổ động;

- Tâm lí học cá nhân

2 BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG, PHÂN LOẠI CÁC HIỆN TƯỢNG TÂM LÍ

2.1 BẢN CHẤT CỦA TÂM LÍ NGƯỜI

2.1.1 Tâm lí người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông

qua chủ thể

Trang 7

- Tâm lí người không phải do Thượng đế sinh ra, cũng không phải do não tiết ra như gan

tiết ra mật, tâm lí người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua “lăng kính

chủ quan”

- Thế giới khách quan tồn tại bằng các thuộc tính không gian, thời gian và luôn luôn vận

động Phản ánh là thuộc tính chung của mọi sự vật, hiện tượng đang vận động

Phản ánh là sự ghi lại, giữ lại những dấu vết của hệ thống vật chất này vào hệ thống vật

chất khác trong quá trình tác động qua lại V.I.Lênin đã chỉ ra rằng: Phản ánh là thuộc tính chung

của vật chất

Trong tâm lí học, người ta chia làm 3 loại phản ánh:

Phản ánh vật lí là phản ánh của những vật vô sinh

Phản ánh sinh lí là phản ánh của thực vật và động vật chưa có hệ thần kinh

Phản ánh tâm lí là phản ánh của những động vật có hệ thần kinh phát triển

- Phản ánh tâm lí là một loại phản ánh đặc biệt Vì:

Khi có hiện thực khách quan (tất cả những cái tồn tại ngoài ý muốn con người) tác

động vào con người, vào hệ thần kinh, vào não người sẽ tạo nên những hình ảnh tâm lí về chúng

Phản ánh tâm lí tạo ra “hình ảnh tâm lí” về thế giới

Chẳng hạn nhìn bức tranh xong, nhắm mắt lại ta có thể hình dung lại màu sắc, cảnh vật

vẽ trên bức tranh Nghe xong một bài hát, trong đầu ta vẫn còn văng vẳng lời ca, nhạc điệu

của bài hát

Như vậy, khi sự vật, hiện tượng tác động vào mắt, tai, mũi (giác quan), tạo ra trong não

những hình ảnh tâm lí của chúng

Ngược lại, nếu không có hiện thực khách quan tác động vào giác quan ta sẽ không có hình

ảnh tâm lý về chúng Người mù bẩm sinh không có biểu tượng về màu sắc, người điếc bẩm sinh

không có biểu tượng về âm thanh

- Hình ảnh tâm lí mang tính sinh động, sáng tạo và mang tính chất chủ thể sâu sắc

Mỗi chủ thể trong khi tạo ra hình ảnh tâm lí về thế giới đã đưa vốn hiểu biết, vốn kinh

nghiệm, cái riêng của mình vào trong hình ảnh đó, làm cho nó mang đậm màu sắc chủ quan

Tính chủ thể trong phản ánh tâm lí thể hiện ở chỗ:

Cùng nhận sự tác động của thế giới về cùng một hiện thực khách quan nhưng ở

những chủ thể khác nhau cho ta những hình ảnh tâm lí với mức độ sắc thái khác nhau

Cũng có khi cùng một hiện thực khách quan tác động vào một chủ thể duy nhất

nhưng vào những thời điểm khác nhau, ở những hoàn cảnh khác nhau, với trạng thái cơ thể, trạng

thái tinh thần khác nhau sẽ cho ta những hình ảnh tâm lí khác nhau

Chính chủ thể mang hình ảnh tâm lí là người thể nghiệm, cảm nhận rõ nhất

Sở dĩ mỗi người khác nhau có sự phản ánh khác nhau, vì:

Một là, mỗi người khác nhau có những đặc điểm riêng về cơ thể, về giác quan, hệ thần kinh

và não bộ khác nhau

Trang 8

Hai là, mỗi người có hoàn cảnh sống sống khác nhau, có điều kiện giáo dục khác nhau, có

vốn kinh mghiệm khác nhau, có hứng thú và sở thích khác nhau Đã là con người phải có cái

riêng, không thể có con người chung chung siêu hình

2.1.2 Bản chất xã hội – lịch sử của tâm lý người

- Tâm lí người là sự phản ánh hiện thực khách quan, là chức năng của não, là kinh nghiệm

xã hội – lịch sử biến thành cái riêng của con người

- Bản chất xã hội – lịch sử của tâm lí người thể hiện ở chỗ:

Tâm lí người có nguồn gốc là hiện thực khách quan (tự nhiên và xã hội), trong đó nguồn

gốc xã hội là cái quyết định (các quan hệ kinh tế - xã hội, các quan hệ đạo đức, pháp quyền,…)

Tâm lí người được nảy sinh từ xã hội loài người Nghĩa là chỉ trong xã hội loài người, con

người mới có tâm lí người, nếu con người bị tách khỏi xã hội loài người thì con người sẽ không

có hiện tượng tâm lí người

“Năm 1920 ở Ấn Độ, tiến sĩ Xinhgơ đã tìm thấy hai cô bé sống trong hang sói với bầy sói

con Nhìn nét mặt thì một cô chừng bảy, tám tuổi, cô kia khoảng hai tuổi Cô nhỏ được ít lâu thì

chết Còn cô lớn được đặt tên là Kamala và cô ta sống thêm được mười năm nữa Suốt trong thời

gian ấy, Xinhgơ đã ghi nhật ký quan sát tỉ mỉ về cô bé đó Kamala đi bằng tứ chi, dựa vào tay và

đầu gối, còn lúc chạy thì dựa vào bàn tay và bàn chân Cô bé không uống nước mà liếm và thịt thì

không cầm lên tay mà ăn ngay dưới sàn nhà Trong khi ăn, hễ thấy người đến gần, cô bé gầm gừ

dữ tợn Ban đêm cô bé sủa rống lên

Cô bé nhìn rất rõ trong bóng tối và sợ ánh sáng mạnh, sợ lửa và nước Cô không cho ai tắm

cho mình Ban ngày cô ta ngủ ngồi xổm ở xó nhà, mặt quay vào tường Cô ta xé hết quần áo trên

mình và bỏ những tấm chăn đắp trong những ngày giá lạnh

Sau hai năm, Kamala đã tập đứng bằng hai chân, nhưng vẫn còn khó khăn lắm Sau sáu

năm thì đã đi được, nhưng lúc chạy vẫn dùng tứ chi như cũ Suốt trong thời gian bốn năm, cô bé

chỉ học thuộc được sáu từ, sau bảy năm cô học được bốn mươi lăm từ Đến thời kỳ này, cô bé

thấy yêu xã hội con người, bắt đầu thấy sợ bóng tối và bắt đầu ăn bằng tay, uống bằng cốc Đến

năm mười bảy tuổi, sự phát triển trí tuệ của Kamala chỉ bằng đứa trẻ khoảng mười bốn tuổi” (1)

Tâm lí người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp của con người trong các mối quan hệ

xã hội

Tâm lí người là kết quả của quá trình lĩnh hội, tiếp thu nền văn hóa xã hội thông qua hoạt

động và giao tiếp, trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo, hoạt động của con người và mối quan hệ

giao tiếp của con người giữ vai trò có tính chất quyết định

(1)T.S Nguyễn Kim Quý-T.S Nguyễn Xuân Thức 2003 Tình huống tâm lí học Nxb Lao động

Trang 9

Tâm lí con người hình thành và phát triển, biến đổi cùng với sự biến đổi và phát triển của

lịch sử cá nhân, dân tộc và cộng đồng

Tâm lí của con người được hình thành và phát triển trong điều kiện lịch sử nhất định thông

qua hoạt động tích cực của con người

Tâm lí người phản ánh các mối quan hệ xã hội mà nó là thành viên Theo V.I.Lênin: Cùng

với dòng sữa mẹ, đứa trẻ đã tiếp thu tâm lí, đạo đức của giai cấp mà nó là thành viên Điều đó thể

hiện: Tâm lí người mang tính chất giai cấp, tính dân tộc, tính địa phương

Tâm lí người luôn luôn thay đổi cùng với sự biến đổi và phát triển của xã hội loài người

* Ứng dụng sư phạm:

- Giúp cho học sinh tiếp xúc với môi trường rộng lớn của xã hội, gắn hoạt động của nhà

trường với thực tiễn cuộc sống Mác-Ăng ghen cho rằng: Sự phong phú về mặt tâm hồn của con

người hoàn toàn phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người đó với thế giới xung quanh

- Khi đánh giá con người cần theo quan điểm phát triển và hoàn cảnh xã hội mà con

người sống

2.2 CHỨC NĂNG CỦA TÂM LÍ

- Tâm lí có chức năng chung là giúp con người định hướng hoạt động (xác định mục đích,

động cơ của hoạt động)

- Tâm lí là động lực thúc đẩy, lôi cuốn con người hành động, khắc phục khó khăn trở ngại

để đạt mục đích đã đề ra (sự say mê, tình yêu, lòng căm thù, sự đố kỵ, danh dự đều là động lực

thúc đẩy sự hoạt động của con người)

- Tâm lí điều khiển, điều chỉnh, kiểm soát quá trình hoạt động của con người

2.3 PHÂN LOẠI HIỆN TƯỢNG TÂM LÍ

Hiện tượng tâm lí đa dạng và phong phú

Có nhiều cách phân loại Ở đây chỉ đưa ra một cách phân loại khá phổ biến:

Theo thời gian tồn tại và vị trí tương đối của hiện tượng tâm lí trong nhân cách người ta

chia làm ba loại:

- Quá trình tâm lí là những hiện tượng tâm lý diễn ra có nảy sinh, diễn biến và kết thúc cụ

thể rõ ràng, thời gian tồn tại tương đối ngắn, sự tồn tại phụ thuộc vào kích thích gây ra nó

Quá trình tâm lí bao gồm:

Các quá trình nhận thức: Cảm giác, tri giác,

Các quá trình cảm xúc biểu hiện sự vui mừng hay tức giận,…

Quá trình hành động ý chí

- Trạng thái tâm lí là những hiện tượng tâm lí diễn ra trong thời gian tương đối dài, việc mở

đầu, kết thúc không rõ ràng và luôn luôn đi kèm các quá trình tâm lí và đóng vai trò như là cái

phông, cái nền cho quá trình tâm lí ấy

Trang 10

Ví dụ: Chú ý, tâm trạng

- Thuộc tính tâm lí là những hiện tượng tâm lí tương đối ổn định và bền vững đặc trưng cho

mỗi người

Ví dụ : Tình yêu, lý tưởng,…

Có thể biểu hiện mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lí bằng sơ đồ sau:

Hiện tượng tâm lí

Các quá trình tâm lí Các trạng thái tâm lí Các thuộc tính tâm lí

3 CÁC NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA TÂM LÍ HỌC

3.1 CÁC NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO VIỆC NGHIÊN CỨU TÂM LÍ HỌC

3.1.1 Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng

Nguyên tắc này khẳng định tâm lí có nguồn gốc là thế giới khách quan tác động vào bộ não

con người thông qua “lăng kính chủ quan” của con người Tâm lí định hướng, điều khiển, điều

chỉnh hoạt động, hành vi của con người tác động trở lại thế giới, trong đó cái quyết định xã hội là

quan trọng nhất Dó đó khi nghiên cứu tâm lí con người cần thấm nhuần nguyên tắc này

3.1.2 Nguyên tắc thống nhất tâm lí, ý thức, nhân cách với hoạt động

Hoạt động là phương thức hình thành, phát triển và thể hiện tâm lí, ý thức, nhân cách Đồng

thời tâm lí, ý thức, nhân cách là cái điều hành hoạt động Vì thế chúng thống nhất với nhau

Nguyên tắc này cũng khẳng định tâm lí luôn luôn vận động và phát triển Do vậy, cần nghiên cứu

tâm lí trong sự vận động của nó, nghiên cứu tâm lí qua sự diễn biến, qua sản phẩm hoạt động

3.1.3 Phải nghiên cứu các hiện tượng tâm lí trong mối liên hệ giữa chúng với

nhau và trong mối liên hệ giữa chúng với các hiện tượng khác

3.1.4 Phải nghiên cứu tâm lí của một con người cụ thể, của một nhóm người cụ

thể, không nghiên cứu tâm lí một cách chung chung, trừu tượng

3.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÂM LÍ

Để tiến hành nghiên cứu tâm lí có hiệu quả, thông thường người ta thường sử dụng 4 nhóm

phương pháp sau:

Trang 11

3.2.1 Phương pháp tổ chức việc nghiên cứu

Tổ chức việc nghiên cứu tâm lí bao gồm nhiều khâu có quan hệ chặt chẽ với nhau, từ việc

chọn đối tượng nghiên cứu đảm bảo tính khách quan, có ý nghĩa khoa học và tính cấp thiết phải

giải quyết cho đến việc xác định mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng giả thuyết khoa học,

lựa chọn các phương pháp nghiên cứu phù hợp, xây dựng kế hoạch nghiên cứu, tổ chức lực lượng

nghiên cứu,…

3.2.2 Các phương pháp thu thập số liệu

a Phương pháp quan sát

* Quan sát là là tri giác có chủ định, nhằm xác định các đặc điểm của các đối tượng nghiên

cứu qua những biểu hiện như hành vi, cử chỉ, cách nói năng,

* Có nhiều loại quan sát:

- Quan sát khía cạnh là loại quan sát từng mặt riêng lẻ của đối tượng nghiên cứu Ví dụ:

Quan sát mức độ tập trung chú ý trong giờ học của học sinh phổ thông trung học

- Quan sát toàn diện là sự theo dõi ghi nhận mọi hoạt động của đối tượng trong một thời

gian nhất định (người ta còn gọi là chụp ảnh thời gian hoạt động của đối tượng) Ví dụ: Chúng ta

quan sát thời gian biểu của giáo viên trong một ngày họ làm gì, đi đâu, để nghiên cứu thời gian

lao động nghề nghiệp chuyên môn của họ

- Quan sát tự nhiên là loại quan sát trong đó ta không bố trí sắp đặt gì trước, không có sự

tác động nào vào đối tượng nghiên cứu

- Quan sát có bố trí là loại quan sát có bố trí sắp xếp sẵn Chẳng hạn để đối tượng ở trong

phòng có để sẵn những đồ chơi như: Cờ tướng, bóng bàn, cờ vua, để quan sát xem họ thích trò

chơi nào

* Phương pháp quan sát có ưu điểm là thu thập được tài liệu cụ thể, thực tế sinh động,

khách quan trong các điều kiện tự nhiên nhưng lại có nhược điểm là mất thời gian, tốn nhiều

công sức,…

* Muốn quan sát có kết quả cần chú ý:

- Xác định mục đích, nội dung và kế hoạch quan sát

- Chuẩn bị chu đáo về mọi mặt

- Tiến hành quan sát một cách có hệ thống

- Ghi chép tài liệu một cách khách quan, trung thực

b Phương pháp thực nghiệm khoa học

* Thực nghiệm khoa học là phương pháp tác động vào đối tượng một cách chủ động trong

những điều kiện được khống chế, nhằm xác định mối quan hệ nhân quả giữa từng nhân tố tác

động với hiện tượng nghiên cứu

* Có hai loại thực nghiệm:

- Thực nghiệm tự nhiên là loại thực nghiệm được tiến hành trong điều kiện bình thường của

đối tượng, đối tượng không hề biết mình là đối tượng của thực nghiệm

Trang 12

- Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm: được tiến hành dưới điều kiện khống chế một cách

nghiêm khắc các ảnh hưởng bên ngoài, người làm thực nghiệm tự tạo ra những điều kiện để làm

nảy sinh hay phát triển một nội dung tâm lí cần nghiên cứu

Phương pháp thực nghiệm có ưu điểm là sát đối tượng, tài liệu thu thập được tương đối

chính xác và người nghiên cứu có thể chủ động, nhưng phương pháp này mất nhiều thời gian và

phải chuẩn bị công phu Vì vậy, chúng ta không nên sử dụng phương pháp này một cách tràn lan

mà nên kết hợp nó với những phương pháp khác

c Phương pháp đàm thoại (trò chuyện)

* Đàm thoại là phương pháp đặt ra những câu hỏi cho người đối thoại và dựa vào sự trả lời

của họ để thu thập thông tin về vấn đề nghiên cứu

* Có nhiều loại trò chuyện:

- Trò chuyện trực tiếp là hình thức trò chuyện với đối tượng để khai thác tài liệu của chính

đối tượng đó

- Trò chuyện gián tiếp là hình thức trò chuyện với những người khác để thông qua họ mà

khai thác tài liệu về đối tượng nghiên cứu

- Trò chuyện thẳng là hình thức trò chuyện thẳng vào một vấn đề nhằm mục đích tìm hiểu

chính vấn đề đó Ví dụ: Em có thích học môn tâm lí học không ?

- Trò chuyện đường vòng là hình thức trò chuyện về những vấn đề khác nhưng lại nhằm

mục đích thông qua đó mà khai thác tài liệu về những vấn đề mà mình cần nghiên cứu

* Khi tiến hành trò chuyện chúng ta phải xác định kỹ mục đích yêu cầu, nắm vững đặc

điểm tâm lí đối tượng và phải gây ra không khí chan hoà cởi mở

d Phương pháp điều tra

* Phương pháp điều tra là phương pháp sử dụng một số câu hỏi nhất định đặt ra cho một số

đông người nhằm thu thập ý kiến chủ quan của họ về một vấn đề nào đó (người được hỏi sẽ trả

lời bằng miệng hoặc ghi ra giấy)

* Có hai loại điều tra:

- Điều tra thăm dò: Phương pháp này thường sử dụng những câu hỏi tương đối “nông” với

phạm vi rộng, giúp ta thăm dò phát hiện vấn đề, giúp chúng ta có cái nhìn khái quát

Câu hỏi loại điều tra này là câu hỏi mở, người trả lời có thể tự do thoải mái, trả lời sơ lược

hoặc tỉ mỉ đều được Ví dụ, với đề tài "Điều tra hứng thú học tập của học sinh", chúng ta có thể

đặt những câu hỏi:

Trong các môn học, em thích môn học nào nhất ? Tại sao?

Em không thích môn học nào ? Tại sao?

Em có ước mơ sau này làm gì?

Em thích đọc loại sách nào?

- Điều tra đi sâu: Phương pháp này nhằm tập trung điều tra một cách tỷ mỉ trong

phạm vi hẹp

Trang 13

* Phương pháp điều tra giúp người nghiên cứu thu thập được lượng thông tin lớn của nhiều

người nhưng có tính chủ quan Vì vậy, khi tiến hành nghiên cứu theo phương pháp này chúng ta

cần lưu ý: Không yêu cầu đối tượng phải ghi tên, trước khi trả lời ta phải giải thích rõ câu hỏi và

trong đó phải có những câu hỏi thử

e Phương pháp trắc nghiệm

Trắc nghiệm là một phép thử để "đo lường" tâm lí mà trước đó đã được chuẩn hoá trên một

số lượng người đủ tiêu biểu

Trắc nghiệm trọn bộ thường bao gồm 4 phần: Văn bản trắc nghiệm, hướng dẫn qui trình

thử, hướng dẫn đánh giá và bản chuẩn hoá

g Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động

Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động là phương pháp dựa vào kết quả, sản phẩm vật

chất hay tinh thần của hoạt động do con người làm ra như các bài báo, bài làm, nhật ký, qua đó

chúng ta có thể biết được mức độ hiểu biết, cách suy nghĩ, năng lực, xúc cảm, sở thích, thậm

chí chúng ta còn có thể biết được cả tính nết, quan điểm của người đó (nghiên cứu chức năng tâm

lí của người đó)

h Phương pháp nghiên cứu tiểu sử cá nhân: Phân tích tiểu sử cuộc sống của cá nhân để

nhận ra các đặc điểm tâm lí cá nhân góp phần cho việc chẩn đoán tâm lí

3.2.3 Các phương pháp xử lí số liệu

Qua các phương pháp trên, chúng ta thu thập được nhiều số liệu, tài liệu cần phải xử lí để

tạo thành các tham số đặc trưng có thông tin cơ động

Trong quá trình nghiên cứu, thông thường người ta dùng các phương pháp xử lí số liệu theo

phương pháp toán thống kê

3.2.4 Phương pháp lí giải kết quả và rút ra kết luận

Trên cơ sở xử lí các số liệu thu được bằng các phương pháp toán thống kê, cần tiến hành

phân tích, lí giải và rút ra kết luận

Việc lí giải cần theo 2 khía cạnh: Định lượng và định tính

CÂU HỎI - BÀI TẬP

1 Sự khác biệt cơ bản giữa tâm lí và tâm lí học?

2 Hãy đặt năm câu trong đó có từ “tâm lí” và nói về hoạt động khác nhau của con người

3 Nghiên cứu tâm lí học có ý nghĩa gì?

4 Tâm lí người là gì? Ứng dụng sư phạm khi nghiên cứu tâm lí người ?

5 Phân tích ba chức năng của tâm lí

6 Hãy tìm trong đoạn văn sau đây, những từ hoặc cụm từ chỉ hiện tượng tâm lí: “Trong

buổi đầu cách mạng, ta có cái gan to, mật lớn chứ chưa hiểu biết nhiều về chiến tranh Rừng núi

mênh mông hiểm trở như vậy, nhưng các nhà máy quân giới của ta lại dựng lên trong các xóm

Trang 14

làng Lạc An, Tân Lịch, Mĩ Lộc, Tân Hòa nằm sát bờ sông, trên bến, dưới thuyền, máy chạy ầm

ầm, đèn điện nhấp nháy Vui thì có vui thật nhưng địch cũng phát hiện dễ dàng” (1)

7 Xác định các quá trình tâm lí, trạng thái tâm lí và thuộc tính tâm lí trong đoạn văn sau:

“Thế là đình lại chuyến đi huyện điểm Tôi gọi điện trước cho xưởng Họ báo là rất sẵn sàng Tôi

hăm hở đi liền và tôi đã à lên một tiếng ngạc nhiên Trước mắt tôi là Phước trong bộ quần áo vải

thô màu xanh dương, loại vải bảo hộ lao động nhưng may khéo và vừa vặn Mái tóc thủa nào

không con chấm mắt nữa mà chải ngược lên để phơi ra vầng trán cao rám nắng, dày dạn Đôi mắt

anh vẫn vui nhộn như xưa, nhưng đằng đuôi đã thấp thoáng hình rẻ quạt” (2)

8 Những hiện tượng nào dưới đây là hiện tượng tâm lí?

a Hồi hộp khi nghe thầy đọc kết quả thi tốt nghiệp

b Nghe và nghĩ về những điều thầy giảng

c Chăm chú và ghi chép bài đầy đủ

d Chăm chỉ, trung thực, không quay cóp

e Giải bài tập

(1), (2),T.S Nguyễn Kim Quý-T.S Nguyễn Xuân Thức 2003 Tình huống tâm lí học Nxb Lao động

Trang 15

Chương 2: CƠ SỞ TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CỦA TÂM LÍ

1 CƠ SỞ TỰ NHIÊN CỦA TÂM LÍ CON NGƯỜI

Khi tìm hiểu về cơ sở tự nhiên của tâm lí người, có nhiều vấn đề cần nghiên cứu, ở đây

chúng ta chỉ giới hạn ở một số quan hệ giữa di truyền, bộ não, phản xạ có điều kiện và hệ thống

tín hiệu thứ hai với tâm lí con người

1.1 DI TRUYỀN VÀ TÂM LÍ

Các đặc điểm giải phẫu sinh lí, di truyền và tư chất có liên quan đáng kể đến tâm lí của con

người Chúng có vai trò nhất định trong sự hình thành và phát triển tâm lí con người

1.1.1 Di truyền là mối liên hệ kế thừa của cơ thể sống, đảm bảo sự tái tạo ở thế hệ

sau những nét giống nhau về mặt sinh vật đối với thế hệ trước, đảm bảo năng lực đáp ứng những

đòi hỏi của hoàn cảnh theo một cơ chế đã định sẵn

1.1.2 Đặc điểm giải phẫu sinh lí của cá thể, bao gồm những yếu tố do di truyền tạo

nên và cả những yếu tố riêng do cá thể tự tạo ra trong đời sống cá thể

1.1.3 Tư chất là một tổ hợp bao gồm cả những đặc điểm giải phẫu lẫn những đặc

điểm chức năng tâm – sinh lí mà cá thể đã đạt được trong một giai đoạn phát triển nhất định dưới

ảnh hưởng của môi trường sống và hoạt động Đó là các đặc điểm của giác quan, của hệ thần kinh

và tạo nên tiền đề vật chất cho sự phát triển tâm lí con người

Xung quanh vấn đề di truyền có ảnh hưởng như thế nào đối với sự phát triển tâm lý cũng

có nhiều quan điểm khác nhau

- Quan điểm duy tâm tư sản cho rằng yếu tố bẩm sinh di truyền là yếu tố quyết định đến

sự phát triển tâm lí Theo họ, sự phát triển tâm lí hoàn toàn phụ thuộc vào nguyên nhân sinh vật

do di truyền quyết định

Một số nhà tâm lí học tư sản cho rằng những đặc điểm tâm lí là những cấu tạo bẩm sinh,

do tiềm năng sinh vật gây ra, mọi đặc điểm tâm lí đều do tiền định, đều có sẵn trong cấu trúc sinh

vật; sự phát triển là quá trình trưởng thành, chín muồi của các thuộc tính đã có sẵn trong gen và

được quyết định bằng con đường di truyền (Nhà di truyền học người Anh S.Auerbac,…) Từ đó

nảy sinh quan niệm: Khi sinh ra, người nào thông minh hay hư hỏng đều được định sẵn Cha

mẹ thông minh, con cũng thông minh Ngược lại cha mẹ kém thì con cũng kém

- Nhằm chống lại những quan điểm sai lầm trên, một số nhà tâm lí học mácxít (A.R Luria,

và một số nhà tâm lí học (Liên Xô cũ)) đã làm thí nghiệm trên trẻ sinh đôi cùng trứng và đã chỉ

ra: Với cơ sở bẩm sinh giống nhau, tùy thuộc vào phương pháp giảng dạy, các trẻ sinh đôi cùng

trứng thu được những kết quả khác nhau trong một số hoạt động khác nhau

Như vậy, di truyền chỉ là tiền đề vật chất cho sự phát triển tâm lí, không quyết định sự

phát triển tâm lí

Trong quá trình phát triển tâm lí, yếu tố bẩm sinh - di truyền không phải là yếu tố quyết

định Vì trong xã hội khác nhau, chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh khác nhau thì con người phản

ánh thế giới khác nhau

Trang 16

1.2 NÃO VÀ TÂM LÍ

Mối liên hệ giữa não và tâm lí là một trong những vấn đề cơ bản lí giải cơ sở tự nhiên, cơ

sở vật chất của hiện tượng tâm lí người

Mối liên hệ giữa não và tâm lí có nhiều quan điểm khác nhau:

1.2.1 Quan điểm tâm lí – vật lí song song: Coi các quá trình tâm lí và sinh lí song

song diễn ra trong não người, không phụ thuộc vào nhau, trong đó tâm lí được coi là hiện tượng

phụ (quan điểm nhị nguyên)

1.2.2 Quan điểm đồng nhất tâm lí với sinh lí: Tư tưởng do não tiết ra giống như

gan tiết ra mật (chủ nghĩa duy vật tầm thường)

1.2.3 Quan điểm duy vật: Coi tâm lí và sinh lí có quan hệ chặt chẽ với nhau, tâm lí

có cơ sở vật chất là hoạt động của não bộ, tâm lí không song song, không đồng nhất với não bộ,

với sinh lí

L.Feurbach (1804 – 1872) nhà triết học duy vật trước C Marx (1818 – 1883) đã khẳng

định: Tinh thần, ý thức không thể tách rời ra khỏi não người, nó là sản phẩm của vật chất đã được

phát triển tới mức cao nhất là bộ não

Các nhà tâm lý học khoa học đã chỉ ra: Tâm lí là chức năng của não, nếu không có não thì

không có hiện tượng tâm lí, không có một thứ tâm lí nào nằm ngoài não, nhưng não không phải

là tâm lí, không phải cứ có não là có tâm lí

Tâm lí là chức năng của não được hiểu như sau: Bộ não nhận tác động của thế giới khách

quan dưới dạng xung động thần kinh cùng những biến đổi lí hóa ở từng nơron, từng xináp, ở các

trung khu thần kinh làm cho não hoạt động theo quy luật thần kinh tạo nên hiện tượng tâm lí này

hay hiện tượng tâm lí kia theo cơ chế phản xạ

Như vậy, tâm lí là kết quả của hệ thống chức năng những hoạt động phản xạ của não

1.3 PHẢN XẠ CÓ ĐIỀU KIỆN VÀ TÂM LÍ

- Toàn bộ hoạt động của não là hoạt động phản xạ

- I.M Xetrenov – nhà sinh lí học người Nga đã mở rộng nguyên tắc phản xạ đến toàn bộ

hoạt động của não Theo I.M.Xetrenov: Tất cả các hiện tượng tâm lí, kể cả có ý thức lẫn vô thức,

về nguồn gốc đều là phản xạ Ông cho rằng phản xạ có ba khâu chủ yếu:

Khâu bắt đầu (dẫn vào) là quá trình nhận những kích thích bên ngoài biến thành hưng

phấn và dẫn truyền hưng phấn vào trung ương thần kinh

Khâu giữa (khâu trung tâm) là quá trình thần kinh trên não và tạo ra hoạt động tâm lí

Khâu kết thúc (dẫn ra) dẫn truyền thần kinh từ trung ương thần kinh theo đường li tâm gây

nên phản ứng của cơ thể

- I.P Pavlov kế tục sự nghiệp của I.M Xetrenov Qua nhiều năm thực nghiệm ông đã sáng

lập ra học thuyết phản xạ có điều kiện – cơ sở sinh lí của hiện tượng tâm lí

Trang 17

Phản xạ có điều kiện có đặc điểm:

Phản xạ có điều kiện là phản xạ tự tạo trong đời sống cá thể để thích ứng với môi trường

luôn luôn thay đổi

Cơ sở giải phẫu sinh lí của phản xạ có điều kiện là vỏ não và hoạt động bình thường của

vỏ não

Quá trình diễn biến của phản xạ có điều kiện là quá trình thành lập đường liên hệ thần

kinh tạm thời giữa trung khu nhận kích thích có điều kiện và đại diện của trung khu trực tiếp thực

hiện phản xạ không điều kiện

Phản xạ có điều kiện thành lập với kích thích bất kì

Phản xạ có điều kiện báo hiệu gián tiếp kích thích không điều kiện sẽ tác động vào cơ thể

Tất cả các hiện tượng tâm lí đều có cơ sở sinh lí là phản xạ có điều kiện

1.4 HỆ THỐNG TÍN HIỆU THỨ HAI VÀ TÂM LÍ

Ở động vật chỉ có tín hiệu thứ nhất, bao gồm những tín hiệu do các sự vật, hiện tượng

khách quan và các thuộc tính của chúng gây ra Hệ thống tín hiệu này là cơ sở sinh lí của hoạt

động cảm tính, trực quan, tư duy cụ thể và các xúc cảm cơ thể ở động vật và người

Hệ thống tín hiệu thứ hai chỉ có ở người Đó là các tín hiệu ngôn ngữ Hệ thống tín hiệu thứ

hai là cơ sở sinh lí của tư duy ngôn ngữ, ý thức, tình cảm và các chức năng tâm lý cao cấp của

con người

Hai hệ thống này có quan hệ chặt chẽ với nhau Hệ thống tín hiệu thứ nhất là cơ sở của

hệ thống tín hiệu thứ hai và hệ thống tín hiệu thứ hai có tác động ngược trở lại hệ thống tín

hiệu thứ nhất

Trên đây là một số vấn đề cơ bản xung quanh cơ sở tự nhiên của tâm lí con người Con

người cũng như tâm lí con người có bản chất xã hội, lịch sử Tâm lí người có cơ sở xã hội

1.5 QUY LUẬT HOẠT ĐỘNG THẦN KINH CẤP CAO

Sự hình thành và biểu hiện tâm lí chịu sự chi phối chặt chẽ của các quy luật hoạt động thần

kinh cấp cao Sau đây là một số quy luật đó

1.5.1 Quy luật hoạt động theo hệ thống

Các kích thích tác động đến con người thường tạo thành một tổ hợp và con người cũng

phản ứng một cách tổ hợp các kích thích đó Hoạt động tổng hợp của vỏ não cho phép hợp nhất

những kích thích riêng lẻ thành một hệ thống Đó là quy luật hoạt động theo hệ thống của vỏ não

Các hoạt động phản xạ có điều kiện kế tiếp nhau theo một thứ tự nhất định, tạo nên một hệ thống

định hình động lực của vỏ não, làm cho não khi có một phản xạ nào đó xảy ra thì kéo theo các

phản xạ khác cũng xảy ra Đây là cơ sở sinh lý thần kinh của xúc cảm, tình cảm, thói quen

Trang 18

1.5.2 Quy luật lan tỏa và tập trung

Hưng phấn và ức chế là hai quá trình cơ bản của hệ thần kinh Khi trên vỏ não có một điểm

hưng phấn hoặc ức chế nào đó, thì quá trình hưng phấn, ức chế đó không dừng lại ở điểm ấy, nó

sẽ lan tỏa ra xung quanh Sau đó, trong những điều kiện bình thường, chúng tập trung vào một

nơi nhất định Hai quá trình lan tỏa và tập trung xảy ra kế tiếp nhau trong một trung khu thần

kinh Nhờ đó mà hình thành một hệ thống chức năng các phản xạ có điều kiện – cơ sở sinh lý của

các hiện tượng tâm lí

1.5.3 Quy luật cảm ứng qua lại

Khi quá trình thần kinh cơ bản có ảnh hưởng qua lại với nhau, tạo nên quy luật cảm ứng

qua lại Có bốn dạng cảm ứng qua lại cơ bản:

- Cảm ứng qua lại đồng thời xảy ra giữa nhiều trung khu: hưng phấn ở điểm này gây ức chế

ở phần kia và ngược lại;

- Cảm ứng qua lại tiếp diễn: ở một điểm nào đó trên vỏ não vừa có hưng phấn, sau đó

chuyển sang ức chế ở chính điểm ấy;

- Cảm ứng dương tính là hiện tượng hưng phấn làm cho ức chế sâu hơn, hoặc nghược lại,

ức chế làm cho hưng phấn mạnh hơn;

- Cảm ứng âm tính là hiện tượng hưng phấn gây nên ức chế, hoặc ức chế làm giảm

hưng phấn

1.5.4 Quy luật phụ thuộc vào cường độ kích thích

Ở trạng thái bình thường của vỏ não, độ lớn của phản ứng tỉ lệ thuận với cường độ của kích

thích Ở người, sự phụ thuộc này có tính chất tương đối, vì phản ứng của con người không chỉ

phụ thuộc vào kích thích mà còn phụ thuộc vào chủ thể mỗi người

Các quy luật trên có quan hệ với nhau, cùng chi phối sự hình thành, diễn biến và biểu hiện

của hoạt động tâm lí của con người

2 CƠ SỞ XÃ HỘI CỦA TÂM LÍ CON NGƯỜI

Sự phát triển tâm lí con người không chỉ bị chi phối bởi các quy luật tự nhiên mà chủ yếu là

chịu sự quy định bởi những quy luật xã hội – lịch sử, trong đó có các mối quan hệ xã hội, các

phương thức hoạt động và giao tiếp của con người trong xã hội

2.1 QUAN HỆ XÃ HỘI, NỀN VĂN HÓA XÃ HỘI VÀ TÂM LÍ CON NGƯỜI

2.1.1 Thuyết tiến hóa thực chứng luận của G.Spenser (1820 – 1903) cho rằng: Con

người không chỉ tồn tại trong môi trường tự nhiện mà tồn tại trong môi trường xã hội, sau khi

chuyển lên người, các quy luật và các cơ chế thích nghi của động vật, kể cả cơ chế tự tạo kinh

nghiệm cá thể cũng không thay đổi E.R.Gertri (đại biểu của phái hành vi mới ở Mỹ) khẳng định

việc tự tạo kinh nghiệm cá thể của người và động vật là giống nhau; còn B.F Skinner (1904

– 1990) thì cho rằng cái khác là ở chỗ việc học tập ở người diễn ra trong phạm vi ngôn ngữ

Trang 19

2.1.2 Quan điểm xã hội học:

- E.Durkheim (1858 – 1917), người Pháp, coi xã hội tạo ra bản chất người, con người là

một tồn tại giao lưu chứ không phải là một tồn tại xã hội hành động,…

- J Piaget coi sự phát triển tâm lí là sản phẩm của sự phát triển các quan hệ của cá thể với

những người xung quanh, với xã hội,…

2.1.3 Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử khẳng định tâm lí người có

bản chất xã hội và mang tính lịch sử

- Chủ nghĩa Mác đã khẳng định các quan hệ xã hội tạo nên bản chất con người “Bản chất

con người không phải là cái gì trừu tượng, tồn tại đối với từng cá nhân riêng biệt, trong tính hiện

thực của nó, bản chất con người là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội”(1) Quan hệ xã hội, trước

hết là quan hệ sản xuất, quan hệ kinh tế, chế độ xã hội chính trị, quan hệ con người - con người,

quan hệ đạo đức, pháp quyền,…

- Hoạt động tâm lí của con người chịu sự tác động của quy luật xã hội, trong đó giáo dục

đóng vai trò chủ đạo và quan trọng nhất Chỉ có sống và hoạt động trong xã hội loài người, con

người mới thực hiện được chức năng phản ánh tâm lí

- Cơ chế chủ yếu của sự phát triển tâm lí con người là cơ chế lĩnh hội nền văn hóa xã hội

Quá trình lĩnh hội là quá trình tái tạo những thuộc tính, những năng lực của loài người thành

những thuộc tính, những năng lực của cá nhân

2.2 HOẠT ĐỘNG VÀ TÂM LÍ

Cuộc sống của con người là một chuỗi những hoạt động và giao lưu kế tiếp nhau, đan xen

vào nhau Con người muốn sống và tồn tại phải hoạt động Vậy hoạt động là gì? Hoạt động có vai

trò như thế nào đối với sự hình thành và phát triển tâm lí ?

2.2.1 Khái niệm chung về hoạt động

a Định nghĩa hoạt động

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hoạt động

- Theo sinh lí học: Hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và bắp thịt của con

người khi tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần

của con người

- Về phương diện triết học và tâm lí học, người ta quan niệm hoạt động là phương thức tồn

tại của con người trong thế giới

Hoạt động là phương thức tồn tại của con người bằng cách tác động vào đối tượng để tạo

ra sản phẩm tương ứng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân, nhóm và xã hội

Hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa mình với thế giới bên ngoài,

giữa mình với người khác và giữa mình với bản thân mình để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới,

cả về phía con người

(1)Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên) 2003 Tâm lí học đại cương Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm

Trang 20

Trong mối quan hệ đó có hai quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau và thống nhất

với nhau:

Quá trình thứ nhất là quá trình đối tượng hóa (khách thể hóa), trong đó chủ thể chuyển

năng lực của mình thành sản phẩm của hoạt động, hay nói khác đi tâm lí con người (chủ thể)

được bộc lộ trong quá trình làm ra sản phẩm

Quá trình đối tượng hóa còn gọi là quá trình xuất tâm

Quá trình thứ hai là quá trình chủ thể hóa, có nghĩa là khi hoạt động con người chuyển từ

phía khách thể vào bản thân mình những quy luật, bản chất của thế giới để tạo nên tâm lý, ý thức,

nhân cách của bản thân

Quá trình chủ thể hóa còn gọi là quá trình nhập tâm

Có thể nói rằng, trong hoạt động vừa thay đổi thế giới bên ngoài, vừa thay đổi bản thân;

con người vừa tạo ra sản phẩm lao động, vừa tạo ra nhân cách bản thân

b Đặc điểm của hoạt động

- Hoạt động bao giờ cũng là “hoạt động có đối tượng”: Đối tượng của hoạt động là cái con

người cần làm ra, cần chiếm lĩnh Đó là động cơ Động cơ luôn thúc đẩy con người hoạt động

nhằm tác động vào khách thể để thay đổi nó, biến thành sản phẩm, hoặc tiếp nhận nó, chuyển vào

đầu óc mình tạo nên cấu tạo tâm lí mới, năng lực mới,…

- Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể và do chủ thể thực hiện Chủ thể hoạt động có thể là

một hoặc nhiều người Ví dụ: Thầy giáo và học sinh là chủ thể của hoạt động dạy – học

- Hoạt động bao giờ cũng có mục đích: Mục đích của hoạt động là làm biến đổi thế giới

(khách thể) và biến đổi bản thân chủ thể Tính mục đích gắn liền với tính đối tượng

- Hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp Trong hoạt động con người “gián tiếp” tác

động đến khách thể qua hình ảnh tâm lí ở trong đầu, gián tiếp qua việc sử dụng công cụ lao động

và sử dụng phương tiện ngôn ngữ

2.2.2 Các loại hoạt động

Có nhiều cách phân loại hoạt động

a Xét về phương diện cá thể, ta thấy ở con người có bốn loại hoạt động: Vui chơi, học tập,

lao động và hoạt động xã hội

b Xét về phương diện sản phẩm, ta có hai loại hoạt động:

- Hoạt động thực tiễn: Hướng vào vật thể hay quan hệ tạo ra sản phẩm vật chất là chủ yếu

- Hoạt động lý luận: Diễn ra với hình ảnh, biểu tượng, khái niệm, quy luật,…tạo ra sản

phẩm tinh thần

c Còn có cách phân loại khác, chia hoạt động thành bốn loại:

- Hoạt động biến đổi

- Hoạt động nhận thức

- Hoạt động định hướng giá trị

Trang 21

- Hoạt động giao lưu

2.2.3 Cấu trúc của hoạt động

- Chủ nghĩa hành vi cho rằng hoạt động của con người có cấu trúc chung là: Kích thích -

phản ứng

b Trong tâm lí học, có lúc người ta chỉ xét cấu trúc hoạt động bao gồm các thành tố diễn ra

ở phía con người (chủ thể) thuộc các thành tố đơn vị thao tác của hoạt động và hoạt động có cấu

trúc như sau: Hoạt động – hành động – thao tác

2.3.3 Quan điểm của A.N.Leonchiev (1903 – 1979) về cấu trúc vĩ mô của hoạt động Ông

cho cho rằng cấu trúc vĩ mô của hoạt động có 6 thành tố và mối quan hệ giữa các thành tố này

Khi tiến hành hoạt động, về phía chủ thể bao gồm ba thành tố và mối quan hệ giữa ba thành

tố này : Hoạt động – hành động – thao tác Ba thành tố này thuộc vào các đơn vị thao tác (mặt kỹ

thuật) của hoạt động ; còn về phía khách thể bao gồm ba thành tố và mối quan hệ giữa chúng với

nhau, đó là : Động cơ – mục đích – phương tiện Ba thành tố này tạo nên “nội dung đối tượng của

hoạt động” (mặt tâm lí)

Cụ thể là:

Hoạt động hợp bởi các hành động Các hành động hợp bởi các thao tác Hoạt động luôn

luôn hướng vào động cơ, đó là mục đích chung (mục đích cuối cùng) của hoạt động và mục đích

chung này được cụ thể hóa bằng những mục đích cụ thể, mục đích bộ phận mà từng hành động

hướng vào Để đạt mục đích này con người phải sử dụng các phương tiện Tùy theo các phương

tiện và điều kiện mà con người thực hiện các thao tác để tiến hành động đạt mục đích Sự tác

động qua lại giữa chủ thể và khách thể, giữa đơn vị thao tác và nội dung đối tượng của hoạt động

tạo ra sản phẩm của hoạt động

Theo GS Nguyễn Quang Uẩn (1), cấu trúc chung của hoạt động như sau:

Dòng các hoạt động Chủ thể Khách thể

Trang 22

Tóm lại: Cuộc sống con người là dòng các hoạt động Dòng các hoạt động bao gồm các

hoạt động riêng rẽ theo các động cơ tương ứng Hoạt động được hợp bởi các hành động theo mục

đích nhất định Hành động do các thao tác hợp thành tùy theo các điều kiện cụ thể

2.2.4 Vai trò của hoạt động

Trong hoạt động, con người chuyển năng lực của mình thành sản phẩm của hoạt động và

con người làm bộc lộ những thuộc tính, những quan hệ của sự vật, hiện tượng để lĩnh hội biến

thành vốn tâm lí riêng của mình Như vậy, trong hoạt động con người vừa tạo ra sản phẩm, vừa

tạo ra tâm lí của mình

Hoạt động là điều kiện để nhận thức thế giới, cải tạo thế giới, cải tạo bản thân Trong quá

trình hoạt động con người khám phá ra những điều mới lạ, tìm ra được bản chất của sự vật, hiện

tượng, con người có thể thúc đẩy sự phát triển sự vật và hiện tượng theo qui luật của chúng

Trong quá trình thúc đẩy sự phát triển thế giới bên ngoài thì đồng thời cũng thúc đẩy sự phát triển

bản thân

2.3 GIAO TIẾP VÀ TÂM LÍ

2.3.1 Giao tiếp là gì ?

Trong cuộc sống và hoạt động của con người không thể thiếu mối quan hệ người – người

Chính mối quan hệ này đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người Mối quan hệ này

cũng là một nhu cầu xã hội rất cơ bản của con người Quan hệ người – người được thực hiện khi

con người cùng hoạt động, cùng tiếp xúc với nhau, cùng nhau trao đổi thông tin với nhau,…và

lúc đó con người thực hiện sự giao tiếp với nhau

Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lí giữa người – người, qua đó con người trao đổi về thông tin,

về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng qua lại với nhau

Như vậy, giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người – người, hiện thực hóa các quan

hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác

Mối quan hệ giao tiếp giữa con người với con người diễn ra với các hình thức khác nhau:

- Giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân;

- Giao tiếp giữa cá nhân với nhóm;

- Giao tiếp giữa nhóm với nhóm, nhóm với cộng đồng,…

2.3.2 Các loại giao tiếp

a Theo phương tiện giao tiếp, có ba loại giao tiếp sau:

- Giao tiếp vật chất: Giao tiếp thông qua hành động với vật thể

- Giao tiếp bằng tín hiệu phi ngôn ngữ như giao tiếp bằng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt,

nụ cười,…

- Giao tiếp bằng ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết): Đây là loại giao tiếp đặc trưng của

con người

Trang 23

b Theo khoảng cách, ta có hai loại giao tiếp cơ bản:

- Giao tiếp trực tiếp: Giao tiếp mặt đối mặt

- Giao tiếp gián tiếp: Giao tiếp qua thư từ, điện thoại, cầu truyền hình

c Theo quy cách, có hai loại:

- Giao tiếp chính thức: Giao tiếp nhằm thực hiện nhiệm vụ chung theo chức trách, quy định,

thể chế

- Giao tiếp không chính thức là giao tiếp giữa những người hiểu biết rõ về nhau, không câu

nệ vào thể thức, mà theo kiểu thân tình, nhằm mục đích chính là thông cảm, đồng cảm với nhau

Các loại giao tiếp trên luôn tác động qua lại với nhau, bổ sung cho nhau, làm cho mối quan

hệ giao tiếp của con người vô cùng đa dạng và phong phú

2.3.3 Chức năng cơ bản của giao tiếp

- Chức năng thông tin liên lạc bao gồm các quá trình truyền và nhận thông tin

- Chức năng điều chỉnh hành vi

- Chức năng kích động liên lạc: Giao tiếp có tác dụng xác định trạng thái cảm xúc

của con người

Nhờ những chức năng trên, giao tiếp đã phục vụ nhu cầu chung và riêng của con người

2.3.4 Giao tiếp có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển tâm lí

- Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội loài người C.Marx cho rằng: Sự phát

triển của một cá nhân được quy định bởi sự phát triển của tất cả các cá nhân khác mà nó giao tiếp

một cách trực tiếp và gián tiếp với họ

- Nhờ giao tiếp con người gia nhập vào các quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hóa xã hội,

chuẩn mực xã hội, “tổng hòa các quan hệ xã hội“ làm thành bản chất con người

- Trong giao tiếp con người không chỉ nhận thức người khác, nhận thức các quan hệ xã hội,

mà còn nhận thức được chính bản thân mình, tự đối chiếu so sánh mình với người khác, với

chuẩn mực xã hội, tự đánh giá bản thân mình như là một nhân cách, để hình thành một giá trị –

cảm xúc nhất định đối với bản thân

Tóm lại, giao tiếp là hình thức đặc trưng cho mối quan hệ của người – người, là một nhân

tố cơ bản của việc hình thành, phát triển tâm lí, ý thức, nhân cách Song hoạt động và giao tiếp

chỉ có thể diễn ra trong cộng đồng, trong nhóm và tập thể

Trang 24

Sơ đồ tổng quát về sự hình thành và phát triển tâm lí người

Giao tiếp

Con người - Tâm lí, Đối tượng

nhân cách - chủ thể hoạt động của giao tiếp

Hoạt động Đối tượng của hoạt động

CÂU HỎI – BÀI TẬP

1 Phân tích cơ sở tự nhiên của tâm lí người

2 Phân tích cơ sở xã hội của tâm lí người

3 Có ý kiến cho rằng: Cha mẹ sinh con, trời sinh tính

Ý kiến này đúng hay sai? Tại sao? Anh (chị) hãy rút ra kết luận cần thiết trong công tác

giáo dục học sinh

4 Có ý kiến cho rằng: Khi tìm hiểu con người, không nên căn cứ vào những lời người ta tự

nói về bản thân mà phải căn cứ vào việc làm của họ Người lãnh đạo muốn tìm hiểu kỹ về nhân

viên của mình, hãy quan sát công việc của họ

Ý kiến này đúng hay sai? Tại sao? Anh (chị) hãy rút ra kết luận cần thiết trong công tác

giáo dục học sinh

5 Hãy cho biết những trường hợp nào trong số các trường hợp sau đây là sự giao

tiếp? Tại sao?

a Hai con khỉ đang đùa giỡn với nhau

b Hai em học sinh đang trao đổi bài với nhau

c Con khỉ đầu đàn cất tiếng hú gọi bầy

d Một em bé đang đùa giỡn với con mèo

e Thầy giáo đang giảng bài cho học sinh

g Hai vệ tinh đang phát và thu tín hiệu của nhau

Trang 25

Chương 3: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

TÂM LÝ, Ý THỨC

Vấn đề nguồn gốc nảy sinh, hình thành và phát triển tâm lí, ý thức là một vấn đề cơ bản của

tâm lí học Tâm lí, ý thức là kết quả của sự phát triển lâu dài của vật chất Sự nảy sinh, phát triển

tâm lí, ý thức gắn liền với sự sống Vậy tâm lí, ý thức hình thành và phát triển như thế nào ?

1 SỰ NẢY SINH VÀ HÌNH THÀNH TÂM LÍ

1.1 SỰ NẢY SINH, HÌNH THÀNH TÂM LÍ VỀ PHƯƠNG DIỆN LOÀI NGƯỜI

1.1.1 Tiêu chuẩn xác định sự nảy sinh tâm lí

- Tính kích thích:

Tính kích thích là khả năng hoạt động của cơ thể trả lời các tác động ngoại giới có ảnh

hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của cơ thể

Tính kích thích là cơ sở cho phản ánh tâm lí nảy sinh

- Tính cảm ứng:

Tính cảm ứng là năng lực trả lời của cơ thể đối với kích thích có ảnh hưởng trực tiếp và

gián tiếp đối với sự sống còn của cơ thể và giống loài Loại phản ánh này là mầm mống của tâm

lí Đó chính là tiêu chuẩn xác định sự nảy sinh của hiện tượng tâm lí

Tính cảm ứng bắt đầu có từ loài côn trùng Ở loài này, những tế bào thần kinh đã tập hợp

lại thành hệ thần kinh mấu

1.1.2 Các thời kỳ phát triển tâm lí

a Xét về mức độ phản ánh của các hiện tượng tâm lí thì từ vật chất có cảm giác nhưng

không có ý thức đến chủ thể có ý thức qua các thời kỳ sau đây: cảm giác, tri giác, tư duy bằng

tay, tư duy ngôn ngữ

- Thời kỳ cảm giác:

Thời kỳ này có ở động vật không xương sống Những động vật này có khả năng trả lời từng

kích thích trung gian riêng lẻ Tất cả các động vật ở bậc thang tiến hóa cao hơn và ở loài người

đều có loại phản ánh này nhưng cảm giác của con người khác xa về bản chất so với cảm giác của

loài vật Trên cơ sở cảm giác này mà xuất hiện các thời kì phản ánh tâm lí cao hơn là tri giác và

tư duy

- Thời kỳ tri giác:

Ở thời kỳ này, động vật có khả năng trả lời cả một tổ hợp các kích thích của sự vật

Tri giác xuất hiện ở loài cá, qua loài bò sát, đến loài chim, loài có vú tri giác đạt tới mức

khá hoàn chỉnh Những động vật có thể phản ánh trong một chừng mực nhất định mối quan hệ

đơn giản giữa các sự vật, chuẩn bị cho một loại phản ánh cao hơn là tư duy

Trang 26

- Tư duy bằng tay:

Ở vượn không những có khả năng phản ánh riêng lẻ từng thuộc tính, phản ánh trọn vẹn một

sự vật và một số mối liên hệ giữa sự vật này với sự vật kia mà chúng còn có khả năng phản ánh

những mối quan hệ khá phức tạp giữa các sự vật Ví dụ: vượn có thể xếp những cái ghế lại để lấy

đồ ăn ở trên cao (ở đây vượn đã phản ánh được mối quan hệ giữa ghế với ghế, giữa ghế với đồ

ăn I.Pavlov (1896 – 1980) gọi hành vi này ở vượn là tư duy bằng tay (giải quyết vấn đề dựa vào

hai bàn tay, không thể nghĩ trước rồi mới làm và làm xong rồi rút kinh nghiệm)

- Thời kỳ tư duy ngôn ngữ:

Tư duy ngôn ngữ là sự phản ánh bằng ngôn ngữ các mối quan hệ rất phức tạp giữa các sự

vật trong vỏ não Loại tư duy này chỉ có ở người Nhờ tư duy ngôn ngữ mà hoạt động của con

người mang tính kế hoạch, đạt tới một mục đích nhất định

b Xét về nguồn gốc nảy sinh hành vi, có thể chia các thời kỳ phát triển tâm lí thành bản

năng, kỹ xảo, trí tuệ

- Bản năng:

Bản năng là những hình thức hành vi và phản ánh tâm lí đặc trưng cho một loài, được củng

cố theo con đường di truyền

Ý nghĩa thích ứng của bản năng thể hiện ở chỗ nó đảm bảo việc thực hiện những chức năng

sống quan trọng đối với sự tồn tại của cá thể và loài (ăn uống, tự vệ, duy trì nòi giống, )

Bản năng có cơ chế sinh lí thần kinh là phản xạ không điều kiện

Bản năng là hành vi bẩm sinh, là sản phẩm của sự phát triển chủng loại di truyền Thí dụ:

Con vịt vừa nở ra đã biết bơi Bản năng nhằm thỏa mãn các nhu cầu thuần thúy cơ thể Bản năng

bắt đầu có từ côn trùng Ở động vật có xương sống và ở người cũng có bản năng: Bản năng dinh

dưỡng, bản năng tự vệ, bản năng sinh dục Riêng đối với con người bản năng giữ vai trò thứ yếu,

đảm bảo cho con người tồn tại đơn thuần; bản năng của con người có tính xã hội, khác xa với bản

năng của động vật

- Kỹ xảo:

Kỹ xảo là hình thức hành vi mới, xuất hiện sau bản năng, do cá thể tự tạo Ví dụ: Con ong

có bản năng sinh ra đã biết bay; nhưng ta có thể dạy cho ong bay theo một đường nhất định – đó

là kỹ xảo

Kỹ xảo có cơ chế sinh lí thần kinh là phản xạ có điều kiện

- Hoạt động trí tuệ:

Hoạt động trí tuệ là kết quả của quá trình luyện tập, do cá thể tự tạo ra trong quá trình sống

Khác với kỹ xảo, hành động trí tuệ có tính chất cơ động, linh hoạt

Hoạt động trí tuệ của vượn người chủ yếu nhằm thỏa mãn các yêu cầu sinh vật của cơ thể

Hoạt động trí tuệ của con người nảy sinh trong lao động nhằm thích ứng và cải tạo hiện thực

khách quan,…

Ba hình thức hành vi trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Trang 27

1.2 SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÍ VỀ PHƯƠNG DIỆN CÁ THỂ

- Tuân theo nguyên lí chung của mọi sự phát triển trong thế giới, sự phát triển tâm lí của

con người trong suốt cuộc đời con người trải qua nhiều giai đoạn (gọi là những giai đoạn lứa

tuổi) Đó là quá trình chuyển đổi liên tục từ cấp độ này sang cấp độ khác, ngày càng cao, ngày

càng hoàn thiện ; đó là quá trình phát triển của sự nhận thức, của sự hoàn thiện các phẩm chất của

nhân cách, của ý chí, của tình cảm

- L.X Vygotxki đã căn cứ vào những thời điểm mà sự phát triển tâm lí có những đột biến

để xác định thời kì phát triển tâm lí

- A.N Leonchiev chỉ ra rằng sự phát triển tâm lí của con người gắn liền với sự phát triển

hoạt động của con người trong đời sống thực tiễn của nó, trong một số hoạt động đóng vai trò

chính (hoạt động chủ đạo) trong sự phát triển, một số hoạt động khác đóng vai trò phụ Sự phát

triển tâm lí của con người phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động chủ đạo

Hoạt động chủ đạo là hoạt động quyết định sự hình thành và phát triển tâm lí và nó chuẩn

bị cho hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi sau Hoạt động chủ đạo là hoạt động đưa đến biến đổi tâm lí

cơ bản và cấu tạo tâm lí mới

Hoạt động chủ đạo có bốn đặc điểm sau:

Thiết lập mối quan hệ giữa trẻ em với người lớn

Thông qua hoạt động, các quá trình tâm lí riêng biệt đưọc tổ chức lại, cấu tạo lại

Đưa đến sự biến đổi tâm lí cơ bản ở lứa tuổi đó

Trong lòng nó nảy sinh ra hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi tiếp theo

Ví dụ : Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi mẫu giáo

Trong hoạt động vui chơi, trẻ thiết lập mối quan hệ với cô giáo và thế giới đồ chơi Đây là

quan hệ quan trọng nhất của trẻ, quyết định sự phát triển tâm lí của các cháu mẫu giáo

Trẻ gắn với người lớn và bạn qua phương thức chơi, tạo nên nguồn gốc của sự phát triển

tâm lí của trẻ

Làm biến đổi tâm lí cơ bản của trẻ (nhận thức, tình cảm,…)

Chơi chuẩn bị cho học và làm ở lứa tuổi sau

Mỗi lứa tuổi đều có hoạt động chủ đạo của mình Hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi sơ sinh là

hoạt động giao tiếp cảm xúc trực tiếp với người lớn

Hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi mẫu giáo là hoạt động vui chơi Còn ở lứa tuổi học sinh, hoạt

động chủ đạo là hoạt động học tập Ở lứa tuổi thanh niên và người trưởng thành, hoạt động lao

động và hoạt động xã hội là hoạt động chủ đạo

2 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN Ý THỨC

2.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ Ý THỨC

2.1.1 Khái niệm ý thức

Trang 28

Theo nghĩa rộng: Khái niệm ý thức thường được dùng đồng nghĩa với tinh thần, tư tưởng,…

Theo nghĩa hẹp: Khái niệm ý thức được dùng để chỉ một cấp độ đặc biệt trong tâm lí

con người

Để hiểu ý thức là gì, chúng ta hãy xét một ví dụ sau:

Một chiến sĩ biên phòng dẫn theo một con chó săn đi tuần tra đường biên giới Bất chợt cả

chiến sĩ biên phòng và con chó cùng nhìn thấy một kẻ gian đang lén lút vượt cột mốc biên giới

xâm nhập bất hợp pháp lãnh thổ nước ta Chúng ta hãy quan sát hành vi của con chó săn và hành

động của người chiến sĩ công an biên phòng khác nhau như thế nào? Khi nhận thấy có kẻ gian,

con chó liền nhảy ra nhằm để giữ kẻ gian lại theo sự hướng dẫn từ trước Còn đối với chiến sĩ

công an biên phòng đã nảy sinh suy nghĩ (ngôn ngữ thầm) xem là giải quyết như thế nào? Bắt

sống hay bắn chết? Bắn chết có khó khăn gì? Và cần phải thực hiện như thế nào để nhanh gọn

nhất mà ít thiệt hại nhất? Cũng như vậy, bắt sống có khó khăn gì không? Rõ ràng hành động

của chiến sĩ biên phòng phức tạp hơn nhiều so với con chó săn, vì hành động của anh chiến sĩ

biên phòng là hành động có ý thức

Ý thức là hình thức phản ánh tâm lí cao nhất, chỉ riêng con người mới có, phản ánh bằng

ngôn ngữ, là khả năng con người hiểu được các tri thức mà con người đã tiếp thu được

Ý thức là chức năng tâm lí cao cấp của con người Nhờ có ngôn ngữ, con người đã biến

hình ảnh tâm lý mới thu nhận được thành đối tượng khách quan để tiếp tục phản ánh về nó, tạo

nên trong vỏ não hình ảnh tâm lí mới hơn, nhờ đó hoạt động của con người được định hướng

cao hơn có mục đích rõ ràng hơn Ý thức là tồn tại được nhận thức

2.1.2 Những thuộc tính cơ bản của ý thức và vai trò của nó

a Ý thức thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con người

- Nhận thức cái bản chất, nhận thức khái quát bằng ngôn ngữ Ý thức của con người là một

hình thức phản ánh cao nhất, nó không chỉ phản ánh trọn vẹn sự vật hiện tượng mà nó còn có khả

năng đi sâu vào bản chất sự vật trên cơ sở đó mà khái quát sự vật

- Dự kiến trước kế hoạch hành vi và kết quả của nó, làm cho hành vi có tính chủ định

b Ý thức thể hiện thái độ của con người đối với hiện thực khách quan, cũng như đối với

bản thân như: Yêu, ghét, căm thù, khâm phục,

c Ý thức thể hiện năng lực điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người - khả năng

sáng tạo

V.I.Lênin cho rằng: Ý thức của con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn sáng

tạo ra nó

Sinh vật chỉ biết thích nghi với môi trường sống, nếu không sẽ bị quy luật tự nhiên đào thải

Ngược lại, trong bất cứ hoàn cảnh nào con người đều có sáng tạo để bắt thiên nhiên phục vụ lợi

ích ngày càng cao cho nhu cầu của con người

Chính nhờ khả năng sáng tạo, con người luôn luôn tạo ra nhiều giá trị vật chất và tinh thần,

thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người

Trang 29

d Khả năng tự ý thức

Con người không chỉ nhận thức được thế giới xung quanh mà ở mức độ cao hơn, con

người còn nhận thức được ngay chính bản thân mình, tự xác định thái độ đối với bản thân, tự

hoàn thiện mình Đó là khả năng tách mình ra khỏi mình, biến mình thành đối tượng khách quan

để phản ánh Chẳng hạn, chúng ta tự kiểm điểm bản thân, tự nêu những ưu điểm và nhược điểm

- Các quá trình nhận thức cảm tính mang lại những tài liệu đầu tiên cho ý thức

- Quá trình nhận thức lí tính đem lại cho con người những hiểu biết bản chất, khái quát về

thực tại khách quan Đây là nội dung rất cơ bản của ý thức, là hạt nhân của ý thức, giúp con

người hình dung ra trước kết quả của hoạt động và hoạch định kế hoạch hành vi

b Mặt thái độ của ý thức nói lên thái độ lựa chọn, thái độ cảm xúc và đánh giá của chủ thể

đối với thế giới

c Mặt năng động của ý thức:

Ý thức điều khiển, điều chỉnh hoạt động của con người, làm cho hoạt động của con người

có ý thức,…

2.2 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN Ý THỨC

2.2.1 Sự hình thành ý thức của con người (về phương diện loài người)

Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định: Trước hết là lao động và đồng thời với lao động là

ngôn ngữ, đó là hai động lực chủ yếu đã biến bộ não con vượn thành bộ não con người Đây cũng

chính là hai yếu tố tạo nên sự hình thành ý thức của con người

a Vai trò của lao động đối với sự hình thành ý thức

- Điều khác biệt giữa con người và con vật là con người trước khi tạo ra một sản phẩm nào

đó, con người hình dung ra trước mô hình của cái cần làm ra và cách làm ra cái đó Con người có

ý thức về cái mà mình sẽ làm ra

- Trong lao động con người phải chế tạo và sử dụng các công cụ lao động, tiến hành các

thao tác và hành động lao động Như vậy, ý thức của con người được hình thành và thể hiện trong

quá trình lao động

- Kết thúc quá trình lao động, con người có ý thức đối chiếu sản phẩm của mình với mô

hình tâm lí của sản phẩm mà mình đã hình dung ra từ trước, để hoàn thiện, đánh giá sản phẩm đó

Như vậy, có thể nói ý thức được hình thành và biểu hiện trong suốt quá trình lao động và

sản phẩm lao động do mình làm ra

Trang 30

b Vai trò của ngôn ngữ và giao tiếp đối với sự hình thành ý thức

- Nhờ ngôn ngữ ra đời cùng với lao động mà con người có công cụ để xây dựng, hình dung

ra mô hình tâm lí của sản phẩm Hoạt động ngôn ngữ giúp con người có ý thức về việc sử dụng

công cụ lao động, tiến hành hệ thống thao tác để tạo ra sản phẩm,…

- Hoạt động lao động là hoạt động tập thể, mang tính xã hội Trong lao động nhờ ngôn ngữ

và giao tiếp con người thông báo, trao đổi thông tin với nhau, phối hợp động tác với nhau để

cùng làm ra sản phẩm chung Nhờ có ngôn ngữ con người có ý thức về bản thân mình và đối với

người khác

2.2.2 Sự hình thành ý thức về phương diện cá nhân

- Ý thức của cá nhân được hình thành trong hoạt động và thể hiện trong sản phẩm của hoạt

động của cá nhân

- Ý thức của cá nhân được hình thành trong mối quan hệ giao tiếp của cá nhân với người

khác, với xã hội

- Ý thức của cá nhân được hình thành bằng con đường lĩnh hội nền văn hóa xã hội

- Ý thức của cá nhân được hình thành bằng con đường tự nhận thức, tự đánh giá, tự phân

tích hành vi của mình

2.3 TỰ Ý THỨC

Tự ý thức là phương thức quan hệ của con người với chính bản thân Tự ý thức phản ánh

mối quan hệ của con người với nhu cầu và năng lực, sự đam mê và động cơ hành vi, cảm xúc và

suy nghĩ của mình

Tự ý thức được thể hiện trong đánh giá cảm xúc – ý thức về những khả năng chủ quan của

bản thân, xuất hiện với tư cách nền tảng của các hành động và hành vi có mục đích

Cơ sở của tự ý thức là năng lực của con người biết tách biệt bản thân với hoạt động sống

của mình

Tự ý thức là tự phản ánh bản thân mình theo một mẫu mực nào đó và cố gắng hoạt động

theo khuôn mẫu ấy

Tự ý thức là mức độ phát triển cao của ý thức Tự ý thức bắt đầu hình thành ở trẻ em khi 3

tuổi Thông thường tự ý thức biểu hiện ở các mặt sau:

- Sự tự nhận thức về bản thân từ vẻ bên ngoài (đầu tóc, ăn mặc,…) đến nội dung tâm hồn

(cách cư xử, tính tình, thái độ, thói quen, quan điểm,…), đến vị thế và các quan hệ xã hội

- Có thái độ đối với bản thân: Tự nhận xét, tự phê bình, tự đánh giá bản thân

- Tự điểu khiển, tự điều chỉnh hành vi theo mục đích tự giác

- Có khả năng tự giáo dục, tự hoàn thiện mình

Trang 31

2.4 VÔ THỨC

2.4.1 Vô thức là gì ?

Sự phản ánh tâm lí ở con người, ngoài cấp độ cao là ý thức còn có cấp độ thấp là vô thức

(không ý thức, chưa ý thức được)

Vô thức là khái niệm dùng để chỉ tập hợp các cấu tạo, quá trình và cơ chế tâm lí mà sự vận

hành và cơ chế ảnh hưởng của chúng chủ thể không ý thức được

Là một hiện tượng tâm lí, vô thức là một hình thức phản ánh hiện thực khách quan không

đạt đến cấp độ ý thức, nghĩa là trong trạng thái vô thức, con người không nhận thức được hành

động của mình, con người mất định hướng hoàn toàn về thời gian và không gian (vị trí) của hành

động và sự điều chỉnh hành vi bằng ngôn ngữ của họ bị rối loạn

2.4.2 Có thể xếp những hiện tượng sau đây thuộc loại vô thức:

- Những hiện tượng tâm lí có tính chất bệnh lí, như hiện tượng hoang tưởng, ảo giác, các

bệnh thần kinh, say rượu,…

- Những hiện tượng tâm lí xảy ra trong trạng thái ức chế của hệ thần kinh (tự nhiên hay

nhân tạo) như ngủ mơ, bị thôi miên…

- Hiện tượng tâm lí xuất phát từ các bản năng như ăn, ngủ, vận động,…

- Hiện tượng tiềm thức: Là những hành động vốn lúc đầu là những hành động có ý thức,

nhưng do được lặp đi lặp lại nhiều lần mà về sau trở thành tự động hóa

- Hiện tượng trực giác: Sự “vụt sáng” của những tư tưởng, những giải pháp hợp lí, đúng

đắn mà dường như không có sự chuẩn bị nào trước

Khi nói về vô thức của con người, cần nhấn mạnh 2 ý sau:

Một là, ở con người, vô thức chịu sự quy định bởi các điều kiện xã hội của sự tồn tại của

con người;

Hai là, không thể đánh đồng tâm lí vô thức của con người với đời sống tâm lí vô thức của

động vật Bởi lẽ:

- Tâm lí vô thức của con người phản ánh những điều kiện xã hội của cuộc sống con người,

trong khi tâm lí vô thức của con vật phản ánh những điều kiện của môi trường sống thuần túy

mang tính chất sinh học của nó

- Nhiều hiện tượng vô thức của con người do sự chuyển hóa của hiện tượng tâm lí có ý thức

mà thành

- Động vật luôn luôn sống với bản năng vô thức của chúng, trong khi đó các bản năng của

con người là “các bản năng được ý thức”

2.4.3 Tóm lại, tâm lí vô thức ở con người không giữ vai trò quan trọng Vai trò quan

trọng có ý nghĩa quyết định thuộc về ý thức – đặc trưng cơ bản của đời sống tâm lí con người

Trang 32

2.5 CHÚ Ý

2.5.1 Khái niệm chú ý

Chúng ta biết rằng không có một quá trình tâm lí nào lại có thể diễn ra một cách có hiệu

quả nếu không có sự tập trung chú ý Vì vậy, muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao chúng ta

phải tập trung chú ý

Chú ý là sự tập trung của ý thức vào một hay một nhóm sự vật hiện tượng, để định hướng

hoạt động, bảo đảm điều kiện thần kinh - tâm lí cần thiết cho hoạt động tiến hành có kết quả

Chú ý được xem là trạng thái tâm lý “đi kèm” các hoạt động tâm lí khác, giúp cho hoạt

động tâm lí đó có kết quả Chú ý không có đối tượng riêng, đối tượng của nó chính là đối tượng

của hoạt động tâm lí mà nó “đi kèm” Vì thế, chú ý được coi là “cái phông”, “cái nền”, là điều

kiện của hoạt động có ý thức

Chú ý được biểu hiện ra bên ngoài qua nét mặt, ánh mắt,…Tuy nhiên giáo viên cũng cần

phân biệt hiện tượng “vờ” chú ý của học sinh trong quá trình học tập và các hoạt động khác…

2.5.2 Các loại chú ý

Căn cứ vào tính mục đích và sự nỗ lực của ý chí, người ta chia chú ý thành ba loại:

a Chú ý không chủ định là loại chú ý không có mục đích tự giác, không cần sự nỗ lực của

- Sự trái ngược giữa vật kích thích và bối cảnh,…

Loại chú ý này thường nhẹ nhàng, ít căng thẳng nhưng kém bền vững, khó duy trì lâu dài

b Chú ý có chủ định là loại chú ý có mục đích từ trước và phải có sự nỗ lực của bản thân

Loại chú ý này có liên quan chặt chẽ với hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ hai, với ý chí,

tình cảm, xu hướng của cá nhân

Hai loại chú ý trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung và chuyển hóa lẫn nhau, giúp con

người phản ánh đối tượng có kết quả

c Chú ý “sau khi có chủ định”: Loại chú ý này vốn là chú ý có chủ định, nhưng không đòi

hỏi sự căng thẳng của ý chí, lôi cuốn con người vào nội dung và phương thức hoạt động tới mức

khoái cảm

Ví dụ: Khi bắt đầu đọc sách đòi hỏi phải có chú ý có chủ định, nhưng càng đọc càng bị nội

dung của cuốn sách lôi cuốn làm cho người đọc thêm say sưa, không cần sự nỗ lực cao, sự căng

thẳng của ý chí Như vậy, chú ý có chủ định đã chuyển thành “chú ý sau khi có chủ định”

Trang 33

2.5.3 Các thuộc tính cơ bản của chú ý

- Sức tập trung của chú ý là khả năng chỉ chú ý đến một phạm vi đối tượng tương đối hẹp

cần thiết cho hoạt động lúc đó Số lượng mà chú ý hướng tới gọi là khối lượng chú ý Khối lượng

này tùy thuộc vào đặc điểm của đối tượng và đặc điểm của hoạt động

- Sự bền vững của chú ý đó là khả năng duy trì lâu dài chú ý vào một hay một số đối tượng

của hoạt động Ngược với độ bền vững là sự phân tán chú ý Phân tán chú ý diễn ra theo chu kỳ

gọi là sự dao động của chú ý

- Sự phân phối chú ý là khả năng cùng một lúc chú ý đầy đủ đến nhiều đối tượng hay nhiều

hoạt động khác nhau một cách có chủ định

- Sự di chuyển chú ý là khả năng chuyển chú ý từ đối tượng này sang đối tượng khác theo

yêu cầu của hoạt động Sự di chuyển chú ý không mâu thuẫn với độ bền vững của chú ý, nó cũng

không phải là phân tán chú ý

Trên đây là những thuộc tính của chú ý, chúng có quan hệ bổ sung cho nhau

CÂU HỎI – BÀI TẬP

1 Sự nảy sinh và hình thành tâm lí diễn ra như thế nào ?

2 Tại sao nói ý thức là hình thức phản ánh tâm lí cao nhất của con người ?

3 Người ta kể rằng: Ông Phạm Ngũ Lão, một tướng giỏi thời nhà Trần khi còn hàn vi, ngồi

đan sọt bên lề đường, mải suy nghĩ đến mức mà người thanh niên họ Phạm không nghe thấy tiếng

reo hò của đoàn quân hộ tống Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, tới lúc lính đâm giáo vào đùi,

chảy máu ra anh mới biết

Thuộc tính chú ý nào thể hiện trong mẩu chuyện trên? Để có được thuộc tính chú ý đó cho

học sinh, theo bạn với tư cách là người giáo viên, bạn cần phải làm gì?

Trang 34

Chương 4: HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC

Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình phản ánh hiện thực khách quan ở những mức

độ khác nhau: Cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng Những quá trình này cho ta những sản

phẩm khác nhau: Hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, khái niệm V.I Lênin đã tổng kết quy luật đó

của con người như sau: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng

đến thực tiễn, đó là con đường nhận thức biện chứng của sự nhận thức chân lí, của sự nhận thức

hiện thực khách quan (1)

1 NHẬN THỨC CẢM TÍNH

1.1 CẢM GIÁC

1.1.1 Khái niệm cảm giác

Một sự vật, hiện tượng tồn tại ở những thuộc tính không gian và thời gian, ở những thuộc

tình bên trong và bên ngoài,…và liên hệ với con người nhờ cảm giác

Trong quá trình tiến hóa của sinh vật và trong quá trình phát triển của một đứa trẻ thì cảm

giác là hình thức định hướng đầu tiên của cơ thể trong thế giới xung quanh

Khi tiếp xúc với sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan, đầu tiên chúng ta nhìn thấy

hình thù, màu sắc, mùi vị, sờ bề mặt sần sùi hay nhẵn nhụi Ví dụ, ta nhìn thấy một vật có màu

xanh dưong Đó chính là cảm giác

Cảm giác là một quá trình tâm lí phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng

khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan của ta

1.1.2 Đặc điểm của cảm giác

Cảm giác có những đặc điểm sau đây:

- Cảm giác là một quá trình tâm lí (có mở đầu, có diễn biến và kết thúc cụ thể rõ ràng)

- Cảm giác chỉ phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng Đặc điểm này cho

thấy cảm giác là một quá trình nhận thức thấp

- Cảm giác phản ánh khách quan một cách trực tiếp, nghĩa là sự vật, hiện tượng phải tác

động trực tiếp vào giác quan của ta

Cũng như các hiện tượng tâm lí khác, cảm giác của con người có bản chất xã hội, khác xa

với cảm giác của động vật

1.1.3 Vai trò của cảm giác

- Cảm giác là hình thức định hướng đầu tiên của con người trong hiện thực khách quan

- Cảm giác cung cấp nguyên vật liệu cho các quá trình nhận thức cao hơn

- Cảm giác là điều kiện để đảm bảo trạng thái hoạt động của vỏ não

(1) Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên) 2003 Tâm lí học đại cương Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm

Trang 35

- Đối với những người bị khuyết tật, cảm giác là con đường nhận thức đặc biệt

Vì vậy, trong công tác dạy học cần tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc với nhiều sự vật,

hiện tượng khác nhau nhằm làm phong phú thêm kinh nghiệm cảm tính của học sinh,

1.1.4 Các loại cảm giác

Dựa vào vị trí của nguồn kích thích nằm ở bên ngoài hay ở bên trong cơ thể, người ta chia

thành hai nhóm cảm giác:

a Những cảm giác bên ngoài

- Cảm giác nhìn (thị giác) cho ta biết những thuộc tính hình dạng, độ lớn, khối lượng, độ

xa, độ bóng và màu sắc của đối tượng

- Cảm giác nghe (thính giác) cho ta biết những thuộc tính âm thanh như cường độ, độ cao

thấp của âm thanh và âm sắc

- Cảm giác ngửi (khứu giác) cho ta biết thuộc tính mùi của đối tượng

- Cảm giác nếm (vị giác) cho ta biết thuộc tính vị của đối tượng

- Cảm giác da (xúc giác) cho ta biết sự đụng chạm, sức ép của vật vào da cũng như nhiệt độ

của vật

b Những cảm giác bên trong

- Cảm giác cơ thể là loại cảm giác xuất hiện do những kích thích diễn ra trong môi trường

bên trong cơ thể và là kết quả của các nhu cầu sơ cấp của cơ thể

Cảm giác cơ thể cho ta biết tình trạng hoạt động của các cơ quan nội tạng, gồm các cảm

giác: Đói, no, khát, buồn nôn, hô hấp, tuần hoàn

- Cảm giác vận động báo hiệu mức độ co của cơ và vị trí các phần cơ thể

- Cảm giác thăng bằng cho ta biết vị trí và phương hướng chuyển động của đầu ta so với

phương của trọng lực

1.1.5 Các qui luật của cảm giác

a Quy luật về ngưỡng cảm giác

- Không phải mọi kích thích vào giác quan đều gây ra cảm giác Kích thích quá yếu không

đủ gây nên cảm giác, kích thích quá mạnh có thể làm át cảm giác

Kích thích phải đạt tới một giới hạn nhất định mới gây ra được cảm giác Giới hạn mà ở đó

kích thích gây ra được cảm giác gọi là ngưỡng cảm giác

- Ngưỡng cảm giác có hai loại: Ngưỡng tuyệt đối và ngưỡng sai biệt

Ngưỡng tuyệt đối của cảm giác được chia thành ngưỡng phía dưới và ngưỡng phía trên

Ngưỡng phía dưới của cảm giác là cường độ kích thích tối thiểu đủ gây ra cảm giác

Ngưỡng phía trên của cảm giác là cường độ kích thích tối đa mà ở đó vẫn còn cảm giác

Phạm vi giới hạn giữa ngưỡng phía dưới và ngưỡng phía trên gọi là vùng cảm giác

Trang 36

Ngưỡng phía dưới Ngưỡng phía trên

Ngưỡng phía dưới của cảm giác (ngưỡng tuyệt đối) tỉ lệ nghịch với độ nhạy cảm của

cảm giác Ngưỡng phía dưới của cảm giác càng thấp, tính nhạy cảm càng cao

- Ngưỡng sai biệt là tỉ số chênh lệch tối thiểu về cường độ hoặc tính chất của hai kích thích

đủ để ta phân biệt được hai kích thích đó

Ngưỡng sai biệt của mỗi cảm giác là một hằng số

Ví dụ: với ánh sáng là 1/100; với trọng lượng là 1/30

b Quy luật về sự thích ứng của cảm giác

- Sự thích ứng của cảm giác là khả năng thay đổi độ nhạy cảm cho phù hợp với sự thay

đổi của cương độ và tính chất kích thích

- Nội dung của quy luật: Tăng độ nhạy cảm khi gặp kích thích yếu, giảm độ nhạy cảm khi

gặp kích thích mạnh và lâu

- Ví dụ: Đang ở chỗ tối mà ta bước ra chỗ sáng, lúc đầu bị lóa mắt, nhưng sau vài giây độ

nhạy cảm giảm xuống, mắt thích ứng và ta nhìn thấy rõ

c Quy luật về sự tác động qua lại giữa các cảm giác

Các cảm giác không tồn tại một cách biệt lập, riêng lẻ mà chúng tác động qua lại với nhau

Sự tác động qua lại giữa các cảm giác là sự thay đổi tính nhạy cảm của một cảm giác này

dưới ảnh hưởng của một cảm giác kia Sự tác động qua lại đó diễn ra theo một quy luật chung

như sau: Sự kích thích yếu lên một cơ quan phân tích này sẽ làm tăng độ nhạy cảm của một cơ

quan phân tích khác; sự kích thích mạnh lên một cơ quan phân tích này sẽ làm giảm độ nhạy cảm

của một cơ quan phân tích kia

Ví dụ: Cảm giác chua yếu sẽ làm tăng độ nhạy cảm của thị giác Hoặc khi uống một ly

nước đường còn nóng thì cảm thấy ít ngọt hơn khi cũng uống ly nước đường đó lúc để nguội

Sự tác động lẫn nhau giữa các cảm giác có thể diễn ra một cách đồng thời hoặc nối tiếp,

giữa những cảm giác cùng loại hay khác loại

Ví dụ 1: Nếu ta đặt hai tờ giấy màu xám như nhau lên một cái nền trắng và một cái nền đen,

thì ta sẽ cảm thấy tờ giấy màu sáng đặt trên nền trắng sẽ xám hơn tờ kia Đó là sự tương phản

đồng thời

Ví dụ 2: Sau khi nhúng tay vào nước lạnh, nếu ta nhúng tay vào nước ấm, ta có cảm giác

nước có vẻ nóng hơn Đó là sự tương phản nối tiếp

Trang 37

1.2 TRI GIÁC

1.2.1 Khái niệm tri giác

Ta nhìn thấy ngôi sao năm cánh màu vàng trên nền đỏ của lá cờ, ta nhận ra đó là lá cờ Tổ

quốc Như vậy, ta đã tri giác được lá cờ Tổ quốc

Tri giác là quá trình nhận thức phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính của sự vật, hiện

tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan

1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của tri giác

- Tri giác là quá trình tâm lí

- Tri giác phản ánh những thuộc tính trực quan, cụ thể của sự vật, hiện tượng và chỉ xảy ra

khi chúng trực tiếp tác động lên giác quan

- Tri giác phán ánh sự vật, hiện tượng một cách trọn vẹn

- Tri giác phản ánh sự vật, hiện tượng theo một cấu trúc nhất định

- Tri giác là một quá trình tích cực, gắn liền với hoạt động

1.2.3 Vai trò của tri giác

- Giúp cho con người định hướng nhanh chóng và chính xác hơn trong thế giới

- Giúp cho con người điều chỉnh một cách hợp lí hoạt động của mình trong thế giới, giúp

cho con người phản ánh thế giới có lựa chọn và có tính ý nghĩa

- Các hình ảnh của tri giác còn tham gia vào các hành động tư duy trực quan - hình ảnh và

là một bộ phận trong các thao tác của hành động trực quan

- Tri giác cung cấp cho con người các thông tin cần thiết cho các hoạt động nhận thức cao

hơn như tư duy, tưởng tượng và sáng tạo

- Do tri giác có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống và hoạt động của con người nhất là

hoạt động nhận thức, nên trong dạy học cần quán triệt tốt nguyên tắc trực quan

Như vậy, tri giác là thành phần chính của nhận thức cảm tính, là điều kiện quan trọng cho

sư định hướng hành vi và hoạt động của con người trong môi trường

1.2.4 Các loại tri giác

Sự phân loại chủ yếu của tri giác dựa vào sự phản ánh những hình thức tồn tại khác nhau

của đối tượng

Theo cách phân loại này ta có ba loại:

- Tri giác không gian, phản ánh khoảng không gian tồn tại của sự vật, hiện tượng như hình

Ngày đăng: 15/04/2021, 19:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành giả thuyết mới. - Tâm lý học đại cương
Hình th ành giả thuyết mới (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN