1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hướng dẫn sinh viên tự ôn tập củng cố phần cơ học trong chương trình vật lý đại cương với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy

173 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 8,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong dạy học Vật lý, thông qua sự hỗ trợ của BĐTD là một biện pháp quan trọng góp phần rèn luyện việc tự ôn tập để phát triển tư duy, rèn luyện các kỹ năng phân tích, tổng hợp và ghi nh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

TRẦN QUỐC DUYỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, NĂM 2011

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hiện nay, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ; đó vừa là một quá trình hợp tác để phát triển, vừa là quá trình cạnh tranh kinh tế quyết liệt giữa các quốc gia, tạo nên sự vận động và phát triển không ngừng của thế giới Sự tác động của quá trình này đến nước ta ngày càng mạnh mẽ, điều này đã và đang tạo ra những cơ hội phát triển chưa từng có cho đất nước, đồng thời cũng đặt ra những thách thức to lớn về mặt chất lượng và hiệu quả giáo dục để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia

Trước những yêu cầu và thách thức đó đòi hỏi giáo dục nước ta không ngừng đổi mới một cách sâu sắc và toàn diện; trong đó đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục Quan điểm xuyên

suốt của việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông là “dạy học lấy học sinh làm trung tâm”, tức là dạy học sao cho học sinh phải hoạt động tích cực, tự lực để chiếm lĩnh kiến

thức , từ đó phát triển năng lực sáng tạo, hình thành kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, bồi dưỡng tình cảm, thái độ cho học sinh Nghị quyết trung ương 2, khóa

VIII đã chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, ”[12]

Do yêu cầu của đổi mới PPDH, các PPDH tích cực đã được vận dụng vào quá trình dạy học và bước đầu phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong dạy học; khắc phục tình trạng thầy đọc – trò chép, HS thụ động trong học tập Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu về não bộ cho thấy: Thông thường, một người trung bình chỉ sử dụng chưa đến 1% tiềm năng của bộ não trong các lĩnh vực sáng tạo, ghi nhớ, học tập [1], [8] Như vậy, tiềm năng bộ não - tiềm năng trí tuệ - của con người nói

Trang 3

chung và HS nói riêng chưa được phát huy một cách tối đa Vậy câu hỏi đặt ra là: Chúng ta sẽ đạt được những gì khi sử dụng nhiều hơn nữa tiềm năng của não? Học tập như thế nào và sử dụng công cụ gì để tận dụng và phát huy tối đa tiềm năng bộ não? Giải pháp được hướng đến là nghiên cứu ứng dụng BĐTD - công cụ cho mọi hoạt động tư duy - vào dạy học BĐTD là một kỹ thuật hình họa, với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não BĐTD giúp khai phá tiềm năng vô tận của bộ não, phát huy tối đa năng lực tư duy sáng tạo của con người [1] Tony Buzan là một trong số ít những người dành nhiều thời gian nghiên cứu, tìm ra quy luật hoạt động của bộ não và làm việc theo quy luật đó để đạt được những sự thành công đáng kinh ngạc Ông đã xây dựng tên tuổi của mình từ một ý tưởng về cơ bản rất đơn giản mà ông gọi là Bản đồ Tư duy (Mind Map) - công cụ hỗ trợ tư duy được mô tả là “ Công cụ của bộ não ” hiện nay đã được nhiều nước trên thế giới sử dụng

Tại Việt nam trong những năm gần đây, thuật ngữ BĐTD đã thu hút được ngày càng nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu giáo dục trong nước và cụ thể hiện nay trong dự án trung học cơ sở II đã tập huấn với sử dụng BĐTD cho lớp quản lý giáo dục môn Toán, Anh văn, Hóa học, Vật lý ,Giáo dục công dân cũng thu hút đông đảo các nhà quản lý, giáo viên và học sinh tham gia Nhiều GV đã nghiên cứu, ứng dụng BĐTD vào dạy học và đã đạt được những hiệu quả nhất định trong việc phát huy tính tích cực, chủ động; phát huy tiềm năng trí tuệ và năng lực tư duy sáng tạo của HS Thực tiễn cho thấy: dạy học với sự hỗ trợ của BĐTD là giải pháp được lựa chọn nhằm phát huy tối đa tiềm năng trí tuệ và năng lực tư duy sáng tạo của HS

Ở trường THPT đổi mới PPDH nghĩa là tạo mọi điều kiện để HS tiếp thu kiến thức một cách tích cực, tự lực và biết vận dụng sáng tạo để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống Trong nhiều năm qua việc nâng cao chất lượng dạy- học môn Vật lý ở trường phổ thông đã được chú trọng, tuy nhiên hiệu quả của việc dạy và học môn này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong giáo dục, đặc biệt là vấn đề tự học của

Trang 4

học sinh vì tự học là việc học suốt đời của con người GV chỉ chú trọng hướng dẫn giảng giải hết kiến thức trên lớp cho HS , ít đưa ra mối liên hệ lôgíc và hệ thống về những phần kiến thức đó dẫn đến HS ít được rèn luyện các thao tác tư duy và chỉ ghi nhớ kiến thức một cách rời rạc, máy móc và không linh hoạt khi ghi nhớ và vận dụng kiến thức một cách tổng thể, nhất là trong việc ôn tập củng cố Với cách dạy và học hiện nay chưa phát huy nhiều được tiềm năng não bộ, HS vẫn quen với lối ghi thụ động dẫn đến mất khả năng tập trung, tốn thời gian và không kích thích não sáng tạo Với thực tế đó, nhiệm vụ đặt ra cho người GV là phải đổi mới phương pháp dạy học, chú trọng bồi dưỡng cho HS năng lực tự học và giải quyết vấn đề học tập thông qua các nội dung, mọi hoạt động dạy học Vật lý Trong dạy học Vật lý, thông qua sự hỗ trợ của BĐTD là một biện pháp quan trọng góp phần rèn luyện việc tự ôn tập để phát triển

tư duy, rèn luyện các kỹ năng phân tích, tổng hợp và ghi nhớ, qua đó phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của HS trong dạy học Vật lý

BĐTD là công cụ tổ chức tư duy mang tính sáng tạo cao nó tận dụng tất cả các kỹ năng liên quan đến hoạt động sáng tạo, đặc biệt là trí tưởng tượng, sự liên hội ý tưởng

và tính linh hoạt Hiện nay GV mới chỉ tiếp xúc với BĐTD để tìm hiểu các công dụng của nó nhưng chưa khai thác được nhiều, để đưa vào hướng dẫn học sinh tự học, đặc biệt là hướng dẫn học sinh tự ôn tập củng cố Đối với học sinh THPT nói chung và học sinh trường THPT chuyên nói riêng vấn đề tự ôn tập của học sinh đóng vai trò rất quan trọng góp phần rèn luyện tính tự giác, tích cực hoạt động học tập, từ đó kích thích tìm tòi, tổng hợp và tự hoàn thiện kiến thức cho chính mình và hơn nữa với học sinh THPT Chuyên việc sử dụng máy vi tính khá thành thạo và tiếp cận và sử dụng phần mềm là tương đối nhanh Cho nên đây là vấn đề cấp thiết trong dạy học để phát huy tiềm năng trí tuệ và tính tự lực của HS

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “ Hướng dẫn học sinh tự ôn tập củng cố chương “ Hạt nhân nguyên tử ” Vật lý 12 nâng cao với

sự hỗ trợ của Bản đồ tư duy” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

Trang 5

và dạy học ở tiểu học Khoa giáo dục tiểu học, ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh ”, thạc

sỹ Trương Tinh Hà đã thực hiện chuyên đề “ Giảng dạy và học tập với công cụ Bản đồ

tư duy ”

Đối với lĩnh vực Vật lý, việc sử dụng Bản đồ tư duy vào quá trình dạy học đã có một số tác giả nghiên cứu như: Phạm Công Thám với đề tài “ Tổ chức hoạt động dạy học với sự hỗ trợ của Mind Map chương dòng điện trong các môi trường Vật lý 11 nâng cao ”, Lê Thị Kiều Oanh với đề tài “ Nghiên cứu tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học phần Cơ học Vật lý 10 nâng cao với sự hỗ trợ của Mind Map và máy vi tính ”, Lê Thị Hà với đề tài “ Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong dạy giải bài tập Vật lý chương Động học chất điểm và Động lực học chất điểm Vật lý 10 nâng cao với sự hỗ trợ của Mind Map ”, Nguyễn Văn Quang với đề tài “ Bồi Dưỡng NLTH Vật lý cho HS THPT thông qua việc sử dụng SGK với sự hỗ trợ của Bản đồ tư

Trang 6

duy ” Nhìn chung các đề tài trên đã trình bày khá đầy đủ và cụ thể về vấn đề sử dụng BĐTD trong dạy học Vật lý

Như vậy, cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu về vấn đề hướng dẫn học

sinh tự ôn tập củng chương “ Hạt nhân nguyên tử ” Vật lý 12 nâng cao với sự hỗ trợ của Bản đồ tư duy

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Hướng dẫn học sinh làm quen với BĐTD và sử dụng BĐTD trong ghi chép, hệ thống hóa kiến thức để từ đó có thể vận dụng BĐTD vào việc tự ôn tập củng cố kiến thức

- Rèn luyện cho học sinh có được cách thức tự ôn tập củng cố kiến thức nói riêng, kĩ năng tự học nói chung một cách hiệu quả với sự hỗ trợ của BĐTD

4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Hệ thống các kiến thức, kĩ năng học sinh cần có được khi học xong chương “ Hạt nhân nguyên tử ” Vật lý 12 nâng cao

- Hoạt động tự ôn tập củng cố kiến thức chương “ Hạt nhân nguyên tử ” Vật lý 12 nâng cao với sự hỗ trợ của BĐTD

5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu việc tự ôn tập củng cố kiến thức chương “ Hạt nhân nguyên tử ” Vật lý 12 nâng

cao có sự hỗ trợ của BĐTD thì sẽ nâng cao hơn hiệu quả hoạt động tự học của HS

6 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tôi nhận thấy cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề tự học nói chung và tự ôn tập củng cố kiến thức nói riêng với sự hỗ trợ của BĐTD

- Nghiên cứu về cơ sở lí luận của việc ứng dụng BĐTD trong giảng dạy, học tập và vận dụng đưa vào tự học và đặc biệt trong việc ôn tập củng cố, hệ thống hóa kiến thức

- Tổ chức buổi báo cáo, giới thiệu BĐTD cho học sinh và hướng dẫn sử dụng phần mềm Conceptdraw và iMindmap , vẽ tay trong việc lập các BĐTD

Trang 7

- Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp nhằm hướng dẫn học sinh rèn luyện các kĩ năng tự ôn tập củng cố kiến thức chương “ Hạt nhân nguyên tử ” Vật lý 12 nâng cao với sự hỗ trợ của BĐTD

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm với HS trường THPT Chuyên Hà Giang để khẳng định tính khả thi của các biện pháp đề xuất và rút ra kết luận

7 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, tôi chỉ nghiên cứu thực trạng về ôn tập củng cố của một số trường THPT tại địa bàn tỉnh Hà Giang và một số biện pháp hướng dẫn học sinh trường THPT Chuyên Hà Giang tự ôn tập củng cố chương “ Hạt nhân nguyên tử ” Vật lý 12 nâng cao với sự hỗ trợ của BĐTD

8 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

8.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của vấn đề tự học và tự ôn tập củng cố

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng BĐTD trong dạy và học Vật lý

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng BĐTD vào hoạt động tự học nói chung và

tự ôn tập của học sinh nói riêng

- Nghiên cứu nội dung kiến thức chương “ Hạt nhân nguyên tử ” Vật lý 12 nâng cao

để có cái nhìn tổng thể về hệ thống hóa kiến thức

8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

8.2.1 Phương pháp chuyên gia

- Tranh thủ sự tư vấn của các chuyên gia về việc sử dụng BĐTD trong học tập

để giúp cho việc triển khai nghiên cứu đề tài có thêm cơ sở vững chắc

- Tham khảo ý kiến của GV và HS, cộng đồng dân cư mạng đã và đang sử dụng BĐTD trong học tập để có cái nhìn khách quan, trung thực về những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng BĐTD trong học tập, nhất là trong việc ôn tập củng cố kiến thức VL

8.2.2 Phương pháp điều tra, quan sát sư phạm

Trang 8

- Tìm hiểu thực trạng vấn đề tự học, tự ôn tập củng cố nói chung và ôn tập củng

cố với sự hỗ trợ của BĐTD nói riêng của một số trường tại tỉnh Hà Giang

- Điều tra sự hiểu biết của học sinh về BĐTD và việc vẽ tay, sử dụng phần mềm

để vẽ BĐTD Nếu có sử dụng thì lĩnh vực hay môn học nào mà học sinh thường áp dụng để vẽ BĐTD trong học tập

- Quan sát sư phạm để đánh giá mức độ hứng thú, thái độ tích cực của học sinh trong việc sử dụng BĐTD để tự ôn tập củng cố kiến thức

8.3 Phương pháp thử nghiệm sư phạm

Tiến hành thực nghiệm có đối chứng đối với lớp 12T bằng cách chia đôi lớp 12T thuộc trường THPT Chuyên Hà Giang thành hai lớp, mội lớp thực nghiệm và một lớp đối chứng nhằm kiểm tra tính hiệu quả và khả thi của đề tài

8.4 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm

và kết quả điều tra để rút ra những kết luận về sự khác nhau trong kết quả học tập của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm

9 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn gồm 3

chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về sử dụng Bản đồ tư duy trong việc tự ôn tập củng cố kiến thức Vật Lý của học sinh

Chương 2: Hướng dẫn học sinh tự ôn tập củng cố chương “ Hạt nhân nguyên tử ”

Vật lý 12 nâng cao với sự hỗ trợ của Bản đồ tư duy

Chương 3: Thực nghiệm Sư phạm

Trang 9

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ

TƯ DUY TRONG VIỆC TỰ ÔN TẬP CỦNG CỐ KIẾN THỨC

VẬT LÝ CỦA HỌC SINH

1.1 Tự học và năng lực tự học

1.1.1 Khái niệm tự học

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về tự học:

Theo GS Viện sĩ Nguyễn Cảnh Toàn, “ Tự học là tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ ( Quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp ( Khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cá nhân sinh quan, thế giới quan ( trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [28]

Theo GS Thái Duy Tuyên thì cho rằng: “ Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của

chính bản thân người học ” [31]

Mỗi nhà nghiên cứu đều đưa ra một định nghĩa riêng về tự học, nhưng tất cả đều

có chung quan điểm : Tự học là quá trình tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người nói chung của chính bản thân người học Trong quá trình đó, người học là chủ thể của quá trình nhận thức, nỗ lực sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp cùng với các phẩm chất của mình để tiến hành hoạt động nhận thức

1.1.2 Năng lực tự học và kỹ năng tự học

1.1.2.1 Năng lực tự học

Trang 10

Ta đã biết học có nghĩa là tự học, có hai cách học cơ bản

- Cách học có phần bị động, từ ngoài áp vào dựa theo mô hình Pavlốp

- Cách học chủ động, tự bản thân mình tìm ra kiến thức theo mô hình Skinner

Có nhiều khái niệm về năng lực tự học khác nhau nhưng có thể hiểu năng lực tự

học là phẩm chất sinh lý và tâm lý tạo cho con người khả năng tự tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao

1.1.2.2 Kĩ năng tự học

Theo từ điển Từ và Ngữ Hán Việt: “ Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến

thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn ”[21]

Hệ thống kỹ năng học tập của HS có thể phân thành các nhóm kỹ năng khác nhau:

( Tạp trí GD số 63 tháng 11-2010)

- Nhóm kĩ năng nhận thức học tập, bao gồm: Hệ thống kỹ năng tìm kiếm, khai

thác các nguồn thông tin( tư liệu, dữ liệu ); hệ thống kĩ năng xử lý, tổ chức, đánh giá thông tin liên quan đến nội dung học tập; hệ thống kỹ năng áp dụng, biến đổi , phát triển kết quả nhận thức để giải thích hoặc đánh giá các sự kiện khoa học và thực tiễn đời sống hàng ngày

- Nhóm kỹ năng giao tiếp quan hệ, bao gồm: Hệ thống kỹ năng trình bày ngôn

ngữ giao tiếp bằng văn bản , lời nói của học sinh với giáo viên, với bạn bè về những vấn đề học tập; hệ thống kỹ năng giao tiếp học tập thông qua các hình thức tương tác và quan hệ; hệ thống kỹ năng giao tiếp được sử dụng các phương tiện viễn thông và công nghệ thông tin hiện đại nhằm đạt được mục đích học tập

- Nhóm kĩ năng quản lý học tập, bao gồm: Hệ thống kỹ năng tổ chức môi trường

học tập cá nhân ; hệ thống kỹ năng kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả học tập

Từ hai khái niệm ở trên cho thấy, giữa kỹ năng và năng lực có mối liên hệ mật thiết với nhau, có thể nói kỹ năng là dạng năng lực làm, là khả năng ứng dụng tri thức khoa

Trang 11

học vào thực tiễn Kỹ năng chính là biểu hiện của năng lực vì thế dựa vào kỹ năng có thể biết được năng lực một cách cụ thể [14]

1.2 Bồi dưỡng năng tự học Vật Lý

Từ khái niệm năng lực tự học ở trên, có thể hiểu năng lực tự học Vật lý là khả

năng tìm tòi, nhận thức kiến thức Vật lý ( khái niệm, định luật, thuyết, các phương pháp nhận thức Vật lý và các ứng dụng của Vật lý ) và vận dụng chúng để giải quyết các tình huống mới hoặc tương tự của Vật lý với chất lượng cao hơn Chẳng hạn như, sau khi học về hiện tượng tán sắc ánh sáng thì học sinh có thể vận dụng kiến thức đó để giải thích được sự xuất hiện của cầu vồng trong tự nhiên

Từ mối liên hệ giữa năng lực tự học và kỹ năng tự học, có thể rút ra kết luận như sau: Muốn bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh thì cần rèn luyện cho các em các kỹ năng tự học như kỹ năng thu thập thông tin, kỹ năng xử lý thông tin, kỹ năng truyền đạt thông tin, kỹ năng vận dụng thông tin vào thực tiễn

Như vậy, có thể tóm tắt việc bồi dưỡng năng lực tự học Vật lý cho học sinh như bảng

sau: [14]

Trang 12

Bảng 1.1 Các kỹ năng cần rèn luyện để bồi dưỡng NLTH VL cho HS

Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá: kỹ năng này sẽ thực hiện chức

năng hỗ trợ là chuẩn đoán, điều chỉnh cho những kỹ năng

trước đó, từ đó sẽ giúp cho quá trình tự học của học sinh trở

nên có hiệu quả hơn

Kỹ năng lưu trữ, sắp xếp thông tin (kiến thức Vật lý) thu thập

được đóng vai trò quan trọng trong việc liên kết các thông tin,

hỗ trợ cho việc xử lý, truyền đạt cũng như vận dụng thông tin

được dễ dàng hơn

Kỹ năng xử lý thông tin như: Người học thực hiện cac thao tác

tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp để từ đó xây dựng

biểu đồ; vẽ đồ thị; rút ra kết luận bằng suy luận quy nạp, khái

quát hóa các thông tin (kiến thức Vật lý) thu thập được

Kỹ năng tryền đạt thông tin: sau khi xử lý các kiến thức Vật lý

thì học sinh chúng dưới dạng thuyết trình, thảo luận khoa học,

viết báo cáo việc rèn luyện tốt kỹ năng này sẽ tạo được sự

tự tin cho học sinh

Kỹ năng vận dụng thông tin như: giải thích cấu tạo, nguyên tắc

hoạt động và ứng dụng của các thiết bị kĩ thuật; giải thích các

hiện tượng Vật lý; giải các bài toán Vật lý

Kỹ năng thu thập thông tin (kiến thức Vật lý) từ quan sát thực

tế, từ thí nghiệm; điều tra, sưu tầm tài liệu, khai thác mạng

internet Với sự bùng nổ thông tin như ngày nay, việc thu

thập thông tin cần có sự chọn lọc cao thì mới mang lại hiệu

quả cho việc tự học

Kỹ năng thực hành Vật lý: Rèn luyện cho học sinh sự thành

thạo các dụng cụ đo lường Vật lý đơn giản, lắp ghép các thí

nghiệm theo giáo trình, sự tạo thí nghiệm Vật lý đơn giản

Năng lực

tự học Vật

Trang 13

1.3 Ôn tập – củng cố

1.3.1 Khái niệm ôn tập trong dạy học Vật lý

Việc ôn tập tài liệu đã học là một khâu không thể thiếu được trong quá trình dạy –

tự học [28]

Ôn tập là một quá trình củng cố kiến thức làm cho kiến thức được vững chắc

và lâu bền trong trí nhớ của học sinh , để có thể vận dụng chúng vào việc giải bài tập hoặc ứng dụng vào thực tế đời sống Ôn tập còn là cơ sở để tiếp thu tốt những kiến thức mới Trong những trường hợp kiến thức mới có liên quan hoặc là sự phát triển tiếp tục các kiến thức đã học thì sự ôn tập càng cần thiết

Như vậy có thể hiểu ôn tập là quá trình người học xác nhận lại thông tin, bổ sung

và chỉnh lý thông tin, tổ chức lại thông tin theo một cấu trúc khoa học hơn, dễ nhớ và

dễ gợi lại hơn, vận dụng thông tin đã lĩnh hội qua đó củng cố, mở rộng, đào sâu tri thức, làm vững chắc các kỹ năng, kỹ xảo đã được lĩnh hội, phát triển trí nhớ, tư duy của

HS

Ôn tập phải giúp thu nhận thêm điều mới về kiến thức, phương pháp hoặc hệ thống hoá và rút ra những nhận định mới Đó là nguyên tắc quan trọng của ôn tập Việc ôn tập kiến thức Vật lý có thể theo chương, theo môn học hay theo từng bài giảng Thậm chí có thể phân theo các nội dung Vật lý để ôn tập

1.3.2 Vai trò và vị trí của ôn tập trong quá trình nhận thức

Ôn tập được tổ chức tốt chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong quá trình dạy học ở bất cứ môn học nào trong nhà trường Nó là biện pháp cần thiết mà GV phải sử dụng trong việc dạy học của mình và nó giúp người học trong quá trình hoàn thiện tri thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo Nhờ ôn tập được tổ chức tốt mà những kiến thức đã được học không chỉ được ghi lại trong trí nhớ mà còn được cấu trúc lại, khắc sâu một cách sáng tạo hơn, cái thứ yếu sẽ được loại bỏ ra ngoài và cái chủ yếu được gắn lại với nhau và có một chất lượng mới Kiến thức giữ lại trong trí nhớ nếu thiếu ôn tập, và nói

Trang 14

chung nếu thiếu bất kỳ sự vận dụng nào thì sẽ bị “teo lại” giống như các cơ trong cơ thể nếu thiếu sự luyện tập

Thông qua việc OTCC giúp HS hệ thống hoá kiến thức, xây dựng được một

“bức tranh” tổng thể, hệ thống về những kiến thức, luyện tập và phát triển các kĩ năng

đã được học, giúp HS đào sâu, mở rộng, khắc sâu các kiến thức, sửa và tránh được các sai lầm thường mắc phải trong và sau khi tiếp thu kiến thức mới

1.3.3 Nội dung cần OTCC trong dạy học vật lý

Ôn tập là một khâu trong các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông, vì thế ôn tập không tự đề ra nội dung, chương trình riêng cho nó mà trên cơ sở nội dung chương trình của môn học quy định cho từng khóa học mà lựa chọn những vấn đề cơ bản cần ôn tập và sắp xếp có hệ thống những vấn đề đó Ôn tập cũng không tự đề ra phương pháp riêng cho mình mà dựa trên phương pháp dạy học của bộ môn với nội dung cần ôn tập để lựa chọn phương pháp thích hợp nhất trong khoảng thời gian cho phép được quy định của chương trình [28]

Đối với môn Vật lý, cái tạo nên nội dung chính của môn học là những kiến thức vật lý cơ bản Thông qua việc hình thành những kiến thức cơ bản đó mà thực hiện các nhiệm vụ khác của dạy học vật lý, trước hết là phát triển năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo, hình thành thế giới quan khoa học Trong quá trình dạy học Vật lý cần chú ý đến những tác động sư phạm khác nhằm điều hành quá trình dạy học từ đầu đến cuối, thí dụ như: gợi động cơ, hứng thú, củng cố, ôn tập, điều chỉnh, kiểm tra, đánh giá…

Những kiến thức Vật lý cơ bản cần hình thành trong quá trình học kiến thức mới cũng như trong quá trình OTCC trong chương trình vật lý ở trường phổ thông gồm các loại sau:

- Những khái niệm Vật lý, đặc biệt là những khái niệm về đại lượng vật lý

- Những định luật vật lý

- Những thuyết vật lý

- Những ứng dụng của vật lý trong kĩ thuật

Trang 15

- Ôn tập thông qua trả lời các câu hỏi ôn bài dưới dạng tự luận Hình thức này

được thực hiện thông qua hệ thống các câu hỏi được GV chuẩn bị sẵn, đó là các câu hỏi kiểm tra bài cũ đầu giờ, hoặc những câu hỏi đặt ra trong tiết học nhằm gợi lại kiến thức cũ mà nó là cơ sở để hình thành kiến thức mới trong bài học, hoặc cũng có thể được thực hiện ngay sau khi trình bài tài liệu mới, nhằm củng cố những kiến thức HS vừa mới lĩnh hội, chốt lại những kiến thức cơ bản, cốt lõi của bài học

- Ôn tập thông qua lập bản tóm tắt bài học hoặc phần, chương kiến thức đã học

Hình thức này có thể tiến hành bằng cách đưa ra các câu hỏi, những yêu cầu để HS trả lời hoặc làm các bài tập có tính chất hệ thống hóa, tổng kết những kiến thức cơ bản của bài học và thường được sử dụng sau khi kết thúc một chương hoặc một phần của chương trình

- Ôn tập thông qua làm bài tập luyện tập Các bài tập có thể dưới dạng trắc nghiệm

khách quan hoặc dạng tự luận và thường được sử dụng nhiều với mục đích nhằm củng

cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng vận dụng, sử dụng các kiến thức đã học để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể

Trang 16

- Ôn tập thông qua lập sơ đồ kiến thức Hình thức ôn tập này thường được thực

hiện trong một (hoặc một vài) tiết học riêng biệt Mục đích sư phạm của các tiết ôn tập như vậy là chỉnh lý lại, hệ thống lại, tìm ra mối liên hệ lôgic giữa các kiến thức mà HS

đã được lĩnh hội trong một phần của tài liệu học; tạo cho HS có cái nhìn toàn diện về nội dung kiến thức trong phần đó Trong hình thức ôn tập này có thuận lợi trong ôn tập chương, phần kiến thức

Tất cả các hình thức ôn tập trên có thể được thực hiện ngay trong các giờ lên lớp chính khóa (dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GV), có thể thực hiện trong các giờ học ngoại khóa và cũng có thể tự học sinh thực hiện ở nhà (dưới sự hướng dẫn gián tiếp của GV)

1.3.5 Mối quan hệ giữa OTCC và kiểm tra, đánh giá

Ôn tập nói chung được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ với công việc kiểm tra tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Những công việc mà đòi hỏi tính tích cực của HS nhiều hơn là khi giảng kiến thức mới Về vấn đề này N.N Baranxki đã chỉ rõ [13]: chúng ta

có thể hợp nhất hoàn toàn tự giác cả ôn tập và kiểm tra vào làm một Tuy nhiên tính mục đích của ôn tập và kiểm tra hoàn toàn khác nhau Ở trường hợp thứ nhất là công tác củng cố tri thức, ở trường hợp thứ hai là việc kiểm tra chúng với sự cho điểm (đánh giá) thích đáng Tất nhiên mặc dù ở tính mục đích khác nhau nhưng ôn tập và kiểm tra tiến hành một cách đồng thời Bất kỳ việc ôn tập nào của GV (do GV tổ chức) cũng đồng thời tiến hành cả kiểm tra tri thức, mặc dù người GV không có dụng ý đạt mục đích này đi nữa

Ôn tập và kiểm tra liên hệ giữa chúng với nhau vô cùng khăng khít Tổ chức ôn tập để tuyệt đối hóa nó, không có yếu tố kiểm tra hoặc tổ chức kiểm tra để tuyệt đối hóa nó, không có yếu tố ôn tập như thế không thể có được Ở đây công việc có thể tiến hành chỉ là trong trường hợp thứ nhất, những yếu tố ôn tập trội hơn yếu tố kiểm tra, hoặc trong trường hợp thứ hai thì ngược lại Thực tế việc giảng dạy và học tập ở trường phổ thông cho ta thấy rõ điều này

Trang 17

Ôn tập được tổ chức theo tiết học thông qua kiểm tra (vấn đáp, tự luận, trắc nghiệm…) và việc đánh giá đúng trình độ nhận thức của HS qua kiểm tra giúp GV lựa chọn đúng nội dung và đối tượng cần ôn tập Ôn tập tốt giúp người học thể hiện tốt trình độ nhận thức của mình trong bài kiểm tra trên lớp

Như vậy ôn tập được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ với kiểm tra và thông qua các hình thức tổ chức dạy học cơ bản Việc tách riêng ôn tập và kiểm tra là

do mục đích, nhiệm vụ của mỗi công việc và chúng ta không thể tuyệt đối hóa từng công việc được Sự phân chia công việc như vậy trong tiết học chỉ mang tính tương đối Có thể biểu diễn quan hệ đó qua sơ đồ sau:

1.3.6 Ôn tập tổng kết sau mỗi mục, bài, chương

Trong các hình thức ôn tập kể trên, những kiến thức cũ được vận dụng nhiều lần trong trí óc học sinh nên làm cho họ nhớ kĩ và hiểu sâu Tuy nhiên, chúng có nhược điểm là chưa làm nổi bật được mối liên hệ lôgíc giữa những kiến thức, giữa các phần của chương trình Bởi vậy sau mỗi bài, mỗi phần hay mỗi chương cần phải tổ chức ôn tập và hệ thống hoá kiến thức cho học sinh Ôn tập tổng kết chính là hình thức nhằm

phối hợp chặt chẽ giữa học sinh với tư liệu và giáo viên trong quá trình dạy học Ôn tập

tổng kết hoàn toàn không có nghĩa là nhắc lại tất cả các chi tiết của các vấn đề đã học, lại càng không có nghĩa là lập một dàn bài, tập hợp tất cả các mục đã có trong từng bài

9

Trang 18

Ôn tập tổng kết là nêu lên được tất cả những khái niệm, những định luật, những quy tắc

cơ bản của hệ thống kiến thức trong mối quan hệ hữu cơ của chúng

- Ôn tập tổng kết phải có tác dụng nâng cao trình độ hiểu biết của học sinh về tài liệu đã học Để làm được việc này không nhất thiết phải đưa những kiến thức mới vào nội dung ôn tập, tổng kết, mà chủ yếu giúp học sinh có cái nhìn tổng quát về các vấn đề nghiên cứu riêng lẻ trước kia, khái quát hoá những tài liệu mà học sinh đã thu được thêm trong quá trình làm bài tập, làm thí nghiệm, thăm quan, bổ sung cho phần lý thuyết còn quá cô đọng dạy ở trên lớp Cũng có những kiến thức cần ôn tập kĩ để phát triển thêm một số điểm mở rộng kiến thức mới trong bài tiếp theo Ôn tập tổng kết phải

có tác dụng giúp cho học sinh dễ nắm, dễ nhớ hệ thống kiến thức đã học để sau này các

em có thể sử dụng trong bài tổng kết để ôn tập cuối năm, cần gợi cho học sinh thủ thuật nhớ công thức, định luật Cách tốt nhất là tổng kết kiến thức thành bảng hoặc sơ đồ

1.3.7 Vai trò của việc ôn tập trong dạy học Vật lý

- Ôn tập giúp cho học sinh nắm được kiến thức một cách chắc chắn, hiểu được bản chất của hiện tượng Vật lý, các mối quan hệ hữu cơ giữa các khái niệm, định luật, quy tắc tìm ra được cách nhớ nhanh, hình thành kĩ năng, kĩ xảo, phân tích, tổng hợp kiến thức, tư duy giải bài tập

- Ôn tập đóng vài trò tích cực trong việc tiếp thu bài mới

1.3.8 Trí nhớ - Kỹ thuật và lí thuyết ôn tập [7]

Nếu biết cách ôn tập, có thể giữ khả năng nhớ ở mức cao ngay sau khi học Muốn làm được điều này phải hình thành một dạng thức ôn tập thật bài bản sao cho

luôn có mỗi phiên ôn tập ngay vào thời điểm khả năng nhớ sắp giảm Ví dụ, phiên ôn tập đầu tiên phải diễn ra sau giờ học khoảng 10 phút và thời gian ôn tập là 5 phút Việc làm vừa nêu sẽ giữ cho mức nhớ cao trong khoảng một ngày, rồi đến phiên ôn tập thứ hai dài 2 – 4 phút Sau phiên này, khả năng nhớ có thể được duy trì khoảng một tuần, rồi đến phiên ôn tập thứ ba dài 2 phút, và sau một tháng là phiên ôn tập thứ tư Sau lần ôn tập thứ tư, kiến thức sẽ được đưa vào trí nhớ dài hạn; nghĩa là, nó sẽ trở

Trang 19

nên quen thuộc như số điện thoại cá

nhân, lâu lắm mới phải nhắc lại một lần

để khỏi quên

Phiên ôn tập đầu tiên, đặc biệt nếu

có ghi chú, phải là một lần chỉnh sửa

tương đối hoàn chỉnh, nghĩa là có thể

thay thế những ghi chú ban đầu bằng các

ghi chú sau cùng đã qua chỉnh sửa, Phiên

ôn tập thứ hai, thứ ba, thứ tư,…phải theo

quy cách sau: không nhìn vào ghi chú

hoàn chỉnh, ghi nhanh tất cả những gì

nhớ được vào mộ mảnh giấy, sau đó đối chiếu với ghi chú hoàn chỉnh rồi sửa hoặc thêm thông tin vào đó cho đúng

Một trong những khía cạnh có ý nghĩa nhất của ôn tập đúng phương pháp là hiệu ứng tích tụ của nó sẽ tác động đến tất cả các mặt của việc học, tư duy và nhớ Người không ôn tập thường lãng phí công sức đầu tư cho việc học, và tự đặt mình vào tình thế vô cùng bất lợi

Việc không ôn tập cũng có tác dụng bất lợi tương tự cho trí nhớ nói chung Khi mỗi thông tin bị quên đi, nó sẽ không tồn tại trong phạm vi của ý thức, và không sẵn có

để hình thành các kết nối mới Vì trí nhớ là một qui trình dựa trên sự liên kết, liên tưởng nên càng ít thông tin có trong “kho nhớ” thì càng ít có khả năng những thông tin mới được ghi nhận, kết nối

Ngược lại, lợi ích của việc ôn tập là vô cùng to lớn Càng duy trì được vốn kiến thức hiện có của mình, bạn càng có nhiều khả năng tiếp thu và xử lý chúng Rồi khi học, khối lượng kiến thức rộng mở trong tầm tay của bạn sẽ giúp bạn có thể “tiêu hóa” kiến thức mới dễ dàng hơn rất nhiều, vì mỗi thông tin mới đều được tiếp thu trong phạm vi

kho thông tin liên quan sẵn có của bạn (xem biểu đồ 1.1)

Biểu đồ 1.1

Trang 20

1.4 Cơ sở lí luận của việc sử dụng Bản đồ tư duy trong tự học

1.4.1 Khái niệm và đặc điểm của bản đồ tư duy

Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,… là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề… bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết

Nghĩa của cụm từ BĐTD không hiểu theo nghĩa bản đồ thông thường như bản

đồ địa lí mà BĐTD được hiểu là một hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi người bằng việc kết hợp nét vẽ, màu sắc và chữ viết Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, việc thiết kế BĐTD theo mạch tư duy của mỗi người, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắt khe như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một nội dung nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng do đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người

BĐTD một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não Nó được coi là sự lựa chọn cho toàn bộ trí óc hướng tới lối suy nghĩ mạch lạc Tony Buzan là người đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu tìm ra hoạt động của bộ não Theo Tony Buzan “một hình ảnh có giá trị hơn cả ngàn từ…” và “màu sắc cũng

có tác dụng kích thích não như hình ảnh Màu sắc mang đến cho BĐTD những rung động cộng hưởng, mang lại sức sống và năng lượng vô tận cho tư duy sáng tạo”

Cơ chế hoạt động của BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh) BĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ với nhau vì

vậy có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức, và lập kế hoạch công tác [ 27]

Trang 21

Kỹ thuật tạo ra bản đồ tư duy này được gọi là Mindmapping và được phát triển bởi Tony buzan vào đầu năm 1970 Ở giữa bản đồ tư duy là một chủ đề trung tâm này

sẽ được phát triển bằng các nhánh nhỏ thể hiện các tiêu đề nhằm nghiên cứu chủ đề

ở mức độ sâu hơn Trong từng tiêu đề được phát triển bởi những nhánh nhỏ này lại tiếp tục được phân thành nhiều nhánh nhỏ hơn, nhằm nghiên cứu vấn đề ở mức độ sâu hơn nữa và các chi tiết hỗ trợ Nhờ sự kết nối giữa

các nhánh, các ý tưởng cũng có sự liên kết

dựa trên mối liên hệ của bản thân chúng,

điều này khiến BĐTD có thể bao quát được

các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng

mà một bản liệt kê ý tưởng thông thường

không thể làm được [1], [7]

1.4.2 Cách đọc bản đồ tư duy

Cấu trúc của BĐTD không xuất phát từ

trái sang phải và từ trên xuống dưới theo

kiểu truyền thống Thay vào đó, BĐTD

được vẽ, viết và đọc theo hướng bắt nguồn

từ trung tâm di chuyển ra phía ngoài và sau

đó là theo chiều kim đồng hồ ( Hình 1.2)

Do đó, các từ ngữ trên BĐTD nên được đọc

từ phải sang trái, bắt đầu từ phía trong di chuyển ra ngoài Các mũi tên xung quanh BĐTD bên dưới chỉ ra cách đọc thông tin trong sơ đồ Các số thứ tự cũng là một hướng dẫn khác

Bốn kết cấu chính I, II, III, IV trong BĐTD phía trên được gọi là nhánh chính BĐTD có bốn nhánh chính vì nó có bốn tiêu đề phụ Số tiêu đề phụ là số nhánh chính Đồng thời các nhánh chính của BĐTD được đọc theo chiều kim đồng hồ, bắt nguồn từ

Hình 1.2 Cách đọc BĐTD Hình 1.1 Cấu trúc của BĐTD

Trang 22

nhánh I tới nhánh II, rồi nhánh III, và cuối cùng là nhánh IV Các từ khóa được viết và đọc theo hướng từ trên xuống dưới trong cùng một nhánh chính [6]

1.4.3 Cách vẽ bản đồ tư duy

1.4.3.1 Công cụ vẽ BĐTD

Có hai cách để tạo ra BĐTD: Vẽ bằng tay hoặc bằng máy vi tính Nếu vẽ bằng tay thì

học sinh chỉ cần một tờ giấy A4, một hộp bút màu và bộ não của mình Với cách thức

vẽ bằng Máy vi tính, Học sinh có thể sử dụng các phần mềm ConceptDraw hoặc vẽ bằng phần mềm Buzan's iMindMap V4 Ngoài ra có thể sử dụng nhiều phần mềm khác như Mind Mapping hoặc vẽ bằng chương trình Microsoft Word, hình ảnh trung

tâm thì có thể dễ dàng tìm kiếm trên internet

1.4.3.2 Các bước vẽ BĐTD

Bước 1: Vẽ chủ đề chính ở trung tâm Để vẽ chủ đề chính ở trung tâm, trước hết

HS phải xác định được nội dung kiến thức trọng tâm của bài học hoặc một phần của bài học Sau đó, HS thể hiện nội dung chủ đề ở chính giữa tờ giấy đặt nằm ngang hoặc trên bản vẽ bằng hình ảnh hoặc từ khóa Sử dụng các yếu tố: kích thước, màu sắc…để làm nổi bật nội dung của chủ đề chính

 Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ

Nội dung của các tiêu đề phụ chính là các nội dung kiến thức cơ bản của một bài học hoặc một đơn vị kiến thức nào đó của bài học Những nội dung kiến thức này sẽ góp phần làm sáng tỏ nội dung của chủ đề chính ở trung tâm HS vẽ thêm các tiêu đề phụ bằng hình ảnh hoặc chữ in hoa xung quanh hình ảnh trung tâm, lưu ý cách bố trí và

sử dụng màu sắc Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng

 Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ

Sau khi vẽ các tiêu đề phụ, HS xác định những nội dung kiến thức hỗ trợ cho nội dung của các tiêu đề phụ đó rồi tiến hành vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ Trong khi

Trang 23

vẽ, HS cũng chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được

vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh

 Bước 4: Hoàn thiện BĐTD HS có thể thêm nhiều hình ảnh và sử dụng màu sắc

giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, bổ sung các liên kết cần thiết để hoàn thiện BĐTD Sau đây là BĐTD của chương thuyết tương đối hẹp

Hình 1.3 BĐTD chương “Thuyết tương đối hẹp” Vật lý 12 nâng cao

1.4.3.3 Nguyên tắc vẽ BĐTD

Để sử dụng BĐTD một cách có hiệu quả, trong quá trình lập và sử dụng BĐTD,

cần tuân theo các quy tắc: nhấn mạnh, liên kết và mạch lạc

Trang 24

Bắt đầu với một hình màu ở trung tâm, mỗi hình ảnh dùng ít nhất ba màu và sử dụng hình ảnh ở mọi nơi trong BĐTD Sử dụng hình ảnh sẽ thu hút được sự tập trung của mắt và não, kích hoạt vô số liên kết và giúp cho việc ghi nhớ dễ dàng hơn Nếu buộc phải dùng từ thay cho ảnh làm trung tâm trong BĐTD, hãy biến nó thành hình ảnh bằng cách dùng kích cỡ, màu sắc và hình thức lôi cuốn

Thay đổi kích cỡ ảnh, chữ in và dòng chữ chạy kết hợp cách dòng thích hợp để chỉ tầm quan trọng tương đối giữa các thành phần trong cùng một phân cấp [4], [11]

1.4.3.3.2 Liên kết

Liên kết có vai trò tăng trí nhớ và sáng tạo nên cũng rất quan trọng Trong não, liên kết chính là công cụ tích hợp giúp chúng ta nắm bắt những cảm nghiệm trong thế giới vật chất Đối với trí nhớ và sự hiểu biết, liên kết là then chốt Một khi bạn đã xác định hình ảnh ở trung tâm và ý chủ đạo thì khả năng liên kết của não sẽ giúp bạn đi sâu vào thế giới ý tưởng Mọi kỹ thuật nhấn mạnh đều có thể được dùng để liên kết, và ngược lại Ngoài ra, cần chú ý đến các quy tắc sau:

Màu sắc là một trong những công cụ tăng cường trí nhớ và sáng tạo hiệu quả nhất

Vì vậy, nên sử dụng màu sắc ở mọi nơi trong BĐTD Dùng màu sắc để làm ký hiệu hay phân biệt các vùng trong BĐTD sẽ làm tăng tốc độ tiếp cận thông tin và khả năng ghi nhớ thông tin

Dùng ký hiệu là quy tắc không kém phần quan trọng trong các quy tắc về liên kết Khi dùng ký hiệu, các mối liên kết giữa các bộ phận trong cùng một trang trong BĐTD

sẽ dễ dàng được tìm thấy bất kể chúng xa hay gần nhau Có thể ký hiệu bằng dấu kiểm, dấu thập chéo, vòng tròn, tam giác và gạch dưới hay những dấu hiệu phức tạp hơn Các

ký hiệu và biểu tượng bằng màu sắc có thể được ấn định bởi từng cá nhân hay cả nhóm [8], [17]

Trang 25

1.4.3.3.3 Mạch lạc

Diễn đạt không sáng sủa sẽ khó tiếp thu Một ghi chú viết vẽ nguệch ngoạc sẽ gây trở ngại nhiều hơn là giúp cho trí nhớ vì nó đi ngược lại bản tính liên kết của tư duy, và hạn chế tư duy mạch lạc Để tránh được điều đó, trong quá trình vẽ BĐTD nên:

Dùng chữ in hoặc có thể dùng kết hợp chữ in thường ở chủ đề chính và các tiêu

đề chính để biểu thị mức quan trọng tương đối giữa các từ trong BĐTD Chữ in tạo cảm giác như ảnh chụp nên rõ ràng, dễ đọc và toàn diện hơn Chữ in phải nằm trên đường phân nhánh và các đường phân nhánh phải liên kết với nhau Các ý phụ hay các chi tiết phụ có thể dùng chữ thường nét đậm sao cho dễ nhìn Mỗi đường phân nhánh chỉ có một vài từ khóa Việc dùng một vài từ khóa cho mỗi đường phân nhánh sẽ làm tăng sự liên kết của các từ khóa Mỗi từ có thể có đến hàng ngàn liên kết Điều này giúp cho việc ghi chú trở nên dễ dàng và linh hoạt hơn [8], [17]

1.4.4 Ưu điểm của cách ghi chép bằng BĐTD [28]

- Kích thích tính sáng tạo của học sinh

- Giúp mở rộng ý tưởng, đào sâu kiến thức

- Giúp hệ thống hóa kiến thức

- Giúp ghi nhớ nhanh, nhớ sâu, nhớ lâu kiến thức

Kiểu ghi chép của BĐTD thể hiện bằng hình ảnh, đường nét, màu sắc được trải theo các hướng có tính tuần tự và có độ thoáng, giúp dễ dàng phát triển ý tưởng nhanh

Trang 26

hơn so với cách ghi chép thông thường theo kiểu xuống dòng Điểm mạnh nhất của

BĐTD là giúp phát triển ý tưởng và không bỏ sót ý tưởng Việc xây dựng được một

hình ảnh thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt: Ghi nhớ, phát triển nhận thức , tư duy,óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo BĐTD vừa như bức tranh tổng thể mà lại chi tiết, vừa giúp nhìn được khái quát toàn bộ vấn đề vừa nhìn được cái cụ thể trong cái nhìn tổng thể

1.4.5 Ý nghĩa của bản đồ tư duy

BĐTD là một kỹ thuật hình họa, với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động

và chức năng của não bộ BĐTD hoạt động dựa trên

hai nguyên tắc chủ chốt là tưởng tượng và liên kết

Não bộ của con người chính là bộ máy nhân và nó

nhân các ý tưởng bằng sự liên kết [1]

Não bộ được hình thành từ hàng tỷ các tế bào não

gọi là nơ-ron thần kinh Mặc dù có kích thước cực nhỏ,

mỗi nơ-ron này có sức mạnh xử lý thông tin tương

đương với một máy vi tính Trung bình mỗi người có khoảng 1.000.000.000.000 ron cấu tạo nên não bộ Điều đó cho thấy não bộ có một sức mạnh gần như vô hạn [8] Phần tiến hóa nhất của bộ não là vỏ não Vỏ não

nơ-được cấu tạo bởi hai bán cầu não riêng biệt, thường

được biết tới như là não trái và não phải Não trái xử lý

thông tin với các chức năng liên quan đến nhận thức

như: ngôn ngữ viết và nói, phân tích, lập luận, sự kiện,

toán học, thứ tự Não phải tham gia vào công việc

liên quan đến sáng tạo, tưởng tượng, mơ mộng, màu

sắc, âm điệu, di chuyển, cảm xúc và triết học [8] Có

thể tóm tắt chức năng của hai bán cầu não thành bảng dưới đây:

Hình 1.4 Nơron thần kinh

Hình 1.5 Bộ não con người

Trang 27

Bảng 1.2 Chức năng của hai bán cầu não

Con số: 1,2,3 Màu sắc: xanh, đỏ, tím

Lời nói: "" Kích thước: to, nhỏ, xa, gần

Quan hệ tuần tự Tính toàn thể: Tự điền vào chỗ khuyết

BĐTD là sự thể hiện ra bên ngoài cách thức mà não bộ chúng ta hoạt

động Đó là liên kết, liên kết và liên kết Mọi thông tin tồn tại trong não bộ của con người đều cần có các mối nối, liên kết để có thể được tìm thấy và sử dụng Khi có một thông tin mới được đưa vào, để được lưu trữ và tồn tại, chúng cần kết nối với các thông tin cũ đã tồn tại trước đó BĐTD có các nhánh rẽ và giữa các nhánh rẽ đó có liên kết với nhau, mỗi nhánh được thêm vào bản đồ tư duy đều được liên kết với nhánh trước Điều này kích thích bộ não hình thành liên kết giữa các ý tưởng [3]

Như vậy, công cụ BĐTD tận dụng được chức năng của cả não trái lẫn não phải, nhờ đó có thể tối ưu hóa sức mạnh của bộ não của HS, kết quả là tăng cường trí tuệ và khả năng sáng tạo của các em góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động học tập

1.4.6 Một số ứng dụng của bản đồ tư duy

1.4.6.1 Ứng dụng của BĐTD ghi chép, tóm tắt, hệ thống hóa nội dung bài học, đưa ra các ý tưởng trong dạy học

Trong giáo dục, BĐTD là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở trường phổ thông cũng như ở các bậc học cao hơn vì chúng giúp GV và HS trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thông qua BĐTD, tóm tắt thông

Trang 28

tin của một bài học hay một cuốn sách, bài báo, hệ thống lại kiến thức đã học, tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới…

Trong phạm vi cá nhân, HS có thể sử dụng BĐTD để học bài mới hay ghi chép, tóm tắt, hệ thống hóa nội dung bài học

Mục đích hàng đầu của ghi chép là ôn lại thông tin nhằm tăng cường khả năng ghi nhớ Những bài ghi chép chỉ là những từ và cụm từ không cần thiết sẽ khiến cho quá trình ôn lại rất khó khăn, ngoài ra HS ít có cơ hội bổ sung những liên tưởng và cách sắp xếp của chính mình Những bài ghi chép này có rất ít mối liên hệ với vốn kiến thức hiện có của HS và do đó, chúng dễ dàng mất đi hoặc bị lãng quên

Lập BĐTD là hình thức ghi chép hiệu quả hơn rất nhiều Kỹ thuật ghi chép này cho phép HS nhanh chóng ghi lại các ý tưởng bằng các từ khóa, sắp xếp một cách cơ bản thông tin khi nó được truyền tải và cho HS cơ hội để hình thành những mối liên hệ

và liên tưởng HS cũng có thể tham gia vào bài học bằng cách bổ sung những suy nghĩ, quan điểm và cảm nghĩ của chính mình

Khi sử dụng BĐTD để học bài mới hay ghi chép, điều quan trọng là chỉ nên dùng các từ khóa BĐTD tự động loại bỏ những từ không quan trọng và đưa ra sự sắp xếp sơ

bộ thông tin được tiếp nhận Để rút ra các từ then chốt, HS cần phải chú ý và tham gia vào bài học, qua đó nắm được nội dung cơ bản của bài học, tăng khả năng hiểu bài và ghi nhớ của HS

Như vậy, ưu điểm của BĐTD là đem đến cho HS những lợi ích cụ thể trong quá trình học tập: nắm được những nội dung cơ bản của bài học, hệ thống nội dung kiến thức và biểu thị bằng sơ đồ, ghi nhớ nội dung học tập một cách sâu sắc, rèn luyện kỹ năng lập dàn bài khi đọc SGK Có thể sẽ gặp khó khăn lúc đầu khi tập cho HS xây dựng BĐTD, nhưng chỉ là lúc đầu Khi đã thành thói quen, HS sẽ rất thích thú sử dụng trong học tập và hình thành thói quen làm việc sau này, từ việc nắm vững vấn đề, biểu thị bằng sơ đồ vận hành các biện pháp giải quyết BĐTD càng có tác dụng nếu HS sử dụng cho những bài ôn tập, tổng kết chương

Trang 29

Tóm lại, sử dụng thành thạo và hiệu quả BĐTD trong dạy học sẽ mang lại nhiều kết quả tốt và đáng khích lệ trong phương thức học tập của HS và phương pháp giảng dạy của GV HS sẽ học được phương pháp học tập, tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy GV sẽ tiết kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, và quan trọng nhất sẽ giúp HS nắm được kiến thức thông qua một BĐTD thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức

1.4.6.2 Khả năng sử dụng BĐTD để tự học các kiến thức Vật Lý [25]

 Sử dụng BĐTD tóm tắt kiến thức theo đề cương

HS có thể sử dụng MM để tóm tắt kiến thức dựa trên bảng mục lục trong sách giáo khoa Điều này giúp HS có cái nhìn tổng quan về toàn bộ nội dung của môn học

và có khái niệm về số lượng kiến thức HS phải chuẩn bị cho kỳ thi Trong quá trình học tập ở trường THPT, HS nên lập MM theo đề cương cho mỗi môn học

 Sử dụng BĐTD tóm tắt kiến thức của chương

Hình 1.6 BĐTDTóm tắt chương trình Vật Lý 12 nâng cao

Trang 30

Sau khi lập BĐTD theo đề cương, HS nên lập BĐTD cho từng chương sách riêng biệt Đối với các chương ngắn khoảng từ 10-12 trang, có thể tập trung tất cả các thông tin trên một trang BĐTD Đối với những chương dài khoảng 20 trang trở lên tùy theo lượng kiến thức mà có thể dùng 1 trang BĐTD, nếu cần có thể cần đến 2-3 trang BĐTD Giả sử HS

vẽ BĐTD về tóm tắt kiến thức chương“Hạt nhân nguyên tử”- Vật lý 12 nâng cao

Hình 1.7 BĐTD tóm tắt kiến thức chương “Hạt nhân nguyên tử”

Vật lý 12 nâng cao

 BĐTD theo bài: Với mỗi bài học Vật lý, thay vì ghi chú theo kiểu truyền thống

HS có thể vẽ một BĐTD để ghi chú lại kiến thức cơ bản của bài học đó Cách ghi chú

Trang 31

này giúp HS đỡ nhàm chán, phát huy đƣợc sự sáng tạo ở mỗi HS và giúp các em ghi

nhớ kiến thức đƣợc tốt hơn Chẳng hạn nhƣ BĐTD của bài “Phóng xạ” sách giáo khoa Vật lý 12 nâng cao nhƣ ở hình vẽ sau

Hình 1.8 BĐTD tóm tắt bài “Phóng xạ” Vật lý 12 nâng cao

 Sử dụng BĐTD tóm tắt nội dung kiến thức của một đoạn văn

- Một cách khác là vẽ BĐTD theo từng đoạn nhỏ trong sách Mỗi BĐTD dùng để tóm tắt một đoạn văn hoặc một trích đoạn trong sách BĐTD theo đoạn văn giúp tiết kiệm thời gian ôn lại những thông tin cần thiết mà không cần đọc lại đoạn văn đó

Trang 32

2 Các tia phóng xạ (SGK Vật lý 12 nâng cao)

* Tia 

Tia  là hạt phóng ra với tốc độ rất lớn, có thể đạt xấp xỉ bằng tốc độ ánh sáng Tia cũng làm ion hóa môi trường nhưng yếu hơn tia  Vì vậy, tia  có thể đi được quãng đường dài hơn, tới vài mét trong không khí và có thể xuyên qua được lá nhôm dày cỡ milimét

Có hai loại tia :

- Loại phổ biến là tia  Đó chính là electron ( kí hiệu 0e

1

 hay e) Ví dụ đồng vị phóng xạ cacbon 146C phân rã 

- Loại hiếm hơn là tia  Đó chính là các poozitron, hay electron dương ( kí hiệu 01e

hay e), có cùng khối lượng như electron, nhưng mang điện tích nguyên tố dương Ví

dụ đồng vị phóng xạ 116C phân rã 

Ngoài ra, nhà Vật Lý Pao-li, người Áo, đã tiên đoán sự tồn tại của hạt sơ cấp mới trong phân rã  là nơtrinô ( kí hiệu  ) và phản nơtrinô ( kí hiệu ~); các hạt này không mang điện

có khối lượng nghỉ bằng 0, chuyển động với tốc độ xấp xỉ bằng tốc độ ánh sáng Thực nghiệm

đã xác nhận giả thuyết này

* Tia  là sóng điện từ có bước sóng rất ngắn ( dưới 10-11m), cũng là hạt photon có năng lượng cao Vì vậy, tia  và và  Trong phân rã  và và , hạt nhân con có thể ở trạng thái kích thích và phóng xạ tia  để trở thành trạng thái cơ bản

Trang 33

Hình 1.9 BĐTD tóm tắt các tia phóng xạ

 Sử dụng BĐTD tóm tắt nội dung theo loại kiến thức vật lý

Tóm tắt nội dung của khái niệm vật lý

Trong dạy học các khái niệm vật lý, GV có thể tổ chức cho HS lập BĐTD về một khái niệm vật lý bao gồm các yếu tố: đặc điểm định tính, đặc điểm định lƣợng, định nghĩa đại lƣợng, đơn vị đo và những vận dụng khái niệm vào thực tế

VD : BĐTD tóm tắt khái niệm độ phóng xạ ( Hình 1.11)

Tóm tắt nội dung định luật vật lý

Dùng BĐTD để tóm tắt nội dung một định luật vật lý đƣợc dùng trong dạy học các định luật vật lý Một định luật vật lý bao gồm các yếu tố: nội dung và biểu thức

Hình 1.10 BĐTD về khái niệm Vật lý Hình 1.11 BĐTD khái niệm độ phóng xạ

Trang 34

định luật, ý nghĩa vật lý của các đại lƣợng trong biểu thức, vận dụng định luật vào thực tiễn

Ví dụ: Tóm tắt nội dung của định luật phóng xạ

Hình 1.13 BĐTD tóm tắt định luật phóng xạ

Tóm tắt nội dung của thuyết Vật lý Trong dạy học các thuyết vật lý, GV có thể tổ

chức cho HS lập MM về nội dung của thuyết vật lý, bao gồm các yếu tố sau: Cơ sở của

thuyết, hạt nhân của thuyết và hệ quả của thuyết

Hình 1.12 BĐTD về định luật Vật lý

Trang 35

VD:Tóm tắt nội dung thuyết tương đối hẹp (Xem hình 1.3)

1.4.6.3 Sử dụng BĐTD giúp ôn tập, củng cố kiến thức một bài học, một chủ đề

Lập BĐTD vào cuối các tiết học sau khi học xong một bài hay một chủ đề để tổng kết lại các kiến thức cơ bản, trọng tâm giúp củng cố phần kiến thức đó

Cuối tiết học hay khi về nhà tự học ôn tập học sinh có thể sử dụng giấy, bảng phụ hay dùng phấn màu vẽ bảng trên lớp, tự tóm lược toàn bộ kiến thức cơ bản trọng tâm của bài học hoặc chủ đề vừa học dưới dạng BĐTD rồi thuyết trình lại cho một số nhóm hay cả lớp nghe cùng đóng góp bổ sung ý kiến Sau khi trình bày, thuyết minh trước lớp, cả lớp thảo luận, đóng góp ý kiến bổ sung, GV kết luận, cuối cùng giáo viên có thể giới thiệu BĐTD mà GV đã chuẩn bị sẵn, các BĐTD nếu thiết kế trên lớp học vào cuối giờ học, thời gian ít nên không cần quá chi tiết vê nội dung và cầu kì về hình thức, bố cục, chỉ cần nêu được dàn ý, trọng tâm của bài học bằng các công thức hay dạng tổng

quát hình vẽ[27] Nếu học sinh tự ôn tập ở nhà thì cần yêu cầu cao hơn với đầy đủ các yêu cầu như trên VD BĐTD sau đây

Trang 36

1.4.6.4 Sử dụng BĐTD giúp ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một chương, một học

kỳ, cả năm học [27]

Có thể gợi ý cho HS lập BĐTD vào các tiết ôn tập hay tự ôn tập một chương, một học kỳ, cả năm học, nhằm hệ thống hóa toàn bộ các kiến thức đã học của một chương, một học kỳ, cả năm, Việc lập BĐTD lúc này do chính các em lập thì mới khắc sâu vào trí não và ghi nhớ nhanh, ghi nhớ sâu Các em có thể sử dụng các BĐTD

đã lập khi học hết một chủ đề, mỗi chương để các em bổ sung thêm, bớt nhánh, hoàn thiện kiến thức hoặc có thể lập BĐTD khác theo cách hiểu của riêng mình để nêu được tổng thể kiến thức theo những chủ đề mà kì thi yêu cầu

Nếu HS đã được chuẩn bị ở nhà thì tiết ôn tập chương có thể cho một số em báo cáo, thuyết trình BĐTD của mình để cả lớp thảo luận, góp ý ( nếu cần ) Nếu học sinh làm ngay tại lớp thì giáo viên đưa ra tên của chương hoặc tên của chủ đề chính hoặc hình ảnh trung tâm, gợi ý cho HS bằng cách đặt các câu hỏi như “ Em hãy nêu các kiến thức trọng tâm của chương ” hoặc “ Em hãy nêu các mạch kiến thức của chương” hoặc “Em hãy kể tên các bài học trong chương”, để HS tự làm hoặc làm theo nhóm bằng cách vẽ các nhánh chính là các nội dung chính, nội dung trọng tâm của chương.Sau khi lập xong BĐTD, các em có thể trình bày, thuyết minh trước lớp để cả lớp thảo luận, đóng góp ý kiến bổ sung, cuối cùng GV có thể giới thiệu BĐTD do GV thiết kế để các em tham khảo rút kinh nghiệm Sau đây là BĐTD tự ôn tập củng cố chương “ Hạt nhân nguyên tử” – Vật lý 12 nâng cao

Trang 38

1.4.6.5 Sử dụng BĐTD phân tích, giải quyết vấn đề trong tự ôn tập

Sử dụng BĐTD có thể phân tích, giải quyết vấn đề trong ôn tập khái niệm, định

luật, thuyết VL và cả trong giải bài tập VL nữa

Trong việc tự ôn tập các khái niệm, định luật, thuyết VL; GV có thể tổ chức cho

HS dựa vào kiến thức đã học lập BĐTD để phát hiện vấn đề nghiên cứu, phân tích, đưa

ra các ý tưởng và giải pháp để giải quyết vấn đề; từ đó HS có thể chiếm lĩnh tri thức Trong việc giải bài tập VL, GV tổ chức cho HS lập BĐTD để tóm tắt đề, xác định mối liên hệ giữa các dữ kiện, giữa dữ kiện với yêu cầu của đề bài; từ đó đưa ra các phương án

giải một dạng bài tập hoặc một bài tập cụ thể nào đó ( Xem hình 2.8 ; 2.9)

1.4.7 Tác dụng của bản đồ từ duy trong việc rèn luyện kỹ năng học tập [23]

1.4.7.1 BĐTD rèn luyện kĩ năng học tập

Bản đồ tư duy ( BĐTD) hay Mind Map là công cụ hỗ trợ cho việc trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng về một chủ đề nào đó dựa trên sự hoạt động của bộ não con người Ban đầu, BĐTD được viết trên giấy, trên bản trong , trên bảng , ngày nay BĐTD được thực hiện trên máy vi tính nhờ các phần mềm như Concept draw, Buzan‟s iMindMap

Đối với nhóm kỹ năng nhận thức học tập, BĐTD giúp học sinh tìm kiếm, khai thác các nguồn thông tin một cách nhanh chóng, khoa học Nhờ sự hỗ trợ của BĐTD

mà các ý tưởng được trở lên rõ ràng giúp cho học sinh trong việc xử lý, tổ chức, đánh giá thông tin và nội dung học tập một cách có hệ thống

Đối với nhóm kỹ năng giao tiếp, BĐTD có thể giúp cho học sinh trình bày vấn đề một cách rõ ràng, mạch lạc hơn Nhiều nội dung không cần trình bày bằng văn bản rườm rà, dài dòng, chỉ cần thông qua BĐTD, với các từ khóa trên đó giúp người đọc hiểu được nội dung cần trình bày một cách lôgic Như vậy, trong học tập, BĐTD có thể được sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:

- Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề

- Trình bày tổng quan một chủ đề

Trang 39

- Chuẩn bị ý tưởng cho một báo cáo hay một buổi nói chuyện, bài giảng

- Thu thập, sắp xếp các ý tưởng

- Ghi chép khi nghe bài giảng

BĐTD là một bức tranh tổng thể về chủ đề đang hướng đến Nhìn vào bức tranh đó, người học sẽ nắm bắt được diễn biến của quá trình tư duy đang diễn ra đến đâu, đang ở nhánh nào của BĐTD Điều này giúp người học hướng đến đúng chủ đề cần nghiên cứu, tránh được hiện tượng lan man, phân tán, đi lạc chủ đề

BĐTD giúp người học rèn luyện được kỹ năng học tập khác nhau và hiểu được nội dung bài học một cách rõ ràng có hệ thống, việc ghi nhớ cũng như vận dụng cũng sẽ tốt hơn BĐTD cung cấp cho người học được cái nhìn chi tiết và cụ thể Các nhánh chính của BĐTD đưa ra cấu trúc tổng thể giúp người học định hướng tư duy một cách loogic,

có hệ thống Bên cạnh đó, các nhánh phụ kích thích tính sáng tạo của người học Như vậy, sử dụng BĐTD trong dạy học sẽ góp phần rèn luyện kỹ năng học tập, nhờ đó HS

sẽ phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong quá trình học tập

BĐTD thực sự là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập môn Vật Lý ở trường phổ thông Việc sử dụng BĐTD gắn liền với việc rèn luyện hệ thống kỹ năng học tập của HS Muốn vẽ được BĐTD, học sinh cần tìm kiếm, khai thác các nguồn thông tin, làm việc với sách và các tài liệu tham khảo, quan sát, điều tra và thu thập sự kiện bằng thí nghiệm, thực nghiệm bằng biểu đồ, mô hình, truy cập, khai thác và sử dụng thông tin, tư liệu, học liệu trên mạng và hệ thống thư tín điện tử

Khi trình bày chủ đề thông qua BĐTD, HS có điều kiện phát biểu ý kiến của mình trước nhiều người ( Nhóm học tập, lớp, các thầy cô giáo); HS sẽ trao đổi ý kiến trong học tập dưới hình thức thảo luận, đối thoại , thương lượng và giải quyết những bất đồng, xung đột về quan điểm trình bày Với BĐTD , học sinh sẽ có điều kiện làm việc cùng nhau trong nhóm hợp tác với tư cách thành viên có nhiệm vụ được phân công riêng Việc lập kế hoạch, BĐTD cũng sẽ hỗ trợ việc quản lý thời gian và nghỉ ngơi

Trang 40

trong học tập, kế hoạch ôn tập, luyện tập cá nhân, thích hợp với nhiệm vụ học tập của mỗi HS

1.4.7.2 Ví dụ

Trong dạy học nói chung và dạy Vật lý nói riêng, việc vận dụng BĐTD sẽ dần hình

thành cho các em tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn

đề một cách tổng thể, khoa học chứ không phải là học vẹt, học thuộc lòng GV cần hướng dẫn cho HS tự thiết kế BĐTD sau mỗi bài học, mỗi chương, mỗi học kì Cứ sau mỗi bài học Cứ sau mỗi bài học mà HS tự vẽ ra được một BĐTD tương ứng cho riêng mình thì điều đó đồng nghĩa với học sinh đã hệ thống được nội dung bài học theo cách nghĩ của các em và từ đó các em sẽ nhớ được kiến thức một cách dễ dàng và lâu hơn

Để làm được điều đó thì trong mỗi tiết học, ở phần củng cố kiến thức, GV sẽ trình chiếu BĐTD ( do GV thiết kế trước) ứng với nội dung của bài học hôm đó, HS sẽ dựa vào đó để tự thiết kế cho mình một BĐTD theo cách hiểu của các em để hệ thống kiến thức đã học Chắc chắn rằng các em HS sẽ rất hứng thú khi tự mình được tự do sáng tạo “tác phẩm” BĐTD kiến thức theo cách riêng của mình VD: Chương “ Hạt nhân

nguyên tử ” SGK 12 nâng cao được thiết lập bản đồ tư duy như sau: ( Xem hình 2.5 )

Từ đó, có thể thiết lập BĐTD cho các bài học, cho từng đơn vị kiến thức cụ thể

Hoặc trong hướng dẫn các hoạt động rèn luyện các kỹ năng học tập

Tóm lại, BĐTD là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và trong học tập ở trường phổ thông Việc vận dụng BĐTD trong dạy học Vật lý sẽ góp phần rèn luyện hệ thống

kỹ năng học tập Thông qua bản đồ tư duy, HS sẽ hình thành được tính độc lập và lối

tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách tổng thể, khoa học chứ không phải học vẹt, học thuộc lòng Thực nghiệm sư phạm cho thấy, các giờ học có sử dụng BĐTD, HS rất hào hứng, sôi nổi và nhiệt tình tham gia; bài kiểm tra thu được cũng cho thấy chất lượng học tập các lớp thực nghiệm cao hơn các lớp đối chứng

Ngày đăng: 28/02/2021, 20:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tony Buzan (2008), BĐTD trong công việc, NXB Lao Động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: BĐTD trong công việc
Tác giả: Tony Buzan
Nhà XB: NXB Lao Động - Xã hội
Năm: 2008
2. Tony BuZan (2007), Hướng dẫn sử dụng BĐTD, NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng BĐTD
Tác giả: Tony BuZan
Nhà XB: NXB Từ điển Bách Khoa
Năm: 2007
3. Tony BuZan (2008), Làm chủ trí nhớ của bạn, NXB tổng hợp, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm chủ trí nhớ của bạn
Tác giả: Tony BuZan
Nhà XB: NXB tổng hợp
Năm: 2008
4. Tony BuZan (2008), Lập Bản đồ tư duy, NXB Lao Động- Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập Bản đồ tư duy
Tác giả: Tony BuZan
Nhà XB: NXB Lao Động- Xã hội
Năm: 2008
5. Tony BuZan (2007), Mười cách thức đánh thức tư duy sáng tạo, NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười cách thức đánh thức tư duy sáng tạo
Tác giả: Tony BuZan
Nhà XB: NXB Từ điển Bách Khoa
Năm: 2007
6. Tony BuZan (2008), Sách dạy đọc nhanh, NXB tổng hợp, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách dạy đọc nhanh
Tác giả: Tony BuZan
Nhà XB: NXB tổng hợp
Năm: 2008
7. Tony BuZan (2008), Sơ đồ tư duy, NXB Tổng hợp, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ đồ tư duy
Tác giả: Tony BuZan
Nhà XB: NXB Tổng hợp
Năm: 2008
8. Tony Buzan (2008), Sử dụng trí tuệ của bạn, NXB Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tony Buzan (2008), "Sử dụng trí tuệ của bạn
Tác giả: Tony Buzan
Nhà XB: NXB Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2008
9. Nguyễn Kim Cương ( 2010), ” Hướng dẫn học sinh tự học khi dạy học chương “ Dòng điện xoay chiều” (SGK Vật lý 12 nâng cao), Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục, Trường đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn học sinh tự học khi dạy học chương "“ Dòng điện xoay chiều” (SGK Vật lý 12 nâng cao)
10. Võ Lê Phương Dung (2005), hình thành năng lực tự học Vật lý cho học sinh THPT thông qua việc sử dụng SGK, Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục, Trường đại học Sƣ phạm, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: hình thành năng lực tự học Vật lý cho học sinh THPT thông qua việc sử dụng SGK
Tác giả: Võ Lê Phương Dung
Năm: 2005
11. Lê Trọng Dương(2006),Hình thành và phát triển năng lực tự học cho sinh viên ngành toán hệ Cao đẳng Sư phạm, Luận án tiến sĩ Khoa học giáo dục , Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành và phát triển năng lực tự học cho sinh viên ngành toán hệ Cao đẳng Sư phạm
Tác giả: Lê Trọng Dương
Năm: 2006
12. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết hội nghị lần II BCH trung ương đảng khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết hội nghị lần II BCH trung ương đảng khóa VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
13. Hoàng Đức Huy (2009), BĐTD đổi mới dạy học, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: BĐTD đổi mới dạy học
Tác giả: Hoàng Đức Huy
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2009
14. Lê Đình, Trần Huy Hoàng (2005), Cơ sở khoa học của việc bồi dưỡng năng lực tự học, tụ nghiên cứu cho sinh viên nghành Vật lý, Trường Đại học Sư phạm, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học của việc bồi dưỡng năng lực tự học, tụ nghiên cứu cho sinh viên nghành Vật lý
Tác giả: Lê Đình, Trần Huy Hoàng
Năm: 2005
17. Adam Khoo (2007), Tôi tài giỏi, bạn cũng thế, NXB phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi tài giỏi, bạn cũng thế
Tác giả: Adam Khoo
Nhà XB: NXB phụ nữ
Năm: 2007
18. Nguyễn Thế Khôi (Tổng chủ biên) Vũ Thanh Khiết (Chủ biên)(2008), Vật lý 12 nâng cao, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý 12 nâng cao
Tác giả: Nguyễn Thế Khôi (Tổng chủ biên) Vũ Thanh Khiết (Chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
19. Nguyễn Thế Khôi (Tổng chủ biên) Vũ Thanh Khiết (Chủ biên)(2008), Sách giáo viên Vật lý 12 nâng cao, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Vật lý 12 nâng cao
Tác giả: Nguyễn Thế Khôi (Tổng chủ biên) Vũ Thanh Khiết (Chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
20. Nguyễn Kỳ (1996), Mô hình dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm, Trường cán bộ quản lý Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm
Tác giả: Nguyễn Kỳ
Năm: 1996
21. Nguyễn Lân (2002), Từ điển Từ và Ngữ Hán Việt, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Từ và Ngữ Hán Việt
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa
Năm: 2002
22. Jean Piaget, Tâm lí học và giáo dục học. NXB Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học và giáo dục học
Nhà XB: NXB Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w