- Dạy học có sự kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò: Trong quá trình dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của [r]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Tài liệu này, Thầy cô tải về đầy đủ tại địa chỉ: ( www.hcm.edu.vn - Phòng giáo
dục trung học – chuyên môn – KHXH – Địa- tải về)
TÀI LIỆU TẬP HUẤN PHƯƠNG PHÁP, KĨ THUẬT TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC THEO NHÓM VÀ
HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC
MÔN: ĐỊA LÍ(Dành cho cán bộ quản lí, giáo viên trung học phổ thông)
LƯU HÀNH NỘI BỘ
Hà Nội, tháng 7 năm 2017
Trang 2MỤC LỤC Trang
Phần I Một số vấn đề chung về đổi mới nội dung, phương pháp, hình
thức tổ chức dạy học và kiểm tra đánh giá
I Một số vấn đề chung về đổi mới dạy học và kiểm tra, đánh giá 5
Phần II Xây dựng bài học và tổ chức hoạt động học theo định hướng
phát triển năng lực HS môn Địa lí
I Tổ chức hoạt động học theo định hướng phát triển năng lực học sinh 31
1 Các hình thức học tập và học tập theo nhóm 31
Phần III Hướng dẫn biên soạn, quản lí và sử dụng bài học trên mạng
"trường học kết nối"
89
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Việc đổi mới phương pháp, hình thức dạy học và kiểm tra, đánh giá theođịnh hướng phát triển năng lực HS đã được triển khai từ hơn 30 năm qua Hầuhết giáo viên hiện nay đã được trang bị lí luận về các phương pháp và kĩ thuậtdạy học tích cực trong quá trình đào tạo tại các trường sư phạm cũng như quátrình bồi dưỡng, tập huấn hằng năm Tuy nhiên, việc thực hiện các phương phápdạy học tích cực trong thực tiễn còn chưa thường xuyên và chưa hiệu quả.Nguyên nhân là chương trình hiện hành được thiết kế theo kiểu "xoáy ốc" nhiềuvòng nên trong nội bộ mỗi môn học, có những nội dung kiến thức được chia racác mức độ khác nhau để học ở các cấp học khác nhau (nhưng không thực sự hợp
lý và cần thiết); việc trình bày kiến thức trong sách giáo khoa theo định hướng nộidung, nặng vềlập luận, suy luận, diễn giảihình thành kiến thức; cùng một chủđề/vấn đề nhưng kiến thức lại được chia ra thành nhiều bài/tiết để dạy học trong
45 phút không phù hợp với phương pháp dạy học tích cực; có những nội dungkiến thức được đưa vào nhiều môn học; hình thức dạy học chủ yếu trên lớp theotừng bài/tiết nhằm "truyền tải" hết những gì được viết trong sách giáo khoa, chủyếu là "hình thành kiến thức", ít thực hành, vận dụng kiến thức
Để khắc phục những hạn chế trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn tài liệutập huấn về "Phương pháp và kĩ thuật tổ chức hoạt động học theo nhóm vàhướng dẫn HS tự học" nhằm hướng dẫn giáo viên các môn học chủ động lựachọn nội dung sách giáo khoa hiện hành để xây dựng các bài học theo chủ đề;thiết kế tiến trình dạy học theo các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cựcnhằm nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động học theo nhóm và hướng dẫn HS
tự học Ngoài các vấn đề chung về đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức, kĩthuật tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực
HS, tài liệu tập trung vào việc xây dựng bài học theo chủ đề gồm 6 bước:
Bước 1: Xác định vấn đề cầngiải quyết trong dạy học chủ đề sẽ xây dựngBước 2: Lựa chọn nội dung từ các bài học trong sách giáo khoa hiện hànhcủa một môn học hoặc các môn học có liên quan để xây dựng nội dung bài học
Bước 3: Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình hiệnhành; dự kiến các hoạt động học sẽ tổ chức cho HSđể xác định các năng lực vàphẩm chất chủ yếu có thể góp phần hình thành/phát triển trong bài học
Bước 4: Xác định và mô tả mức độ yêu cầu (nhận biết, thông hiểu, vậndụng, vận dụng cao) của mỗi loại câu hỏi/bài tập có thể sử dụng để kiểm tra,đánh giá năng lực và phẩm chất của HS trong dạy học
Trang 4Bước 5: Biên soạn các câu hỏi/bài tập cụ thể theo các mức độ yêu cầu đã
mô tả ở Bước 4 để sử dụng trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học vàkiểm tra, đánh giá, luyện tập theo chủ đề bài học
Bước 6: Thiết kế tiến trình dạy học bài học thành các hoạt động học theotiến trình sư phạm của phương pháp dạy học tích cựcđể tổ chức cho HS thựchiện ở trên lớp và ở nhà
Trong sinh hoạt chuyên môn dựa trên "Nghiên cứu bài học", các tổ/nhómchuyên môn có thể vận dụng quy trình này để xây dựng và thực hiện "Bài họcminh họa".Các bài học được xây dựng và trình bày trong tài liệu không phải là
"mẫu" mà được xem là các "Bài học minh họa" để giáo viên trao đổi, thảo luận,điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với điều kiện thức tiễn của các địa phương, nhàtrường.Việc phân tích, rút kinh nghiệm bài học được thực hiện theo các tiêu chítại Công văn 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08/10/2014
Tuy đã hết sức cố gắng nhưng tài liệu không tránh khỏi những thiếu sót.Các tác giả mong nhận được ý kiến góp ý của các thầy giáo, cô giáo để tài liệuđược hoàn thiện hơn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
Trân trọng cảm ơn./
Nhóm biên soạn
Trang 5PHẦN I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC
TỔ CHỨC DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
I Một số vấn đề chung về đổi mới dạy học và kiểm tra, đánh giá
1 Đổi mới hình thức, phương pháp dạy học nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo và rèn luyện phương pháp tự học; tăng cường kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức, kỹ năng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trìnhgiáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗquan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS làm được cái gì quaviệc học Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việcchuyển từ phương pháp dạy học nặng về truyền thụ kiến thức sang dạy cách học,cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất;đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trínhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, chútrọng kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học để có thể tác động kịp thời nhằmnâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục
- Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI:“Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội”.
- Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,
kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông trong dạy và học”; “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối
Trang 6kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội”.
- Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm
theo Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ: "Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người
học"; "Đổi mới kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp
kết quả kiểm tra đánh giá trong quá trình giáo dục với kết quả thi"
- Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo xác định “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”; “Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho
HS Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” Theo tinh thần đó, các yếu tố của quá trình giáo
dục trong nhà trường trung học cần được tiếp cận theo hướng đổi mới
- Nghị quyết số 44/NQ-CP, ngày 09/6/2014 Ban hành Chương trình hànhđộng của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm
2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới cănbản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đạihóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế: “Đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục theo hướng đánh giá năng lực của người học; kết hợp đánh giá cả quá trình với đánh giá cuối kỳ học, cuối năm học theo mô hình của các nước có nền giáo dục phát triển”
Thực hiện định hướng nêu trên việc đổi mới nội dung, phương pháp, hìnhthức tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng năng lực người họctrong giáo dục phổ thông cần được thực hiện một cách đồng bộ Cụ thể như sau:
a) Về nội dung dạy học
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên áp dụng thường xuyên và hiệuquả các phương pháp dạy học tích cực, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các địaphương giao quyền tự chủ xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục, phát huy vaitrò sáng tạo của nhà trường và giáo viên Theo đó, các cơ sở giáo dục trung học,
tổ chuyên môn và giáo viên được chủ động, linh hoạt trong việc xây dựng kếhoạch giáo dục định hướng phát triển năng lực HS phù hợp với điều kiện thực tế
Trang 7của nhà trường, địa phương và khả năng của HS Nhà trường tổ chức cho giáoviên rà soát nội dung chương trình, sách giáo khoa, điều chỉnh nội dung dạy họctheo hướng tinh giản; xây dựng các chủ đề tích hợp, liên môn nhằm khắc phụchạn chế về cấu trúc chương trình kiểu "xoáy ốc" dẫn đến một số kiến thức HS đãđược học ở lớp dưới có thể lại được tác giả đưa vào sách giáo khoa lớp trên theolôgic của vấn đề khiến HS phải học lại một cách chưa hợp lý, gây quá tải.
Kế hoạch giáo dục của mỗi trường được xây dựng từ tổ bộ môn, đượcphòng, sở góp ý và phê duyệt để làm căn cứ tổ chức thực hiện và thanh tra, kiểmtra Kế hoạch như vậy tạo điều kiện cho các trường được linh hoạt áp dụng cáchình thức tổ chức giáo dục, các phương pháp dạy học tiên tiến mà không bị ápđặt từ cấp trên
b) Về phương pháp dạy học
Có nhiều năng lực cần hình thành và phát triển cho HS trong dạy học như:năng lực tự học; năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề; năng lực sáng tạo;năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyềnthông Trong số đó, phát triển năng lực sáng tạo, năng lực phát hiện và giảiquyết vấn đề của HS là mục tiêu quan trọng, qua đó góp phần thúc đẩy sự hìnhthành và phát triển của các năng lực khác Để có thể đạt được mục tiêu đó,phương pháp dạy học cần phải đổi mới sao cho phù hợp với tiến trình nhận thứckhoa học để HS có thể tham gia vào hoạt động tìm tòi sáng tạo giải quyết vấnđề; góp phần đắc lực hình thành năng lực hành động, phát huy tính tích cực, độclập, sáng tạo của HS để từ đó bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, hình thànhkhả năng học tập suốt đời Việc tập dượt cho HS biết phát hiện, đặt ra và giảiquyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, giađình và cộng đồng phải được đặt như một mục tiêu của giáo dục và đào tạo
Từ năm học 2011 - 2012, Bộ GDĐT chỉ đạo triển khai áp dụng phươngpháp "Bàn tay nặn bột" ở tiểu học và trung học cơ sở Bản chất của phương phápdạy học này là tổ chức hoạt động học dựa trên tìm tòi, nghiên cứu; HS chiếmlĩnh được kiến thức, kĩ năng dựa trên các hoạt động trải nghiệm và tư duy khoahọc Tăng cường chỉ đạo việc hướng dẫn HS vận dụng kiến thức liên môn vào
giải quyết các vấn đề thực tiễn thông qua "Dạy học dựa trên dự án", tổ chức các
"Hoạt động trải nghiệm sáng tạo"; tổ chức câu lạc bộ âm nhạc, mỹ thuật, thể
thao… có tác dụng huy động các bậc cha mẹ, các lực lượng xã hội tham gia giáodục HS toàn diện Các phương pháp dạy học tích cực như vậy đều là dạy họcthông qua tổ chức hoạt động học Trong quá trình dạy học, HS là chủ thể nhậnthức, giáo viên có vai trò tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học tập của
HS theo một chiến lược hợp lý sao cho HS tự chủ chiếm lĩnh, xây dựng tri thức.Quá trình dạy học các tri thức thuộc một môn khoa học cụ thể được hiểu là quá
Trang 8trình hoạt động của giáo viên và của HS trong sự tương tác thống nhất biệnchứng của ba thành phần trong hệ dạy học bao gồm: Giáo viên, HS và tư liệuhoạt động dạy học.
Hoạt động học của HS bao gồm các hành động với tư liệu dạy học, sự traođổi, tranh luận với nhau và sự trao đổi với giáo viên Hành động học của HS với
tư liệu hoạt động dạy học là sự thích ứng của HS với tình huống học tập đồngthời là hành động chiếm lĩnh, xây dựng tri thức cho bản thân mình Sự trao đổi,tranh luận giữa HS với nhau và giữa HS với giáo viên nhằm tranh thủ sự hỗ trợ
xã hội từ phía giáo viên và tập thể HS trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Thôngqua các hoạt động của HS với tư liệu học tập và sự trao đổi đó mà giáo viên thuđược những thông tin liên hệ ngược cần thiết cho sự định hướng của giáo viênđối với HS
Hoạt động của giáo viên bao gồm hành động với tư liệu dạy học và sựtrao đổi, định hướng trực tiếp với HS Giáo viên là người tổ chức tư liệu hoạtđộng dạy học, cung cấp tư liệu nhằm tạo tình huống cho hoạt động của HS Dựatrên tư liệu hoạt động dạy học, giáo viên có vai trò tổ chức, kiểm tra, định hướnghoạt động của HS với tư liệu học tập và định hướng sự trao đổi, tranh luận của
HS với nhau
Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, HS vừa nắm được tri thứcmới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát triển tư duy tích cực,sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiệnkịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh
Như vậy, phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa,tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huytính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tíchcực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viênphải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động Phương pháp dạy họctích cực nhấn mạnh việc lấy hoạt động học làm trung tâm của quá trình dạy học,nghĩa là nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của HS trong quá trình dạy học,khác với cách tiếp cận truyền thống lâu nay là nhấn mạnh hoạt động dạy và vaitrò của giáo viên Mặc dù có thể được thể hiện qua nhiều phương pháp khácnhau nhưng nhìn chung các phương pháp dạy học tích cực đều có những đặctrưng cơ bản sau:
- Dạy học là tổ chức các hoạt động học tập của HS: Trong phương phápdạy học tích cực, HS được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổchức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứkhông phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Được đặtvào những tình huống của đời sống thực tế, HS trực tiếp quan sát, thảo luận, làm
Trang 9thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắmđược kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp chiếm lĩnh kiến thức,
kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mâu sẵn có, được bộc lộ và phát huytiềm năng sáng tạo Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyềnđạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động
- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học: Các phương pháp dạyhọc tích cực coi việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là mộtbiện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học Trong cácphương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho ngườihọc có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòngham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ đượcnhân lên gấp bội Vì vậy, cần phải nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trìnhdạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động,đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ởnhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên
- Dạy học tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác: Trongmột lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đều tuyệt đốithì khi áp dụng phương pháp tích cực phải có sự phân hóa về cường độ, tiến độhoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗihoạt động độc lập Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sựphân hóa này càng lớn Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩnăng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớphọc là môi trường giao tiếp giáo viên - HS và HS - HS, tạo nên mối quan hệ hợptác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông quathảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng địnhhay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Được sử dụngphổ biến trong dạy học hiện nay là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ Học tậphợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gaycấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thànhnhiệm vụ chung
- Dạy học có sự kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò: Trongquá trình dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thựctrạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhậnđịnh thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy Trong phương pháp tíchcực, giáo viên phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnhcách học Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để HSđược tham gia đánh giá lẫn nhau
Trang 10Trong dạy học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần làngười truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướngdẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để HS tự lực chiếm lĩnh nội dunghọc tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu củachương trình Trên lớp, HS hoạt động là chính, giáo viên có vẻ "nhàn" hơnnhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gianrất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp vớivai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt độngtìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của HS Giáo viên phải có trình độ chuyênmôn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn cáchoạt động của HS mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên.
c) Về kĩ thuật tổ chức hoạt động học của HS
Theo quan điểm dạy học định hướng phát triển năng lực HS, quá trình dạy
- học bao gồm một hệ thống các hành động có mục đích của giáo viên tổ chứchoạt động trí óc và tay chân của HS, đảm bảo cho HS chiếm lĩnh được nội dungdạy học, đạt được mục tiêu xác định Trong quá trình dạy học, giáo viên tổ chứcđịnh hướng hành động chiếm lĩnh tri thức của HS phỏng theo tiến trình của chutrình sáng tạo khoa học Như vậy, chúng ta có thể hình dung diễn biến của hoạtđộng dạy học như sau:
- Giáo viên tổ chức tình huống, giao nhiệm vụ cho HS HS hăng hái đảmnhận nhiệm vụ, gặp khó khăn, nảy sinh vấn đề cần tìm tòi giải quyết Dưới sựchỉ đạo của giáo viên, vấn đề được diễn đạt chính xác hóa, phù hợp với mục tiêudạy học và các nội dung cụ thể đã xác định
- HS tự chủ tìm tòi giải quyết vấn đề đặt ra Với sự theo dõi, định hướng,giúp đỡ của giáo viên, hoạt động học của HS diễn ra theo một tiến trình hợp lí,phù hợp với những đòi hỏi phương pháp luận
- Giáo viên chỉ đạo sự trao đổi, tranh luận của HS, bổ sung, tổng kết, kháiquát hóa, thể chế hóa tri thức, kiểm tra kết quả học phù hợp với mục tiêu dạyhọc các nội dung cụ thể đã xác định
Tổ chức tiến trình dạy học như vậy, lớp học có thể được chia thành từngnhóm nhỏ Tùy mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chiangẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phầncủa tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khácnhau Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷlại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn Các thành viên trong nhómgiúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác.Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả
Trang 11lớp Các kĩ thuật dạy học tích cực như sẽ được sử dụng trong tốt chức hoạt độngnhóm trên lớp để thực hiện các nhiệm vụ nhỏ nhằm đạt mục tiêu dạy học.
Như vậy, mỗi bài học bao gồm các hoạt động học theo tiến trình sư phạmcủa phương pháp dạy học tích cực được sử dụng Mỗi hoạt động học có thể sửdụng một kĩ thuật dạy học tích cực nào đó để tổ chức nhưng đều được thực hiệntheo các bước như sau:
(1) Chuyển giao nhiệm vụ học tập: nhiệm vụ học tập rõ ràng và phù hợp
với khả năng của HS, thể hiện ở yêu cầu về sản phẩm mà HS phải hoàn thànhkhi thực hiện nhiệm vụ; hình thức giao nhiệm vụ sinh động, hấp dẫn, kích thíchđược hứng thú nhận thức của HS; đảm bảo cho tất cả HS tiếp nhận và sẵn sàngthực hiện nhiệm vụ
(2)Thực hiện nhiệm vụ học tập: khuyến khích HS hợp tác với nhau khi
thực hiện nhiệm vụ học tập; phát hiện kịp thời những khó khăn của HS và cóbiện pháp hỗ trợ phù hợp, hiệu quả; không có HS bị "bỏ quên"
(3) Báo cáo kết quả và thảo luận: hình thức báo cáo phù hợp với nội dung
học tập và kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng; khuyến khích cho HS traođổi, thảo luận với nhau về nội dung học tập; xử lí những tình huống sư phạmnảy sinh một cách hợp lí
(4) Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập: nhận xét về quá trình
thực hiện nhiệm vụ học tập của HS; phân tích, nhận xét, đánh giá kết quả thựchiện nhiệm vụ và những ý kiến thảo luận của HS; chính xác hóa các kiến thức
mà HS đã học được thông qua hoạt động
2 Kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS, vì sự tiến bộ của HS
Thực hiện chuyển từ chú trọng kiểm tra kết quả ghi nhớ kiến thức cuối kỳ,cuối năm sang coi trọng kết hợp kết quả đánh giá phong cách học và năng lực vậndụng kiến thức trong quá trình giáo dục và tổng kết cuối kỳ, cuối năm học đểhướng tới phát triển năng lực của HS; coi trọng đánh giá để giúp đỡ HS về phươngpháp học tập, động viên sự cố gắng, hứng thú học tập của các em trong quá trìnhdạy học Việc kiểm tra, đánh giá không chỉ là việc xem HS học được cái gì màquan trọng hơn là biết HS học như thế nào, có biết vận dụng không
Kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy HS là những hoạt động quan sát,theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của HS; tư vấn,hướng dẫn, động viên HS; nhận xét định tính hoặc định lượng về kết quả họctập, rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất của HSnhằm mục đích giúp HS tự rút kinh nghiệm và nhận xét lẫn nhau trong quá trìnhhọc tập, tự điều chỉnh cách học, qua đó dần hình thành và phát triển năng lực
Trang 12vận dụng kiến thức, khả năng tự học, phát hiện và giải quyết vấn đề trong môitrường giao tiếp, hợp tác; bồi dưỡng hứng thú học tập và rèn luyện của HS trongquá trình giáo dục Thông qua kiểm tra, đánh giá, giáo viên rút kinh nghiệm,điều chỉnh hoạt động dạy học và giáo dục ngay trong quá trình và kết thúc mỗigiai đoạn dạy học và giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của HS
để động viên, khích lệ; phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của HS
để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận định phù hợp về những ưu điểm nổi bật vànhững hạn chế của mỗi HS để có biện pháp khắc phục kịp thời nhằm nâng caochất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của HS
Đánh giá phải hướng tới sự phát triển phẩm chất và năng lực của HSthông qua mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ và các biểu hiện nănglực, phẩm chất của HS dựa trên mục tiêu giáo dục THCS; coi trọng đánh giá đểgiúp đỡ HS về phương pháp học tập.Chú trọng đánh giá thường xuyên đối vớitất cả HS: đánh giá các hoạt động trên lớp; đánh giá qua hồ sơ học tập, vở họctập; đánh giá qua việc HS báo cáo kết quả thực hiện một dự án học tập, nghiêncứu khoa học, kĩ thuật, báo cáo kết quả thực hành, thí nghiệm; đánh giá qua bàithuyết trình (bài viết, bài trình chiếu, video clip,…) về kết quả thực hiện nhiệm
vụ học tập (sau đây gọi chung là sản phẩm học tập); kết hợp đánh giá trong quátrình dạy học, giáo dục và đánh giá tổng kết cuối kỳ, cuối năm học Kết hợpđánh giá của giáo viên với tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của HS, đánh giácủa cha mẹ HS và cộng đồng.Coi trọng đánh giá sự tiến bộ của mỗi HS, không
so sánh HS này với HS khác; coi trọng việc động viên, khuyến khích sự hứngthú, tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của HS; giúp HS phát huynăng khiếu cá nhân; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan, không tạo áp lựccho HS, giáo viên và cha mẹ HS
a) Đánh giá quá trình học tập của HS
Trong quá trình dạy học, căn cứ vào đặc điểm và mục tiêu của bài học,của mỗi hoạt động trong bài học, giáo viên tiến hành một số việc như sau:
- Theo dõi, kiểm tra quá trình và từng kết quả thực hiện nhiệm vụ của HStheo tiến trình dạy học; quan tâm tiến độ hoàn thành từng nhiệm vụ của HS để
áp dụng biện pháp cụ thể, kịp thời giúp đỡ HS vượt qua khó khăn
- Ghi nhận xét vào phiếu, vở, sản phẩm học tập của HS về những kếtquả đã làm được hoặc chưa làm được, mức độ hiểu biết và năng lực vận dụngkiến thức, mức độ thành thạo các thao tác, kĩ năng cần thiết
- Đánh giá sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của HS, quansát các biểu hiện trong quá trình học tập, sinh hoạt và tham gia các hoạt động tậpthể để nhận xét sự hình thành và phát triển một số phẩm chất, năng lực của HS;
Trang 13từ đó động viên, khích lệ, giúp HS khắc phục khó khăn; phát huy ưu điểm và cácphẩm chất, năng lực riêng; điều chỉnh hoạt động, ứng xử để tiến bộ.
- Khuyến khích, hướng dẫn HS tự đánh giá và tham gia nhận xét, góp ýbạn, nhóm bạn: HS tự rút kinh nghiệm ngay trong quá trình thực hiện từng nhiệm
vụ học tập, hoạt động giáo dục khác; trao đổi với giáo viên để được góp ý, hướngdẫn; HS tham gia nhận xét, góp ý bạn, nhóm bạn ngay trong quá trình thực hiệncác nhiệm vụ học tập môn học và hoạt động giáo dục; thảo luận, hướng dẫn,giúp đỡ bạn hoàn thành nhiệm vụ
Kiểm tra, đánh giá thường xuyên được tiến hành trong quá trình HS thựchiện các nhiệm vụ học tập Mục đích và phương thức kiểm tra, đánh giá trongmỗi giai đoạn thực hiện một nhiệm vụ học tập như sau:
- Chuyển giao nhiệm vụ: Giáo viên tổ chức một tình huống có tiềm ẩn vấn
đề, lựa chọn một kỹ thuật học tích cực phù hợp để giao cho HS giải quyết tìnhhuống Trong quá trình chuyển giao nhiệm vụ, giáo viên cần quan sát, trao đổivới HS để kiểm tra, đánh giá về khả năng tiếp nhận và sẵn sàngthực hiện nhiệm
vụ học tập của HS trong lớp
- Thực hiện nhiệm vụ: HS hoạt động tự lực giải quyết nhiệm vụ (Cá nhân,cặp đôi hoặc nhóm nhỏ) Hoạt động giải quyết vấn đề có thể (thường) được thựchiện ở ngoài lớp học và ở nhà Trong quá trình HS thực hiện nhiệm vụ học tập,giáo viên quan sát, theo dõi hành động, lời nói của HS để đánh giá mức độ tíchcực, tự lực và sáng tạo của HS; khả năng phát hiện vấn đề cần giải quyết và đềxuất các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề; khả năng lựa chọn, điều chỉnh vàthực hiện giải pháp để giải quyết vấn đề; phát hiện những khó khăn, sai lầm của
HS để có giải pháp hỗ trợ phù hợp giúp HS thực hiện được nhiệm vụ học tập
- Báo cáo, thảo luận: Sử dụng kĩ thuật được lựa chọn, giáo viên tổ chứccho HS báo cáo và thảo luận về kết quả thực hiện nhiệm vụ, có thể là một báocáo kết quả thực hiện một dự án học tập; dự án nghiên cứu khoa học, kĩ thuật;báo cáo kết quả thực hành, thí nghiệm; bài thuyết trình (bài viết, bài trình chiếu,video clip,…) về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
b) Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS
Định hướng chung trong đánh giá kết quả học tập của HS là phải xâydựng đề thi, kiểm tra theo ma trận; đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của HStrong dạy học được thực hiện qua các bài kiểm bao gồm các loại câu hỏi, bài tậptheo 4 mức độ yêu cầu:
- Nhận biết: HS nhận biết, nhắc lại hoặc mô tả đúng kiến thức, kĩ năng đãhọc khi được yêu cầu
Trang 14- Thông hiểu: HS diễn đạt đúng kiến thức hoặc mô tả đúng kĩ năng đã họcbằng ngôn ngữ theo cách của riêng mình, có thể thêm các hoạt động phân tích,giải thích, so sánh; áp dụng trực tiếp (làm theo mẫu) kiến thức, kĩ năng đã biết
để giải quyết các tình huống, vấn đề trong học tập
- Vận dụng: HS kết nối và sắp xếp lại các kiến thức, kĩ năng đã học đểgiải quyết thành công tình huống, vấn đề tương tự tình huống, vấn đề đã học
- Vận dụng cao: HS vận dụng được các kiến thức, kĩ năng để giải quyếtcác tình huống, vấn đề mới, không giống với những tình huống, vấn đề đã đượchướng dẫn; đưa ra những phản hồi hợp lí trước một tình huống, vấn đề mớitrong học tập hoặc trong cuộc sống
Căn cứ vào mức độ phát triển năng lực của HS ở từng học kỳ và từng khốilớp, giáo viên và nhà trường xác định tỷ lệ các câu hỏi theo 4 mức độ yêu cầutrong các bài kiểm tra trên nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp với đối tượng HS vàtăng dần tỷ lệ các câu hỏi ở mức độ yêu cầu vận dụng, vận dụng cao
Bảng dưới đây là một ví dụ mô tả về 4 mức độ yêu cầu cần đạt của một số loại câu hỏi, bài tập thông thường:
Loại câu
hỏi/bài
tập
Mức độ yêu cầu cần đạt Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Vận dụng cao
vị kiến thức
và nhắc lại được chính xác nội dung của đơn vị kiến thức đó.
Sử dụng một đơn vị kiến thức
để giải thích về một khái niệm, quan điểm, nhận định liên quan trực tiếp đến kiến thức đó.
Xác định và vận dụng được nhiều nội dung kiến thức có liên quan
để phát hiện, phân tích, luận giải vấn
đề trong tình
thuộc.
Xác định và vận dụng được nhiều nội dung kiến thức
có liên quan để phát hiện, phân tích luận giải vấn
đề trong tình huống mới.
Trang 15Xác định được các mối liên hệ liên quan đến các đại lượng cần tìm và tính được các đại lượng cần tìm thông qua một
số bước suy luận trung gian.
Xác định và vận dụng được các mối liên hệ giữa các đại lượng liên quan để giải quyết một bài toán/vấn đề trong tình huống quen thuộc.
Xác định và vận dụng được các mối liên hệ giữa các đại lượng liên quan để giải quyết một bài toán/vấn
đề trong tình huống mới.
Căn cứ vào kết quả thí nghiệm
đã tiến hành, trình bày được mục đích, dụng
cụ, các bước tiến hành và phân tích kết quả rút
ra kết luận.
Căn cứ vào phương án thí nghiệm, nêu được mục đích, lựa chọn dụng cụ và
bố trí thí nghiệm;
tiến hành thí nghiệm và phân tích kết quả để rút
ra kết luận.
Căn cứ vào yêu cầu thí nghiệm, nêu được mục đích, phương án thí nghiệm, lựa chọn dụng cụ và
bố trí thí nghiệm; tiến hành thí nghiệm và phân tích kết quả để rút
ra kết luận.
3 Tiêu chí đánh giá bài học
Mỗi bài học có thể được thực hiện ở nhiều tiết học nên một nhiệm vụ họctập có thể được thực hiện ở trong và ngoài lớp học Vì thế, trong một tiết học cóthể chỉ thực hiện một số hoạt động học trong tiến trình bài học theo phươngpháp dạy học tích cực được sử dụng Khi phân tích, rút kinh nghiệm một bài họccần sử dụng các tiêu chí phân tích, rút kinh nghiệm về kế hoạch và tài liệu dạyhọc đã được nêu rõ trong Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08/10/2014.Bảng dưới đây đưa ra 03 mức độ của mỗi tiêu chí đánh giá
a) Việc đánh giá về kế hoạch và tài liệu dạy học được thực hiện dựa trên
hồ sơ dạy học theo các tiêu chí về: phương pháp dạy học tích cực; kĩ thuật tổ chức hoạt động học; thiết bị dạy học và học liệu; phương án kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả học tập của HS.
Trang 16chỉ có thể được giải quyết một phần hoặc phỏng đoán được kết quả nhưng chưa lí giải được đầy đủ bằng kiến thức/kĩ năng đã có của HS;
tạo được mâu thuẫn nhận thức.
gần gũi với kinh nghiệm sống của HS
và chỉ có thể được giải quyết một phần hoặc phỏng đoán được kết quả nhưng chưa lí giải được đầy đủ bằng kiến thức/kĩ năng cũ; đặt ra được vấn đề/câu hỏi chính của bài học.
Kiến thức mới được trình bày rõ ràng, tường minh bằng kênh chữ/kênh hình/
kênh tiếng; có câu hỏi/lệnh cụ thểcho HShoạt động để tiếp thu kiến thức mới.
Kiến thức mới được thể hiện trong kênh chữ/kênh hình/kênh tiếng; có câu
hỏi/lệnh cụ thể cho
HS hoạt động để tiếp thu kiến thức mớivàgiải quyết được đầy đủ tình huống/câu
hỏi/nhiệm vụ mở đầu.
Kiến thức mới được thể hiện bằng kênh chữ/kênh hình/kênh tiếng gắn với vấn đề cần giải quyết; tiếp nối với vấn đề/câu hỏi chính của bài học để
HS tiếp thu vàgiải quyết được vấn đề/câu hỏi chính của bài học.
Có câu hỏi/bài tập vận dụng trực tiếp những kiến thức mới học nhưng chưa nêu
rõ lí do, mục đích của mỗi câu hỏi/bài tập.
Hệ thống câu hỏi/bài tập được lựa chọn thành hệ thống; mỗi câu hỏi/bài tập có mục đích cụ thể, nhằm rèn luyện các kiến thức/kĩ năng cụ thể.
Hệ thống câu hỏi/bài tập được lựa chọn thành hệ thống, gắn với tình huống thực tiễn; mỗi câu hỏi/bài tập có mục đích cụ thể, nhằm rèn luyện các kiến thức/kĩ năng
cụ thể.
Có yêu cầu HS liên
hệ thực tế/bổ sung thông tin liên quan nhưng chưa mô tả rõ sản phẩm vận dụng/
mở rộng mà HS phải thực hiện.
Nêu rõ yêu cầu và
mô tả rõ sản phẩm vận dụng/mở rộng
mà HS phải thực hiện.
Hướng dẫn để HS tự xác định vấn đề, nội dung, hình thức thể hiện của sản phẩm vận dụng/mở rộng.
Mức độ rõ Các nhiệm vụ học Các nhiệm vụ học Các nhiệm vụ học
Trang 17Tuy nhiên, việc dự kiến lựa chọn các kĩ thuật tổ chức hoạt động học chưa phù hợp với nội dung dạy học và điều kiện của địa phương Chưa rõ sản phẩm HS cần đạt được.
tập thể hiện được tiến trình các hoạt động của GV và HS.
Dự kiến lựa chọn được kĩ thuật dạy học phù hợp với nội dung dạy học và điều kiện của địa phương Có yêu cầu sản phẩm cần đạt được của mỗi nhiệm
vụ học tập.
tập thể hiện rõ tiến trình các hoạt động của GV và HS, dự kiến sử dụng kĩ thuật
tổ chức dạy học phù hợp với nội dung bài học, điều kiện của địa phương Dự kiến được thời gian cho các hoạt động Dự kiến được các tình huống sư phạm có thể phát sinh trong mỗi nhiệm vụ Giải pháp giải quyết.
Chưa có các phương án dành cho
HS sử dụng, thao tác trên thiết bị, tài liệu dạy học trong quá trình học tập
Có chuẩn bị thiết bị/tài liệu (bao gồm
cả thiết bị tự học, ứng dụng CNTT) phù hợp với mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp và kĩ thuật dạy học Tuy nhiên, chưa biết cải tiến phương tiện dạy học.
Đưa ra được các phương án dành cho
HS khai thác, sử dụng thiết bị dạy học, song chưa thật hiệu quả và còn mang tính hình thức.
Chuẩn bị thiết bị/tài liệu (bao gồm cả thiết
bị tự học, ứng dụng CNTT) phù hợp với mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp và kĩ thuật dạy học GV có cải tiến/sáng tạo phương tiện dạy học mới.
Có phương án dành cho HS được thao tác trên thiết bị, tài liệu học tập và có tác động
rõ rệt đến chất lượng học tập của HS.
và toàn bài, song chưa rõ ràng chủ yếu đánh giá kiến thức và vàkĩ năng
Xây dựng được các phương án kiểm tra đánh giá HS trong từng hoạt động học
và toàn bài: đánh giá kiến thức, kĩ năng, thái độ học tập, khả
Xây dựng được các phương án kiểm tra đánh giá HS trong từng hoạt động học và toàn bài, công cụ đánh giá kiến thức, kĩ năng, thái độ học tập, khả năng giao tiếp, phù
Trang 18của HS năng giao tiếp, hợp với nhiều đối
cụ thể Tuy nhiên, phương thức chuyển giao chưa lôi kéo được HS vào nhiệm vụ học tập Nhiều HS còn thụ động với nhiệm
vụ học tập được giao.
HS được giao nhiệm vụ học tập và được hướng dẫn cụ thể Phương thức chuyển giao rõ ràng
đa số HS hiểu được nhiệm vụ học tập.
HS được giao nhiệm vụ cụ thể, được hướng dẫn rõ ràng, phương thc chuyển giao sinh động, lôi kéo được
HS tham gia, HS hiểu và chủ động thực hiện được các nhiệm vụ GV giao
về mức độ nhận thức của HS để điều chỉnh phương pháp dạy học kịp thời, song còn hình thức;
Một số HS còn gặp khó khăn trong học tập GV chưa phát hiện được.
Biết vận dụng các biện pháp khác nhau
để quan sát, phát hiện, thu thập thông tin phản hồi kịp thời
từ phía HS Sử dụng các thông tin thu thập được để điều chỉnh, uốn nắn HS kịp thời, song hiệu quả chưa rõ ràng.
Khả năng quan sát theo dõi phát hiện kịp thời khó khăn của HS tốt: cử chỉ, hành vi, nét mặt, thái độ, qua
vở ghi bài, câu hỏi phát vấn,…) GV kịp thời điều chỉnh và giúp đỡ HS còn khó khăn trong học tập, bước đầu có kết quả.
HS với tài liệu học tập diễn ra rất tích
Trang 19chú ý tổ chức, bước đầu mang lại kết quả nhất định.
và tổng hợp các kết quả học tập và quá trình thảo luận của
HS, song còn mang tính hình thức, áp đặt và chủ yếu HS chỉ được đánh giá
về kiến thức, kĩ năng HS không được tham gia vào quá trình đánh giá, phân tích kết quả học tập.
GV có phân tích, nhận xét, đánh giá
và tổng hợp các kết quả học tập và quá trình thảo luận của
HS về các mặt, kiến thức, kĩ năng, thái
độ học tập và hợp tác HS được tham gia vào quá trình đánh giá, tổng hợp kết quả học tập.
Song mới chỉ tập trung vào một số
HS
GV có phân tích, nhận xét, đánh giá và tổng hợp các kết quả học tập và quá trình thảo luận của HS về các mặt, kiến thức, kĩ năng, thái độ học tập
và hợp tác HS được tham gia vào quá trình đánh giá, tổng hợp kết quả học tập,
HS cảm nhận không
bị áp đặt, được tôn trọng và cảm thấy mình có giá trị.
HS được giao nhiệm vụ và hướng dẫn cụ thể
ở từng hoạt động học tập Song vẫn còn HS chưa sẵn sàng tiếp nhận nhiệm vụ được giao.
HS được giao nhiệm vụ cụ thể, được hướng dẫn rõ ràng, hầu hết HS hiểu và sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ GV giao
Song chưa tích cực, chưa chủ động Vẫn còn HS chưa thực hiện các nhiệm vụ học tập do GV giao.
HS chủ động, tích cực hợp tác trong khi thực hiện nhiệm vụ học tập, song chưa lôi cuốn được mọi HS tham gia vào các hoạt động học tập
và thi đua lành
HS chủ động, tích cực hợp tác trong khi thực hiện nhiệm vụ học tập do GV giao, toàn lớp xây dựng được môi trường học tập thân thiện, hợp tác, thuận lợi, an toàn và thi đua lành mạnh
Trang 20HS, các HS khác chủ yếu nghe giảng và ghi chép thuần túy.
Ít nhất có
khoảng 2/3 HS thể
hiện hứng thú, sự
tự tin và tích cực tương tác, trao đổi thảo luận, hỗ trợ nhau trong quá trình học tập
Hầu hết HS đều thể hiện hứng thú, sự tự tin và chủ động tích cực tương tác, trao đổi thảo luận và hỗ trợ nhau trong quá trình học tập HS tự tin và sẵn sàng trình bày kết quả học tập.
và đạt được mục tiêu của hoạt động.
Đa số HS trong lớp khi thực hiện các nhiệm vụ có kết quả học tập đúng, chính xác và đạt được mục tiêu, yêu cầu của nhiệm
vụ học tập Tuy nhiên vẫn còn HS
có kết quả học tập còn thiếu chính xác, sai sót.
Hầu hết HS trong lớp đều thể hiện được khả năng hiểu và làm chủ được các kiến thức, hình thành được
kĩ năng đáp ứng được mục tiêu bài học, có thái độ tích cực; có khả năng trình liên hệ
và vận dụng kiến thức học được một cách tự tin.
II Quy trình xây dựng bài học
1 Định hướng chung
Căn cứ vào những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực, khi xâydựng các bài học theo chủ đề cần dựa trên một phương pháp dạy học tích cực cụthể được lựa chọn để hình dung chuỗi hoạt động học sẽ tổ chức cho HS thựchiện Nhìn chung các phương pháp dạy học tích cực đều dựa trên việc tổ chứccho HS phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua các nhiệm vụ học tập Chuỗihoạt động học trong mỗi chuyên đề vì thế đều tuân theo con đường nhận thứcchung như sau:
- Hoạt động giải quyết một tình huống học tập: Mục đích của hoạt độngnày là tạo tâm thế học tập cho HS, giúp HS ý thức được nhiệm vụ học tập, hứngthú học bài mới Giáo viên sẽ tạo tình huống học tập dựa trên việc huy động kiếnthức, kinh nghiệm của bản thân HS có liên quan đến vấn đề xuất hiện trong tài liệuhướng dẫn học; làm bộc lộ "cái" HS đã biết, bổ khuyết những gì cá nhân HS cònthiếu, giúp HS nhận ra "cái" chưa biết và muốn biết
Trang 21- Hoạt độngtìm tòi, khám phá, lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng mới hoặc/vàthực hành, luyện tập,củng cố, hoàn thiện kiến thức, kỹ năng vừa lĩnh hội đượcnhằm giải quyết tình huống/vấn đề học tập.
- Hoạt động vận dụng được các kiến thức, kĩ năng để phát hiện và giảiquyết các tình huống/vấn đề thực tiễn
Dựa trên con đường nhận thức chung đó và căn cứ vào nội dung chươngtrình, sách giáo khoa hiện hành, tổ/nhóm chuyên môn tổ chức cho giáo viên thảoluận, lựa chọn nội dung để xây dựng các chuyên đề dạy học phù hợp
2 Quy trình xây dựng bài học
Mỗi bài học theo chủ đề phải giải quyết trọng vẹn một vấn đề học tập Vìvậy, việc xây dựng mỗi bài học cần thực hiện theo quy trình như sau:
a) Bước 1: Xác định vấn đề cầngiải quyết trong bài học
Vấn đề cần giải quyết có thể là một trong các loại sau:
- Vấn đề tìm kiếm, xây dựng kiến thức mới
- Vấn đề kiểm nghiệm, ứng dụng kiến thức
- Vấn đề tìm kiếm, xây dựng, kiểm nghiệm và ứng dụng kiến thức mới.Căn cứ vào nội dung chương trình, sách giáo khoa của môn học và nhữngứng dụng kĩ thuật, hiện tượng, quá trình trong thực tiễn, tổ/nhóm chuyên mônxác định các nội dung kiến thức liên quan với nhau được thể hiện ở một sốbài/tiết hiện hành, từ đó xây dựng thành một vấn đề chung để tạo thành mộtchuyên đề dạy học đơn môn Trường hợp có những nội dung kiến thức liên quanđến nhiều môn học, lãnh đạo nhà trường giao cho các tổ chuyên môn liên quancùng nhau lựa chọn nội dung để thống nhất xây dựng các chủ đề tích hợp, liênmôn
Tùy nội dung kiến thức; điều kiện thực tế của địa phương, nhà trường;năng lực của giáo viên và HS, có thể xác định một trong các mức độ sau:
Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề HS thực hiệncách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên Giáo viên đánh giá kết quảlàm việc của HS
Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để HS tìm ra cách giải quyết vấn đề
HS thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần Giáoviên và HS cùng đánh giá
Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề HS pháthiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết, giải pháp và lựa
Trang 22chọn giải pháp HS thực hiện giải pháp để giải quyết vấn đề Giáo viên và HScùng đánh giá.
Mức 4: HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mìnhhoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề cần giải quyết HS giải quyết vấn đề, tự đánhgiá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc
Ví dụ: Địa hình là một trong những thành phần quan trọng nhất của môitrường địa lí tự nhiên, đồng thời cũng là thành phần bền vững nhất tạo nên diệnmạo cảnh quan trên thực địa Địa hình tác động mạnh đến các thành phần kháccủa tự nhiên như phân phối lại nhiệt, ẩm của khí hậu, điều tiết dòng chảy củasông ngòi… Vì vậy muốn nắm được đặc điểm của tự nhiên Việt Nam thì trướchết phải hiểu biết về địa hình
Địa hình Việt Nam rất đa dạng, phức tạp, thay đổi từ bắc tới nam, từđông sang tây, từ miền núi đến đồng bằng, bờ biển, thềm lục địa, các đảo vàquần đảo Đặc điểm của địa hình nước ta phản ánh rõ lịch sử phát triển địa chất,
sự tác động của các yếu tố ngoại lực trong môi trường nóng ẩm, gió mùa, quátrình phong hóa diễn ra mạnh mẽ Địa hình thấp dần theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam, được thể hiện rõ qua hướng chảy của sông ngòi
Đồi núi chiếm phần lớn diện tích, nhưng chủ yếu là đồi núi thấp Địa hìnhthấp dưới 1.000 m chiếm tới 85% lãnh thổ Núi cao trên 2.000 m chỉ chiếm 1%diện tích cả nước Vùng đồi núi của nước ta rất hiểm trở, bị chia cắt bởi mộtmạng lưới sông ngòi dày đặc Tuy nhiên, miền núi lại có nhiều thế mạnh vềkhoáng sản, đất trồng và tiềm năng thủy điện
Tương phản với miền núi là vùng đồng bằng, tuy chỉ chiếm ¼ diện tíchnhưng có địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ thuận tiện cho việc quần cư vàphát triển kinh tế, nhất là nông nghiệp Tuy nhiên, giữa miền núi và đồng bằnglại có mối quan hệ vô cùng mật thiết
Sự sắp xếp nội dung các tiết dạy trong chương trình chưa thật sự khoahọc: Trong chương trình Địa lí 12, Bài 6 học về các đặc điểm chung của địahình và địa hình các khu vực đồi núi, Bài 7 tiếp tục học về các khu vực địa hìnhđồng bằng và đánh giá ảnh hưởng của địa hình đồi núi đến sự phát triển kinh tế,
xã hội, đánh giá ảnh hưởng của địa hình khu vực đồng bằng đến sự phát triểnkinh tế xã hội, đến Bài 13 thực hành đọc bản đồ địa hình để củng cố kiến thức
về địa hình Việt Nam Sự sắp xếp như vậy chưa thật sự lô gic và chưa tạo điềukiện thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động học tập
Việc sắp xếp lại kiến thức của các Bài 6, 7, 13 thành chuyên để học tậptạo điều kiện cho việc tổ chức các hoạt động học tập được tiếp nối nhau thànhmột chuỗi các hoạt động, từ việc nghiên cứu "cái chung" (đặc điểm chung của
Trang 23địa hình nước ta) đến nghiên cứu "cái riêng" minh chứng cho cái chung (các khuvực địa hình và những tác động của nó đối với phát triển kinh tế xã hội) sẽ làmcho mạch kiến thức được lô gic hơn, đồng thời sau khi học tập HS được luyệntập củng cố kiến thức, kĩ năng đã được học.
b) Bước 2: Xây dựng nội dung chủ đề bài học
Căn cứ vào tiến trình sư phạm của phương pháp dạy học tích cực được sửdụng để tổ chức hoạt động học cho HS, từ tình huống xuất phát đã xây dựng, dựkiến các nhiệm vụ học tập cụ thể tiếp theo tương ứng với các hoạt động học của
HS, từ đó xác định các nội dung cần thiết để cấu thành chủ đề bài học Lựa chọncác nội dung của chủ đề từ các bài/tiết trong sách giáo khoa của một môn họchoặc/và các môn học có liên quan để xây dựng chuyên đề dạy học
Ví dụ: Đối với bài học nói trên, nội dung bài học gồm:
1 Đặc điểm chung của địa hình
- Địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích nhưng chủ yếu là đồi núi thấp
- Cấu trúc địa hình khá đa dạng:
- Địa hình của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa
- Địa hình chịu tác động mạnh mẽ của con người
2 Các khu vực địa hình
a Khu vực đồi núi: gồm 4 vùng núi Đông Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn
Bắc, Nam Trường Sơn
- Vùng núi Đông Bắc
- Vùng núi Tây Bắc
- Vùng núi Trường Sơn Bắc
- Vùng núi Trường Sơn Nam
Địa hình bán bình nguyên và đồi trung du
- Thế mạnh và hạn chế đối với phát triển kinh tế - xã hội
b Khu vực đồng bằng
- Đồng bằng châu thổ sông gồm đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sôngCửu Long
Đồng bằng ven biển
- Thế mạnh và hạn chế đối với phát triển kinh tế - xã hội
Đối với HS học khá giỏi, GV có thể bổ sung thêm nội dung, để HS tựnghiên cứu mở rộng kiến thức
Trang 243 Mối quan hệ giữa địa hình với các thành phần tự nhiên khác.
4 So sánh đặc điểm địa hình của các khu vực: đồi núi; đồng bằng.
c) Bước 3: Xác định mục tiêu bài học
Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình hiện hành vàcác hoạt động học dự kiến sẽ tổ chức cho HS theo phương pháp dạy học tíchcực, từ đó xác định các năng lực và phẩm chất có thể hình thành cho HS trongchuyên đề sẽ xây dựng
Ví dụ: Đối với bài học Địa hình Việt Nam nói trên, Chương trình giáo dụcphổ thông quy định mức độ cần đạt của HS như sau:
(iii) Thái độ
Yêu thiên nhiên Việt Nam và có các tác động phù hợp đối với các dạngđịa hình nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất nhưng không làm tổn hại đếnmôi trường tự nhiên
(iiii) Định hướng năng lực được hình thành
- Năng lực giao tiếp; Năng lực hợp tác trong học tập và làm việc; Nănglực giải quyết vấn đề; Năng lực tự học
Trang 25- Tư duy tổng hợp theo lãnh thổ; Năng lực sử dụng bản đồ, biểu đồ, tranhảnh; Năng lực khảo sát thực tế.
d) Bước 4: Xác định và mô tả mức độ yêu cầu (nhận biết, thông hiểu, vậndụng, vận dụng cao) của mỗi loại câu hỏi/bài tập có thể sử dụng để kiểm tra,đánh giá năng lực và phẩm chất của HS trong dạy học
đ) Bước 5: Biên soạn các câu hỏi/bài tập cụ thể theo các mức độ yêu cầu
đã mô tả để sử dụng trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học và kiểm tra,đánh giá, luyện tập theo chủ đề đã xây dựng
Ví dụ: Đối với bài học Địa hình Việt Nam nói trên, việc kiểm tra, đánhgiá như sau:
- Đánh giá bằng nhận xét: Với tiến trình dạy học như trên, chúng ta có thểhình dung các hoạt động học của HS được diễn ra trong 2 tuần với 3 tiết học trênlớp Thông qua quan sát, trao đổi và các sản phẩm học tập của HS, giáo viên có thểnhận xét, đánh giá được sự tích cực, tự lực và sáng tạo của HS trong học tập:
+ Đánh giá tính tích cực, tự lực của HS: Mức độ hăng hái tham gia phátbiểu ý kiến của HS; Thái độ lắng nghe của HS khi giáo viên gợi ý, hướng dẫn;Mức độ hăng hái thảo luận nhóm của HS để giải quyết nhiệm vụ học tập; Khả năngtập trung, tự lực giải quyết các nhiệm vụ học tập của mỗi cá nhân; Vai trò của nhómtrưởng trong việc tổ chức hoạt đông của nhóm; Trách nhiệm của mỗi thành viêntrong nhóm, thể hiện ở trách nhiệm hoàn thành các phần việc được phân công;nêu ý kiến độc lập và tham gia thảo luận để thống nhất được ý kiến chung; Sựtiến bộ về khả năng hoàn thành nhiệm vụ của HS sau mỗi tiết học, thể hiện từchỗ giáo viên phải gợi ý từng bước để HS trả lời câu hỏi đến việc giáo viên chỉđưa các nhiệm vụ và hỗ trợ khi thực sự cần thiết; Khả năng ghi nhớ những điều
đã học để có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng và vận dụngđược những kiến thức vào thực tiễn; Sự tự tin của HS khi trình bày, bảo vệ kếtquả hoạt động của nhóm trước lớp một cách chặt chẽ, thuyết phục
+ Đánh giá khả năng sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề của HS:Trong quá trình học tập, HS được thực tế hoạt động phỏng theo con đường nhậnthức của nhà khoa học: đề xuất giả thuyết, dự đoán giải pháp, đề xuất phương ánthí nghiệm, phân tích kết quả thực nghiệm, dự đoán quy luật đồ thị, Giáo viên
có thể đánh giá được mức độ đáp ứng của HS đối với các hoạt động sáng tạonày thông qua quan sát, nhận xét sự trải nghiệm hoạt động nhận thức sáng tạo vàkhả năng “luyện tập” tư duy sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề thông quahọc tập theo tiến trình dạy học kể trên Như HS đánh giá được các điều kiện vêđịa hình miền núi và đồng bằng có thuận lợi và khó khăn gì cho phát triển kinhtế-xã hội và đời sống, từ đó HS có thể đưa ra các ý tưởng về giải pháp để khácphục khó khăn nêu trên
Trang 26- Đánh giá kết quả học tập của HS: Căn cứ vào các mức độ yêu cầu củacâu hỏi, bài tập được mô tả trong bảng trên, giáo viên có thể xây dựng các câuhỏi, bài tập tương ứng để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS Căn cứ vàomức độ phát triển năng lực của HS ở từng học kỳ và từng khối lớp, giáo viên vànhà trường xác định tỷ lệ các câu hỏi, bài tập theo 4 mức độ yêu cầu trong cácbài kiểm tra trên nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp với đối tượng HS.
e) Bước 6: Thiết kế tiến trình dạy học
Thiết kế tiến trình dạy học chủ đề thành các hoạt động học được tổ chứccho HS có thể thực hiện ở trên lớp và ở nhà, mỗi tiết học trên lớp có thể chỉ thựchiện một số hoạt động trong tiến trình sư phạm của phương pháp và kĩ thuật dạyhọc được sử dụng Trong chuỗi hoạt động học, đặc biệt quan tâm xây dựng tìnhhuống xuất phát
Trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học mỗi chuyên đề theo phươngpháp dạy học tích cực, HS cần phải được đặt vào các tình huống xuất phát gầngũi với đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ tham gia giải quyết các tình huống
đó Trong quá trình tìm hiểu, HS phải lập luận, bảo vệ ý kiến của mình, đưa ratập thể thảo luận những ý nghĩ và những kết luận cá nhân, từ đó có những hiểubiết mà nếu chỉ có những hoạt động, thao tác riêng lẻ không đủ tạo nên Nhữnghoạt động do giáo viên đề xuất cho HS được tổ chức theo tiến trình sư phạmnhằm nâng cao dần mức độ học tập Các hoạt động này làm cho các chươngtrình học tập được nâng cao lên và dành cho HS một phần tự chủ khá lớn Mụctiêu chính của quá trình dạy học là giúp HS chiếm lĩnh dần dần các khái niệmkhoa học và kĩ thuật, HS được thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết
và nói Những yêu cầu mang tính nguyên tắc nói trên của phương pháp dạy họctích cực là sự định hướng quan trọng cho việc lựa chọn các chuyên đề dạy học.Như vậy, việc xây dựng các tình huống xuất phát cần phải đảm bảo một số yêucầu sau đây:
- Tình huống xuất phát phải gần gũi với đời sống mà HS dễ cảm nhận và
đã có ít nhiều những quan niệm ban đầu về chúng
- Việc xây dựng tình huống xuất phát cần phải chú ý tạo điều kiện cho HS
có thể huy động được kiến thức ban đầu để giải quyết, qua đó hình thành mâuthuẫn nhận thức, giúp HS phát hiện được vấn đề, đề xuất được các giải phápnhằm giải quyết vấn đề
Tiếp theo tình huống xuất phát là các hoạt động học như: đề xuất giảipháp giải quyết vấn đề; thực hiện giải pháp để giải quyết vấn đề; báo cáo, thảoluận; kết luận, nhận định, hợp thức hóa kiến thức
Ví dụ: Bài học Địa hình Việt Nam nói trên có thể được tiến hành như sau:
Trang 27TT Hoạt động Nội dung
Tình huống xuất phát - đề xuất vấn đề
4 Đánh giá GV quan sát, đánh giá quá trình hoạt động của HS; đánh
giá kết quả cuối cùng của một số HS
Khi vào bài học mới GV tổ chức các hoạt động học để học sinh tìm hiểunội dung của bài học Tiến trình các hoạt động còn lại được thực hiện như hoạtđộng khởi động
Tóm lại, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học vàkiểm tra đánh giá của quá trình giáo dục có liên quan chặt chẽ với nhau nên cầnphải đổi mới một cách đồng bộ, trong đó khâu đột phá là đổi mới kiểm tra, đánhgiá theo định hướng chuyển từ chú trọng kiểm tra kết quả ghi nhớ kiến thức sangcoi trọng kết hợp kết quả đánh giá phong cách học và năng lực vận dụng kiến thứctrong quá trình giáo dục và tổng kết cuối kỳ, cuối năm học để hướng tới phát triểnnăng lực của HS; coi trọng đánh giá để giúp đỡ HS về phương pháp học tập, độngviên sự cố gắng, hứng thú học tập của các em trong quá trình dạy học Việc kiểmtra, đánh giá không chỉ là việc xem HS học được cái gì mà quan trọng hơn là biết
HS học như thế nào, có biết vận dụng không
III Các bước phân tích hoạt động học của HS
Việc phân tích, rút kinh nghiệm 1 hoạt động học cụ thể trong giờ họcđược thực hiện theo các bước sau:
1 Bước 1: Mô tả hành động của HS trong mỗi hoạt động học
Trang 28Mô tả rõ ràng, chính xác những hành động mà HS/nhóm HS đã thực hiệntrong hoạt động học được đưa ra phân tích Cụ thể là:
- HS đã tiếp nhận nhiệm vụ học tập thế nào?
- Từng cá nhân HS đã làm gì (nghe, nói, đọc, viết) để thực hiện nhiệm vụhọc tập được giao? Chẳng hạn, HS đã nghe/đọc được gì, thể hiện qua việc HS đãghi được những gì vào vở học tập cá nhân?
- HS đã trao đổi/thảo luận với bạn/nhóm bạn những gì, thể hiện thông qualời nói, cử chỉ thế nào?
- Sản phẩm học tập của HS/nhóm HS là gì?
- HS đã chia sẻ/thảo luận về sản phẩm học tập thế nào? HS/nhóm HS nàobáo cáo? Báo cáo bằng cách nào/như thế nào? Các HS/nhóm HS khác trong lớp
đã lắng nghe/thảo luận/ghi nhận báo cáo của bạn/nhóm bạn như thế nào?
- Giáo viên đã quan sát/giúp đỡ HS/nhóm HS trong quá trình thực hiệnnhiệm vụ học tập được giao như thế nào?
- Giáo viên đã tổ chức/điều khiển HS/nhóm HS chia sẻ/trao đổi/thảo luận
về sản phẩm học tập bằng cách nào/như thế nào?
2 Bước 2: Đánh giá kết quả/hiệu quả của hoạt động học
Với mỗi hoạt động học được mô tả như trên, phân tích và đánh giá về kếtquả/hiệu quả của hoạt động học đã được thực hiện Cụ thể là:
- Qua hoạt động đó, HS đã học được gì (thể hiện qua việc đã chiếm lĩnhđược những kiến thức, kĩ năng gì)?
- Những kiến thức, kĩ năng gì HS còn chưa học được (theo mục tiêu củahoạt động học)?
3.Bước 3: Phân tích nguyên nhân ưu điểm/hạn chế của hoạt động học
Phân tích rõ tại sao HS đã học được/chưa học được kiến thức, kĩ năng cầndạy thông qua mục tiêu, nội dung, phương thức hoạt động và sản phẩm học tập
Trang 29- Sản phẩm học tập (yêu cầu về nội dung và hình thức thể hiện) mà HSphải hoàn thành là gì?
4 Bước 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động học
Để nâng cao kết quả/hiệu quả hoạt động học của HS cần phải điều chỉnh,
bổ sung những gì về:
- Mục tiêu, nội dung, phương thức, sản phẩm học tập của hoạt động học?
- Kĩ thuật tổ chức hoạt động học của HS: chuyển giao nhiệm vụ học tập;quan sát, hướng dẫn HS thực hiện nhiệm vụ học tập; tổ chức, hướng dẫn HS báocáo, thảo luận về sản phẩm học tập; nhận xét, đánh giá quá trình hoạt động học
và sản phẩm học tập của HS
IV Câu hỏi thảo luận về tiến trình bài học
Để hoàn thiện, tiến trình dạy học mỗi bài học theo chủ đề được xây dựngcần được trình bày và thảo luận dựa trên một số câu hỏi gợi ý như sau:
1.3 Để hoàn thiện câu trả lời/sản phẩm học tập nói trên, HS cần vận dụngkiến thức/kĩ năng mới nào sẽ học ở phần tiếp theo trong Hoạt động Hình thànhkiến thức? (Có thể không phải là toàn bộ kiến thức/kĩ năng mới trong bài)
2 Hình thành kiến thức mới
2.1 Kiến thức mới mà HS phải thu nhận được của bài học là gì? HS sẽthu nhận kiến thức đó bằng cách nào? Cụ thể là HS phải thực hiện các hànhđộng (đọc/nghe/nhìn/làm) gì? Qua hành động (đọc/nghe/nhìn/làm), HS thu đượckiến thức gì? Kiến thức đó giúp cho việc hoàn thiện câu trả lời/sản phẩm học tập
ở tình huống xuất phát như thế nào?
2.2 Nếu có lệnh/câu hỏi trong phần Hình thành kiến thức thì cần làm rõ:
- Lệnh/câu hỏi đó có liên hệ thế nào với lệnh/câu hỏi ở tình huống xuấtphát?
- Câu trả lời/sản phẩm học tập mà HS phải hoàn thành là gì?
- HS sử dụng kiến thức gì để trả lời câu hỏi/thực hiện lệnh đó?
3 Hình thành kĩ năng mới
Trang 303.1 Nêu rõ mục đích của mỗi câu hỏi/bài tập luyện tập trong bài học Cụthể là câu hỏi/bài tập đó nhằm hình thành/phát triển kĩ năng gì?
3.2 Nếu có nhiều hơn 01 câu hỏi/bài tập cho việc hình thành/phát triển 01
kĩ năng cần giải thích tại sao?
4 Vận dụng và mở rộng
Cần trả lời được các câu hỏi sau:
Vận dụng: HS được yêu cầu vận dụng kiến thức vào giải quyết một điều
gì trong cuộc sống? Cần thay đổi gì trong hành vi, thái độ của bản thân HS?Đềxuất với gia đình, bạn bè… thực hiện điều gì trong học tập/cuộc sống?
Mở rộng: HS được yêu cầu đào sâu/mở rộng thêm gì về những kiến thức
có liên quan đến bài học? Lịch sử hình thành kiến thức? Thông tin về các nhàkhoa học phát minh ra kiến thức? Những ứng dụng của kiến thức trong đời sống,
kĩ thuật?
HS cần trình bày/báo cáo/chia sẻ các kết quả hoạt động nói trên như thếnào? Dưới hình thức nào?
Trang 31Phần II XÂY DỰNG BÀI HỌC VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC
THEO NHÓM VÀ HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC
I Tổ chức hoạt động học theo định hướng phát triển năng lực HS
1 Các hình thức học tập và học tập theo nhóm
1.1 Hoạt động cá nhân
- Là hoạt động yêu cầu học sinh thực hiện các bài tập/nhiệm vụ một cách độc lập Loại hoạt động này nhằm tăng cường khả năng làm việc độc lập của học sinh Nó diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là với các bài tập/nhiệm vụ có yêu cầu khám phá, sáng tạo hoặc rèn luyện đặc thù Giáo viên cần đặc biệt coi trọng hoạt động cá nhân vì nếu thiếu nó, nhận thức của học sinh sẽ không đạt tới mức độ sâu sắc và chắc chắn cần thiết, cũng như các kĩ năng sẽ không được rèn luyện một cách tập trung.
- Ví dụ các hoạt động cá nhân như:
+ HS đọc thầm yêu cầu, ví dụ đọc đoạn thông tin, quan sát hình,… nêu ý chính
hay trả lời câu hỏi.
+ HS thực hiện yêu cầu, HS cần ghi lại kết quả thực hiện, ví dụ ghi vào vở ý
chính của đoạn thông tin, kết quả nhận xét hình GV hướng dẫn HS biết cách ghi ngắn gọn kết quả đạt được.
+ HS báo cáo kết quả với thày/cô giáo hoặc trao đổi với bạn bên cạnh Sau khi
HS có kết quả làm việc, các em có thể trao đổi với bạn bên cạnh và góp ý cho nhau về kết quả hoặc cùng thống nhất kết quả Với các yêu cầu đơn giản, HS có thể tự thống nhất kết quả cuối cùng; với yêu cầu phức tạp, GV nên đề nghị một vài HS báo cáo kết quả, cho một số HS bình luận ý kiến của bạn, sau đó GV chọn ý kiến đúng của HS để chốt kết quả chung cho cả lớp, giúp các em có kết quả cuối cùng đúng GV không nên
áp đặt HS ý kiến của mình Cần luôn tạo điều kiện để các em tự tin.
Trang 32Lưu ý: GV phải bao quát được việc học của HS cả lớp và hỗ trợ HS kịp thời, cần ưu tiên giúp đỡ cho HS yếu, kém GV cần nói nhỏ khi hướng dẫn cho cá nhân HS
và nhẹ nhàng khi di chuyển trong lớp.
1.2 Hoạt động theo cặp đôi
- Là những hoạt động nhằm giúp học sinh phát triển năng lực hợp tác, tăng cường sự chia sẻ và tính cộng đồng Thông thường, hình thức hoạt động cặp đôi được
sử dụng trong những trường hợp các bài tập/ nhiệm vụ cần sự chia sẻ, hợp tác trong nhóm nhỏ gồm 2 em Ví dụ: kể cho nhau nghe, nói với nhau một nội dung nào đó, đổi bài cho nhau để đánh giá chéo,…
- Tùy theo hoạt động học tập, có lúc học sinh sẽ làm việc theo cặp trong nhóm Giáo viên lưu ý cách chia nhóm sao cho không học sinh nào bị lẻ khi hoạt động theo cặp Nếu không, giáo viên phải cho đan chéo giữa các nhóm để đảm bảo tất cả học sinh đều được làm việc Làm việc theo cặp rất phù hợp với các công việc như: kiểm tra
dữ liệu, giải thích, chia sẻ thông tin; thực hành kĩ năng giao tiếp cơ bản (ví dụ như nghe, đặt câu hỏi, làm rõ một vấn đề), đóng vai Làm việc theo cặp sẽ giúp học sinh tự tin và tập trung tốt vào công việc nhóm Quy mô nhỏ này cũng là nền tảng cho sự chia
sẻ và hợp tác trong nhóm lớn hơn sau này
- GV yêu cầu 2 HS thực hiện học cặp đôi, 2 HS sẽ cùng làm việc HS cần thực hiện những việc sau:
+ HS đọc thầm yêu cầu trong chỉ dẫn của tài liệu Thường là yêu cầu cùng đọc
thông tin, cùng giải quyết bài tập,….
+ HS thực hiện yêu cầu Ví dụ: từng HS đọc thông tin, quan sát hình, sau đó cặp
đôi HS cùng trả lời, làm các bài tập Trong quá trình giải bài tập, trả lời câu hỏi, hai em bàn bạc để có chung kết quả làm việc.
- HS báo cáo kết quả với thày/cô giáo hoặc trao đổi với cặp bạn bên cạnh Lưu ý: Từng cặp HS đọc lời hội thoại, trao đổi với nhau cũng như GV chỉ dẫn chỉ nói đủ cho từng cặp nghe để không ảnh hưởng tới cặp bên cạnh.
1.3 Hoạt động theo nhóm
- Nhóm là hình thức học tập phát huy rất tốt khả năng sáng tạo nên hình thức này dễ phù hợp với các hoạt động cần thu thập ý kiến và phát huy sự sáng tạo Điều quan trọng là học sinh cần phải biết mình làm gì và làm như thế nào khi tham gia làm việc nhóm.
- Khi tổ chức cho HS học nhóm, GV cần nhận thức và hướng dẫn đúng nhiệm
vụ của các thành viên trong hoạt động nhóm và vai trò của GV đối với việc tổ chức cho HS học nhóm Để tránh việc tổ chức hoạt động nhóm mang tính hình thức Trong
Trang 33khi thảo luận nhóm, cần phân rõ vai trò của cá nhân, nhóm trưởng, thư kí nhóm và giáo viên Cụ thể là:
+ Cá nhân: tự đọc, suy nghĩ, giải quyết nhiệm vụ, có thể hỏi các bạn trong
nhóm về những điều mình chưa hiểu; khi các bạn cũng gặp khó khăn như mình thì yêu cầu sự trợ giúp của giáo viên; thực hiện các yêu cầu của nhóm trưởng và yêu cầu của giáo viên.
+ Nhóm trưởng: thực hiện các nhiệm vụ của cá nhân như những bạn khác; bao
quát nhóm xem các bạn có khó khăn gì không; phân công các bạn giúp đỡ nhau; tổ chức cho cả nhóm thảo luận những vấn đề khó khăn; thay mặt nhóm để liên hệ với giáo viên
và xin trợ giúp; báo cáo tiến trình học tập nhóm; điều hành chốt kiến thức trong nhóm Nhóm trưởng tạo cơ hội để mọi thành viên tự giác trong tự học, tích cực tham gia các hoạt động nhóm Đối với các bạn nhút nhát thiếu tự tin, cần được khuyến khích nói nhiều, trao đổi nhiều, thể hiện nhiều trong hoạt động nhóm Không để tình trạng một số thành viên làm thay, làm hộ các thành viên khác trong nhóm Giáo viên lưu ý phân công học sinh luân phiên nhau làm nhóm trưởng.
+ Thư kí của nhóm: thực hiện các nhiệm vụ của cá nhân như các bạn khác; là
người ghi chép hoặc vẽ lại những nội dung trao đổi hoặc kết quả công việc của nhóm Việc ghi chép này giúp nhóm tổng hợp công việc mình đã thực hiện, trao đổi với các nhóm khác hoặc chia sẻ trước cả lớp Để việc tổng hợp ý kiến, công việc của nhóm được thú vị và hấp dẫn Giáo viên có thể cùng các em sáng tạo ra nhiều hình thức trình bày như tranh hoá hoặc sơ đồ hoá Thư kí còn là người đánh dấu vào bảng tiến độ công việc
để giúp nhóm trưởng báo cáo giáo viên Giáo viên phân công học sinh luân phiên nhau làm thư kí.
+ Vai trò của giáo viên trong hoạt động nhóm
Chọn luân phiên các nhóm trưởng, thư kí nhóm để giúp giáo viên triển khai các hoạt động học tập Xác định và phân công nhiệm vụ cho các nhóm một cách cụ thể và rõ ràng Đứng ở vị trí thuận lợi để dễ dàng quan sát các nhóm học sinh làm việc và có thể
hỗ trợ kịp thời cho các nhóm Không nên dành thời gian làm việc ở một nhóm quá lâu, đứng một chỗ ở khu vực bàn giáo viên
Giúp đỡ học sinh, gợi mở để học sinh phát huy tìm tòi kiến thức mới, hỗ trợ cho
cả lớp, hướng dẫn học sinh báo cáo sản phẩm Khi cần tạo tình huống để học tập, giáo viên có thể gọi học sinh còn yếu; khi cần biểu dương khích lệ học tập, giáo viên có thể gọi học sinh khá giỏi thay mặt nhóm để báo cáo; giao thêm nhiệm vụ cho những học sinh hoàn thành trước nhiệm vụ (giao thêm bài tập hoặc yêu cầu hướng dẫn các bạn khác ).
Vừa hướng dẫn học tập cho một nhóm, vừa kết hợp quan sát, đánh giá và thúc đẩy các nhóm khác làm việc Việc chỉ định học sinh phát biểu, trình bày báo cáo … phải được cân
Trang 34nhắc phù hợp với nội dung hoạt động, đối tượng học sinh, không tập trung vào một số học sinh trong lớp, trong nhóm
- GV cần hướng dẫn thực hiện đúng tiến trình hoạt động nhóm
+ Trước khi tham gia phối hợp với bạn học trong nhóm, cá nhân luôn có một khoảng thời gian với các hoạt động để tự lĩnh hội kiến thức, chuẩn bị cho các hoạt động thảo luận trong nhóm Cá nhân làm việc độc lập trong nhóm, nhưng vẫn có thể tranh thủ hỏi hay trả lời bạn trong nhóm, vẫn thực hiện các yêu cầu của của nhóm trưởng (nếu có) để phục vụ cho các hoạt động nhóm
+ Tần suất của các hoạt động cá nhân trong nhóm rất lớn và chiếm ưu thế hơn
so với các hoạt động khác Làm việc cá nhân giúp học sinh có thời gian tập trung tự nghiên cứu, tự khám phá kiến thức, tự chuẩn bị những gì cần thiết trước khi sử dụng
nó để có những hoạt động khác cùng cả nhóm Trong quá trình làm việc cá nhân, gặp những gì không hiểu, học sinh có thể hỏi bạn ngồi cạnh hoặc nêu ra trong nhóm để các thành viên khác cùng trao đổi và nếu nhóm không giải quyết được vấn đề thì nhóm trưởng có thể nhờ giáo viên hỗ trợ.
- Khi HS chưa quen tự động tạo nhóm, GV hướng dẫn tạo nhóm theo dãy bàn.
Có thể cho HS xếp bàn trên, bàn dưới ghép với nhau để từ 4 đến 6 HS ngồi quay mặt vào nhau Không nên xếp nhóm quá dài theo chiều ngang hoặc dọc, HS sẽ khó giao tiếp với nhau Nếu nhóm làm việc ít hiệu quả, nên bố trí lại nhóm để HS có thể giao tiếp thuận lợi và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ Mỗi nhóm cần bầu nhóm trưởng, thư kí, một số em có nhiệm vụ chuẩn bị nguồn tư liệu, ghi chép, theo dõi thời gian,… Các nhóm cùng đồng thời làm việc nên HS cần giữ trật tự, không nói quá to, không chạy
đi, chạy lại trong lớp khi không cần thiết (như đi lấy nguồn tài liệu, lấy thiết bị dạy học cho nhóm,…) Nhóm trưởng đề nghị một vài bạn nêu lại yêu cầu để tất cả các thành viên trong nhóm nhận biết được nhiệm vụ chung của nhóm Các việc làm cần tuần tự thực hiện:
+ HS đọc thầm yêu cầu.
+ Các thành viên trong nhóm suy nghĩ cá nhân hoặc có thể chia sẻ với bạn bên
cạnh theo yêu cầu của hoạt động
+ Nhóm trưởng mời lần lượt các thành viên hoặc một vài bạn trong nhóm chia
sẻ hoặc đưa ra ý kiến GV lưu ý để nhóm trưởng dành thời gian cho các bạn giải quyết nhiệm vụ Sau khoảng thời gian nhất định, nếu bạn nào muốn trình bày, nhóm trưởng nên mời lên đầu tiên
+ Thống nhất kết quả hoạt động của nhóm Nhóm trưởng có nhiệm vụ tổ chức
tập hợp ý kiến các thành viên để có thể cử đại diện nhóm trình bày kết quả của nhóm trước lớp.
+ Báo cáo kết quả với thày/cô giáo hoặc trao đổi với nhóm bạn bên cạnh GV
nên tạo điều kiện để đại diện nhóm trình bày kết quả Có thể để 1 nhóm trình bày, các
Trang 35nhóm khác bổ sung, bình luận GV chú ý tổng hợp kết quả của HS để cuối cùng có thể chốt lại những nội dung cơ bản của bài học GV nên yêu cầu HS nêu lại kết quả cuối cùng đó GV không nên tự chốt lại kết qủa do HS thực hiện Nếu GV thấy HS không lúng túng, thắc mắc về kết quả làm việc của nhóm thì nên để các nhóm trao đổi kết quả với nhau trước khi chọn một nhóm đại diện báo cáo mang tính chốt vấn đề được tìm hiểu, giải quyết trước lớp.
Lưu ý: Vai trò của nhóm trưởng là quan trọng Vì vậy, GV cần hình thành kĩ năng điều khiển nhóm cho các em HS và tạo cơ hội để mọi HS đều có thể làm nhóm trưởng.
1.4 Hoạt động cả lớp
- Khi học sinh có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh một vấn đề hoặc có những khó khăn mà nhiều học sinh không thể vượt qua, giáo viên có thể dừng công việc của các cá nhân, cặp, nhóm lại để tập trung cả lớp làm sáng tỏ các vấn đề còn băn khoăn hoặc bàn cãi (Lưu ý rằng những tình huống như vậy không xuất hiện thường xuyên trong lớp học)
- Hoạt động cả lớp còn được sử dụng trong tình huống GV nêu yêu cầu cho HS, hướng dẫn HS thực hiện nhiệm vụ, HS hoặc nhóm HS trình bày kết quả làm việc, GV đánh giá kết quả làm việc của HS,… Cụ thể như sau:
+ GV hướng dẫn HS thực hiện yêu cầu, có thể là đọc đoạn văn, phân tích biểu
đồ, liên hệ thực tiễn,… Từng cá nhân HS cần biết mình phải làm gì ở bước tiếp theo.
+ GV dành thời gian cho HS thực hiện yêu cầu Trong lúc HS làm việc, GV
quan sát thái độ HS Nếu thấy HS còn lúng túng, GV cần hỗ trợ HS về nguồn tài liệu,
về cách xử lý thông tin, cách ghi chép kết quả,…
+ GV kiểm tra kết quả học tập của HS bằng cách yêu cầu HS trình bày trước
lớp hoặc GV quan sát kết quả làm việc của các em (bản ghi chép, vẽ, bài tập được giải quyết,….).
+ GV chính xác hóa kiến thức, chỉnh lại kĩ năng Nếu quan sát thấy HS chưa đạt
được kết quả mong muốn, GV yêu cầu một vài em trình bày kết quả GV cần nhận xét, chỉnh sửa những kết quả đó và yêu cầu các em khác so sánh với kết quả được chỉnh sửa để tự chỉnh sửa kết quả làm việc của mình.
+ GV mở rộng, nâng cao (nếu thấy cần thiết)
Như vậy, việc lựa chọn hình thức làm việc nào: cá nhân, cặp đôi, nhóm hay cả lớp đều phụ thuộc vào yêu cầu của các loại hình hoạt động và luyện tập Tài liệu Hướng dẫn học chỉ là một gợi ý cho việc tổ chức các hình thức hợp tác này, giáo viên cần lưu ý là không phải luôn tuân theo một cách máy móc thiết kế có sẵn của tài liệu Tùy vào tình hình chung của cả lớp và thiết kế của cá nhân, giáo viên có sự thay đổi, ứng dụng linh động và phù hợp, đảm bảo tính hiệu quả cho bài học và sự hứng thú cho học sinh.
Trang 36Tránh dạy học đồng loạt theo hướng định lượng thời gian, bắt học sinh theo kịp tiến độ một cách khiên cưỡng, thông báo chung hoặc ghi các nội dung trên bảng trong khi hầu hết học sinh đã hiểu và làm được; chốt kiến thức trong từng phần nhỏ; cho học sinh giơ tay phát biểu quá nhiều gây mất thời gian; thay vì dạy cả lớp như hiện hành thì lại dạy cho nhiều nhóm nên việc giảng giải lặp đi lặp lại ở các nhóm khác nhau; sử dụng câu hỏi phát vấn nhiều và vụn vặt
2 Hướng dẫn học sinh tự học
2.1 Quan niệm về tự học
Đến nay, còn có nhiều quan niệm về tự học, chẳng hạn như:
Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức thuộc một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học.
Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV và sự quản lí trực tiếp của cơ
sở giáo dục và đào tạo Cụ thể hơn, tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp (khi phải
sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan có ý chí tiến thủ, không ngại khó, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.
Theo quan điểm dạy học tích cực, bản chất của học là tự học, nghĩa là người học luôn là chủ thể nhận thức, tác động vào nội dung học một cách tích cực, tự lực, chủ động và sáng tạo để đạt được mục tiêu học tập Hay nói cách khác, không ai học giúp cho người học được, vì thế muốn học được phải tự học Theo đó, quá trình hình thành kiến thức, kĩ năng, thái độ, chủ yếu là do HS tự thực hiện, còn môi trường học chỉ đóng vai trò trợ giúp Việc học chỉ có hiệu quả khi người học ý thức được việc học (có nhu cầu học tập) từ đó có động cơ, ý chí và quyết tâm để vượt qua những khó khăn, trở ngại trong học tập Tự học là một quá trình chủ thể nhận thức tác động một cách tích cực, tự lực, chủ động và sáng tạo vào đối tượng học nhằm chuyển hoá chúng thành tài sản riêng, làm cho chủ thể thay đổi và phát triển.
Có thể nói là con người ai cũng phải tự học, do vậy trong cuộc đời của mỗi người bao giờ cũng có hoạt động tự học, song vấn đề quan trọng là tự học ở mức độ nào và tự học như thế nào, hướng tới học suốt đời
Đặc điểm cơ bản quan trọng không thể thiếu của tự học là sự tự giác và kiên trì cao, sự tích cực, độc lập và sáng tạo của HS tự mình thực hiện việc học Như vậy, tự
Trang 37học là sự tích cực, tự lực, chủ động của chủ thể nhận thức trong hoạt động học, quá trình tự học do người học tự thực hiện (mang sắc thái cá nhân) Tuy nhiên, cần chú ý rằng với HS phổ thông để việc tự học đạt hiệu quả thường cần phải có sự hướng dẫn, trợ giúp của GV hay người trợ giúp Theo đó, GV cần tạo ra môi trường để HS phát huy nội lực của mình trong quá trình khám phá kiến thức.
Xét về có hay không có sự trợ giúp từ các yếu tố bên ngoài, tự học có hai mức độ: tự học hoàn toàn và tự học có hướng dẫn Tự học có hướng dẫn là hình thức tự học
để chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng tương ứng với sự hướng dẫn tổ chức chỉ đạo của GV hay người hướng dẫn, thông qua bài giảng hoặc tài liệu hướng dẫn học.
Tự học có hướng dẫn là việc học cá nhân và tự chủ, được sự giúp đỡ và tăng cường của một số yếu tố như GV hay người hướng dẫn hay công nghệ giáo dục hiện đại Khi
đó, người học là chủ thể, trung tâm, tự mình chiếm lĩnh tri thức, chân lí bằng hành động của mình Người thầy là tác nhân hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho trò tự học trong sự hợp tác với bạn, với thầy, với học liệu,…
Như vậy, tự học là tự mình thực hiện việc học Tự học không thể thiếu trong hoạt động học, trong đó HS phải biết huy động hết khả năng trí tuệ, tình cảm và ý chí của mình để lĩnh hội một cách sáng tạo tri thức kĩ năng và hoàn thiện nhân cách của mình dưới sự hướng dẫn của GV Kết quả tự học cao hay thấp phụ thuộc vào kĩ năng tự học của mỗi cá nhân và đặc biệt với HS THPT thì còn phải phụ thuộc rất lớn đến sự hướng dẫn của GV hay học liệu, phương tiện hỗ trợ,
Xét theo con đường và không gian học tập thì tự học có thể diễn ra theo các hình thức sau:
– Tự học không theo con đường nhà trường, học thông qua thực tế, hình thức
này phổ biến ngoài đời sống xã hội, học qua giao tiếp, học qua lao động, học qua các thông tin đại chúng, Với hình thức này, việc hình thành kiến thức, kĩ năng, thái độ mới là do người học tự trải nghiệm, qua hoạt động thực tiễn Hình thức tự học này thường do người học tự mò mẫm, thực hiện, thử và sai, thường không có thầy hướng dẫn một cách tường minh và có chủ định, thường không có kế hoạch và mục đích định
trước Hình thức này thường mang tính tự nhiên, trong cuộc sống hằng ngày: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”, học bất cứ lúc nào, ở đâu, trong lao động cũng như
vui chơi, giải trí,…
– Tự học ở trường lớp, có các hình thức: Tự học ngoài giờ trên lớp (có GV hay
tài liệu hướng dẫn, hoặc không); Tự học trên lớp (có sự trợ giúp trực tiếp của GV hay người hướng dẫn, hoặc qua tài liệu hướng dẫn) Ngoài ra, tự học ở nhà có một vai trò quan trọng đối với thành tích học tập của HS Trong quá trình tự học của mình, HS tự học từng phần của bài học, tự học cả bài hay thậm chí tự học cả chủ đề Quá trình tự học thường được diễn ra theo các giai đoạn: tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự điều chỉnh
Trang 38và vận dụng Mỗi giai đoạn vừa nêu trên có các bước cơ bản để thực hiện, có thể mô tả chúng như phần dưới đây.
(1) Tự nghiên cứu
- Bước 1 Xác định mục tiêu học tập, nội dung cần học, lên kế hoạch tự học.
Đây là khâu đầu tiên của quá trình học một nội dung hay một chủ đề Kết quả giai đoạn này là nhận ra các đặc điểm của từng nội dung hay chủ đề Dựa vào đó xây dựng được kế hoạch tự học.
- Bước 2 Xác định kiến thức, kĩ năng cơ bản thuộc mỗi nội dung hay chủ đề.
Sau khi nhận ra nội dung, đặc điểm của từng nội dung (bước 1), HS phải tiếp tục xác định trong mỗi nội dung đó, kiến thức nào cần thu nhận? kiến thức nào là chủ yếu, cốt lõi? (tức là, nếu thiếu kiến thức này thì nội dung bị thay đổi, hoặc HS gặp khó khăn khi học tiếp).
- Bước 3 Hệ thống hoá kiến thức Xác định quan hệ giữa kiến thức, kĩ năng mới thu nhận với nhau và với kiến thức, kĩ năng đã có Kinh nghiệm cho thấy, trong
quá trình học tập, khi thu nhận được kiến thức, kĩ năng mới, người học phải tìm quan
hệ giữa các kiến thức, kĩ năng mới thu nhận với nhau và với kiến thức, kĩ năng đã có
Như vậy, kiến thức mới thu nhận và kiến thức đã có hợp thành một thể thống nhất biến thành vốn riêng của chủ thể, tạo thuận lợi cho việc huy động khi cần sử dụng.
(2) Tự thể hiện và hợp tác
Tự học theo cách đã nêu ở giai đoạn I tuy kiến thức có hệ thống, nhưng còn mang tính chủ quan, những nhầm lẫn, thiếu sót nếu có sẽ không dễ gì được tự phát hiện ra Vì thế cần phải qua giai đoạn II, nhằm chuyển sản phẩm (kiến thức, kĩ năng,
…) chủ quan thành khách quan Tức là cần phải xã hội hoá sản phẩm học tập Giai đoạn này được thực hiện qua các bước:
- Bước 4.Tự thể hiện, chỉ có thể nhận xét, đánh giá được sản phẩm học ở giai
đoạn học cá nhân, khi được HS thể hiện (diễn đạt) lại theo mức độ nắm vững kiến thức Từ sản phẩm có tính cá nhân, trong tư duy được thể hiện ra hình thức cụ thể để mỗi HS và GV có thể quan sát, phân tích từ đó bổ sung, chỉnh sửa làm cho sản phẩm được chính xác, mang tính khách quan Tuỳ theo nội dung và nhiệm vụ học tập mà HS
có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau như: tóm tắt, lập dàn ý, lập sơ đồ hệ thống, báo cáo, bài nói, bài tập, dự án, phiếu học tập,…
- Bước 5 Thảo luận, sau khi biểu đạt như ở bước 4, dưới sự giúp đỡ của GV
hay người có hiểu biết (như ông, bà, cha, mẹ hay anh, chị,…), HS thảo luận, tranh luận
về các điều mới học được của mình Người thể hiện phải giải thích, bảo vệ sản phẩm của mình, các thành viên trong nhóm và GV (hay người trợ giúp) lắng nghe, phân tích,
Trang 39bổ sung, sửa chữa nhằm hoàn thiện, làm cho sản phẩm đảm bảo độ tinh khiết, chính xác, tiệm cận tới chân lí
(3) Tự điều chỉnh
- Bước 6 Tự đánh giá Lúc này HS cần tự đánh giá việc học, dựa vào các
hướng dẫn đã có Tất nhiên việc tự đánh giá này luôn mang tính chủ quan, độ chính xác có thể chưa cao Vì thế, để hiệu quả, ban đầu GV cần hướng dẫn HS cách đánh giá, sau đó cho HS tự đánh giá, hoặc đánh giá lẫn nhau (giữa các thành viên trong nhóm) Cứ như thế, dần dần qua luyện tập mà HS biết cách tự đánh giá, sau khi tự học mỗi nội dung hay mỗi phần trong chương trình.
- Bước 7: Tự điều chỉnh Sau khi tự đánh giá người học tự đối chiếu, tự nhận ra
những chỗ sai sót, xác định nguyên nhân, rồi từ đó tự sửa lại nội dung kiến thức, kĩ năng và tự điều chỉnh cách học sao cho ngày càng phù hợp
Tuy nhiên, đến đây vẫn chưa trả lời được câu hỏi: “Mục đích học để làm gì?”,
mà chỉ trả lời được khi HS sử dụng kiến thức vào các tình huống học tập và đời sống.
Vì vậy, cần có thêm giai đoạn vận dụng.
(4) Vận dụng kiến thức
- Bước 8 Vận dụng kiến thức:
Trên cơ sở đã nắm vững kiến thức, HS phải tự nhận ra được ý nghĩa, giá trị của từng kiến thức, kĩ năng đó và sử dụng được vào những tình huống khác nhau Vận dụng tốt kiến thức, kĩ năng là bước cuối cùng của quá trình học hay tự học.
2.2 Vị trí, vai trò của tự học
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khoá XI về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có nêu lên mục tiêu cụ thể, trong đó có
đề cập tới việc “phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”; trong các giải pháp có nêu “tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khoá, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy và học”.
Tự học được xem là một mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học Từ lâu các nhà
sư phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa của phương pháp dạy tự học Trong quá trình dạy học
GV không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những kiến thức có sẵn, yêu cầu HS ghi nhớ,
… mà quan trọng hơn là phải định hướng, tổ chức cho HS tự khám phá ra những quy luật, thuộc tính mới của các kiến thức hay các vấn đề khoa học Qua đó, giúp HS không chỉ nắm bắt được kiến thức mà còn biết cách tìm ra những kiến thức ấy Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học hiện đại còn xác định rõ: càng ở trình độ cao thì tự
Trang 40học càng cần được coi trọng Nói tới phương pháp dạy học thì cốt lõi là dạy tự học Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Vì thế, muốn thành công trên bước đường học tập và nghiên cứu thì người học phải có khả năng tự phát hiện và tự giải quyết những vấn đề mà cuộc sống hay khoa học đặt ra.
Rèn luyện kĩ năng tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực cho HS trong quá trình học tập: Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân là
tính tích cực, sự chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh Một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là phải hình thành được phẩm chất đó cho người học Khi đó giáo dục mới có thể đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với thị trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực (có nguồn gốc từ năng lực tự học) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại Trong đó hoạt động tự học là những biểu hiện sự gắng sức cao về nhiều mặt của từng cá nhân trong quá trình nhận thức thông qua sự hưng phấn tích cực Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú trong học tập Có hứng thú, người học mới có được sự tự giác, say mê tìm tòi nghiên cứu khám phá Hứng thú là động lực dẫn tới tự giác Tính tích cực của con người chỉ được hình thành trên cơ sở sự phối hợp giữa hứng thú với tự giác Nó bảo đảm cho sự định hình tính độc lập trong học tập.
Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng
định năng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứng với những biến đổi của sự phát triển kinh tế – xã hội Bằng con đường tự học mỗi người sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức to lớn từ môi trường, nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao, tạo đà cho tự học trong cuộc sống hay trong thực tiễn.
– Các động cơ trách nhiệm trong học tập.
Thông thường các động cơ hứng thú nhận thức hình thành và đến được với người học một cách tự nhiên khi bài học có nội dung hấp dẫn, mới lạ, thú vị, bất ngờ
và chứa nhiều những yếu tố kích thích, gợi sự tò mò Động cơ này sẽ xuất hiện thường