Dưới đây là những món ăn, đồ uống được dùng để thờcúng trong những ngày lễ tết và cách chế biến những đồ ăn thức uống của một số dân tộc thiểu số ở nước ta.. Nói đến đặc trưng ẩm thực cũ
Trang 1MỞ ĐẦU
Việt Nam được biết đến là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc thiểusố.Mỗi một dân tộc đều mang những giá trị văn hóa riêng, từ đó tạo nên nhữngnét đặc trưng về văn hóa ẩm thực của từng dân tộc Đặc biệt là trong những ngày
lễ tết, mỗi dân tộc đều có những món ăn đặc trưng riêng mang văn hóa tínngưỡng của dân tộc đó Dưới đây là những món ăn, đồ uống được dùng để thờcúng trong những ngày lễ tết và cách chế biến những đồ ăn thức uống của một
số dân tộc thiểu số ở nước ta Có rất nhiều nét đặc sắc trong nghẹ thuật chế biến
và ý nghĩa của nó
Trang 2NỘI DUNG
1 Dân tộc Mường
1.1 Giới thiệu đôi nét về dân tộc Mường.
Dân tộc Mường là một trong những dân tộc thiểu số đông nhất ở miền Bắcnước ta,dân số hiện nay ước tính trên 60 vạn người.Đồng bào cư trú trên một địabàn khá rộng từ Hoàng Liên Sơn,Vĩnh Phú,Sơn La đến Hà Nam Ninh,ThanhHóa…Trong đó tập trung đông nhất ở Hà Sơn Binh
Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc Mường có quan hệ mậtthiết với các dân tộc anh em khác và là chủ nhân sớm của nền văn hóa bản địathông qua các di chỉ của nền văn minh hậu đồ đá nằm rải rác, tập trung ở vùngđất có người Mường sinh sống Văn hóa Mường là nền văn hóa bản địa phongphú, đa dạng, giàu bản sắc và rất độc đáo, thể hiện từ những nếp nhà sàn, những
bộ trang phục dân tộc, phong tục tập quán, sự gắn kết cộng đồng
1.2.Các món ăn,đồ uống là vật thờ cúng trong ngày lễ tết của đồng bào dân tộc Mường.
* Cơm nếp
Nói đến đặc trưng ẩm thực cũng như lao động sản xuất của người Mường
là nói đến một câu rất đặc trưng: "Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui,tháng tới", vì thế đối với cư dân Mường, với nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp,canh tác lúa nước, cơm nếp đồ là thứ không thể thiếu, là món ẩm thực mang ýnghĩa lớn để cảm ơn trời đất cho mùa màng bội thu
- Cách chế biến:
Người Mường đồ cơm nếp bằng “cuốp” (loại cây thân mềm không độc, khi
đồ cơm không bị nứt), như thân cây cọ khoét rỗng, hoặc cây “bương” Chiềucao của “cuốp” khoảng 40 - 50cm, đường kính khoảng 25 - 30cm, chứa đượcchừng vai ba cân gạo một mẻ Khi đồ cơm nếp bằng “cuốp” thì cơm nếp vẫn giữđược hương thơm và giá trị dinh dưỡng của gạo
Trang 3Khi cơm chín, người Mường đổ cơm vào thúng hay nia, mủng rồi quạt chonguội, làm như vậy cơm vừa dẻo, vừa khô, không bị nát, ăn rất ngon Ở một sốnơi, người Mường còn đồ cơm nếp thành các màu bằng cách lấy các thứ câythân cỏ đem giã lấy nước rồi trộn với giạo đem đồ Khi đồ cho lần lượt các màu
đỏ vào trước rồi đến màu xanh, vàng, tím trắng cho lên trên cùng Cơm chín đổ
ra trộn lẫn các màu lại với nhau
Bánh chưng
- Cách chế biến
Người Mường sử dụng lá dong rừng để gói bánh Còn gạo thì phải là gạonếp “mộc châu” thơm lừng Kèm theo đó là thịt (ngon nhất,chuẩn nhất phải làthịt lơn mán) và đậu xanh Bánh chưng của người Mường ngoài gói bằng ládong họ còn lấy lá dừa đóng thành khuôn hình vuông để tạo thành nhiều nếptrồng đẹp mắt hơn
Trong quá trình làm bánh chưng công đoạn luộc bánh cực kỳ quan trọng.Người luộc phải trông cho nôi bánh cạn nước mới chín, quá trình luộc là thờigian cả một đêm, thường thì bắt đầu luộc đêm 29 tết
- Ý nghĩa.
Bánh chưng của người dân tộc Mường là một nét văn hóa tinh thần chứađựng cuộc sống cộng động làng bản Khi đến thăm nồi bánh chưng của giađình người Mường hễ gia đình nào thấy luộc nồi bánh chưng to là năm đó giađình này được mùa lớn
Bánh uôi
Trang 4Trong tiếng Mường, bánh uôi được goị là “peẻng Uôi” Không ai biết bánhuôi có từ khi nào, kể cả những cụ cao niên trong làng, chỉ biết rằng bánh đãđược truyền qua nhiều thế hệ.
- Cách chế biến
Nguyên liệu chính để làm nên loại bánh thơm ngon này là bột gạo nếpnương Loại bánh rất giản dị, có hình dáng và hương vị rất đặc biệt đem lại sựthích thú cho người ăn Làm bánh uôi rất đơn giản nhưng cần sự tỉ mỉ Khâuquan trọng nhất là chuẩn bị bột để làm bánh Gạo làm bánh được chọn từ loạigạo nếp nương còn thơm hương lúa mới Vo gạo thật sạch, ngâm gạo trong nướckhoảng hai giờ cho mềm, vớt ra để ráo nước và đem xay
Bánh uôi được làm với hai loại nhân là mặn và ngọt Nếu là nhân ngọt thìđược làm bằng hạt đậu nho nhe (một loại hạt đặc trưng của người Mường ở HòaBình) hoặc đậu xanh, theo người dân ở đây, nho nhe là ngon nhất Hạt nho nheđược nấu chín rồi giã nát, cho ra bát và trộn với đường Riêng nhân mặn, chỉ cầntẩm ướp thịt lợn với gia vị cùng một ít tiêu là được
Lá dùng để gói bánh là loại lá chuối rừng hoặc lá chuối tây, lá được cắtthành từng miếng vừa gói Trước khi gói, người dân thường phơi lá chuối ngoàinắng hoặc hơ qua lửa cho mềm để lá không bị rách khi gói, sau đó dùng khănlau thật sạch lá trước khi gói bánh
- Cách chế biến:
Bột hòa vào nước, trộn nhuyễn thành một khối trắng tinh, rồi xắt thànhtừng miếng nhỏ, cho nhân bánh vào giữa và vo tròn lại Khi gói, đặt hai phầnbánh ở hai đầu đối xứng trong miếng lá chuối, cuộn lại, xoắn nhanh và chặt tay.Sau đó, gập đôi hai đầu thành một và buộc lại bằng một dây lạt mềm, cuốicùng cắt gọn cuống lá chuối thừa sao cho gọn gàng và đẹp mắt Bánh có hìnhdạng khá kỳ lạ và đặc biệt với hai phần giống hệt nhau như song sinh, hai bánh
úp mặt vào nhau tuy hai mà như một
Trang 5Bánh gói xong được xếp vào chõ theo chiều dựng đứng để khi hấp bánhđược chín đều Hấp bánh trong khoảng gần một giờ đồng hồ, khi thấy lá chuốichuyển sang màu đậm là bánh đã chín, gắp bánh để ra đĩa.
- Ý nghĩa
Cặp bánh uôi gắn liền với một quan niệm dân gian thơm thảo của đồngbào Đó là vào ngày đầu tiên của năm mới, người ta treo lên mỗi loại nông cụnhư cuốc, cày, dao, liềm một cặp bánh uôi (hoặc bánh chưng, bánh ống, ).Các con vật trong nhà cũng được ăn bánh hoặc chà bánh lên mõm Hành động
đó thay cho lời cảm ơn chân thành của con người đối với công cụ và gia súc saumột năm cùng họ lao động làm ra của cải Đó cũng là biểu hiện sống động chonhân sinh quan đầy tính nhân văn của người Mường nơi đây
- Ý nghĩa:
Trang 6Cách uống rượu cần dân tộc độc đáo thì chắc hẳn cũng sẽ làm tăng thêmtính đoàn kết, thân nghĩa tình trong mâm cỗ tết ở mọi gia đình Và mỗi bữa tiệcbên rựơu cần ấy đã thực sự là nét đặc sắc để mỗi người trog gia đình, cộng đồngdân tộc Mường như gần gũi nhau hơn, ấp ủ nhiều hơn những ước vọng tốt đẹpcho một năm mới ấm áp, may mắn, hạnh phúc.
Cách thờ tự:
Trong một mâm thờ thường có các lễ vật như bánh chưng và mật, rượuchai, cơm nếp, thịt luộc, chả rang và dồi, quếch, một ít tiền, một bát nước lã, trầucau, mắm muối Món thịt được bày trên một mảnh lá chuối Gia chủ chọn đủmiếng trong một con lợn để bày vào mảnh lá chuối Cùng với mâm cỗ Tết,người Mường còn trồng một cây nêu trước cửa nhà Nêu được làm bằng cây trehoặc cây lành hanh, cũng thuộc họ nhà tre, nhưng thân nhỏ, đốt thưa, thẳng vàrất cao
Sau khi mâm cỗ đã soạn đủ món được bưng lên đặt vào bàn thờ Thôngthường, bàn thờ tổ tiên được đặt 3 mâm: mâm ngoài cùng thờ bố mẹ, mâm thứhai thờ ông bà, mâm thứ ba (trong cùng) thờ cụ kỵ Ở mâm thờ các cụ, kỵ thìcơm không đong bằng bát, đúa không tính đôi mà cơm được nắm một nắm thật
to, còn đũa thì để một nắm hàng chục đôi Tiếng Mường gọi là “cơm cổ tũanãm” tức “cơm đống, đũa nắm” để biểu thị mâm đó thờ rất nhiều cụ, kỵ mà concháu đương thời không thể nhớ hết tên (Trong bài o khấn thời người ta chỉ đọctên mời đến đời cụ) Ở cửa vóng kê bàn thờ về phía trong, người ta bày các mâmthờ vua mỡi Vóng trong cùng thờ hai mâm tổ tiên bên ngoại: bố mẹ vợ và ông
bà ngoại chủ nhà Vóng ngoài kê bàn thờ tổ tiên nội thờ hai anh emThàn Kỳ ViBóng, Chàng Vàng, Sang Quan Lại Lệnh (Thần Kỳ Wi Pỏng ủn enh ChàngWàng Khang Quan Lãi Lễnh), là thần che tránh tai nạn rủi ro cho con người khi
ra xã hội, giúp người bảo vệ của cải vật chất trong nhà Cửa vóng phía trái ngoài(bóng tlèo) đặt hai mâm thờ “Cun kép tả ngươi – Ba bố con Khồng Dofl” Mâm
bố Khồng Dòl đặt trên, mâm của hai con ông Khồng Dòl ở dưới Ở đầu bếp đặt
Trang 7một mâm thờ ba vợ chồng vua bếp (một vợ hai chồng) Phía gian ngoài cùng(khoang tlèo) người ta dọn lễ vào nong, xếp một vài lá thịt, muối, bánh chưngnhỏ, cơm dọn nhiều năm nhỏ cho vía trâu bò hưởng Dưới sân, người ta đặt lênmiếu thờ ba vị thổ công Tất cả công cụ lao động và đồ dùng quý trong nhà đềuđược dính những hòn cơm nhỏ để cho chúng “ăn tết”.
Các mâm lễ được đặt vào vị trí, ông mo xem xét thấy đã đủ lễ thì con cháuthắp hương để ông mo đóng vai con cháu trong nhà bắt đầu khấn lễ Đầu tiênông xướng tên và nơi ngự của các vị được thờ và lạy từng vị một Tiếp đó làphần trình bày và lý do mời và dẫn dắt các vị về tận nhà chủ thờ Các vị tổ tiên,thần thánh rửa chân, trèo thang len nhà, khấn chỉ vào vị trí mâm của từng vị đểcác vị ngồi đúng chỗ Sau khi các vị đã an tọa, ông mo cùng tất cả con cháutrong nhà lạy cháo tổ tiên và thần thánh Sau thủ tục lạy chào, ông mo bắt đàukhấn dâng Tất cả con cháu vãn ngồi nguyên vị, lắng nghe lời mo Lời mo mờicác vị ăn trầu, nói chuyện với nhau cho vui Ăn trầu xong mời xúc miệng bằngbát nước lã trong sạch và bắt đầu dâng bánh, dâng rượu Dâng đủ 10 tuần bánhthì xin mời các cụ “Thu lại một nếp, xếp lại một món” để tiếp tục xơi đến mónthịt, rượu Vừa ăn cơm và uống rượu nhấm nhót Cứ hết một tuần con cháu lạilạy ơn tổ tiên, thần thánh ba lần Vì mỗi lần ăn uống nhắm nhót như vậy tổ tiênlại bênh vực con cháu một số việc Con cháu như nhìn thấy rõ ràng tổ tiên, thầnthánh đang ăn uống rất sinh động, vui vẻ và họ rất tin rằng sẽ được bênh bao phù
hộ như lời khấn cầu Dâng đủ 10 tuần cơm rượu thì được coi là các vị đã thật sự
no say
2 Dân tộc Thái
2.1 Vài nét về dân tộc Thái
Người Thái còn được gọi là Tày Khao (Thái Trắng), Tày Đăm (TháiĐen), Tày Mười, Tày Thanh (Man Thanh), Hàng Tổng(Tày Mường), PuThay, Thổ Đà Bắc Họ đã có mặt ở miền Tây Bắc Việt Nam trên 1200 năm, là
Trang 8con cháu người Thái di cư từ vùng đất thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc bâygiờ.
2.2 Ẩm thực tết người Thái
2.2.1.Món ăn
* Món bánh chưng đen
Nguyên liệu làm bánh của đồng bào được chọn lựa kỹ càng: lá dong bánh
tẻ, khổ vừa phải, rửa sạch, lau khô Gạo nếp được chọn phải là nếp Tú Lệ thơmngon
Bánh chưng đen phải được gói thủ công Củi để luộc bánh phải là củi gỗ to,giữ than tốt, khi luộc xếp bánh vào nồi, đậy kín vung Lúc nồi bánh chưa sôi thìđun to lửa, khi nồi bánh đã sôi giữ lửa đều, đủ nhiệt để bánh chín nhuyễn, chínđều, đun từ 6-7 tiếng Khi chín vớt ra cho vào chậu nước rửa qua và treo bánhthành từng cặp để cho bánh không bị mốc
Bánh dùng để thắp hương và đãi khách quý Chiếc bánh chưng đen có hìnhtròn, dài hoặc bánh lưng gù được gói lên thể hiện được sự khéo léo của đôi bàntay người phụ nữ Thái Đặc biệt, bánh lưng gù có phần lưng lồi lên giống nhưhình đỉnh núi và được bao quanh bởi 6 đường lạt dài chạy dọc thân bánh Bánh
có phần gù càng cao, cân đối thì càng đẹp
Theo tục lệ của người Thái, trước đây, gói bánh chưng đen là một trongnhững tiêu chí để lựa chọn nàng dâu Người Thái quan niệm, con gái phải biếtgói bánh chưng đẹp, khi bóc ra bánh phải đen ánh, có độ dẻo quánh và lúcthưởng thức thì bánh có đủ vị thì mới là người con gái khéo léo, đảm đang, sẽ làngười vợ hiền, người con dâu tốt
Sự tinh tuý trong chiếc bánh chưng đen thể hiện ở sự kết hợp giữa hương vịthơm ngon của gạo nếp, của nhân bánh có trộn hoa vừng đen
Xôi nếp ngũ sắc
Giống nếp dùng để nấu loại xôi này này một năm chỉ trồng được một vụ,bắt đầu từ tháng 2, tháng 3 đến tận tháng 10 âm lịch mới được gặt Lúa nếp được
Trang 9trồng trên các ngọn đồi và các sườn núi hấp thụ tinh hoa của đất trời Có lẽ vìđiều kiện trồng trọt khá khó khăn nên món ăn này trở nên quý và ngon khôngthể tả được Để thưởng thức hết vị ngon của xôi nếp ngũ sắc, bạn nên nhai mộtcách chậm rãi, từ từ Khi đó người ăn sẽ cảm nhận được vị ngọt tự nhiên quyệncùng hương thơm ngào ngạt trong từng hạt nếp.
Món ăn tuy đơn giản nhưng mất nhiều thời gian từ suốt quá trình chuẩn bịcho đến lúc chế biến Để có được màu sắc ưng ý, gạo nếp trước khi nấu phảingâm với các loại lá, củ… từ 5- 6 tiếng Khi nấu phải để xôi riêng từng chõ hoặcdùng lá dong, lá chuối ngăn không cho gạo nếp bị lẫn màu Dưới đáy thường lótthêm lá dong để tạo hương thơm đậm đà cho xôi Người nấu phải giữ đều lửa đểxôi chín bằng hơi, thơm dẻo và không dính tay Khi xôi chín lấy ra mâm, quatcho bớt hơi nóng rồi gói bằng lá dong banh tẻ cho cơm dẻo giữ mùi thơm lâu.Đĩa xôi nếp ngũ sắc như đất trời thu nhỏ của núi rừng Tây Bắc, đẹp tựa cầuvồng, ngào ngạt hương hoa như bông hoa ban huyền thoại Các màu nóng lạnhcòn tượng trưng cho đất trời,âm- dương
Xôi nếp ngũ sắc không chỉ đẹp, thích mắt mà nó cũng có tiếng nói riêngcuả mình ở mỗi màu ví như màu: màu đen của đất đai trù phú, màu vàng củaước muốn luôn được no ấm phồn thịnh, màu đỏ tượng trưng cho những ước mơnhững khát vọng,màu xanh là màu của núi rừng là bầu trời lồng lộng với sứcsống diệu kỳ,màu tím tương trưng cho sự thủy chung và màu trắng là của tìnhyêu là sự trắng trong thanh bạch
2.2.2
Rượu cần
Rượu cần người Thái làm khá cầu kỳ, gọi là "láu xá" Men rượu làm toànbằng những thứ lá và quả từ rừng sẵn có (gọi là men lá) Những thứ quả lá chủyếu gồm có: bơ hinh ho, khi mắc cái, củ riềng, lá trầu không, quả ớt những thứnày được giã đều cho thật nhuyễn với gạo tấm, sau đó nắm thành từng miếngtròn dẹt như bánh rán, đem ủ với rơm, xếp từng lớp đều nhau Khi đã ủ kỹ từ 15
Trang 10đến 20 ngày có mùi men bốc lên họ đêm phơi lên gác bếp cho khô Khi cầndùng đem giã nhỏ rắc vào cái rượu, mỗi mẻ rượu cần từ 7 đến 9 bánh, cái rượuđược làm bằng vỏ sắn củ khô gọt ra đem ngâm ở suối ba ngày ba đêm cho hếtmùi bồ hóng và độc tố của sắn Vớt lên phơi khô trộn với trấu lẫn tấm đưa lên
"hông" (dụng cụ hấp, đồ) đồ cho chính, sau đó đổ xuống mẹt hoặc lá cót để chothật nguội đem men rắc đều từng lớp, tiếp tục ủ bằng lá chuối hoặc lá rừng (bỏnhum, bơ cá) để rượu bốc men rồi đem bỏ vào từng chum, lấy lá chuối hoặcmảnh ni lông bịt kín (nếu để hở hơi rượu sẽ bị chua) Khi đã ủ vào chum từ 25-
30 ngày rượu có thể uống được, để càng lâu rượu càng đặc, càng ngọt Ngoàisắn khô người ta còn làm bằng loại ngũ cốc khác như ngô, hạt ý dĩ củ dongriềng
Rượu cần có ở hầu hết các cuộc vui, buồn của đồng bào Thái Mỗi cuộcrượu có một cách uống khác nhau, như rượu trong lễ cưới, hai cần rượu bắt chéovào nhau, trên cần rượu buộc hai cuộn tơ, ý nói đôi vợ chồng sẽ sống với nhaucho đến đầu bạc răng long Trong lễ hăng vắn, lễ buộc chỉ cổ tay, bên cạnh mâmcúng thần linh thì vò rượu cần cũng không thể thiếu trong lễ cúng, sau khi làm lễxong, mọi người lại quây quần bên vò rượu, uống chung một nguồn nước, đắng,ngọt đều có nhau… Trong lễ hội vui của bản mường, rượu cần cũng không thểthiếu được Sau cuộc vui ném còn, các trai làng, gái bản lại trở về nhà uống rượucần do cô gái chuẩn bị từ trước, đây còn gọi là "ky lầu bao xáo", hay "ky lầu nờcon", có nghĩa là uống rượu trao trả kỷ vật cho nhau Từ đây, rượu cần là cầu nốinhân duyên cho trai, gái thành vợ, thành chồng sau những ngày lễ hội
3 Dân tộc Dao
3.1 Vài nét về dân tộc Dao
Người Dao (các tên gọi khác: Mán, Đông, Trại, Dìu Miền, Kim Miền, LùGang, Làn Tẻn, Đại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Sơn Đầu v.v) là mộtdân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc ở Việt Nam với số dân là 751.067 người(2009) Ở Việt Nam, người Dao tuy có dân số không đông nhưng các bản làng
Trang 11của họ trải rộng tại các miền rừng núi phía Bắc (Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai,Yên Bái, Lai Châu, Tuyên Quang, ) đến một số tỉnh trung du như: Phú Thọ,Vĩnh Phúc, Hòa Bình và miền biển Quảng Ninh (người Dao Thanh Y).
3.2 Ẩm thực tết người Dao
Cũng giống như người Kinh và nhiều dân tộc khác, người Dao đón Tết
cổ truyền theo lịch âm Khoảng ngày 20 tháng Chạp, hầu hết các gia đình đềugác lại công việc làm ăn để chuẩn bị đón Tết
Người Dao đỏ cũng có tục cúng ông Công, ông Táo như người Kinh,nhưng họ không cúng vào ngày 23 tháng Chạp mà làm chung với lễ cúng tấtniên Trong mâm cỗ, ngoài bánh chưng, loại bánh gù đặc trưng của người Dao,thịt lợn, thịt gà, rượu, thường có thêm đĩa bánh dày hoặc bánh nếp gói trong láchít
1 Món bánh dì (hay còn gọi là bánh dầy)
Đây là món ăn có truyền thống rất lâu đời của người Dao ở vùng caoThanh Hóa
- Cách chế biến
Bánh dì được làm từ gạo nếp, đồ thành xôi chín cho vào cối đá giã nhuyễnrồi sau đó nặn thành từng cái bánh nhỏ hình tròn chấm với muối vừng ăn Đểbánh được ngon và dẻo hơn thì gia chủ phải chọn loại gạo nếp thật ngon rồingâm kỹ trong nước vài giờ đồng hồ mới mang ra đồ
2 Thịt theo luộc và thịt gà
- Cách chế biến
Các loại thịt, lòng, gan được thái nhỏ, trộn đều và dồn vào miếng lá chuốilớn gọi là cỗ lá Tuy nhiên, tùy thuộc vào kinh tế mỗi gia đình mà các món ănđược làm nhiều hay ít, gia đình nào làm ăn khấm khá thì họ cúng bằng gà trống
và đầu heo
Trang 12- Ý nghĩa
Người dân tộc Dao cả năm đã lao động vất vả, chỉ có ngày Tết mới được
ăn ngon Vì thế, mâm cơm đầy thịt là mong ước của người dân cho một nămmới đầy đủ và sung túc
*Nghi thức thờ tự
Đối với người Dao thì nghi lễ cúng tổ tiên ông bà rất quan trọng nên thôngthường mỗi gia đình phải mời ít nhất 3 thầy cúng, nhiều là 5 thầy tới giúp Cácthầy cúng phải là những người có chức sắc trong làng, họ là những người có mặtsớm nhất để lo cho buổi lễ khỏi thiếu sót Khác với người Kinh, thay cho tiềnvàng mã người Dao sử dụng các tờ giấy màu bạc và màu vàng để cắt thành từngthỏi và đóng dấu lên đó Trong lễ cúng, người Dao không dùng hương để đốt màdùng lá quế hoặc vỏ quế khô bỏ vào một cái chén nhỏ Mỗi lần đốt lại phải dùngmột viên than hồng để đốt cùng, cho đến khi nào cái chén đầy than và vỏ hươngmới thôi
Sau khi lễ vật được bày ra trước bàn thờ gia tiên, các thầy cúng ngồitrước mâm lễ vật bắt đầu bài cúng, đại diện cho gia chủ báo cáo quá trình mộtnăm lao động và xin gia tiên phù hộ cho gia đình bước sang năm mới sẽ gặpnhiều may mắn hơn nữa Bài cúng tổ tiên của người Dao phải trải qua 4 bước vàmất hơn 2 giờ đồng hồ mới hoàn thành Sau khi lễ cúng hoàn thành, lễ vật đượcmang xuống và dọn ra mâm cho mọi người cùng ăn
Điều đặc biệt hơn nữa là trong mâm cơm Tết năm cùng, đó là các thầycúng và các vị chức sắc trong làng được bố trí ngồi trên, ăn trước, sau đó lầnlượt đến khách mời của bố mẹ, con cái Theo tục của người Dao, trước khi dùngbữa mọi người cùng nâng chén, chủ nhà phải đi một vòng mời rượu để báo cáovới anh em họ hàng về bữa cơm Tết năm cùng và vấn đề làm ăn kinh tế của giađình trong năm vừa qua
4.Dân tộc Mông
4.1.Vài nét về dân tộc Mông
Trang 13Dân tộc Hmông sinh sống ở Việt Nam có khoảng 80 vạn người thuộc nhómngôn ngữ: Hmông- Dao Người Hmông (từ Quí Châu- Vân Nam- Quảng Tây-Trung Quốc) thiên di vào Việt Nam cách ngày nay khoảng 300 năm, bằng nhiềuđợt, rải rác suốt thời gian dài cho tới cuối thế kỷ XIX.
đồ xôi Chõ xôi được làm bằng gỗ để khi xôi chín không bị mất hương thơm củanếp nương, dẻo lại không bị nát
Khi xôi chín được đổ cả vào cối giã thật nhuyễn Cối giã bánh dày củangười Mông được làm bằng thân cây gỗ chắc, thớ mịn, có mùi thơm và khoétrỗng ruột; chầy giã bánh cũng được làn bằng cá loại gỗ cứng và nặng
Khi giã bánh chầy được ngâm vào nước chống dính Giã bánh dày là mộtcông việc nặng nhọc và đòi hỏi nhiều sức lực và kỹ thuật Bởi vậy những ngườitham gia giã bánh thường là những người đàn ông, thanh niên khỏe mạnh lựclưỡng
Mỗi lần 2 người, khi đã thấm mệt thì lại chuyển cho 2 người khác thaynhau giã Giã càng kỹ thì bánh càng dẻo, ngon và để được lâu Xôi đem giã đếnkhi dẻo và mịn thì mới hoàn thành
Trang 14Khi xôi được giã xong là lúc các bà, các chị khéo léo nặn thành nhữngchiếc bánh xinh xắn, tròn trịa như mặt trăng, mặt trời như truyền thuyết để lại
Để bột khỏi dính tay và tăng độ thơm ngon của bánh, người ta xoa lòng đỏtrứng gà vào lòng bàn tay lúc nặn bánh Lá gói bánh là lá chuối đã hơ qua lửacho khỏi rách
- Ý nghĩa của món ăn:
Theo tiếng Mông, bánh dày có tên gọi là “Pé” hoặc “Dúa” tùy theo từngvùng khác nhau Với người Kinh, bánh chưng bánh dày là biểu tượng cho tết,cho Trái đất và bầu trời vuông tròn đầy đủ Còn với người Mông, bánh dày làbiểu tượng cho tình yêu, sự thủy chung son sắt của trai gái người Mông, bánhdày còn tượng trưng cho Mặt trăng, Mặt trời - là nguồn gốc sinh ra con người vàmuôn loài
2, Thịt gà và thịt lợn:
Phương pháp chế biến:
Mâm cỗ tết của người Mông cũng không thể thiếu thịt gà, thịt lợn: thịt gà
đã được thịt trong buổi chiều ngày cuối năm để làm vật cũng tổ tiên
- Ý nghĩa:
Với người Mông, không có con gà thì không ai gọi thần mặt trời dậy, trờiđất tối tăm mãi Cho nên, khi cúng, gia chủ cắt tiết gà ngay tại bàn thờ, nhúmchút lông gà nhúng vào tiết dán lên những tờ giấy dán trên bàn thờ Sau đó mớiđem gà đi làm cơm cúng
Riêng lợn được thịt từ vài hôm trước hoặc đến ngày 30 mới thịt,
4.2.2: Đồ uống
Rượu ngô Bắc Hà:
Chắc hẳn ai đã từng đến đây, sẽ không thể nào quên câu dân ca cửa miệngcủa bà con nơi đây mỗi khi tiếp khách: " Khi vào nhớ dốc Trung Đô - Khi ra thìnhớ rượu ngô Bắc Hà "
- Phương pháp chế biến:
Trang 15Nó được tạo nên từ một loại ngô mọc trên những ngọn núi đá cao, bảytháng mới cho thu hoạch với những bắp ngô màu vàng ươm và hạt nhỏ.
Một điều đặc biệt của giống ngô này là sản lượng hàng năm không cao,nhưng chất lượng rất tốt hạt ăn mềm, bùi và giàu chất dinh dưỡng
Loại ngô này được bung và ủ kỹ để nấu rượu, kết hợp với men được làm từhạt của cây hồng my Một loại thảo dược chỉ có tại vùng đất này Người ta đemhạt cây hồng my đem xay nhỏ như bột với trộn với nước rượu đầu và một ítnước sôi để tạo nên bánh men, sau đó đặt lên rơm đem phơi khô
Khi hai loại đặc sản này kết hợp với nhau sẽ tạo ra hương vị độc đáo khôngthể lẫn với loại rượu nào Chỉ cần mở nút chai là có thể cảm nhận ngay vị thơmcủa danh tửu ngon này
Đặc sản này hy đường bày bán ở các phiên chợ của người Mông Đếnphiên chợ dù có mua hay không người bán vẫn mời bạn một chén để bạn thưởngthức nó
- Ý nghĩa:
Khi đưa chén rượu lên miệng, chạm vào đầu môi, trôi qua cuống họng thìmột cái cảm giác nóng bừng đột nhiên lan tỏa khắp cơ thể bạn Khiến bạn nhậnthấy những giọt rượu này cũng cuồng nhiệt và nồng thắm chẳng khác gì tìnhcảm của những người dân tộc Mông ở Bắc Hà làm ra nó
5 Dân tộc Hoa
5.1.Vài nét về dân tộc Hoa
Dân tộc Hoa là những người gốc Trung Quốc định cư ở Việt Nam và đa số
có quốc tịch Việt Nam Các tên gọi khác: Khách Trú, người Hán, người Tàu, BaTàu Nếu xếp theo phân loại của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thì họ là dântộc Hán Đây là một trong các dân tộc tại Việt Nam có dân số giảm trong 10năm (1999-2009) theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam
5.2 Ẩm thực tết người Hoa
Trang 16Nhắc đến đồng bào Hoa là nhắc đến các lễ hội phủ đầy trong năm và các lễhội ấy đều căn cứ vào lịch mặt trăng (rằm, mồng một…) Tại TP.Hồ Chí Minh,
có thể nói văn hóa của cộng đồng người Hoa đã góp phần làm phong phú thêmcho văn hóa chung của Thành phố Đồng bào Hoa ở đây cũng có Tết Nguyênđán trùng với ngày Tết của cả dân tộc
6 Sau khi bánh chín, bạn nhẹ nhàng lật bánh ra dĩa rồi tháo phần giấy nến
đi Có thể rắc một ít vừng lên bề mặt để trang trí
Trên đây là cách làm bánh Tổ đơn giản nhất, thay vì hương vị gạo nếptruyền thống nếu thích bạn có thể sử dụng bột trà xanh để tạo màu và tănghương vị cho món bánh này bằng cách thêm một ít bột trà xanh vào phần bộttrộn sẵn Phần phủ lên bề mặt bánh bạn cũng có thể thay bằng đậu xanh, đậu đỏhoặc bất kì loại đậu đỗ nào bạn thích Lúc nướng bánh thì nhớ để ý thời gian để
Trang 17bánh không bị hỏng và trong quá trình làm bánh bạn cũng phải kiểm tra nguyênliệu kĩ càng, nhớ là phải dùng bột nếp để làm bánh Tổ có như vậy mới giữ đượcmùi vị đặc trưng của món ăn này.
- Ý nghĩa
Ý nghĩa của món bánh này là mong ước các thành viên trong gia đình lúcnào cũng có thể sum vầy, quây quần bên nhau, cách phát âm của từ ” Nian Gao”cũng có nghĩa là mọi điều thịnh vượng, tốt đẹp, luôn tiến tới Nhưng chiếc bánh
tổ rất phổ biến đối với mâm cỗ của người Hoa từ xưa đến nay và là loại bánhtruyền thống không thể thiếu
Bánh củ cải
- Nguyên liệu: bột gạo, quậy đều cùng 400gr nước, lược qua rây, thịtheo/bò băm nhỏ, đậu phộng hột nhỏ, ngâm trước vài tiếng và nấu mềm, tômkhô, rửa sạch, ngâm nước nóng cho mềm, củ cải trắng (ít/nhiều hơn tùy sởthích),Gia vị
- Cách chế biến
1 Củ cải trắng rửa sạch, bào mỏng thành từng sợi nhỏ Cho 1 muỗng muốivào xóc đều cho củ cải xẹp xuống, để 5 phút rồi xả với nước lạnh Cho củ cảivào túi vải vắt cho thật ráo và gỡ tơi ra Nhớ giữ nướ củ cải đã vắt
2 Đun nóng chảo, phi thơm tỏi, cho thịt băm vào sào chín, nêm ít muối vàđường Tắt bếp, rắc tiêu và cho tôm khô vào trộn đều
3 Bột gạo bạn cho ra tô và hòa sánh đều với nước củ cải
- Sau đó trộn củ cải + hỗn hợp thịt rang tôm khô + đường + chút nước
4 Cho hỗn hợp này vào khuôn, dùng giấy bạc bọc kín lại và đem hấpkhoảng 1h Nhớ là hấp trên lửa lớn nhé đến khi xăm thử thấy bánh không dínhđũa là được
- Sau khi bánh chín, nhấc ra ngoài để bánh nguội rồi đem xắt miếng
- Bắc chảo lên bếp, cho dầu vào và đun nóng dầu, cho từng miếng bánh củcải vào chiên vàng đều các mặt Bánh chín cho ra đĩa có lót lớp giấy thấm dầu
Trang 185 Pha nước chấm: Hỗn hợp nước chấm gồm nước tương ngon, tương ớt,đường và dấm Tiều ( giấm đỏ) sao cho có vị chua ngọt thanh
- Ý nghĩa:
Thành đạt, năm mới đạt nhiều thành công.Ngoài ra còn nhiều món tiêu biểunhư: Món gà luộc ngậm túm cọng hành trụng, giò heo nấu đậu phộng, lạpxưởng, lạp dục, gà, tôm, thịt heo, cải xà lách xanh sống
6.Dân tộc Khmer
6.1 Vài nét về dân tộc Khme
Ngay từ cuối thế kỷ XVII, ở đồng bằng sông Cửu Long đã có nhiều đồngbào dân tộc cùng sinh sống Người Khmer đã có mặt ở vùng đất này rất sớm, họ
cư ngụ dọc theo bờ sông Tiền, sông Hậu, nương nhờ vào thiên nhiên để trồng tỉa
và sinh sống Bà con Khmer quần tụ nhiều trong những phum sóc trên giồng đất
ở Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, An Giang… Người Khmer hiền hòa,hiếu khách, đa số sống bằng nghề nông, theo Phật giáo thiểu thừa, có nhữnghình thức sinh hoạt văn hóa độc đáo qua ca múa, lễ hội…
Những nét đẹp truyền thống đậm tính nhân văn trong văn hóa Tết củangười Khmer Nam Bộ vẫn được đồng bào duy trì, phát triển cho đến ngày nay,đặc biệt là nét văn hóa ẩm thực đặc trưng mang tính truyền thống lâu đời củangười Khmer vùng Nam bộ
Trang 19được nhúng vào nước đường để bánh bóng mịn và không bị cong Công đoạncuối cùng trong quá trình làm bánh củ gừng là gắp từng chiếc lên mâm phơi khôtrong khoảng 10-15 phút để tăng độ giòn cứng.
Ý nghĩa và cách thờ tự : Bánh gừng là loại bánh truyền thống của dântộc Khmer Nam bộ, được làm vào dịp lễ tết cổ truyền của đồng bào Khmer như:Tết Chol- Chnam -Thmay, lễ Dolta, hay đám hỏi, đám cưới Bánh được trưngtrên bàn thờ tổ tiên, với ý nghĩa nhớ đến sự cực khổ của ông bà ngày xưa đã làm
ra hạt lúa, hạt nếp cho con cháu ngày nay và mong ước cuộc sống ngày càng ấm
Ý nghĩa và cách thờ tự : Bánh thường được dùng trong lễ hội Ok OmBok ( lễ cúng trăng), dâng cho Thần Nước và sau đó dùng đi chúc phúc cho trẻcon
3.Bánh ống
Cách chế biến: Gạo thơm dẻo xay nhuyễn trộn với nước lá dứa, đường
và cốt dừa sao cho không quá ngọt, hơi béo, vừa dẻo mà vừa xốp tơi nhưmạt cưa Người ta cho bột vào trong khuôn bánh là những hình ống bằng inoxdài chừng 10 cm rồi đặt ống thẳng đứng trên nắp nồi, hấp cách thủy khoảng 2