1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Ẩm thực ngày tết của người Mường xã Ngọc Lâu, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình

42 819 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 702,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ ẨM THỰC TRONG NGÀY TẾT CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ NGỌC LÂU, HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH .... Bảo tồn và phát huy các giá trị của ẩm

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Bố cục tiểu luận 5

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI MƯỜNG XÃ NGỌC LÂU, HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH 6

1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên xã Ngọc Lâu 6

1.1.1 Vị trí địa lý 6

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 6

1.2 Nguồn gốc dân cư 6

1.3 Tập quán mưu sinh 8

1.4 Đặc điểm văn hóa tộc người 9

1.4.1 Văn hóa vật chất 9

1.4.2 V ăn hóa tinh thần 13

Chương 2: ẨM THỰC TRONG NGÀY TẾT CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ NGỌC LÂU, HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH 15

2.1 Khái quát về ẩm thực của người Mường ở xã Ngọc Lâu 15

2.2 Những món ăn trong ngày Tết của người Mường ở Ngọc Lâu 15

2.2.1 Những món được chế biến từ gạo 16

2.2.2 Những món ăn chế biến từ thịt 19

2.2.3 Những món ăn chế biến từ cá 21

2.3 Đồ uống 22

2.4 Tục ăn trầu cau 23

2.5 Truyền dạy tri thức ẩm thực trong cộng đồng 23

2.6 Những giá trị văn hóa trong ẩm thực ngày Tết của người Mường 24

2.6.1 Gía trị tâm linh 24

2.6.2 Gía trị xã hội 25

Trang 2

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ ẨM THỰC TRONG NGÀY TẾT CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ NGỌC

LÂU, HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH 26

3.1 Những biến đổi về ẩm thực ở xã Ngọc Lâu hiện nay 26

3.1.1 Biến đổi về nguyên liệu 26

3.1.2 Biến đổi cách thức chế biến 27

3.1.3 Biến đổi về cách thức sử dụng 27

3.2 Nguyên nhân biến đổi ẩm thực trong ngày Tết của người Mường ở xã Ngọc Lâu 28

3.2.1 Giao lưu văn hóa 28

3.2.2 Môi trường xã hội thay đổi 28

3.2.3 Môi trường tự nhiên thay đổi 28

3.2.4 Biến đổi các hoạt động kinh tế 29

3.3 Bảo tồn và phát huy các giá trị của ẩm thực trong ngày tết của người Mường ở Ngọc Lâu 29

3.3.1 Nâng cao nhận thức cho người dân 29

3.3.2 Tăng cường thông tin, tuyên truyền, quảng bá về ẩm thực của người Mường 30

3.3.3 Giải pháp đầu tư, triển khai, thực hiện 31

KẾT LUẬN 32

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 33

PHỤ LỤC 34

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc Mường có quan hệ mật thiết với các dân tộc anh em khác Văn hóa Mường là nền văn hóa bản địa, phong phú, đa dạng, giàu bản sắc và rất độc đáo thể hiện qua nếp nhà, trang phục truyền thống cùng với quá trình dựng nước và giữ nước, người Mường đã xây dựng nên nền văn hóa tộc người đặc sắc góp phần tạo nên tính đa dạng trong văn hóa Việt Nam

Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Mường, tuy nhiên các công trình vẫn chưa nghiên cứu một cách thấu đáo về từng nhóm địa phương Trong số đó có nhóm Mường ở Hòa Bình Mặc dù có nhiều điểm tương đồng , song do quá trình tụ cư, quy mô, mức độ giao tiếp văn hóa với khu vực lân cận mà có nhiều điểm khác biệt Người Mường ở xã Ngọc Lâu, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình là một trong những trường hợp như vậy

Đối với người Mường, tết Nguyên Đán là cái tết quan trọng nhất trong năm Bởi vậy các món ăn cũng được làm cầu kì và đặc sắc hơn để dâng cúng lên

tổ tiên thần thánh Điều này phản ánh truyền thống và đặc trưng của cư dân Mường Vì vậy tìm hiểu ẩm thực của người Mường nói chung và người Mường

ở xã Ngọc Lâu nói riêng không chỉ để hiểu biết về đặc điểm các món ăn mà thông qua đó để hiểu về tín ngưỡng, văn hóa của người Mường hơn Không những thế, nghiên cứu đồ ăn uống, hút truyền thống còn góp phần xác định tiềm năng, nguồn lực phát triển du lịch, văn hóa Bởi vậy nghiên cứu ẩm thực trong ngày tết Nguyên Đán của người Mường ở xã Ngọc Lâu, huyện Lạc Sơn, tỉnh

Hòa Bình là nhu cầu thực tiễn hiện nay Từ những lí do trên em chọn đề tài “Ẩm

thực ngày tết của người Mường xã Ngọc Lâu, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình” làm đề tài tiểu luận của mình

Trang 4

Từ xưa, ăn uống đã được đề cập trong các công trình nghiên cứu Dân tộc học ở cả trong và ngoài nước Về ẩm thực truyền thống trong ngày tết dân tộc của người Mường ở Việt Nam được đề cập trong các công trình như Từ Chi với

Văn hóa Mường, Văn hóa ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình; Nguyễn Thị Thanh Nga (chủ biên) với Người Mường ở Tân Lạc, Hòa Bình…

Tuy vậy, việc nghiên cứu về ẩm thực trong ngày tết cổ truyền của người Mường ở xã Ngọc Lâu, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình vẫn chưa phải đã quan tâm đúng mức, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách cụ thể về vấn

đề này

3 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu những vấn đề về điều kiện tự nhiên, xã hội liên quan đến ẩm thực trong ngày tết cổ truyền của người Mường ở xã Ngọc Lâu, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình

Nâng cao hiểu biết về ẩm thực trong ngày tết của người Mường ở xã Ngọc Lâu, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình

Tìm hiểu về ẩm thực trong ngày tết cổ truyền của người Mường ở xã Ngọc Lâu, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình và những biến đổi của nó trong giai đoạn hiện nay

Đề xuất giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của ẩm thực trong ngày tết cổ truyện của người Mường ở xã Ngọc Lâu, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của bài tiêu luận là ẩm thực trong ngày tết Nguyên Đán của người Mường ở xã Ngọc Lâu, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình Bên cạnh đó bài tiểu luận cũng đề cập đến một số yếu tố liên quan đến người Mường như văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, những yếu tố ảnh hưởng đến ẩm thực của người Mường trong đời sống thường ngày cũng như trong ngày tết Nguyên Đán

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: xã Ngọc Lâu, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình

- Thời gian: Từ năm 2000 trở lại đây

Trang 5

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận chung là dựa trên Chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh Đó là đặt nội dung nghiên cứu trong bối cảnh môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa tộc người mà cụ thể là dân tộc Mường và của vùng, đặt ẩm thực Mường trong một hệ thống với nhiều thành tố có mối quan hệ và sự tác động qua lại, và đặt trong xu thế vận động và phát triển

Phương pháp chính được sử dụng là nghiên cứu điền dã ở thực địa,với các

kĩ thuật chủ yếu như: quan sát, phỏng vấn, hỏi chuyện, chụp ảnh, ghi âm Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp để thu thập những tài liệu hiện có của địa phương nơi nghiên cứu về những nội dung liên quan tới đề tài, như các báo cáo và số liệu thống kê Ngoài ra còn tham khảo tài liệu từ những công trình, các tạp chí chuyên nghành đã công bố về ẩm thực , đặc biệt là ẩm thực Mường

Để bổ sung tư liệu, tác giả còn nghiên cứu tài liệu thứ cấp, tham khảo các sách, các tạp chí chuyên ngành, cũng được chú trọng thực hiện

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI MƯỜNG XÃ NGỌC LÂU,

HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên xã Ngọc Lâu

1.1.1 Vị trí địa lý

Xã Ngọc Lâu nằm ở phía Nam huyện Lạc Sơn, cách trung tâm huyện lỵ 16km Chiều dài từ Tây sang Đông 9km; chiều rộng từ Bắc xuống Nam 3,7km

Xã Ngọc Lâu có vị trí giáp ranh với xã Ngọc Sơn ở phía Tây, giáp ở xã Tân

Mỹ ở phía Đông, phía Mam giáp xã Tự Do, phía bắc giáp xã Thương Nhượng Hiện nay xã Ngọc Lâu có 13 xóm, gồm: Xóm Chiềng 1; Chiềng 2; Hầu 1; Hầu 2; Hầu 3; Đầm; Băng; Khộp 1; Khộp 2; Xê 1; Xê 2; Xê 3

Với vị trí địa lý như vậy, xã Ngọc Lâu có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế-xã hội giữa các làng và khu vực lân cận

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Tổng diện tích đất tự nhiên: 5.788,92ha

Ngọc Lâu có địa hình núi cao hiểm trở, bị chia cắt mạnh và được phân hóa thành 3 dang địa hình cơ bản:

Dạng địa hình đồi núi cao là dạng địa hình chủ yếu, có diện tích nhiều nhất chiếm 70% tổng diện tích của xã, chủ yếu ở các thôn Hầu 1, Xê1, Xê2, Xê 3, dạng địa hình này phần lớn là đồi núi đất cao, có lùm cây thich hợp khoanh nuôi, rừng sinh thái tự nhiên của xã

Dạng địa hình đồi núi thấp phân bố nhiều ở các xóm khộp, xóm đèn, xóm băng, xóm chiềng diện ích ruộng chiếm 20% diện tích tự nhiên, phù hợp với phát triển trồng cây công nghiệp và chăn nuôi gia súc

Dạng địa hình bằng phẳng phân bố ở trung tâm và phía đông bắc của xã Thuộc các xóm Hầu 3, Đầm, một phần của xóm băng, xóm Xê và xóm Khộp Diện tích khoảng 10% diện ích của xã, thích hợp với phát triển nông nghiệp và dich vụ

Trang 7

Khu vực địa hình đồi núi thấp thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp, địa hình đồng ruộng phát triển trồng cây lương thực thực phẩm, phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm Với điều kiện tự nhiên thuận lợi phát triển kinh tế nông nghiệp lúa nước, trồng cây lâm nghiệp, chăn nuôi đồng thời phát triển giao thông liên xã giao lưu trao đổi buôn bán giữa các vùng

Về khí hậu, thủy văn, khí hậu của Ngọc Lâu cũng như là huyện Lạc Sơn thuộc vùng khí hậu ôn hòa, mát mẻ, có mùa đông lạnh, mùa mưa trữ lượng không cao Nhiệt độ trung bình năm là 220 C Các tháng mùa hè nhiệt độ từ 27 đến 280

C, có ngày lên đến 30, 400 C Mùa đông nhiệt độ thấp, có ngày rét nhiệt

độ xuống sáu đến mười độ C Lượng mưa trung bình năm là 1986mm, tập trung vào các tháng 5,6,7,8,9 Các tháng mùa đông lượng mưa ít nhưng hạn không gay gắt lắm, độ ẩm tung bình là tám mươi lăm phần trăm

1.2 Nguồn gốc dân cư

Cũng như người Mường ở nhiều địa phương khác, tộc danh của người Mường ở xã Ngọc Lâu, huyện Lạc Sơn được nhà nước chính thức công nhận là Mường Trong thực tế họ còn được gọi là Mon, Mọi, Mual, Mường Ngọc Lâu,…

Ở Việt Nam người Mường sống nhiều ở Hòa Bình, Hòa Bình, Phú Thọ…Hiện nay tổng số dân tộc Mường ở Việt Nam là 1.268.963 (2009), trong

đó ở Hòa Bình là 328.744 (1999) chiếm 9,5% dân số của tỉnh Hòa Bình

Tổ tiên người Mường ở xã Ngọc Lâu, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình cư trú ở quê hương của họ hiện nay đã từ rất lâu đời Theo các tài liệu đã công bố,

tổ tiên của họ đã có mặt ở Lạc Sơn, ngay từ giai đoạn Đồ đá mới, và là chủ nhân của văn hóa Hòa Bình

Hiện nay, người Mường cư trú ở khắp các xóm, bản ở xã Ngọc Lâu, họ cũng cư trú xen kẽ cùng người Thái, người Kinh (Việt) từ đã lâu đời Đây chính

là tiền đề cho giao tiếp văn hóa giữa người Mường ở xã Ngọc Lâu, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đã và đang diễn ra khá mạnh mẽ, sâu sắc

Trang 8

1.3 Tập quán mưu sinh

Với đặc điểm cư trú ở những thung lũng ven núi nên người Mường ở xã Ngọc Lâu lấy trồng trọt lúa ở ruộng nước và ruộng bậc thang làm hoạt đông kinh tế chủ đạo Từ xa xưa người Mường ở Ngọc Lâu đã biết phát nương làm rẫy bên cạnh những thửa ruộng nước Kỹ thuật canh tác lúa nương của họ khá phát triển, người Mường có kinh nghiệm quý báu trong việc chọn đất làm nương rẫy; họ thường chọn những những mảng rừng có giang , nứa mọc dày, trồng mùn màu mỡ hay những vạt đất đen ven đồi Ngoài việc trồng lúa nước, lúa nương, người Mường ở xã Ngọc Lâu còn trồng thêm các loại cây hoa màu và

cây lương thực khác trên nương

Hoạt động trồng trọt rất quan trọng đối với người Mường ở đây, việc trồng trọt đáp ứng nhu cầu lương thực mà còn là hàng hóa trao đổi mua bán Vì thế có nhiều nghi lễ , tục lệ nông nghiệp như: lễ cầu mùa, lễ mừng cơm mới kèm theo kiêng kị mang tính chất ling thiêng

Người Mường được đánh giá là một trong những tộc người có tài về chăn nuôi với nhiều động vật khác nhau nhưng chủ yếu nuôi trâu bò, (chăn nuôi theo kiểu thả rông) Ngoài việc cung cấp sức kéo thì trâu bò còn là nguồn cung cấp thực phẩm trong những ngày hội trọng đại của cộng đồng và gia đình.Đối với người Mường , trâu bò có vị trí đặc biệt trong đời sống thường ngày vì đối với

họ chúng là cả tài sản, cơ nghiệp, phản ánh tiềm lực kinh tế từng nhà trong bản

và bản này với bản khác

Bên cạnh đó người Mường còn nuôi lợn, gà để lấy thịt, trứng Chúng cũng được người Mường nuôi thả thành bầy Ngoài ra người Mường còn biết tận dụng ao, hồ, sông ngòi để nuôi thả cá

Trong các nghề thủ công truyền thống của người Mường thì đan lát và dệt vải là hai nghề phổ biến nhất

Người Mường đặc biệt khéo tay trong việc đan lát các vật dụng dùng trong gia đình từ nguyên liệu tự nhiên là tre, nứa, giang mây như: rổ, rá, thúng, nia, giỏ

Trang 9

Nghề dệt vải cũng khá phổ biến Trong mỗi gia đình người Mường đều có các khung cửi dùng để dệt vải bông, phục vụ may mặc cho các thành viên Công việc trông bông và dệt vải chủ yếu do nữ giới đảm nhiệm Nguyên liệu dùng để dệt vải ngoài bông, còn có tơ tằm,

Bên cạnh đó nghề mộc cũng tương đối phát triển.Hầu như bản làng nào của người Mường cũng có một đội mộc riêng của mình để phục vụ trong xây dựng nhà cửa, đình miếu

Chợ đối với người Mường ở Ngọc Lâu có vai trò quan trọng , đây không chỉ là nơi gặp gỡ của mọi người mà quan trọng hơn cả là nơi trao đổi buôn bán Các mặt hàng ở đây rất phong phú đa dạng từ lương thực, thực phẩm hằng ngày, các nông cụ để sản xuất

Những sản phẩm người Mường thu được từ rừng không chỉ đủ dùng trong gia đình mà còn được dùng để trao đổi như: măng, mộc nhĩ, nấm Người Mường trao đổi những sản phẩm khai thác từ rừng về và đổi lấy những vật dụng dùng trong gia đình như : muối , dầu thắp, bát đĩa, xoong nồi

Hoạt động buôn bán ngày càng len lỏi vào tận các bản Mường xa của xã Ngọc Lâu, từng bước tạo nên mối quan hệ giữ miền xuôi và miền ngược, giữa người Mường và các dân tộc khác góp phần vào giao lưu văn hóa – kinh tế giữa các tộc người gần gũi nhau

1.4 Đặc điểm văn hóa tộc người

1.4.1 Văn hóa vật chất

1.4.1.1 Nhà cửa

Trước đây người Mường ở xã Ngọc Lâu ở nhà sàn Nhà sàn của họ nhìn bên ngoài không khác gì nhà sàn của người Tày, người Thái, nhưng nhỏ bé và xây cất đơn giản, mộc mạc hơn Nhà của họ đều được làm bằng gỗ, tre, nữa, lớp bằng cỏ tranh hay lá cỏ Ngôi nhà cổ xưa thường chôn cột xuống đất, nay chân cột đều kê táng Thiết kế nhà truyền thống của họ theo kiểu vì kèo, liên kết chủ yêu là buộc, gá Những ngôi nhà cổ của họ thường nhỏ và thấp, vách làm bằng phên nứa, mái chảy xuống gần hết cửa sổ Cửa sổ thường thiết kế ở đầu hồi và

Trang 10

vách phía sau Cầu thang phía gian ngoài dành cho nam giới, cầu thang phía gian trong dành cho nữ giới Cách bố trí nơi ăn ở trong nhà của họ tương đối thống nhất Nửa sàn phía trên (giáp voong tong) thường dùng để ngủ, nghỉ, nửa phía dưới đặt bếp, là nơi sinh hoạt của gia đình Nếu tính theo chiều ngang sàn nhà, phần bên ngoài dành cho nam giới, phần bên trong (voong khưa) là khu vực của phụ nữ Bên ngoài liền với phần dành cho phụ nữ là sàn phơi và để nước ăn Hiện nay nhà ở của người Mường ở xã Ngọc Lâu đã thay đổi rõ nét, không còn những ngôi nhà sàn truyền thống mà thay vào đó là các ngôi nhà cao tầng, nhà mái bằng, nhà xây lợp ngói Tổ hợp kiến trúc nhà ở của họ có nhiều thay đổi Nhà ở, nhà bếp và chuồng trại gia súc được thiết kế, xây dựng thành khu riêng biệt Khuôn viên cư trú đều được thu hẹp lại

1.4.1.2 Trang phục

- Trang phục nữ giới

Trang phục của người Mường không chỉ đơn thuần mang chức năng xã hội

mà nó còn mang nhiều giá trị văn hóa thẩm mỹ cao Một bộ trang phục hoàn chỉnh gồm rất nhiều bộ phận khác nhau hợp thành một thể thống nhất trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Ngoài ra các phụ kiện kèm theo là đồ trang sức: vòng tay, xà tích…cũng được sử dụng

-Khăn đội đầu: Được dệt bằng vải thô, màu đen,không có viền,ở hai đầu

khăn có hoa văn,khi đội trùm lên đầu và buộc ở đằng sau gáy Hiện nay phụ nữ Mường ở một số vùng có xu hướng buông tóc dài nhiều hơn là đội khăn ,còn tầng lớp trung niên và những người cao tuổi thì chiếc bít tlốk truyền thống vẫn thường xuyên được dùng và trở thành vẻ đẹp riêng của người phụ nữ Mường

- Áo (gọi là áo khóm): cắt thẳng không có eo, ngắn hơn áo cánh của người

Kinh(Việt), cổ tròn không có khuy, tay nối với thân áo đằng sau cổ có hai dây buộc, áo khóm được may bằng vải tơ tằm, vải bông dệt màu trắng, xanh, hồng…Với hình dáng áo như vậy tạo nên vẻ đẹp giản dị của người phụ nữ Mường Tuy áo không thêu hoa văn nhưng vẫn mang nét dịu dàng mà đầy quyến

rũ của người phụ nữ Mường

Trang 11

- Váy và cạp váy: Sau khi dệt thành tấm vải, váy được may thành hình ống

tròn, màu đen, phần cạp váy che ngực được dệt từ sợi tơ tằm và thường được dệt thành các đường ngang trang trí rất cầu kỳ, trên cạp váy chủ yếu khắc họa các ô vuông trong tự nhiên với đường nét tinh tế Về thân váy, eo rộng về chiều ngang nên khi mặc họ thường quấn xung quanh thân, phần thừa quấn lại thành nếp chạy dài thân váy dọc xuống phía trước rất gọn gàng tạo cho bước đi của họ rất

tự tin không có cảm giác vướng víu khi di chuyển

Cùng với áo và váy được mặc vào làm tăng thêm vẻ dịu dàng hiền lành

và chất phác,đảm đang của người phụ nữ Mường Khi mặc váy được quấn chặt phần ngực thừa gấp nếp cho ra phía trước,buộc một sợi dây nhỏ trước ngực giữ cho váy không bị tuột,cách mặc như trên vừa đơn giản vừa đáp ứng nhu cầu,phù hợp với chức năng sinh hoạt đi lại trong nếp sống truyền thống của người phụ

nữ Mường.Họ thường mặc váy dài đến chấm gót,lối mặc váy này bây giờ chỉ còn thấy ở cụ già.Phụ nữ Mường thường kiêng kỵ việc mặc lộn đầu xuống dưới gấu váy lên trên,bởi vì váy chỉ được mặc như vậy khi chồng chết chưa kịp phát

tang,váy phụ nữ Mường tiện lợi trong sinh hoạt

Chiếc váy nào cũng có cạp, nhưng bộ váy Mường ở đây được xem là khác biệt so với bộ váy Mường ở nơi khác như ở Thanh Hóa hay Phú Thọ, ngay

cả bộ váy Mường của người Mường giáp biên giới Hòa Bình và Lào cũng đã thấy sự khác biệt, bởi cạp váy của họ bị ảnh hưởng của văn hóa Thái

-Thắt lưng: Thắt lưng là băng vải có chức năng giữ cho cạp váy quấn vào

cơ thể của người mặc, thắt lưng truyền thống của người phụ nữ Mường thường làm bằng vải tơ tằm Thắt lưng của người Mường ở Ngọc Lâu có hai chiếc được gọi là dây tênh, một dây tênh trắng và một dây tênh xanh đó là sự khác biệt đối với người Mường ở các nơi khác.Bên cạnh đó phục nữ Mường còn đeo thêm cái rón,cái rỏ ở bên hông do chính họ làm ra.Trong rón có một con dai và một chiếc khăn mùi xoa nhưng chỉ khi con gái về nhà chồng mẹ mới giao cho,cán dao được làm bằng báng sừng hươu có bịt bằng bạc.Con dao thường được gọi là vật

Trang 12

kỉ niệm thiêng liêng nhất và luôn gắn với bàn tay người con gái được ví như tình mẫu tử không bao giờ lìa xa,ngay cả khi mang thai,sinh đẻ

- Đồ trang sức: Đa số phụ nữ đều đeo hoa tai, khi chưa lấy chồng các cô

gái đeo hoa tai do bố mẹ cho, lấy chồng thì đeo hoa tai do bố mẹ chồng mua tặng Từ khi sinh ra được 10 ngày các bà mẹ đã bấm lỗ tai cho con gái, từ 7-10 tuổi thì đeo

- Trang phục truyền thống của nam giới

Trang phục truyền thống của nam giới Mường thì đơn giản hơn chỉ có khăn, áo và quần, không chỉ phụ nữ mà nam giới Mường cũng có khăn, thắt khăn, đội khăn Tuy nhiên khăn của nam giới không thêu hoa văn giống của nữ giới mà chỉ là một miếng vải đen màu chàm, khăn của nam giới thường có một màu, dài hơn 1m Đàn ông Mường thường quấn khăn trên đầu khi đi xa hoặc khi

đi làm nương,trong các dịp hội hè, lễ tết Khăn của nam giới cũng giống của nữ giới có tác dụng che nắng, mưa, tránh rét

-Áo cánh: Được khâu kiểu 4 thân, may từ chất liệu bông hay lụa tơ tằm,

thường là màu nâu hoặc tối Vạt áo dài gần chấm mông, hai bên hông xẻ tà, áo đơm khuy, cài cúc Áo thường được may có túi nhỏ ở trên ngực, hai túi to ở phía trước hai vạt áo, toát lên vẻ đẹp mạnh mẽ và khỏe khắn của các chàng trai Mường

-Quần vải: Được may rộng, dài tới mắt cá chân, cạp quần được may to Khi

mặc họ thường lấy dây vải buộc chặt lại dây vải này được xem là chiếc thắt lưng, hiện nay được thay bằng dải rút có thuận lợi hơn

Có thể thấy cùng với việ sử dụng chất liệu vải, thường là vải bông tự trồng

và bằng tơ tằm, cùng với quá trình cắt may hết sức bình thường, thủ công đơn giản tạo nên trang phục nam của người Mường mang dáng dấp khỏe khoắn và mạnh mẽ Tạo nét khác biệt và một phong cách riêng trong trang phục nam giữa các thành phần dân tộc khác

Trong quá trình phát triển của lịch sử, quá trình giao lưu văn hóa giữa các dân tộc có những nét thay đổi, trang phục nam không còn giữ được nét truyền

Trang 13

thống, hiện nay nam giới Mường không còn mặc chiếc quần truyền thống nữa Tuy nhiên vẫn có người mặc quần áo truyền thống trong các dịp lễ tết

1.4.2 Văn hóa tinh thần

1.4.2.1 Tôn giáo, tín ngưỡng

Người Mường ở Ngọc Lâu theo quan niệm vạn vật hữu linh Chính vì vậy

mà họ cầu cúng tất cả các loại thần thánh, ma quỷ, một khi cảm thấy cần thiết

Họ cho rằng con người chết đi cũng biến thành ma, và ma tổ tiên có thể phù hộ được con cháu Vì thế thơ cúng tổ tiên (thờ hùy, chiềng thờ, thổm thắm,…) có tầm quan trọng số một trong đời sống tâm linh của họ Ngoài việc thờ cúng tổ tiên dòng bố (bố mẹ, ông bà nội, các cụ nội, các kỵ nội/ bác mạng, pố tá-mệ tá,

pố mệ hượn), người Mường còn thờ cúng cả tổ tiên bên vợ (pố mộng, mộng hạm,…).Việc thờ cúng tổ tiên được thực hiện ngay tại bàn thờ ở (voong tong)

trong nhà Đối với người Mường Ngọc Lâu, ngày giỗ là ngày chôn cất, chứ

không phải là ngày người thân qua đời Tuy thế việc cúng bái tổ tiên của họ chỉ diễn ra vào ngày lễ tết cổ truyền, các dịp gia đình tiến hành các nghi lễ thuộc chu kỳ vòng đời cho các thành viên, hoặc khi dựng nhà mới Lễ vật cúng tổ tiên của họ thường chỉ là cơm nếp đồ, cá nướng, canh và thit luộc Ngoài việc thờ cúng tổ tiên, họ còn có tục: thờ đá, cúng bí đỏ (lễ lên nhà mới), thờ cây si (chu rồng), thờ mó nước, thờ vật tổ dòng họ (Tô tem), thờ thổ công, ông Tùng, ông Keo Heng, Ải Lý, Ải Lo, ông Chàng Vàng,…)

1.4.2.2 Lễ hội

Lễ hội là một trong những nét văn hóa tiêu biểu của người Mường Có nhiều lễ hội diễn ra trong năm, mà chủ yếu tập trung vào tháng giêng Và đáng chú nhất là các lễ hội liên quan đến sản xuất nông nghiệp, và mang ý nghĩa cầu mùa Những nghi thức cầu mùa đó đều thể hiện một cách sinh động bởi tín

ngưỡng phồn thực Lễ hội của người Mương tiêu biểu là Tết nguyên Đán, lễ hội sắc bùa, lễ hội xuống đồng, lễ hội cơm mới

1.4.2.3 Văn học nghệ thuật dân gian

Người Mường ở xã Ngọc Lâu có kho tàng văn học, nghệ thuật dân gian khá phong phú Đáng chú ý nhất phải kể tới các truyền thuyết về Ông Tùng, Sự tích

Trang 14

chim páng pang pỏi pỏi, Sử tích ve sầu, Nàng Nga Hai Mối, Con côi, Đẻ đất Đẻ nước…Đó là những tài liệu có giá trị lớn giúp hiểu được phần nào về vũ trụ quan, nhân sinh quan, lịch sử của người Mường ở xã Ngọc Lâu Đặc biệt hơn,

Sách Đoi của họ làm bằng 12 mảnh tre, trên đó khắc vạch, đánh dấu tiết thời,

hoặc những hiện tượng thời tiết đặc biệt

Múa dân gian của người Mường Ngọc Lâu khá đặc biệt, trong đó các điệu

múa đã ăn sâu vào phong cách sống của họ phải kể tới: múa cờ, múa quạt ma, múa dâng lễ vật, múa mặt nạ (trong các đám tang) Biểu diễn cồng chiêng là hoạt động biểu diễn dân gian đặc biệt của họ Cồng chiêng được diễn tấu trong

các đám rước (đón dâu, rước cơm mới, rước thần nước…), trong các cuộc lễ, hội

hè, đình đám Đặc biết nhất là chiêng sắc bùa, chiêng đám cưới, chiêng tang lễ, chiêng đi săn, Trò chơi dân gian người Mường ở xã Ngọc Lâu khá nhiều Đó là: Đánh căl (đánh gậy), đánh chó (đẩy bưởi vào lỗ), đánh mảng (chơi nhảy cò), chám chi, chám chán (ú tìm)…

Trang 15

Chương 2

ẨM THỰC TRONG NGÀY TẾT CỦA NGƯỜI MƯỜNG

Ở XÃ NGỌC LÂU, HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

2.1 Khái quát về ẩm thực của người Mường ở xã Ngọc Lâu

Những món ăn của người Mường chủ yếu là khai thác tự nhiên và chăn nuôi Với các sản vật mà thiên nhiên mang lại như rau rừng, măng rừng, đánh bắt cá ở sông suối, săn bắt động vật…

Cách chế biến món ăn của người Mường khá đa dạng nhưng chủ yếu sử dụng cách chế biến các món đồ và xào Người Mường thích ăn các món ăn có khậu vị chua Có lẽ do điều kiện khí hậu nóng ẩm qui định, những thức ăn dễ chuyển hóa hơn, dễ ăn và cũng ngon miệng hơn, chẳng hạn các món cá muối củ kiệu và quả cà dại; rau cải muối dưa, đu đủ muối dưa ép; rau sắn muối dưa nấu cá…

Đồ ăn chế biến từ các loại thịt của người Mường xã Ngọc Lâu tương đối

phong phú Chế biến từ lợn có: giò lụa làm bằng thịt nạc, giò đầu (trlốc) làm bằng thịt thủ, giò chân (gio bỏi) làm bằng thịt nạc ở chân lợn, chả lá bưởi, chả

sườn, mọc đồ, mọc luộc Chế biến từ thịt gà có: gà luộc, gà nấu gừng, gà nấu măng chua Chế biến từ thịt trâu có: trâu xào tiêu rừng, thịt trâu nấu lá lồm Chế biến từ các loại thủy sản có: cá rán, cá nướng, cá đồ, ếch nấu măng chua, băm viên gói lá lốt và rán

Người Mường không chỉ coi ăn uống là việc nuôi sống bản thân mà còn là những giá trị văn hóa cần được giữ gìn và phát huy

2.2 Những món ăn trong ngày Tết của người Mường ở Ngọc Lâu

Tết Nguyên Đán là những ngày quan trọng nhất trong năm, là ngày mà đất trời chuyển giao năm cũ sang năm mới Vì vậy gia đình nào cũng dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ và có tập quán là dựng cây nêu ở ngoài cổng Theo phong tục, người Mường không ăn tết Ông Công, Ông Táo mà sắm Tết bắt đầu từ 27 tết, trong dịp tết đồng bào sẽ chuẩn bị các nguồn lương thực, thực phẩm chủ yếu là khai thác ở rừng và nhà tự sản xuất lấy để phục vụ cho ngày Tết cổ truyền

Trang 16

Đại diện gia đình đi mời các bác, các chú, anh em tổ tiên, họ hàng, xóm giềng đến tham dự và cùng chế biến các món ăn truyền thống của dân tộc Trước khi ăn con cháu phải xếp hàng ngay phía dưới lấy kính các tuổi các cụ, ông bà, cha mẹ Người già đứng lên trên cảm ơn con cháu và chúc con cháu sang năm mới khẻo mạnh, làm ăn phát đạt Tiếp đó người ta mời nhau rựa tay trong chậu nước được con cháu đặt sẵn ở phía ngoài cửa, rồi ngồi vào mâm cố theo thứ tự phụ nữ ngồi với nhau ở mâm trong, còn nam giới ngồi mâm phía ngoài, trẻ con thì ngồi với nhau ở những mâm giữa hoặc phía dưới

Theo tập quán thì vào dịp tết cổ truyền, mỗi gia đình người Mường phải có một mâm cơm mặn cúng tổ tiên bắt đầu vào sáng mùng một tết Cỗ dâng cúng phải được soạn đầy đủ các món là bánh chưng, bánh uôi, thịt lợn luộc, thịt gà luộc để cả con, xôi nếp đồ, rượu chai, một bát nước lã, tăm, trầu, cau, nước mắt

ớt, muối rồi bưng lên đặt vào vị trí định sẵn trên bàn thờ Bàn thờ tổ tiên được đặt ba mâm: mâm ngoài cùng thờ bố mẹ, mâm thứ hai ở giữa thờ ông bà, mâm thứ ba thờ các cụ kỵ ở trong cùng Ở mâm thờ các cụ kỵ thì cơm không đong bằng bát, đũa không tính bằng đôi mà được nắm bằng một nắm thật to, đũa để được hàng chục đôi Điều này biểu thị mâm đó thờ rất nhiều các cụ tổ tiên mà con cháu không thể nhớ hết

2.2.1 Những món được chế biến từ gạo

2.2.1.1 Bánh chưng

Bánh chưng là lễ vật không thể thiếu trong ngày tết Nguyên Đán, đó là món

ăn trang trọng nhất, cao quý nhất thể hiện lòng tưởng nhớ, biết ơn của con cháu đối với vua Lang của dân tộc Mường Gia đình nào cúng bao nhiêu người thì làm bao nhiêu cái bánh chưng

- Nguyên liệu chế biến

Gạo nếp: thường dùng loại gạo thu hoạch vụ mùa Gạo vụ này thường hạt

to, tròn, dẻo, đều hơn các vụ khác

Đỗ xanh: đỗ thường được lựa chọn rất công phu, đỗ phải mẩy và màu vàng tươi, có mùi thơm

Trang 17

Hạt tiêu rừng : là loại có gia vị cay, mùi thơm

Thịt : thường là thịt lợn , và loại thịt dùng để gói là thịt ba chỉ

Lá để gói bánh : thường là lá dong tươi Lá dong chọ lá dong rừng bánh tẻ,

to bản, đều nhau, không bị rách , màu xanh mướt

Lạt buộc : Bánh Chưng thường dùng lạt giang được làm từ ống cây giang chẻ mảnh Lạt có thể được ngâm với nước muối hay hấp mềm để gói bánh

- Quy trình gói bánh

Lá dong được rửa từng lá thật sạch hai mặt và lâu thật khô Rửa càng sạch bánh càng đỡ mốc về sau Trước khi gói, lá dong được người ta gói bánh dùng dao bài mài thật sắc (loại dao nhỏ chuyên để gọt) cắt lột bỏ bớt cuống dọc sống lưng lá để bớt cứng để ráo nước (nếu lá quá già có thể hấp một chút cho lá mềm

dễ gói)

Gạo nếp: nhặt bỏ hết những hạt khác lẫn vào, vo sạch, ngâm gạo trong nước cùng 0,3% muối trong khoảng thời gian 12-14 tiếng tùy loại gạo và tùy thời tiết sau đố vớt ra để ráo Có thể xóc với muối sau khi ngâm gạo thay vì ngâm nước muối

Đỗ xanh: giã nhuyễn ngâm nước ấm 40° trong 2 tiếng cho mềm và nở, đãi

đổ lên trên và phủ kín hết thịt và đỗ xanh Gấp đồng thời hai lá dong lớp trên

Trang 18

vào, vừa gấp vừa vỗ nhẹ để tạo hình khối vuông, gấp tiếp đồng thời hai lá dong

ở lớp dưới vào như lớp trên, vừa gấp vừa lén chặt nhẹ tay Dùng lạt buộc xoắn lại tạo hình chữ thập Hai bánh chưng buộc úp vào nhau thành một cặp

- Với cách gói có khuôn các giai đoạn được tiến hành như trên Tuy nhiên, người ta cắt tỉa bớt lá dong cho vừa kích thước khuôn và đặt trước các lớp lá xen

kẽ nhau vào trong khuôn (3 hoăc 4 lá, nếu gói 4 lá sẽ vuông và đẹp hơn Khi đó thường thì 2 lá xanh quay ra ngoài xếp tại hai góc đối xứng nhau, và hai lá xanh quay vào trong để tạo mù cho bánh), sau khi đã cho nhân vào trong, các lớp lá lần lượt được gập lại và sau đó được buộc lạt

Cách gói bánh có khuôn thì bánh đều nhau hơn và chắc hơn do được vỗ đều gạo, nén chặt còn gói không khuôn được gói nhanh hơn do đỡ mất công đo cắt lá theo kích thước khuôn

- Luộc bánh

Khi luộc cần lấy nồi to tùy theo số lượng bánh được gói, rải cuộng lá dong thừa xuống đáy nhằm mục đích tránh bánh bị cháy Xếp lần lượt từng lớp bánh đến đầy xoong và xen kẽ các cuộng lá thừa cho kín rồi đổ ngập nước nồi và đậy vung đun Người nấu bánh phải canh giờ tính từ thời điểm nước sôi trong nồi và duy trì nước sôi liên tục trong 10 đến 12 giờ, trong quá trình đun phải bổ sung nước để đảm bảo nước luôn ngập bánh

Khi luộc bánh xong vớt ra rửa lá dong trong nước lạnh cho hết nhựa để ráo Sau đó được treo lên chỗ khô ráo trong nhà để bảo quản

Bánh Chưng được dùng trong thờ cúng tổ tiên, đây là lễ vật quan trọng nhất nhằm bày tỏ tình cảm chân thành của gia đình mình với tổ tiên

2.2.1.2 Món cơm nếp đồ

Cơm nếp đồ là món ăn truyền thống của người Mường Người Mường có câu rằng: “cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tới” có thể thấy rằng món cơm nếp đồ gắn bó với người Mường như thế nào Đó không đơn thuần là một món ăn mà là lễ vật dâng cúng tổ tiên Khi dâng cúng tổ tiên phải

Trang 19

để trong một cái đĩa to để cầu mong tổ tiên phù hộ cho năm tới mưa thuận gió hòa để được mùa tốt tươi

- Nguyên liệu chế biến

Nguyên liệu chế biến boa gồm gạo nếp: gạo nếp nương là giống lúa nếp cái.Giống lúa này hạt gạo nhỏ, tròn và được trồng vào vụ mùa

- Cách chế biến

Phương pháp nấu của món này chủ yếu là bằng phương pháp đồ Đồ là cách làm chín thức ăn phổ biến nhất của vùng người Mường Đồng bào thường

đồ rất nhiều loại thức ăn như: đồ cơm, đồ bánh, đồ khoai khi đồ người ta cho

thức ăn vào “ hông” (chõ bằng gỗ khoét) rồi đặt lên “biểng” (nồi đun nước sôi

để lấy nước đồ) Cái nồi này có hình cao dong dỏng và trên miệng có mộng để

đặt vừa khít cái “hông” Trên miệng “hông” có cái nắp đậy bằng nan tre cho kín “ hông” và không bị ngưng tụ hơi nước rơi trở lại Tác dụng của đồ là khi

chín, thức ăn không bị nát và có vị đậm đà hơn

Trước khi đồ, đồng bào ngâm gạo trong nước lã khoảng 5 đến 6 giờ, rồi vớt

gạo ra để ráo nước Sau đó bỏ gạo vào “hông” và đặt lên “biểng”, đun cho tới

khi cơm chín dẻo Sau đó người ta dỡ cơm ra một cái mâm

Cũng như người Kinh (Việt) người Mường thích ăn cơm nếp với thịt gà

Đồng bào có câu “ cơm móc chóc ca” ( cơm nếp thịt gà )

Có nghĩa là: “Cơm nếp như cái bờ ruộng, đùi gà như cái cọc đóng vào bờ ruộng cho chắc” Điều đó một mặt nói lên sự “sành ăn” của người Mường và mặt khác cũng thể hiện ước mơ về cuộc sống no đủ của đồng bào

2.2.2 Những món ăn chế biến từ thịt

2.2.2.1 Món thịt gà luộc

Thịt gà luộc không chỉ là món ăn bình dân mà quan trọng hơn cả đó là lễ vật cúng tổ tiên Khi dâng cúng tổ tiên gà phải để cả con không được thái ra từng miếng Người Mường còn có tục bói chân gà, khi nhìn chân gà có thể đoán định được về gia đình mình năm sau như thế nao

- Nguyên liệu chế biến

Trang 20

Lá chanh có vị cay và mùi thơm rất đặc trưng hay được cho vào các món thịt gà, thịt ngan, thịt vịt

Gà là vật nuôi không thể thiếu trong mỗi gia đình người Mường , bởi nó là nguồn cung cấp nguồn thực phẩm tại chỗ, thường xuyên là nguồn thực phẩm tuwoi sống và là lễ vật dâng cúng tổ tiên Con gà được chọn dâng cúng lên tổ tiên phải là con gà Trống, không quá to cũng không quá nhỏ, chân phải cao, màu vàng tươi, bộ lông gà nhìn đẹp mắt Gà phải được chăn thả, không chăn các loại cám công nghiệp

- Cách chế biến

Thịt gà luộc phải làm sao cho thịt gà không chín kĩ như vậy da của thịt gà

sẽ bị bong ra trông không đẹp mắt nhưng cũng không qua loa thịt gà sẽ dai và còn sống vì như vậy các cụ già và trẻ em sẽ không ăn được Gà khi luộc chín phải có màu vàng óng và có hương vị thơm ngon Khi dâng cúng tổ tiên phải để

cả con, gà được để lên trên chiếc đĩa đặt ở chiếc lá chuối được xếp ở giữa gian

để gà sao cho đẹp mắt, đầu gà hướng lên trên, mào gà không có màu tía, chân gà

phải vàng óng

2.2.2.2 Món thịt lợn thui luộc

Thịt lợn luộc tuy là món ăn đơn giản nhưng nó cũng không thể thiếu trong ngày tết của người Mường ở xã Ngọc Lâu đồng thời cũng là món ăn làm lễ vật dâng cúng tổ tiên Món thịt lợn thui của người Mường được luộc chín, thái ra, chấm muối, nước mắm Tuy có cách thái thịt có khác nhau nhưng cũng là miếng thịt ba chỉ thái mỏng hình chữ nhật bằng hai ngón tay cặp đôi

- Nguyên liệu chế biến

Nguyên liệu chính chế biến là thịt lợn Lợn hầu hết các gia đình nuôi bở chúng là nguồn thực phẩm quan trọng phần kinh tế tự cấp tự túc, trước đây mỗi gia đình đều nuôi một vài ba con, có nhà nuôi đến hàng chục con Ở vùng người

Mường giống lợn khá phổ biến gọi là Lợn chèo hay Lợn Lủng (người Kinh gọi

là Lợn Mường) đây là giống lợn chỉ có ở vùng người Mường, thường được thả

rông cả năm và chỉ nặng khoảng 10-15 kg

Trang 21

- Cách chế biến

Đồng bào làm sạch lông lợn, sau đó phải thui rơm hoặc gianh lợp mái nhà, như vậy sẽ giữ được nguyên hương vị tự nhiên của thịt mà không nhạt, đồng thời làm cho da lợn có màu vàng như màu mật ong Tiếp đến, thịt lợn được xe thành từng phần thịt nhỏ , rửa sạch và cho vào nồi luộc chín Khi thịt lợn chín nhìn màu thịt rất tươi ngon, có mùi thơm ngậy Đồng bào thường xếp xuống lá chuối hoặc đặt vào đĩa Món ăn này được dâng cúng lên tổ tiên nhằm bày tỏ tình cảm của con cháu đối với tổ tiên và đã phù hộ cho năm cũ chăn nuôi thuận lợi, càng xếp nhiều thịt càng chứng tỏ năm đó làm ăn tốt Món này khi ăn đồng bào thường thái mỏng, chấm với nước ớt để ăn không bị ngấy, hương vị thơm của lá chanh, vị chua của kiệu, vị cay của ớt

2.2.3 Những món ăn chế biến từ cá

2.2.3.1 Món cá ướp chua

Đồng bào quan niệm món ăn này phải để người phụ nữ trong gia đình làm

vì họ rất khéo léo, nếu món này làm không cẩn thận thì cá sẽ bị nát, mùi cá bốc lên rất nồng nặc Món này có nhiều cách thưởng thức khác nhau như: cá ướp chua để từ 3-6 tháng thì ăn ngay không cần qua chế biến; cá ướp chua gói vào lá cây thầu dầu kẹp vào que tre rồi nướng bằng than củi; cá ướp chua đem nấu canh

- Nguyên liệu chế biến: Nguyên liệu chuẩn bị bao gồm: cá trôi, ngô nếp, lá chuối, hành

- Cách chế biến

Đầu tiên phải đem cá mổ bụng moi ruột cho sạch, con to cắt thành hai, ba miếng Sau khi cá ráo nước thì đổ vào chậu, rắc muối hơi đậm một chút thêm vào một ít cơm nguội, một ít men rượu Tất cả trộn đều cho vào hũ, lấy lá chuối tươi hơ lửa, bịt kín miệng hũ và lấy lạt buộc miệng hũ thật kín Thường xuyên kiểm tra, nếu lá rách, hở thì phải lấy lá khác bịt vào đó Khoảng 10 ngày, mở hũ

ra xem, nếu cá có mùi chua thì bỏ thính vào, nếu chưa có mùi thì lấy muối hòa nước ấm đổ vào để gần lửa Rang ngô nếp, gãi nhỏ để nguộ Riềng rửa sạch, thái

Ngày đăng: 26/03/2017, 21:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Bẩy (2004), Văn hóa ẩm thực vùng cao phía Bắc, Tạp chí dân tộc học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ẩm thực vùng cao phía Bắc
Tác giả: Nguyễn Thị Bẩy
Nhà XB: Tạp chí dân tộc học
Năm: 2004
2. Trần Bình (2001), Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam
Tác giả: Trần Bình
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2001
3. Trần Bình (2014), Các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Trần Bình
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2014
4. Ma Ngọc Dung (2001), Văn hóa ẩm thực của người Tày ở Thái Nguyên, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ẩm thực của người Tày ở Thái Nguyên
Tác giả: Ma Ngọc Dung
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2001
5. Cao Sơn Hải (2013), Lễ tục vòng đời người Mường – Điều tra khảo sát hồi cố ở vùng Mường (Hòa Bình), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ tục vòng đời người Mường – Điều tra khảo sát hồi cố ở vùng Mường (Hòa Bình)
Tác giả: Cao Sơn Hải
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
6. Trần Quốc Vượng (1996), Đôi điều về văn hóa Mường , Dân tộc và thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều về văn hóa Mường
Tác giả: Trần Quốc Vượng
Năm: 1996
7. Trần Quốc Vương (1997), Cơ sở văn hóa Việt Nam , Nxb. Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Quốc Vương
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Hà Nội
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w