Vì vậy tìm hiểu ẩm thực của người Mường nói chung và người Mường ở xã Xuân Phú nói riêng không chỉ để hiểu biết về đặc điểm các món ăn mà thông qua đó để hiểu về tín ngưỡng, văn hóa của
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc mường có quan hệ mật thiết với các dân tộc anh em khác Văn hóa Mường là nền văn hóa bản địa, phong phú đa dạng giàu bản sắc và rất độc đáo thể hiện qua nếp nhà, bộ trang phục truyền thống .cùng với quá trình dựng nước và giữ nước, người Mường
đã xây dựng nên nền văn hóa tộc người đặc sắc, đóng góp vào nền văn hóa đa dạng
Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Mường , tuy nhiên các công trình vẫn chưa nghiên cứu một cách thấu đáo về từng nhóm địa phương Trong số đó có nhóm mường ở Thanh Hóa Mặc dù có nhiều điểm tương đồng , song do quá trình tục cư, quy mô, mức độ giao tiếp văn hóa với các nước dân tộc láng giềng mà có nhiều điểm khác biệt Người Mường ở xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa là một trong những trường hợp như vậy Chính vì vậy tìm hiểu về người Mường ở Xuân Phú , đặc biệt là về ẩm thực trong ngày Tết Nguyên Đán cần đòi hỏi khoa học và thực tiễn hiện nay Đối với người Mường, tết Nguyên Đán là cái tết quan trọng nhất, to nhất trong một năm Bởi vậy các món ăn cũng được làm cầu kì và đặc sắc hơn để dâng cúng lên tổ tiên thần thánh Điều này phản ánh truyền thống và đặc trưng của cư dân Mường Vì vậy tìm hiểu ẩm thực của người Mường nói chung và người Mường ở xã Xuân Phú nói riêng không chỉ để hiểu biết về đặc điểm các món ăn mà thông qua đó để hiểu về tín ngưỡng, văn hóa của người Mường hơn Không những thế , nghiên cứu đồ ăn uống, hút truyền thống còn góp phần xác định tiềm năng , nguồn lực phát triển du lịch, văn hóa Bởi vậy nghiên cứu ẩm thực trong ngày tết Nguyên Đán của người Mường ở xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa là nhu cầu thực tiễn hiện nay Từ những lí do trên em
Trang 2chọn đề tài “Ẩm thực ngày tết của người Mường xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài tiểu luận của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Cho đến nay, việc nghiên cứu về người Mường đã trở thành vấn đề nghiên cứu của không ít nhà nghiên cứu, nhà khoa học và đã được đề cập đến trong một
số công trình nghiên cứu sau:
Từ xưa, ăn uống đã được đề cập trong các công trình nghiên cứu Dân tộc học ở cả trong và ngoài nước Về ẩm thực truyền thống trong ngày tết dân tộc của người Mường ở Việt Nam được đề cập trong các công trình như Từ Chi với
Văn hóa Mường, Văn hóa ẩm thực dân gian Mường Thanh Hóa; Nguyễn Thị
Thanh Nga (chủ biên) với Người Mường ở Tân Lạc, Thanh Hóa…
Tuy vậy, việc nghiên cứu về ẩm thực trong ngày tết cổ truyền của người Mường ở xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa vẫn chưa phải đã quan tâm đúng mức
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu những vấn đề tự nhiên, xã hội liên quan đến ẩm thực trong ngày tết cổ truyền của người Mường ở xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Nâng cao hiểu biết về ẩm thực trong ngày tết của người Mường ở xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Tìm hiểu về ẩm thực trong ngày tết cổ truyền của người Mường ở xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa và những biến đổi của nó trong giai đoạn hiện nay
Đề xuất giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của ẩm thực trong ngày tết cổ truyện của người Mường ở xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Trang 34 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của bài tiêu luận là ẩm thực trong ngày tết Nguyên Đán cổ truyền của người Mường ở xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Bên cạnh đó bài tiểu luận cũng đề cập đến một số yếu tố liên quan đến người Mường như văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, những yếu tố ảnh hưởng đến ẩm thực của người Mường trong đời sống thường ngày cũng như trong ngày tết Nguyên Đán
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
- Thời gian: Từ năm 2000 trở lại đây
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận chung là dựa trên Chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh Đó là đặt nội dung nghiên cứu trong bối cảnh môi trường tự nhiên, kinh tế , xã hội và văn hóa tộc người mà cụ thể là dân tộc Mường và của vùng, đặt ẩm thực Mường trong một hệ thống với nhiều thành tố có mối quan hệ và sự tác động qua lại , và đặt trong xu thế vận động và phát triển
Phương pháp chính được sử dụng là nghiên cứu điền dã ở thực địa,với các
kĩ thuật chủ yếu như :quan sát, phỏng vấn, hỏi chuyện, chụp ảnh, ghi âm Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp để thu thập những tài liệu hiện có của địa phương nơi nghiên cứu về những nội dung liên quan tới đề tài, như các báo cáo và số liệu thống kê Ngoài ra còn tham khảo tài liệu từ những công trình, các tạp chí chuyên nghành đã công bố về ẩm thực , đặc biệt là ẩm thực Mường
Để bổ sung tư liệu, tác giả còn nghiên cứu tài liệu thứ cấp, tham khảo các sách, các tạp chí chuyên ngành, cũng được chú trọng thực hiện
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI MƯỜNG XÃ XUÂN PHÚ, HUYỆN THỌ
XUÂN, TỈNH THANH HÓA
1.1 Điều kiện tự nhiên xã Xuân Phú
1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Xuân Phú có một vị trí hết sức quan trọng của huyện Thọ Xuân, cách trung tâm huyện 15km về phía Tây Bắc, dọc theo tuyến đường Hồ Chí Minh.Có vị trí giao lưu thuận lợi, với tổng diện tích đất tự nhiên là 3180,92 ha
xã có địa giới hành chính tiếp giáp với các khu vực khác nhau như sau:
Phía Bắc giáp thị trấn Lam Sơn
Phía Đông giáp thị trấn Sao Vàng
Phía Nam giáp thị trấn Khe Hạ, huyện Thường Xuân
Phía Tây giáp xã Luận Thành, huyện Thường Xuân
Xã Xuân Phú gồm 13 thôn: Bàn Lai, Cửa Trát, Đồng Cốc, Hố Dăm,
Đá Dựng, Đồng Tro, Thôn 12, Đồng Luồng, Thôn đội 3, Làng Bài, Làng Sung,
Ba Ngọc, Làng Pheo
Với vị trí địa lý như vậy, xã Xuân Phú có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế-xã hội giữa các làng và khu vực lân cận
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
- Địa hình: Xuân Phú là xã có địa hình đồi núi thấp, xen kẽ là đồng ruộng
có hai dạng địa hình chính là địa hình đồi núi thấp và địa hình đồng ruộng xen ở các chân núi
Địa hình đồi núi thấp thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp, địa hình đồng ruộng phát triển trồng cây lương thực thực phẩm, phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm Với điều kiện tự nhiên thuận lợi phát triển kinh tế nông nghiệp lúa nước, trồng cây lâm nghiệp, chăn nuôi đồng thời phát triển giao thông liên xã giao lưu trao đổi buôn bán giữa các vùng
Trang 6-Khí hậu: Trên nền nhiệt chung của cả huyện, xã có khí hậu lạnh về mùa
đông, nóng ẩm mưa nhiều vào mùa hè, tạo sự đa dạng trong cây trồng vật nuôi, ảnh hưởng đến phong tục tập quán nơi đây
- Đất đai: Xã Xuân Phú có diện tích đất tự nhiên là 3180,92 ha trong đó đất
nông nghiệp chiếm 2,662,88 ha đất lâm nghiệp là 128,22 ha đất chưa sử dụng là 58,47 ha
- Sông ngòi: Trong địa bàn xã có nhiều suối lớn nhỏ, bắt nguồn từ các vách
núi, đồi chảy xuống, các kênh mương nằm rải rác…Ngoài ra, ở xã còn có 2 hồ lớn đó là hồ Cửa Trát và hồ Chùa Hang cung cấp nước cho đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân
- Rừng: Xã có diện tích rừng lớn, có hệ động thực vật đa dạng, phong phú
có giá trị kinh tế cao, phát triển các ngành khai thác chế biến lâm sản…
1 2 Nguồn gốc dân cư
Cũng như người Mường ở nhiều địa phương khác, tộc danh của người Mường ở xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân được nhà nước chính thức công nhận
là Mường Trong thực tế họ còn được gọi là Mon, Mọi, Mual, Mường Xuân Phú,…
Ở Việt Nam người Mường sống nhiều ở Thanh Hóa, Thanh Hóa, Phú Thọ…Hiện nay tổng số dân tộc Mường ở Việt Nam là 1.268.963 (2009), trong
đó ở Thanh Hóa là 328.744 (1999) chiếm 9,5% dân số của tỉnh Thanh Hóa
Tổ tiên người Mường ở xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa cư trú ở quê hương của họ hiện nay đã từ rất lâu đời Theo các tài liệu đã công bố,
tổ tiên của họ đã có mặt ở Thọ Xuân, ngay từ giai đoạn Đồ đá mới, và là chủ nhân của văn hóa Thanh Hóa
Hiện nay, người Mường cư trú ở khắp các xóm, bản ở xã Xuân Phú, họ cũng cư trú xen kẽ cùng người Thái, người Kinh (Việt) từ đã lâu đời Đây chính
là tiền đề cho giao tiếp văn hóa giữa người Mường ở xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã và đang diễn ra khá mạnh mẽ, sâu sắc
1.3 Tập quán mưu sinh
Trang 7Với đặc điểm cư trú ở những thung lũng ven núi nên người Mường ở xã Xuân Phú lấy trồng trọt lúa ở ruộng nước và ruộng bậc thang làm hoạt đông kinh tế chủ đạo Từ xa xưa người Mường ở Xuân Phú đã biết phát nương làm rẫy bên cạnh những thửa ruộng nước Kỹ thuật canh tác lúa nương của họ khá phát triển, người Mường có kinh nghiệm quý báu trong việc chọn đất làm nương rẫy; họ thường chọn những những mảng rừng có giang , nứa mọc dày, trồng mùn màu mỡ hay những vạt đất đen ven đồi Ngoài việc trồng lúa nước, lúa nương, người Mường ở xã Xuân Phú còn trồng thêm các loại cây hoa màu và
cây lương thực khác trên nương
Hoạt động trồng trọt rất quan trọng đối với người Mường ở đây, việc trồng trọt đáp ứng nhu cầu lương thực mà còn là hàng hóa trao đổi mua bán Vì thế có nhiều nghi lễ , tục lệ nông nghiệp như: lễ cầu mùa, lễ mừng cơm mới kèm theo kiêng kị mang tính chất ling thiêng
Người Mường được đánh giá là một trong những tộc người có tài về chăn nuôi với nhiều động vật khác nhau nhưng chủ yếu nuôi trâu bò, (chăn nuôi theo kiểu thả rông) Ngoài việc cung cấp sức kéo thì trâu bò còn là nguồn cung cấp thực phẩm trong những ngày hội trọng đại của cộng đồng và gia đình.Đối với người Mường , trâu bò có vị trí đặc biệt trong đời sống thường ngày vì đối với
họ chúng là cả tài sản, cơ nghiệp, phản ánh tiềm lực kinh tế từng nhà trong bản
và bản này với bản khác
Bên cạnh đó người Mường còn nuôi lợn, gà để lấy thịt, trứng Chúng cũng được người Mường nuôi thả thành bầy Ngoài ra người Mường còn biết tận dụng ao, hồ, sông ngòi để nuôi thả cá
Trong các nghề thủ công truyền thống của người Mường thì đan lát và dệt vải là hai nghề phổ biến nhất
Người Mường đặc biệt khéo tay trong việc đan lát các vật dụng dùng trong gia đình từ nguyên liệu tự nhiên là tre, nứa, giang mây như: rổ, rá, thúng, nia, giỏ
Trang 8Nghề dệt vải cũng khá phổ biến Trong mỗi gia đình người Mường đều có các khung cửi dùng để dệt vải bông, phục vụ may mặc cho các thành viên Công việc trông bông và dệt vải chủ yếu do nữ giới đảm nhiệm Nguyên liệu dùng để dệt vải ngoài bông, còn có tơ tằm,
Bên cạnh đó nghề mộc cũng tương đối phát triển.Hầu như bản làng nào của người Mường cũng có một đội mộc riêng của mình để phục vụ trong xây dựng nhà cửa, đình miếu
Chợ đối với người Mường ở Xuân Phú có via trò quan trọng , đây không chỉ là nơi gặp gỡ của mọi người mà quan trọng hơn cả là nơi trao đổi buôn bán Các mặt hàng ở đây rất phong phú đa dạng từ lương thực, thực phẩm hằng ngày, các nông cụ để sản xuất
Những sản phẩm người Mường thu được từ rừng không chỉ đủ dùng trong gia đình mà còn được dùng để trao đổi như: măng, mộc nhĩ, nấm Người Mường trao đổi những sản phẩm khai thác từ rừng về và đổi lấy những vật dụng dùng trong gia đình như : muối , dầu thắp, bát đĩa, xoong nồi
Hoạt động buôn bán ngày càng len lỏi vào tận các bản Mường xa của xã Xuân Phú, từng bước tạo nên mối quan hệ giữ miền xuôi và miền ngược, giữa người Mường và các dân tộc khác góp phần vào giao lưu văn hóa – kinh tế giữa các tộc người gần gũi nhau
1.4.1 Đặc điểm văn hóa vật chất
1.4.1.1 Nhà cửa
Trước đây người Mường ở xã Xuân Phú ở nhà sàn Nhà sàn của họ nhìn bên ngoài không khác gì nhà sàn của người Tày, người Thái, nhưng nhỏ bé và xây cất đơn giản, mộc mạc hơn Nhà của họ đều được làm bằng gỗ, tre, nữa, lớp bằng cỏ tranh hay lá cỏ Ngôi nhà cổ xưa thường chôn cột xuống đất, nay chân cột đều kê táng Thiết kế nhà truyền thống của họ theo kiểu vì kèo, liên kết chủ yêu là buộc, gá Những ngôi nhà cổ của họ thường nhỏ và thấp, vách làm bằng phên nứa, mái chảy xuống gần hết cửa sổ Cửa sổ thường thiết kế ở đầu hồi và vách phía sau Cầu thang phía gian ngoài dành cho nam giới, cầu thang phía
Trang 9gian trong dành cho nữ giới Cách bố trí nơi ăn ở trong nhà của họ tương đối thống nhất Nửa sàn phía trên (giáp voong tong) thường dùng để ngủ, nghỉ, nửa phía dưới đặt bếp, là nơi sinh hoạt của gia đình Nếu tính theo chiều ngang sàn nhà, phần bên ngoài dành cho nam giới, phần bên trong (voong khưa) là khu vực của phụ nữ Bên ngoài liền với phần dành cho phụ nữ là sàn phơi và để nước ăn Hiện nay nhà ở của người Mường ở xã Xuân Phú đã thay đổi rõ nét, không còn những ngôi nhà sàn truyền thống mà thay vào đó là các ngôi nhà cao tầng, nhà mái bằng, nhà xây lợp ngói Tổ hợp kiến trúc nhà ở của họ có nhiều thay đổi Nhà ở, nhà bếp và chuồng trại gia súc được thiết kế, xây dựng thành khu riêng biệt Khuôn viên cư trú đều được thu hẹp lại
1.4.1.2 Trang phục
- Trang phục nữ giới
Trang phục của người Mường không chỉ đơn thuần mang chức năng xã hội mà nó còn mang nhiều giá trị văn hóa thẩm mỹ cao Một bộ trang phục hoàn chỉnh gồm rất nhiều bộ phận khác nhau hợp thành một thể thống nhất trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Ngoài ra các phụ kiện kèm theo là đồ trang sức: vòng tay, xà tích…cũng được sử dụng
-Khăn đội đầu: Được dệt bằng vải thô, màu đen,không có viền,ở hai đầu
khăn có hoa văn,khi đội trùm lên đầu và buộc ở đằng sau gáy Hiện nay phụ nữ Mường ở một số vùng có xu hướng buông tóc dài nhiều hơn là đội khăn ,còn tầng lớp trung niên và những người cao tuổi thì chiếc bít tlốk truyền thống vẫn thường xuyên được dùng và trở thành vẻ đẹp riêng của người phụ nữ Mường
- Áo (gọi là áo khóm): cắt thẳng không có eo, ngắn hơn áo cánh của người
Kinh(Việt), cổ tròn không có khuy, tay nối với thân áo đằng sau cổ có hai dây buộc, áo khóm được may bằng vải tơ tằm, vải bông dệt màu trắng, xanh, hồng…Với hình dáng áo như vậy tạo nên vẻ đẹp giản dị của người phụ nữ Mường Tuy áo không thêu hoa văn nhưng vẫn mang nét dịu dàng mà đầy quyến
rũ của người phụ nữ Mường
Trang 10- Váy và cạp váy: Sau khi dệt thành tấm vải, váy được may thành hình ống
tròn, màu đen, phần cạp váy che ngực được dệt từ sợi tơ tằm và thường được dệt thành các đường ngang trang trí rất cầu kỳ, trên cạp váy chủ yếu khắc họa các ô vuông trong tự nhiên với đường nét tinh tế Về thân váy, eo rộng về chiều ngang nên khi mặc họ thường quấn xung quanh thân, phần thừa quấn lại thành nếp chạy dài thân váy dọc xuống phía trước rất gọn gàng tạo cho bước đi của họ rất
tự tin không có cảm giác vướng víu khi di chuyển
Cùng với áo và váy được mặc vào làm tăng thêm vẻ dịu dàng hiền lành
và chất phác,đảm đang của người phụ nữ Mường Khi mặc váy được quấn chặt phần ngực thừa gấp nếp cho ra phía trước,buộc một sợi dây nhỏ trước ngực giữ cho váy không bị tuột,cách mặc như trên vừa đơn giản vừa đáp ứng nhu cầu,phù hợp với chức năng sinh hoạt đi lại trong nếp sống truyền thống của người phụ
nữ Mường.Họ thường mặc váy dài đến chấm gót,lối mặc váy này bây giờ chỉ còn thấy ở cụ già.Phụ nữ Mường thường kiêng kỵ việc mặc lộn đầu xuống dưới gấu váy lên trên,bởi vì váy chỉ được mặc như vậy khi chồng chết chưa kịp phát
tang,váy phụ nữ Mường tiện lợi trong sinh hoạt
Chiếc váy nào cũng có cạp, nhưng bộ váy Mường ở đây được xem là khác biệt so với bộ váy Mường ở nơi khác như ở Thanh Hóa hay Phú Thọ, ngay
cả bộ váy Mường của người Mường giáp biên giới Thanh Hóa và Lào cũng đã thấy sự khác biệt, bởi cạp váy của họ bị ảnh hưởng của văn hóa Thái
-Thắt lưng: Thắt lưng là băng vải có chức năng giữ cho cạp váy quấn vào
cơ thể của người mặc, thắt lưng truyền thống của người phụ nữ Mường thường làm bằng vải tơ tằm Thắt lưng của người Mường ở Xuân Phú có hai chiếc được gọi là dây tênh, một dây tênh trắng và một dây tênh xanh đó là sự khác biệt đối với người Mường ở các nơi khác.Bên cạnh đó phục nữ Mường còn đeo thêm cái rón,cái rỏ ở bên hông do chính họ làm ra.Trong rón có một con dai và một chiếc khăn mùi xoa nhưng chỉ khi con gái về nhà chồng mẹ mới giao cho,cán dao được làm bằng báng sừng hươu có bịt bằng bạc.Con dao thường được gọi là vật
Trang 11kỉ niệm thiêng liêng nhất và luôn gắn với bàn tay người con gái được ví như tình mẫu tử không bao giờ lìa xa,ngay cả khi mang thai,sinh đẻ
- Đồ trang sức: Đa số phụ nữ đều đeo hoa tai, khi chưa lấy chồng các cô
gái đeo hoa tai do bố mẹ cho, lấy chồng thì đeo hoa tai do bố mẹ chồng mua tặng Từ khi sinh ra được 10 ngày các bà mẹ đã bấm lỗ tai cho con gái, từ 7-10 tuổi thì đeo
- Trang phục truyền thống của nam giới
Trang phục truyền thống của nam giới Mường thì đơn giản hơn chỉ có khăn, áo và quần, không chỉ phụ nữ mà nam giới Mường cũng có khăn, thắt khăn, đội khăn Tuy nhiên khăn của nam giới không thêu hoa văn giống của nữ giới mà chỉ là một miếng vải đen màu chàm, khăn của nam giới thường có một màu, dài hơn 1m Đàn ông Mường thường quấn khăn trên đầu khi đi xa hoặc khi
đi làm nương,trong các dịp hội hè, lễ tết Khăn của nam giới cũng giống của nữ giới có tác dụng che nắng, mưa, tránh rét
-Áo cánh: Được khâu kiểu 4 thân, may từ chất liệu bông hay lụa tơ tằm,
thường là màu nâu hoặc tối Vạt áo dài gần chấm mông, hai bên hông xẻ tà, áo đơm khuy, cài cúc Áo thường được may có túi nhỏ ở trên ngực, hai túi to ở phía trước hai vạt áo, toát lên vẻ đẹp mạnh mẽ và khỏe khắn của các chàng trai Mường
-Quần vải: Được may rộng, dài tới mắt cá chân, cạp quần được may to Khi
mặc họ thường lấy dây vải buộc chặt lại dây vải này được xem là chiếc thắt lưng, hiện nay được thay bằng dải rút có thuận lợi hơn
Có thể thấy cùng với việ sử dụng chất liệu vải, thường là vải bông tự trồng và bằng tơ tằm, cùng với quá trình cắt may hết sức bình thường, thủ công đơn giản tạo nên trang phục nam của người Mường mang dáng dấp khỏe khoắn
và mạnh mẽ Tạo nét khác biệt và một phong cách riêng trong trang phục nam giữa các thành phần dân tộc khác
Trong quá trình phát triển của lịch sử, quá trình giao lưu văn hóa giữa các dân tộc có những nét thay đổi, trang phục nam không còn giữ được nét
Trang 12truyền thống, hiện nay nam giới Mường không còn mặc chiếc quần truyền thống nữa Tuy nhiên vẫn có người mặc quần áo truyền thống trong các dịp lễ tết
1.4.2 Đặc điểm văn hóa tinh thần
1.4.2.1 Tôn giáo, tín ngưỡng
Người Mường ở Xuân Phú theo quan niệm vạn vật hữu linh Chính vì vậy
mà họ cầu cúng tất cả các loại thần thánh, ma quỷ, một khi cảm thấy cần thiết
Họ cho rằng con người chết đi cũng biến thành ma, và ma tổ tiên có thể phù hộ được con cháu Vì thế thơ cúng tổ tiên (thờ hùy, chiềng thờ, thổm thắm,…) có tầm quan trọng số một trong đời sống tâm linh của họ Ngoài việc thờ cúng tổ tiên dòng bố (bố mẹ, ông bà nội, các cụ nội, các kỵ nội/ bác mạng, pố tá-mệ tá,
pố mệ hượn), người Mường còn thờ cúng cả tổ tiên bên vợ (pố mộng, mộng hạm,…).Việc thờ cúng tổ tiên được thực hiện ngay tại bàn thờ ở (voong tong)
trong nhà Đối với người Mường Xuân Phú, ngày giỗ là ngày chôn cất, chứ
không phải là ngày người thân qua đời Tuy thế việc cúng bái tổ tiên của họ chỉ diễn ra vào ngày lễ tết cổ truyền, các dịp gia đình tiến hành các nghi lễ thuộc chu kỳ vòng đời cho các thành viên, hoặc khi dựng nhà mới Lễ vật cúng tổ tiên của họ thường chỉ là cơm nếp đồ, cá nướng, canh và thit luộc Ngoài việc thờ cúng tổ tiên, họ còn có tục: thờ đá, cúng bí đỏ (lễ lên nhà mới), thờ cây si (chu rồng), thờ mó nước, thờ vật tổ dòng họ (Tô tem), thờ thổ công, ông Tùng, ông Keo Heng, Ải Lý, Ải Lo, ông Chàng Vàng,…)
1.4.2.2 Lễ hội
Lễ hội là một trong những nét văn hóa tiêu biểu của người Mường Có nhiều lễ hội diễn ra trong năm, mà chủ yếu tập trung vào tháng giêng Và đáng chú nhất là các lễ hội liên quan đến sản xuất nông nghiệp, và mang ý nghĩa cầu mùa Những nghi thức cầu mùa đó đều thể hiện một cách sinh động bởi tín
ngưỡng phồn thực Lễ hội của người Mương tiêu biểu là Tết nguyên Đán, lễ hội
sắc bùa, lễ hội xuống đồng, lễ hội cơm mới
1.4.2.3 Văn học nghệ thuật dân gian
Trang 13Người Mường ở xã Xuân Phú có kho tàng văn học, nghệ thuật dân gian khá phong phú Đáng chú ý nhất phải kể tới các truyền thuyết về Ông Tùng, Sự tích chim páng pang pỏi pỏi, Sử tích ve sầu, Nàng Nga Hai Mối, Con côi, Đẻ đất Đẻ nước…Đó là những tài liệu có giá trị lớn giúp hiểu được phần nào về vũ trụ quan, nhân sinh quan, lịch sử của người Mường ở xã Xuân Phú Đặc biệt hơn,
Sách Đoi của họ làm bằng 12 mảnh tre, trên đó khắc vạch, đánh dấu tiết thời,
hoặc những hiện tượng thời tiết đặc biệt
Múa dân gian của người Mường Xuân Phú khá đặc biệt, trong đó các điệu
múa đã ăn sâu vào phong cách sống của họ phải kể tới: múa cờ, múa quạt ma,
múa dâng lễ vật, múa mặt nạ (trong các đám tang) Biểu diễn cồng chiêng là
hoạt động biểu diễn dân gian đặc biệt của họ Cồng chiêng được diễn tấu trong
các đám rước (đón dâu, rước cơm mới, rước thần nước…), trong các cuộc lễ, hội
hè, đình đám Đặc biết nhất là chiêng sắc bùa, chiêng đám cưới, chiêng tang lễ,
chiêng đi săn, Trò chơi dân gian người Mường ở xã Xuân Phú khá nhiều Đó là:
Đánh căl (đánh gậy), đánh chó (đẩy bưởi vào lỗ), đánh mảng (chơi nhảy cò),
chám chi, chám chán (ú tìm)…
Trang 14Chương 2
ẨM THỰC TRONG NGÀY TẾT CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ XUÂN PHÚ, HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
2.1 Khái quát về ẩm thực của người Mường ở xã Xuân Phú
Những món ăn của người Mường chủ yếu là khai thác tự nhiên và chăn nuôi Với các sản vật mà thiên nhiên mang lại như rau rừng, măng rừng, đánh bắt cá ở sông suối, săn bắt động vật…
Cách chế biến món ăn của người Mường khá đa dạng nhưng chủ yếu sử dụng cách chế biến các món đồ và xào Người Mường thích ăn các món ăn có khậu vị chua Có lẽ do điều kiện khí hậu nóng ẩm qui định, những thức ăn dễ chuyển hóa hơn, dễ ăn và cũng ngon miệng hơn, chẳng hạn các món cá muối củ kiệu và quả cà dại; rau cải muối dưa, đu đủ muối dưa ép; rau sắn muối dưa nấu cá…
Đồ ăn chế biến từ các loại thịt của người Mường xã Xuân Phú tương đối
phong phú Chế biến từ lợn có: giò lụa làm bằng thịt nạc, giò đầu (trlốc) làm bằng thịt thủ, giò chân (gio bỏi) làm bằng thịt nạc ở chân lợn, chả lá bưởi, chả
sườn, mọc đồ, mọc luộc Chế biến từ thịt gà có: gà luộc, gà nấu gừng, gà nấu măng chua Chế biến từ thịt trâu có: trâu xào tiêu rừng, thịt trâu nấu lá lồm Chế biến từ các loại thủy sản có: cá rán, cá nướng, cá đồ, ếch nấu măng chua, băm viên gói lá lốt và rán
Người Mường không chỉ coi ăn uống là việc nuôi sống bản thân mà còn là những giá trị văn hóa cần được giữ gìn và phát huy
2.2 Những món ăn trong ngày Tết của người Mường
Tết Nguyên Đán là những ngày quan trọng nhất trong năm, là ngày mà đất trời chuyển giao năm cũ sang năm mới Vì vậy gia đình nào cũng dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ và có tập quán là dựng cây nêu ở ngoài cổng Theo phong tục, người Mường không ăn tết Ông Công, Ông Táo mà sắm Tết bắt đầu từ 27 tết, trong dịp tết đồng bào sẽ chuẩn bị các nguồn lương thực, thực phẩm chủ yếu là khai thác ở rừng và nhà tự sản xuất lấy để phục vụ cho ngày Tết cổ truyền
Trang 15Đại diện gia đình đi mời các bác, các chú, anh em tổ tiên, họ hàng, xóm giềng đến tham dự và cùng chế biến các món ăn truyền thống của dân tộc Trước khi ăn con cháu phải xếp hàng ngay phía dưới lấy kính các tuổi các cụ, ông bà, cha mẹ Người già đứng lên trên cảm ơn con cháu và chúc con cháu sang năm mới khẻo mạnh, làm ăn phát đạt Tiếp đó người ta mời nhau rựa tay trong chậu nước được con cháu đặt sẵn ở phía ngoài cửa, rồi ngồi vào mâm cố theo thứ tự phụ nữ ngồi với nhau ở mâm trong, còn nam giới ngồi mâm phía ngoài, trẻ con thì ngồi với nhau ở những mâm giữa hoặc phía dưới
Theo tập quán thì vào dịp tết cổ truyền, mỗi gia đình người Mường phải có một mâm cơm mặn cúng tổ tiên bắt đầu vào sáng mùng một tết Cỗ dâng cúng phải được soạn đầy đủ các món là bánh chưng, bánh uôi, thịt lợn luộc, thịt gà luộc để cả con, xôi nếp đồ, rượu chai, một bát nước lã, tăm, trầu, cau, nước mắt
ớt, muối rồi bưng lên đặt vào vị trí định sẵn trên bàn thờ Bàn thờ tổ tiên được đặt ba mâm: mâm ngoài cùng thờ bố mẹ, mâm thứ hai ở giữa thờ ông bà, mâm thứ ba thờ các cụ kỵ ở trong cùng Ở mâm thờ các cụ kỵ thì cơm không đong bằng bát, đũa không tính bằng đôi mà được nắm bằng một nắm thật to, đũa để được hàng chục đôi Điều này biểu thị mâm đó thờ rất nhiều các cụ tổ tiên mà con cháu không thể nhớ hết
2.2.1 Những món được chế biến từ gạo
2.2.1.1 Bánh chưng
Bánh chưng là lễ vật không thể thiếu trong ngày tết Nguyên Đán, đó là món
ăn trang trọng nhất, cao quý nhất thể hiện lòng tưởng nhớ, biết ơn của con cháu đối với vua Lang của dân tộc Mường Gia đình nào cúng bao nhiêu người thì làm bao nhiêu cái bánh chưng
- Nguyên liệu chế biến
Gạo nếp: thường dùng loại gạo thu hoạch vụ mùa Gạo vụ này thường hạt
to, tròn, dẻo, đều hơn các vụ khác
Đỗ xanh: đỗ thường được lựa chọn rất công phu, đỗ phải mẩy và màu vàng tươi, có mùi thơm
Trang 16Hạt tiêu rừng : là loại có gia vị cay, mùi thơm
Thịt : thường là thịt lợn , và loại thịt dùng để gói là thịt ba chỉ
Lá để gói bánh : thường là lá dong tươi Lá dong chọ lá dong rừng bánh tẻ,
to bản, đều nhau, không bị rách , màu xanh mướt
Lạt buộc : Bánh Chưng thường dùng lạt giang được làm từ ống cây giang chẻ mảnh Lạt có thể được ngâm với nước muối hay hấp mềm để gói bánh
- Quy trình gói bánh
Lá dong được rửa từng lá thật sạch hai mặt và lâu thật khô Rửa càng sạch bánh càng đỡ mốc về sau Trước khi gói, lá dong được người ta gói bánh dùng dao bài mài thật sắc (loại dao nhỏ chuyên để gọt) cắt lột bỏ bớt cuống dọc sống lưng lá để bớt cứng để ráo nước (nếu lá quá già có thể hấp một chút cho lá mềm
dễ gói)
Gạo nếp: nhặt bỏ hết những hạt khác lẫn vào, vo sạch, ngâm gạo trong nước cùng 0,3% muối trong khoảng thời gian 12-14 tiếng tùy loại gạo và tùy thời tiết sau đố vớt ra để ráo Có thể xóc với muối sau khi ngâm gạo thay vì ngâm nước muối
Đỗ xanh: giã nhuyễn ngâm nước ấm 40° trong 2 tiếng cho mềm và nở, đãi
đổ lên trên và phủ kín hết thịt và đỗ xanh Gấp đồng thời hai lá dong lớp trên
Trang 17vào, vừa gấp vừa vỗ nhẹ để tạo hình khối vuông, gấp tiếp đồng thời hai lá dong
ở lớp dưới vào như lớp trên, vừa gấp vừa lén chặt nhẹ tay Dùng lạt buộc xoắn lại tạo hình chữ thập Hai bánh chưng buộc úp vào nhau thành một cặp
- Với cách gói có khuôn các giai đoạn được tiến hành như trên Tuy nhiên, người ta cắt tỉa bớt lá dong cho vừa kích thước khuôn và đặt trước các lớp lá xen
kẽ nhau vào trong khuôn (3 hoăc 4 lá, nếu gói 4 lá sẽ vuông và đẹp hơn Khi đó thường thì 2 lá xanh quay ra ngoài xếp tại hai góc đối xứng nhau, và hai lá xanh quay vào trong để tạo mù cho bánh), sau khi đã cho nhân vào trong, các lớp lá lần lượt được gập lại và sau đó được buộc lạt
Cách gói bánh có khuôn thì bánh đều nhau hơn và chắc hơn do được vỗ đều gạo, nén chặt còn gói không khuôn được gói nhanh hơn do đỡ mất công đo cắt lá theo kích thước khuôn
- Luộc bánh
Khi luộc cần lấy nồi to tùy theo số lượng bánh được gói, rải cuộng lá dong thừa xuống đáy nhằm mục đích tránh bánh bị cháy Xếp lần lượt từng lớp bánh đến đầy xoong và xen kẽ các cuộng lá thừa cho kín rồi đổ ngập nước nồi và đậy vung đun Người nấu bánh phải canh giờ tính từ thời điểm nước sôi trong nồi và duy trì nước sôi liên tục trong 10 đến 12 giờ, trong quá trình đun phải bổ sung nước để đảm bảo nước luôn ngập bánh
Khi luộc bánh xong vớt ra rửa lá dong trong nước lạnh cho hết nhựa để ráo Sau đó được treo lên chỗ khô ráo trong nhà để bảo quản
Bánh Chưng được dùng trong thờ cúng tổ tiên, đây là lễ vật quan trọng nhất nhằm bày tỏ tình cảm chân thành của gia đình mình với tổ tiên
2.2.1.2 Món cơm nếp đồ
Cơm nếp đồ là món ăn truyền thống của người Mường Người Mường có câu rằng: “cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tới” có thể thấy rằng món cơm nếp đồ gắn bó với người Mường như thế nào Đó không đơn thuần là một món ăn mà là lễ vật dâng cúng tổ tiên Khi dâng cúng tổ tiên phải
Trang 18để trong một cái đĩa to để cầu mong tổ tiên phù hộ cho năm tới mưa thuận gió hòa để được mùa tốt tươi
- Nguyên liệu chế biến
Nguyên liệu chế biến boa gồm gạo nếp: gạo nếp nương là giống lúa nếp cái.Giống lúa này hạt gạo nhỏ, tròn và được trồng vào vụ mùa
- Cách chế biến
Phương pháp nấu của món này chủ yếu là bằng phương pháp đồ Đồ là cách làm chín thức ăn phổ biến nhất của vùng người Mường Đồng bào thường
đồ rất nhiều loại thức ăn như: đồ cơm, đồ bánh, đồ khoai khi đồ người ta cho
thức ăn vào “ hông” (chõ bằng gỗ khoét) rồi đặt lên “biểng” (nồi đun nước sôi
để lấy nước đồ) Cái nồi này có hình cao dong dỏng và trên miệng có mộng để
đặt vừa khít cái “hông” Trên miệng “hông” có cái nắp đậy bằng nan tre cho kín “ hông” và không bị ngưng tụ hơi nước rơi trở lại Tác dụng của đồ là khi
chín, thức ăn không bị nát và có vị đậm đà hơn
Trước khi đồ, đồng bào ngâm gạo trong nước lã khoảng 5 đến 6 giờ, rồi vớt
gạo ra để ráo nước Sau đó bỏ gạo vào “hông” và đặt lên “biểng”, đun cho tới
khi cơm chín dẻo Sau đó người ta dỡ cơm ra một cái mâm
Cũng như người Kinh (Việt) người Mường thích ăn cơm nếp với thịt gà
Đồng bào có câu “ cơm móc chóc ca” ( cơm nếp thịt gà )
Có nghĩa là: “Cơm nếp như cái bờ ruộng, đùi gà như cái cọc đóng vào bờ ruộng cho chắc” Điều đó một mặt nói lên sự “sành ăn” của người Mường và mặt khác cũng thể hiện ước mơ về cuộc sống no đủ của đồng bào
2.2.2 Những món ăn chế biến từ thịt
2.2.2.1 Món thịt gà luộc
Thịt gà luộc không chỉ là món ăn bình dân mà quan trọng hơn cả đó là lễ vật cúng tổ tiên Khi dâng cúng tổ tiên gà phải để cả con không được thái ra từng miếng Người Mường còn có tục bói chân gà, khi nhìn chân gà có thể đoán định được về gia đình mình năm sau như thế nao
- Nguyên liệu chế biến
Trang 19Lá chanh có vị cay và mùi thơm rất đặc trưng hay được cho vào các món thịt gà, thịt ngan, thịt vịt
Gà là vật nuôi không thể thiếu trong mỗi gia đình người Mường , bởi nó là nguồn cung cấp nguồn thực phẩm tại chỗ, thường xuyên là nguồn thực phẩm tuwoi sống và là lễ vật dâng cúng tổ tiên Con gà được chọn dâng cúng lên tổ tiên phải là con gà Trống, không quá to cũng không quá nhỏ, chân phải cao, màu vàng tươi, bộ lông gà nhìn đẹp mắt Gà phải được chăn thả, không chăn các loại cám công nghiệp
- Cách chế biến
Thịt gà luộc phải làm sao cho thịt gà không chín kĩ như vậy da của thịt gà
sẽ bị bong ra trông không đẹp mắt nhưng cũng không qua loa thịt gà sẽ dai và còn sống vì như vậy các cụ già và trẻ em sẽ không ăn được Gà khi luộc chín phải có màu vàng óng và có hương vị thơm ngon Khi dâng cúng tổ tiên phải để
cả con, gà được để lên trên chiếc đĩa đặt ở chiếc lá chuối được xếp ở giữa gian
để gà sao cho đẹp mắt, đầu gà hướng lên trên, mào gà không có màu tía, chân gà
phải vàng óng
2.2.2.2 Món thịt lợn thui luộc
Thịt lợn luộc tuy là món ăn đơn giản nhưng nó cũng không thể thiếu trong ngày tết của người Mường ở xã Xuân Phú đồng thời cũng là món ăn làm lễ vật dâng cúng tổ tiên Món thịt lợn thui của người Mường được luộc chín, thái ra, chấm muối, nước mắm Tuy có cách thái thịt có khác nhau nhưng cũng là miếng thịt ba chỉ thái mỏng hình chữ nhật bằng hai ngón tay cặp đôi
- Nguyên liệu chế biến
Nguyên liệu chính chế biến là thịt lợn Lợn hầu hết các gia đình nuôi bở chúng là nguồn thực phẩm quan trọng phần kinh tế tự cấp tự túc, trước đây mỗi gia đình đều nuôi một vài ba con, có nhà nuôi đến hàng chục con Ở vùng người
Mường giống lợn khá phổ biến gọi là Lợn chèo hay Lợn Lủng (người Kinh gọi
là Lợn Mường) đây là giống lợn chỉ có ở vùng người Mường, thường được thả
rông cả năm và chỉ nặng khoảng 10-15 kg
Trang 20- Cách chế biến
Đồng bào làm sạch lông lợn, sau đó phải thui rơm hoặc gianh lợp mái nhà, như vậy sẽ giữ được nguyên hương vị tự nhiên của thịt mà không nhạt, đồng thời làm cho da lợn có màu vàng như màu mật ong Tiếp đến, thịt lợn được xe thành từng phần thịt nhỏ , rửa sạch và cho vào nồi luộc chín Khi thịt lợn chín nhìn màu thịt rất tươi ngon, có mùi thơm ngậy Đồng bào thường xếp xuống lá chuối hoặc đặt vào đĩa Món ăn này được dâng cúng lên tổ tiên nhằm bày tỏ tình cảm của con cháu đối với tổ tiên và đã phù hộ cho năm cũ chăn nuôi thuận lợi, càng xếp nhiều thịt càng chứng tỏ năm đó làm ăn tốt Món này khi ăn đồng bào thường thái mỏng, chấm với nước ớt để ăn không bị ngấy, hương vị thơm của lá chanh, vị chua của kiệu, vị cay của ớt
2.2.3 Những món ăn chế biến từ cá
2.2.3.1 Món cá ướp chua
Đồng bào quan niệm món ăn này phải để người phụ nữ trong gia đình làm
vì họ rất khéo léo, nếu món này làm không cẩn thận thì cá sẽ bị nát, mùi cá bốc lên rất nồng nặc Món này có nhiều cách thưởng thức khác nhau như: cá ướp chua để từ 3-6 tháng thì ăn ngay không cần qua chế biến; cá ướp chua gói vào lá cây thầu dầu kẹp vào que tre rồi nướng bằng than củi; cá ướp chua đem nấu canh
- Nguyên liệu chế biến: Nguyên liệu chuẩn bị bao gồm: cá trôi, ngô nếp, lá chuối, hành
- Cách chế biến
Đầu tiên phải đem cá mổ bụng moi ruột cho sạch, con to cắt thành hai, ba miếng Sau khi cá ráo nước thì đổ vào chậu, rắc muối hơi đậm một chút thêm vào một ít cơm nguội, một ít men rượu Tất cả trộn đều cho vào hũ, lấy lá chuối tươi hơ lửa, bịt kín miệng hũ và lấy lạt buộc miệng hũ thật kín Thường xuyên kiểm tra, nếu lá rách, hở thì phải lấy lá khác bịt vào đó Khoảng 10 ngày, mở hũ
ra xem, nếu cá có mùi chua thì bỏ thính vào, nếu chưa có mùi thì lấy muối hòa nước ấm đổ vào để gần lửa Rang ngô nếp, gãi nhỏ để nguộ Riềng rửa sạch, thái
Trang 21lát Hành cắt dài rửa sạch Đổ cá ra trộn đều các gia vị nói trên rồi lại bỏ vào hũ, lấy lá chuối bịt kín, buộc chặt miệng hũ cho thật kín Cá ướp chua để bao lâu tùy theo gia đình
2.2.3.2 Món cá đồ
Đây là món ăn quý trong ngày Tết được dùng để con rể biếu bố mẹ vợ, khi người con rể muốn lấy lòng cha mẹ thì phải biếu món này, đặc biệt là món trong
các lễ cúng thờ tổ tiên Món ăn này được người già và trẻ con rất ưa chuộng
- Nguyên liệu chế biến: gồm cá Chép, măng bương, lá chuối, gừng, củ xả
- Cách chế biến
Làm sạch cá và chặt cá thành nhiều khúc, củ xạ thái mỏng, củ gừng đập nhỏ và măng bương ngâm chua trộn đều và tra muối vừa phải, lá chuối được hơ qua lửa cho mềm dẻo Họ xếp ba lần lá chuối rồi bỏ cá và các nguyên liệu khác vào, lấy lạt giang buộc túm lại rồi bỏ vào hông đồ khoảng hai tiếng là chín Khúc cá ngấm có vị chua của măng cứng xoăn, vẩy dộp lên như rán Yêu cầu của món này là cá phải vàng ròn mềm, không có màu đỏ của máu
2.3 Đồ uống
Trong ngày lễ Tết Nguyên Đán người Mường ở xã Xuân Phú có tục uống rượu cần từ xa xưa Rượu cần là loại sản phẩm đã sử dụng phương pháp ủ chua
để chế biến trở thành thứ uống hấp dẫn cho nhiều người
Gạo làm rượu chỉ cần xay tróc vỏ trấu ra chứ không phải rã, để giữu nguyên chất vốn có của gạo, khi đồ cơm và ủ trong vò rượu hạt sẽ không bị nát, khi uống không bị tắc cần Gạo ngâm trong nước lã một đêm cho mềm rồi trộn với trấu xay đem đồ cho chín kĩ , rỡ cươm ra nia cho nguội, khi cơm còn hơi ấm giã nhỏ men và trộn đều với cơm rồi ủ trong nong Miệng hũ được bịt kín bằng
lá chuối , ngoài cùng gắn một lớp tro ướt cho thật kĩ, ủ rượu trong hũ càng lâu chất lượng càng tốt Rượu ủ trong 5 ngày là có thể uống được nhưng chưa ngấu
kĩ, rượu ngấu kĩ phải ủ 3 tháng trở lên có khi phải 3 năm mới đem ra uống Rượu cần ủ 3 năm là ngon nhất, nước rượu khi còn non có màu vàng đục, đến 3 năm đã chuyển thành màu nâu sẫm, hơi sánh nhấp có cảm giác dính môi Đối