1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng người phụ nữ trong báu vật của đời – mạc ngôn

60 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 784,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số đặc điểm hình tượng người phụ nữ trong Báu vật của đời – Mạc Ngôn .... Báu vật của đời có sức hút riêng của nó bởi lối viết văn mới mẻ đưa người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ng

Trang 1

TRONG BÁU VẬT CỦA ĐỜI – MẠC NGÔN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

Trang 2

TRONG BÁU VẬT CỦA ĐỜI – MẠC NGÔN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

Người hướng dẫn khoa học

TS Nguyễn Thị Bích Dung

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo –

TS Nguyễn Thị Bích Dung – người đã tân tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong

suốt quá trình làm khóa luận

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ Văn – Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thiện khóa luận

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2019

Tác giả khóa luận

NGUYỄN THỊ THU TRANG

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Hình tượng người phụ nữ trong Báu vật của đời

– Mạc Ngôn” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, những phân tích và kết

quả nghiên cứu đề tài đều dựa trên thực tế tìm hiểu, nghiên cứu và chưa từng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lí do chọn đề tài 1

2.Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Cấu trúc khóa luận 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG BÁU VẬT CỦA ĐỜI 7

1.1.Khái niệm nhân vật và hình tượng nhân vật 7

1.1.1.Khái niệm nhân vật 7

1.1.2.Hình tượng nhân vật 8

1.2 Một số đặc điểm hình tượng người phụ nữ trong Báu vật của đời – Mạc Ngôn 9

1.2.1 Vị tha, nhân hậu, nặng tình, nặng nghĩa 9

1.2.2 Nghị lực phi thường 14

1.2.3 Số phận bi kịch 18

Tiểu kết 25

CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG BÁU VẬT CỦA ĐỜI 27

2.1 Biểu tượng người phụ nữ Trung Hoa trong Báu vật của đời 27

2.1.1 Báu vật của đời – biểu tượng cho sự sinh sôi, sức sống mãnh liệt 27

2.1.2 Báu vật của đời biểu tượng cho tình mẫu tử 31

Trang 6

2.1.3 Báu vật của đời – biểu tƣợng của cái đẹp 34 2.2 Nghệ thuật xây dựng ngoại hình nhân vật phụ nữ trong Báu vật của đời 39

2.3 Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật phụ nữ trong Báu vật của đời 43

2.3.1 Hoàn cảnh bộc lộ tính cách nhân vật 43 2.3.2 Ngôn ngữ bộc lộ tính cách nhân vật 47 KẾT LUẬN 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài

Mạc Ngôn được xem là cây bút sáng giá trong nền văn học Trung Quốc

hiện đại Giải thưởng Nobel cho tiểu thuyết Báu vật của đời mà nhà văn đã

mang về cho nước nhà khẳng định sự thành công rực rỡ trong nền văn học Trung Quốc đương đại nói riêng và nền văn học thế giới nói chung Tiểu thuyết ra đời vào thời kỳ đương đại nhưng nội dung khái quát gần 100 năm từ đầu thế kỷ XX đến những năm 80 của thế kỷ XX Tiểu thuyết là một bức tranh sinh động về lịch sử Trung Hoa đầy hào hùng và bi tráng Ở tác phẩm này nhà văn Mạc Ngôn không chỉ đi sâu để khai thác vấn đề chính trị xã hội

mà còn khám phá những số phận con người của thời đại ấy đặc biệt là người phụ nữ Với một góc nhìn thấu đáo của nhà văn người phụ nữ trong tác phẩm hiện lên một cách chân thực và sinh động Hình ảnh người phụ nữ trong tiểu thuyết đã gây cho tôi ấn tượng sâu sắc Họ không chỉ là những cô gái Trung hoa trẻ trung năng động và mạnh mẽ mà thông qua những hình ảnh đó, nhà văm còn ca ngợi tình yêu cao cả, vĩ đại của người mẹ, ca ngợi chức năng sinh dưỡng của người mẹ Những người phụ nữ được xây dựng mang một phong cách riêng , độc đáo và đã tạo nên một giá trị nghệ thuật cao cho tác phẩm

Trên văn đàn Trung Quốc đương đại, Mạc Ngôn được đánh giá là “có bút lực mạnh nhất hiện nay”, là “nhân vật khai phá” của thế kỷ XXI ở Châu

Á, là nhà văn có nhiều tác phẩm được dịch và được dư luận Việt Nam chú ý nhiều nhất năm 2012, ông đã được viện Hàn lâm Thụy Điển trao giải Nobel Văn học cho những cống hiến không mệt mỏi trong sự nghiệp sáng tác của mình Mạc Ngôn đạt thành công ở nhiều thể loại nhưng về cơ bản, tiểu thuyết mới chính là thể loại thành công nhất của ông

Điều làm nên sức hấp dẫn của tiểu thuyết Mạc Ngôn chính là lối hành văn ngắn gọn, súc tích, nhịp điệu dồn dập mang tính hiện đại, có sự kết hợp

Trang 8

giữa hiện thực và huyền thoại, tính nhiều tầng, đa nghĩa… Song đặc điểm cơ bản trong các sáng tác của Mạc Ngôn chính là việc: Nhà văn đã rất khéo léo trong việc sử dụng những biểu tượng nghệ thuật trong tác phẩm để từ đó truyền tải đến độc giả những ý nghĩa sâu sa

Trong sự nghiệp sáng tác đồ sộ với hơn 200 tác phẩm, có thể thấy tiểu

thuyết Báu vật của đời là một trong những tác phẩm nổi bật hơn cả Nó được

coi là “viên đá nặng nhất trong lâu đài văn học” của Mạc Ngôn Với ý nguyện viết một cuốn sách dâng tặng mẹ, nhưng ý nghĩa của tác phẩm đã vượt qua dự định ban đầu của nhà văn, trở thành cuốn sách thu hút được sự chú ý của đông đảo bạn đọc và có giá trị trên nhiều phương diện

Điểm nhìn của tác giả dựa trên hiện thực lịch sử và quan điểm của nhân dân từ đó Mạc Ngôn thể hiện được tài năng cá nhân trong việc sáng tạo ra hệ

thống các chi tiết, hình ảnh có tính “lạ hóa” Báu vật của đời có sức hút riêng

của nó bởi lối viết văn mới mẻ đưa người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, từ thú vị này đến thú vị khác và đặc biệt là Mạc Ngôn đã xây dựng thành công những hình tượng người phụ nữ độc đáo, mang nhiều ý nghĩa nhân văn sâu sắc

Với để tài “Hình tượng người phụ nữ trong Báu vật của đời – Mạc

Ngôn”, tôi xin đóng góp cái nhìn sâu sắc hơn về hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết Báu vật của đời Hi vọng rằng với đề tài này sẽ giúp bạn đọc

có thể tiếp cận một cách đẩy đủ và trọn vẹn hơn về giá trị của tiểu thuyết này

2.Lịch sử vấn đề

Báu vật của đời của Mạc Ngôn là một bộ tiểu thuyết đương đại đã và

đang tạo được sức hút mạnh mẽ đối với độc giả và giới nghiên cứu bởi tính hiện thực và những nét nghệ thuật đặc sắc của nó Nhưng vì là một tác phẩm

đương đại nhưng số lượng bài nghiên cứu về Báu vật của đời còn chưa phong

Trang 9

phú Đồng thời những bài nghiên cứu ấy cũng chỉ tiếp cận sơ lược tác phẩm dưới góc độ xã hội hoặc xoay quanh các yếu tố lịch sử, chính trị,…

Các nhà nghiên cứu Trung Quốc, Nhật và Đức đã đứng dưới góc độ xã hội hoặc dựa trên các yếu tố chính trị, lịch sử… để đánh giá về nội dung và nghệ

thuật của Báu vật của đời Xuất phát từ quan điểm đó, họ chỉ ra những điểm

tiến bộ và hạn chế của nhà văn Có thể chia thành hai nhóm quan điểm như sau:

Thứ nhất, nhóm các nhà nghiên cứu Trung Quốc đứng trên phương diện

chính trị đã lên tiếng bài trừ Báu vật của đời ngay khi tác phẩm này được xuất bản tại Trung Quốc (Tác giả xuất bản xã, 9/1/1995) với lí do tác phẩm đã vi

phạm vào “vùng cấm” của văn học “Họ vu khống cho tôi là mượn Báu vật của đời để ca ngợi Quốc dân đảng, nói xấu Đảng Cộng sản…” [12,139] Thứ hai, nhóm các nhà văn nghiên cứu dưới góc độ xã hội để tìm ra những nét độc

đáo trong Báu vật của đời Trong các bài viết này, họ đã chỉ ra những sự sáng

tạo trong việc sáng tạo ra một thủ pháp “lạ hóa” độc đáo, sáng tạo những huyền thoại mới bên cạnh những huyền thoại cổ xưa (Trương Thành, Chu Ân…) Có người lại tìm sự ảnh hưởng của văn học phương Tây và Mĩ latinh

đối với Mạc Ngôn thông qua thiểu thuyết Báu vật của đời (Wolfgan Kunbim,

GS Các Hồng Binh, Ths Tống Hồng Lĩnh) Bản thân nhà văn Mạc Ngôn cũng viết cuốn “Tự bạch” để giãi bày về việc viết văn của mình

Nhà văn Mạc Ngôn được biết đến nhiều hơn ở Việt Nam khi Báu vật của đời được dịch giả Trần Đình Hiến dịch và xuất bản tháng 2 năm 2001

Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng dựa trên nhiều góc độ này, nhiều phương

diện để đưa ra những quan điểm, nhận xét riêng của mình về tiểu thuyết Báu vật của đời Tuy nhiên, mới chỉ là những bài nghiên cứu sơ lược, những bài

phỏng vấn dung lượng ngắn có liên quan đến nội dung tác phẩm trên các báo, tạp chí, các trang báo mạng…

Trang 10

Trên tạp chí sông Hương, số 166 (12/2002) có đăng bài phê bình của

nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Phê Thế giới nghệ thuật của Mạc Ngôn qua hai tác phẩm Báu vật của đời và Đàn hương hình Tác giả chỉ ra nét đặc sắc của

hai tác phẩm là ở thủ pháp lạ hóa: “Có lẽ pháp lạ hóa chủ yếu của Mạc Ngôn chính là biết đặt ra những chuyện kì lạ ít người biết trên một cái khung, cái nền không xa lạ Theo cách nói chữ thì đó là phép lạ hóa, huyền thoại hóa hiện thực Nó là nội dung và cũng là hình thức tác phẩm; nói cách khác đó là

thế giới nghệ thuật của tác giả” Trong bài Nghệ thuật trần thuật gắn gắn với thủ pháp lạ hóa trong tiểu thuyết Mạc Ngôn của Hoàng Thị Bích Hồng đăng trên Tạp chí sông Hương, số 244 (10/2007), tác giả cũng đi vào tìm hiểu sự lạ

hóa trong miêu tả, kể chuyện trong tác phẩm của Mạc Ngôn

Tác giả Nguyễn Thị Vũ Hoài trên Diễn đàn văn nghệ với bài Tình yêu

và nhu cầu giải tỏa trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, đã đi vào tìm hiểu vấn đề

tình yêu – tình dục trong bộ phận giới nữ qua các tác phẩm của Mạc Ngôn

Với Báu vật của đời, tác giả bài viết nhận định: “Nhiều người phụ nữ trong

tiểu thuyết Mạc Ngôn có đời sống tình dục sa đọa Ý thức của họ bị bản năng

lấn át, họ không làm chủ được hành vi của mình Báu vật của đời có mười

bốn lần tác giả miêu tả chuyện làm tình Trong số đó không ít lần nhân vật rơi vào lầm lỡ Vì chồng bất lực mà Lỗ thị quan hệ với Vu Bàn Vả, thầy lang, anh chàng chăn vịt, cả hòa thượng và mục sư… Đó là sự buông thả của một người phụ nữ phụ nữ chịu xiềng xích, kiềm tỏa và uất hận Nhưng đó cũng là khao khát có được một người thứ ba (một đứa con trai) còn chưa được cấu sinh Những người phụ nữ nhà Thượng Quan đều có lối sống cuồng nhiệt

nhưng buông thả, có khi tình dục là một cách để trả thù …”

Trong bài Kiểu nhân vật trẻ thơ – người lớn trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, Tạp chí Văn học nghệ thuật số 330, (12/2011), tác giả Võ Nguyễn Bích Duyên chỉ ra nhân vật Kim Đồng trong Báu vật của đời thuộc dạng nhân vật

Trang 11

mà chất trẻ thơ tồn tại trong hình hài một người trưởng thành Trong bài Sự sinh, sự chết, sự sống, đăng trên trang tanviet.net ngày 04/08/2005 nhà phê

bình Phạm Xuân Nguyên đã tóm lược những điểm chính trong cuốn tiểu thuyết và đưa ra nhiều nhận định về tác giả, tác phẩm Có người lại dựa vào

Báu vật của đời để tìm ra sự sáng tạo của Mạc Ngôn trong việc đưa hơi thở

hiện đại vào đề tài lịch sử (Vươn Trí Nhàn, Lê Huy Tiêu, Trần Trung Hỷ)

Trong bài Đọc một số tác phẩm văn học đương đại Trung Quốc dịch ra tiếng Việt, PGS.TS Hồ Sĩ Hiệp cũng đã điếm qua những nét đặc sắc của Mạc Ngôn thông qua những tác phẩm đã được dịch trong đó có thiểu thuyết Báu vật của đời

Trên đây là sơ lược một số công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Báu vật của đời của các nhà nghiên cứu nước ngoài và Việt Nam Chúng tôi chưa thấy

công trình nào đi sâu nghiên cứu phương diện thế giới nhân vật Với tinh thần học tập không ngừng, chúng tôi sẽ kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những thành tựu nghiên cứu, những ý kiến bố ích từ người đi trước để đi sâu tìm

hiểu Hình tượng người phụ nữ trong Báu vật của đời – Mạc Ngôn

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về đề tài Hình tượng người phụ nữ trong Báu vật của đời – Mạc

Ngôn, chúng tôi hướng vào những mục đích sau:

- Đặc điểm hình tượng nhân vật người phụ nữ trong Báu vật của đời

- Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật người phụ nữ trong Báu vật của đời

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát

Đối tượng nghiên cứu là Hình tượng người phụ nữ trong Báu vật của đời

– Mạc Ngôn

Trang 12

Phạm vi khảo sát là cuốn tiểu thuyết Báu vật của đời của dịch giả Trần

Đình Hiến do nhà xuất bản Văn nghệ, thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm

2001

5 Phương pháp nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài này, tác giả khóa luận sử dụng nhiều phương pháp nhiên cứu khác nhau, trong đó cần phải kể đến những phương pháp chính sau:

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp khảo sát thống kê

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp phân tích tổng hợp

6 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận của chúng tôi triển khai theo 2 chương:

- Chương 1: Đặc điểm hình tượng nhân vật người phụ nữ trong Báu vật của đời

- Chương 2: Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật người phụ nữ

trong Báu vật của đời

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NGƯỜI PHỤ NỮ

TRONG BÁU VẬT CỦA ĐỜI

1.1.Khái niệm nhân vật và hình tượng nhân vật

1.1.1.Khái niệm nhân vật

Hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa cũng như nhiều quan niệm về nhân vật trong tác phẩm văn chương

Theo Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: Nhân vật văn học “là một

đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống Nó có chức năng cơ bản là khái quát tính cách của con người và chức năng này cũng mang tính lịch sử Nhân vật văn học còn có khả năng dẫn dắt độc giả vào thế giới khác nhau của đời sống, thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người…” Nhân vật văn học là “người được mô tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học… Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi vì đó là hình thức cơ bản để văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng… Nhân vật văn học là phương tiện

để khái quát tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng” [5,162]

Trong Từ điển văn học bộ mới viết: Nhân vật văn học “là hình tượng

nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có thể là các con vật, các loài cây Các sinh thể hoang đường , được gán cho đặc điểm giống con người…” [7,1254]

Theo giáo trình Lý luận văn học thì: “Nhân vật văn học là khái niệm dùng để chỉ hình tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học – cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ” [12,114]

Trang 14

Dù cách này hay là cách khác, khi định nghĩa về nhân vật trong tác phẩm văn chương vẫn cơ bản giống nhau ở chỗ: Nhân vật văn học là đối tượng mà văn học miêu tả, thể hiện bằng những phương tiện văn học Đó là những con người, đồ vật, con vật, sự vật, hiện tượng mang linh hồn con người, là hình ảnh của con người Nhân vật văn học là đối tượng mang tính ước lệ và có cách điệu so với đời sống hiện thực bởi nó đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của tác giả Đối với mỗi nhân vật văn học thì tính cách được coi là đặc điểm quan trọng nhất, là hạt nhân và là “nội dung của mọi nhân vật văn học” Bên cạnh đó, chức năng đầu tiên trọng yếu của nhân vật là làm phương tiện để nhà văn khái quát được hiện thực: “Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kì nhất định”

Nhân vật vốn là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, tiêu điểm

để bộc lộ chủ đề và tư tưởng chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tố

có tính hình thức tập trung khắc họa Để xây dựng tốt ý đồ nghệ thuật của

mình trong Báu vật của đời Mạc Ngôn đã lựa chọn những phương tiện nghệ

thuật hữu hiệu khác nhau để xây dựng thành công những hình tượng nhân vật

1.1.2.Hình tượng nhân vật

Khái niệm: “Hình tượng nhân vật” theo góc độ văn học nghệ thuật, “hình tượng được hiểu là sự phản ánh hiện thực một cách khái quát nghệ thuật qua hình thức hiện tượng cụ thể nhất, sinh động, điển hình, nhận thức trực tiếp bằng cảm tính Cùng với tác phẩm văn học, hình tượng còn được xem là đơn

vị hoàn chỉnh trong nghiên cứu văn học” Trong nhiều trường hợp ta có thể thấy thuật ngữ hình tượng được hiểu đồng nhất với hình tượng nhân vật, cũng

có lúc người ta dùng hình tượng để chỉ một tác phẩm văn học

Theo quan điểm mĩ học, “hình tượng nghệ thuật dùng để chỉ một hình thức phản ánh hiện thực qua các phương tiện nghệ thuật” Hình tượng nghệ thuật

Trang 15

khác so với các phạm trù cơ bản của tư duy khoa học và các phạm trù như: cảm giác, trí giác, biểu tượng Nó đi sâu vào bản chất của các hiện tượng trong đời sống và làm sáng tỏ các ý nghĩa sâu xa của chúng Hình tượng nghệ thuật là điều kiện để tạo nên giá trị cho tác phẩm nghệ thuật Hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn chương khác biệt so với các loại hình nghệ thuật khác ở chỗ nó được thể hiện thông qua các hình tượng nhân vật, là phương tiện để nhà văn truyền tải những cảm xúc, bộc lộ giá trị tư tưởng và thể hiện phong cách nghệ thuật của mình

Có thể nói, khi nhà văn cầm bút phải không ngừng tìm tòi và sáng tạo nên những hình tượng nhân vật đặc sắc Không phải nhân vật trong tác phẩm văn học nào cũng trở thành hình tượng nhân vật văn học Muốn trở thành hình tượng nhân vật văn học nhất định phải có tính điển hình Trong văn học nói chung, hình tượng văn học là: Nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình Nghĩa là nhân vật ấy phải có các đặc điểm như sức tập chung và khái quát cao Nhân vật phải có những nét chung của giai cấp hay tầng lớp mà nhân vật

ấy đại diện Bối cảnh mà nhân vật xuất hiện phải là bối cảnh điển hình của một vùng, một nơi nào đó vào một thời điểm lịch sử nhất định

1.2 Một số đặc điểm hình tượng người phụ nữ trong Báu vật của đời –

Mạc Ngôn

1.2.1 Vị tha, nhân hậu, nặng tình, nặng nghĩa

Báu vật của đời là truyện Mạc Ngôn viết để tặng mẹ, tác phẩm đề cao

nữ giới Và vì vậy Mạc Ngôn đã thành công trong việc tập trung xây dựng lên hình tượng trung tâm đó là người mẹ - Lỗ thị Thượng Quan Lỗ thị - hiện thân đầy đủ nhất của người phụ nữ phong kiến Trung Hoa, đồng thời cũng là biểu tượng cho sự bứt phá, thoát khỏi những trói buộc phong kiến Với phẩm chất đáng trân trọng đôn hậu hiền từ, nặng tình trọng nghĩa cùng nghị lực phi thường vượt qua mọi đau thương… Lỗ thị là một bà mẹ vĩ đại

Trang 16

Xã hội phong kiến Trung Hoa tồn tại rất nhiều những phong tục lạc hậu

để bó buộc con người , mà nạn nhân chủ yếu là người phụ nữ Người phụ nữ

bị bó cuộc cả về thể xác lẫn tâm hồn Nếu như bản vàng trinh tiết lừa bịp tinh thần người phụ nữ để họ chịu áp bức của tộc quyền, của luân lí phong kiến thì tịc bó chân là thủ đoạn cưỡng chế thô bạo nhất phá hoại cơ thể người phụ nữ khiến cho nhiều người phải chịu tật nguyền suốt đời Bà mẹ Lỗ Toàn Nhi trong tiểu thuyết được nhà văn xây dựng là nạn nhân của tục bó chân cổ hủ

ấy Lên 5 tuổi, Lỗ Toàn Nhi đã phải trải qua đau đớn tột cùng của tục bó chân tàn khốc ấy: “Bà dùng nẹp tre cố định chân mẹ lại, khiến mẹ gào lên như lợn

bị chọc tiết, phải kẹp chặt vì tạo hình cho bàn chân mhor là rất quan trọng Sau đó quấn thật chặt hết lớp này đến lớp khác những đoạn vải đã tắm nước muối phơi khô, rồi lấy dùi gỗ vỗ một lượt Mẹ kể rằng buốt đến tận óc…” Nhưng đó mới chỉ là sự bắt đầu của những đau đớn, khổ cực Mười bảy tuổi,

cô được gả vào làm dâu nhà Thượng Quan, từ đó chuỗi ngày đắng cay, tủi nhục liên tiếp xuống đời cô Có thể nói chưa có nỗi đau khổ nào mà người phụ nữ chưa nếm trải Làm dâu một gia đình khá giả nhưng Lỗ Toàn Nhi chẳng khác gì một đưa tôi tớ lấy nhau suốt ba năm vẫn chưa có con mà thực chất do người chồng bất lực nhưng mọi sự hành hạ từ nhà chồng đều trút lên đầu cô Trước nỗi khát khao có cháu, trước những lời mắng nhiếc cay nghiệt:

“Chị biết ăn mà không biết đẻ, nuôi cái đồ vô tích sự ấy làm gì!” và những trận đòn roi không thương tiếc từ mẹ chồng Lỗ Toàn Nhi phải đi “xin giống” của những người đàn ông xa lạ Bảy đứa con gái ra đời trước sự ghẻ lạnh và chà đạp của nhà chồng, trước sự tàn ác và bất lực của chồng: “Từ khi sinh đứa con gái thứ tư, bầu trời nhà Thượng Quan lúc nào cũng mây đen vần vũ, mặt

bà nội như lưỡi hái vừa lấy ra khỏi nước tôi, sẵn sàn đâm chém ai đó bất cứ lúc nào” Khi Cầu Đệ - đứa con thứ bảy lại là con gái ra đời, Lỗ thị bị chồng đánh đập dã man Thọ Hỉ dùng chày đạp vào đầu vợ, dùng kẹp sắt ấn vào giữa

Trang 17

hai chân: “Làn khói màu vàng bay lên, mùi lông và thịt cháy khét lẹt tỏa khắp phòng Mẹ rú lên thê thảm, lăn từ trên giường xuống đất, người cong như cánh cung, co giật từng cơn” Bị đối xử thua một con vật, vừa mới sinh con xong, Toàn Nhi phải phươi mình giữa cái nắng trưa để lật rơm trong khi

“bụng vẫn đau quặn, dạ con vừa trút được gánh nặng co bóp dữ dội, mồ hôi lạnh chảy cùng mình, từng dòng âm ẩm từ cửa mình chả ra ướt đẫm hai đùi”; phải sinh con trên một cái giường đầy đất đá đã nhão ra vì máu, “vượt cạn” trong sự lo lắng, sợ hãi, bẩn thỉu và cô đơn trong khi cả nhà đang lo lắng, nâng niu một con lừa đang đau đẻ… Hiện thực ấy Lỗ thị nhận ra một chân lí nghiệt ngã: “Là đàn bà, không lấy chồng không được, lấy chồng mà không sinh con được, sinh toàn con gái cũng không được Muốn có địa vị trong gia đình dứt khoát phải sinh con trai” Sống trong sự ngược đãi, ghẻ lạnh của nhà chồng, ước nguyện sinh con trai đã giúp Lỗ thị tiếp tục sống và nuôi hy vọng Khao khát đó luôn thường trực, nhiều khi tạo thành ảo giác một đưa bé trai giữa hai đùi nó có “một bàn chân nhỏ xíu với những móng chân sáng loáng” Niềm hy vọng ấy cuối cùng đã thành hiện thực Lần sinh thứ tám, sau khi tỉnh lại “nhìn thấy cái chim bé tí như con nhộng giữa hai chân tôi, cặp mắt u tối của mẹ chồng bỗng bừng sáng” Như vậy mong muốn có cháu mà phải là cháu trai của nhà chồng đã thành hiện thưc Lỗ Toàn Nhi phải mang tiết hạnh, mang tấm thân của mình đi ngủ với những người đàn ông khác Cuối cùng Toàn Nhi đã sinh ra cho gia đình nhà Thượng Quan một đàn con gồm tám gái, một trai Điều đặc biệt là cả chin đứa con của chị lại có những đưa con khác nhau Trong đó Lai Đệ và Chiêu Đệ là con của chú dượng Vu Bàn Vả; Lãnh

Đệ là con của anh chàng bán vịt dạo; Tưởng Đệ là con của thầy lang bán thuốc; Phán Đệ là con của lão bán thịt chó ở thôn Sa Tử; Niệm Đệ là con của hòa thượng Trí Thông ở chùa Thiên Tề; Cầu Đệ là kết quả của Lỗ Toàn Nhi

Trang 18

bị bốn tên lính thất trận cưỡng hiếp ở phía Bắc sông Thuồng Luồng; sau cùng

là cặp sinh đôi Kim Đồng, Ngọc Nữ của mục sư Malôa

“Hình ảnh người mẹ và cũng là hình ảnh chung của những người phụ

nữ được tập trung thể hiện qua nhân vật Thượng Quan Lỗ thị Bản năng làm

mẹ là một bản năng đáng kính trọng của con người Cao Mật nói riêng và con người trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn nói chung Đó là thiên chức mà tạo hóa ban cho người phụ nữ Người mẹ Lỗ thị luôn dang rộng đôi tay che chở cho đàn con trước nanh vuốt của kẻ thù Giặc ngoại xâm, các thế lực chính trị đến rồi đi trên mảnh đất Cao Mật, nhưng với sự kiên cường của mình, người phụ

nữ này đã vực cả gia đình Thượng Quan đi qua bao bão táp, dâu bể tang thương của thời đại Với những người mẹ, bản năng của họ chính là sự bảo vệ con mình trước những hiểm nguy, gian khổ” Và Lỗ thị cũng không ngoại lệ

Dù vẫn biết đó là đóng kịch nhưng với tấm lòng người mẹ, khi thấy con gái mình bị “người cào người cấu, chẳng khác nào bốn con mèo vây quanh một con chuột” thì mẹ “vừa quát, vừa xông lên sân khấu… Mẹ giơ hai tay như

chim ưng sắp vồ con thỏ, ghì chặt hai chân đội trưởng Kaxi… mẹ ngồi lên

bụng Kaxi, cào xé mặt anh ta… mẹ thở hồng hộc, vẫn chưa hết giận nói: - Dám hà hiếp con gái ta nữa hay thôi?” [13,146] Cũng chính lòng yêu thương con, bảo vệ con ấy mà dẫn đến một hành động giết người ám ảnh tâm hồn Lỗ Thị suốt cuộc đời Người mẹ ấy đã cố sức cứu đứa con gái Ngọc Nữ bị bà Lã

“cắn chặt tai, nhai sồn sột như nhai miếng thịt dai ngoách” nhưng vẫn chưa giành được khỏi tay bà Lã Trong cơn bấn loạn và vô vàn những nỗi đau từ quá khứ trở về bà đã có những hành động không kiểm soát “mẹ giơ cái chày lên giáng một nhát giữa đỉnh đầu trọc lốc của bà nội” [413, 827] Cái chết của

bà Lã, suy cho cùng cũng chính từ lòng thương con, từ sự bảo vệ và che chở con của người mẹ yêu thương con vô ngần Cũng là người mẹ bé nhỏ ấy với đôi chân bó tàn tật “hai bàn chân bé tý nhún nhảy trên mặt đất một cách đáng

Trang 19

thương” [13, 448] nhưng vẫn cố gắng đến cùng chống lại bốn tên to khỏe Vu Văn Vũ, Ngụy Sừng Dê, Đinh Kim Câu, Quách Thu sinh để cứu con trai và hai đứa cháu của mình Có thể thấy người phụ nữ tuy nhỏ bé nhưng sẽ có một sức mạnh phi thường với những kẻ nào có thể làm hại tới con của mình Sức mạnh sinh tồn của Lỗ thị thật mãnh liệt, chính niềm tin vào tương lại và tình yêu vô bờ đối với con là động lực duy trì ý chí sinh tồn của người mẹ vĩ đại

ấy Đã có lúc cùng quẫn, bà đã định cho cả nhà cùng ăn thạch tín để cùng chết Nhưng với sự mạnh mẽ của mình, bà đã khẳng khái: “không chết nữa! Chết đã không sợ, thì sống không có gì phải sợ cả!” [413,152] và cùng các con mình đi kiếm cái ăn Thông thường, khi sống trong cảnh khổ đau đến tột cùng như thế, con người ta sẽ dễ dàng gục ngã, tuyệt vọng và buông xuôi tất

cả, nhưng Lỗ Thị thì không, người phụ nữ ấy vẫn căng tràn sự sống, căng tràn niềm tin yêu, hy vọng: “Đứng trước dòng nước trong xanh, mẹ nảy ra ý định nhảy sông tự vẫn Nhưng khi vén áo chuẩn bị nhảy, mẹ bỗng trông thấy bầu trời xanh biếc của vùng đông bắc Cao Mật in bóng dưới dòng song Mấy cụm mây trắng như bông bay ngang trời Những con chim sơn ca cất tiếng hót véo von dưới cụm mây trắng Những con cá nhỏ, trong suốt bơi trong bóng mây

in dưới lòng song Hình như chẳng có chuyện gì xảy ra, trời vẫn trong xanh, mây vẫn nhởn nhơ, lười nhác và trắng muốt như thế Chim chóc không vì có diều hâu mà ngừng ca hát, những con cá nhỏ không vì có chim bói cá mà ngừng bơi lội Mẹ cảm thấy một làn gió tươi mát xua tan mọi uất ức trong lòng Mẹ khoát nước, rửa sạch nước mắt và mồ hôi trên mặt, sửa sang lại quần aoos rồi trở lại về nhà” [13, 802] Bầu trời xanh, dòng sông xanh, khung cảnh của thiên nhiên Cao Mật dường như thôi thúc Lỗ thị tiếp tục sống với một sức mạnh tiềm tang, mạnh mẽ… Phải chăng, bản chất của một vùng đất anh hùng, kiên cường, bất khuất không cho phép con người buông xuôi mà phải nỗ lực để tồn tại: “Càng khổ lại càng phải sống! Mục sư Malôa nói rằng

Trang 20

lật đi lật lại quyển kinh thánh dày cộp cũng chỉ nói mỗi điều này! Con đừng lo

cho mẹ, mẹ cầm tinh con giun, nơi nào có đất là sống được” [13, 549 – 550] Đối với người mẹ, dù khác nhau về hình dáng, tính cách thì tập trung lại hộ đều là những người mẹ yêu thương con vô bờ bến

Cuộc đời của Lỗ Toàn Nhi phải nếm trải tất cả mội nỗi đau mất chồng, mất con, mất cháu, gia đình ly tán rồi sum họp, lên voi xuống chó nhanh như chớp, bao phen đói khát phải ăn cỏ dại, rau rừng, ngủ cùng xác chết, cùng đạn bọm, bị tra tấn, bị làm nhục nhưng trong bất kì hoàn cảnh nào trong lòng Toàn Nhi vẫn sáng lên tia hi vọng, với một ý chí sinh tồn mạnh mẽ đến khó tin cùng với tấm lòng của người mẹ yêu thương con vô hạn Trong nạn đói vì con, cháu mà ăn cắp lương thực giấu trong bít tất, phải chịu những cảnh roi lằn máu khi bị phát hiện nhưng cũng không từ bỏ, bà biến dạ dày của mình thành lương túi đựng lương thực để rồi: “Mẹ quỳ gối xuống đất, hai tay vịn mép bồn, hai vai nhô lên, cổ vươn ra rồi rụt lại… Cùng với tiếng nôn ọe như sấm, người mẹ lúc thì co rúm lại, lúc thì mềm oặt ra như nắm bùn nhão… mùi đậu bốc lên, mùi tanh của máu như hàng loạt mũi tên xông thẳng vào tim chị Chị sắp sửa òa khóc thì gương mặt mẹ tươi tắn như đóa hoa quý dưới ánh sáng mặt trời ghé sát chị và giọng mẹ như mồm vỡ ra: - Con ơi, mẹ con ta được cứu sống rồi”

Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, hoàn cảnh là điều kiện thành và phát triển cũng như thay đổi tính cách của chính họ Việc sáng tạo và đặt nhân

vật trong những hoàn cảnh cụ thể khiến nhân vật trong Báu vật của đời trở

nên sinh động và cá thể hóa hơn

1.2.2 Nghị lực phi thường

Sống trong chế độ xã hội phong kiến hà khắc, từ khi sinh ra đã được tạo hóa giao phó thiên chức thiêng liêng – làm mẹ, nhưng trên hết, trong tâm thức của bà luôn là sự yêu thương, che chở cho các con của mình Những đưa con

Trang 21

luôn là sức mạnh, là động lực để bà có thể vượt qua cuộc sống oan nghiệt này

Dù phải đi “xin giống dạo” của những người đàn ông xa lạ nhưng không vì thế mà người mẹ này căm ghét, ghẻ lạnh những đứa con của mình mà ngược lại, Lỗ Toàn Nhi luôn dành trọn vẹn tình thương cho chúng Người mẹ ấy luôn dang rộng đôi tay che chở cho đàn con: “Niệm Đệ vừa lọt lòng oe óe khóc, mẹ chồng thấy vẫn là con gái, liền chẳng nói chẳng rằng túm lấy hai chân định đem dìm chết trong chum nước Mẹ nhào xuống đất ôm chặt hai chân mẹ chồng, van xin: - Mẹ ơi mẹ, xin mẹ mở lượng từ bi, thương con hầu

hạ mẹ nửa năm nay mà tha cho cháu bé! ” “Bên trong người phụ nữ ấy, luôn

có một sức sống mãnh liệt, không chỉ ở khả năng thiên phú mà còn là một niềm tin vào tương lai, là khát khao được sống, khát khao được tình yêu, hạnh phúc gia đình đích thực Tấm lòng của người mẹ ấy là luôn mong muốn được sống gần bên đàn con, Lỗ thị luôn nỗ lực để sinh tồn Hai nạn đói kinh hoàng năm 1941 và 1960 đã tác động mạnh mẽ đến Lỗ thị và gia dình Thượng Quan Năm 1941, để cứu lấy đàn con, Lỗ thị phải chịu nỗi đau đứt ruột đưa đàn con

đi bán, mà không cần tiền xin đối sử tốt với cháu Vì Lỗ thị biết rằng nếu

chúng được nhận làm con của những gia đình giàu sang trong hoàn cảnh này, những đưa con của bà chắc chắn sẽ sống sót Cũng trong năm đó, Lỗ thị đau đớn như đứt từng khúc ruột mặt trắng nhợt, lảo đảo rồi ngã song soài ra nhà khi nhận được tiền tự bán thân của đứa con gái thứ tư – Tưởng Đệ vì muốn chữa bệnh cho mẹ và cứu lấy chị em trong cơn đói Năm 1960, Lỗ thị đã biến bao tử của mình thành một chiếc túi chứa đậu Bà trộm đậu trong hợp tác xã rồi nuốt vào, về đến nhà lại nôn ra, lấy đậu để nuôi con nuôi cháu Sức mạnh sinh tồn của Lỗ thị thật mãnh liệt, chính niềm tin vào tương lai và tình yêu thương vô bờ đối với đàn con là động lưc nuôi dưỡng ý chí sinh tồn của người

mẹ vĩ đại ấy” [13, 255]

Trang 22

Với sự thay đổi của các thế lực chính trị, đem đến cho vùng đất Cao Mật biết bao biến đổi, Lỗ thị và gia đình Thượng Quan cũng chịu ảnh hưởng của những lần thay ngôi đổi chúa ấy Hết quân Đức, quân Nhật, Quốc dân đảng rồi đến Cộng sản đảng, mỗi lần thay chủ đổi ngôi là mỗi lần nhân dân chứng kiến cảnh li loạn, chạy giặc, tan tóc… Các thế lực cầm quyền cướp đi những người con gái của Lỗ thị và đem đến cho bà mẹ biết bao tai họa, biết bao mất mát, khổ đau Dù mỗi đứa con có một đường riêng thậm chí là xung khắc, thù ghét nhau vì quan điểm chính trị… Lỗ thị vẫn là chỗ dựa tinh thần, nguồn an ủi, là chốn quay về yên bình và an toàn nhất Ngoài việc nuôi dưỡng đàn con tám gái, một trai của mình trưởng thành, trong suốt cuộc đời mình,

Lỗ thị còn cưu mang thêm tám đứa cháu gọi bà bằng ngoại Tám đứa cháu mỗi đứa một hoàn cảnh, mối đứa một xuất thân Có đứa cha mẹ là đảng viên Quốc dân đảng (Tư Mã Lương, Tư Mã Phượng, Tư Mã Hoàng), có đứa là con của Hán gian (Sa Tảo Hoa), có đứa chỉ là con của thường dân (Hàn Vẹt) Dù cha mẹ chúng là ai, thuộc Đảng phái nào, tư tưởng chính trị ra sao thì Lỗ thị vẫn dành chi chúng tình thương yêu tha thiết Dù có lúc giận con bà định bỏ rơi đứa cháu nhưng tấm lòng thương con thương cháu níu chân bà lại: “Chiếc

áo da báo của Lai Đệ chỉ có thể bọc con của Lại Đệ… mẹ bỏ lại con bé bọc trong chiếc áo da báo ở cổng nhà thờ, rồi chạy về nhà như bị ma đuổi Nhưng chị chạy được hơn chục bước, chân mẹ đã cất không nổi nữa Con bé khóc như lợn bị chọc tiết, tiếng khóc như sợi dây vô hình giữ chân mẹ lại…” Tám đứa cháu ngoại đều được bà yêu thương, chăm sóc, luôn đưa tay nâng đỡ chúng, che chở chúng trước mọi nguy hiểm đến tính mạng mình Khi thằng câm thi hành lệnh giết hai đứa cháu Tư Mã Thượng và Tư Mã Hoàng: “Mẹ ưỡn ngực, thét lên chói tai: - Thằng súc sinh giết tao trước đi!Mẹ xông tới mặt thằng câm cào vào mặt hắn Mặt hắn xuất hiện bốn rãnh màu trắng, sau

đó máu từ trong rãnh tứa ra… lát sau hắn ầu ầu lên mấy tiếng, đấm mẹ một

Trang 23

quả, mẹ ngã bay về phía chúng tôi Chúng tôi vừa khóc, vừa phù phục trên mẹ” Những sinh linh bé bỏng ấy được chăm sóc, nuôi dưỡng bằng bàn tay đầy yêu thương của bà ngoại Lỗ thị Cuộc sống của chúng đã thật sự gắn chặt với bà, chúng là sức mạnh là động lực là lí do giúp bà kiên cường chiến đấu cho mục tiêu sinh tồn Vì vậy khi chúng mất đi, bà cũng đau đớn như mất đi phần máu thịt của mình: “Mẹ bốc một nắm đất nhét vào lỗ thủng, nhưng máu

và ruột cứ đẩy đất ra ngoài, mẹ bốc nắm nữa rồi nắm nữa nhét vào mà vẫn không bịt được, ruột thằng Câm em đùn ra đầy nứa sọt… mẹ buông xuôi hai tay đờ đẫn nhìn đống ruột rồi đột nhiên mẹ nôn ra mật xanh mật vàng, sau đó

mẹ òa khóc nức nở”

Người ta nói sữa là sức sống là máu của người phụ nữ Do vậy suốt đời, Lỗ thị đem nguồn sống quý giá ấy nuôi dưỡng một hoài bãi mang tên Kim Đồng Đặt trọn vẹn niềm hy vọng vào đứa con trai duy nhất trong chuỗi sinh nở dằn vặt của mình Lỗ thị đã cho Kim Đồng tất cả nguồn sống của mình thông qua nguồn sữa Nguồn sữa ấy chỉ dành riêng cho Kim Đồng thậm chí cả hai chị em sinh đôi Ngọc Nữ cũng không được chia Ở đây phần nào cho thấy sự di căn của căn bệnh chế độ phong kiến – sự trọng nam khinh nữ trong con người Lỗ thị của mình Đây là hạn chế của mình và những người phụ nữ khác ở Trung Quốc trong buổi giao thời: “Phong kiến – Dân chủ - Cộng sản” Bà cũng từng ép Lai Đệ bỏ Sa Nguyệt Lươn lấy Tôn Bất Ngôn làm cho Lại Đệ phải bỏ nà theo người yêu, và đây cũng là nguyên nhân dẫn đến kết thúc của Lai Đệ; Lỗ thị cũng từng cấm đoán Lãnh Đệ quan hệ với Hàn Chim khiến Lãnh Đệ trở nên điêm dại… chính hạn chế này khiến Lỗ thị

có một số hành động sai về lí nhưng nếu xét về tình thì ta có thể hoàn toàn cảm thông được Cuộc đời Lỗ thị đầy đau thương, vất vả, thăng trầm Một tay

bà nuôi nấng đàn con, đàn cháu nhưng cuối đời lại thui thủi một mình trong ngôi tháp canh bỏ hoang, cũ kĩ Đến khi chết, vẫn chưa được yên ổn Cuối

Trang 24

chuyện, Kim Đồng thức trong đêm đứng canh mộ mẹ, sợ “ông Chính phủ” bắt đào lên dù chôn tại bãi đất hoang…

1.2.3 Số phận bi kịch

Nguyên nhân lớn nhất gây nên những cơ cực, tủi nhục của Lỗ Toàn Nhi chính là phong tục nghiệt ngã phải có con trai để nối dõi tông đường của xã hội phong kiến “Chính cái xã hội đó đã làm thay đổi con người của Lỗ Toàn Nhi, từ một cô gái hiền lành, chịu đựng đến nhẫn nhục cô đã trở nên liều lĩnh Mang trong lòng sự thù hận, căm ghét xã hội cùng những tập tục phi lí và căm thù nhà Thượng Quan vô nhân đạo Lỗ Toàn Nhi từ đó luôn nuôi ý định trả thù và xem việc ăn nằm với những người đàn ông khác là cách trả thù tốt nhất” “Toàn Nhi này có đẻ thêm một ngàn đứa nữa, cũng không phải giống nhà Thượng Quan” Thượng Quan Lỗ thị dám đạp lên tất cả lễ giáo phong kiến cũng chỉ vì tập tục nghiệt ngã buộc phải có con trai Chuyện ăn nằm, thụ thai, sinh đẻ của Lỗ Toàn Nhi chính là sự thách thức đối với cả xã hội lúc bấy giờ Đồng thời Thượng Quan Lỗ thị cũng chính là thân phận của người phụ

nữ bị xã hội phong kiến khinh bỉ, coi rẻ phẩm chất, giá trị trong xã hội phong kiến Trung Quốc, vừa là nạn nhân những cũng chính là nhân chứng tố cạo sự cay nghiệt và tàn bạo của xã hội ấy Sức sống của bà mẹ vĩ đại dù có bị chà đạp bị tiêu diệt đến đâu thì nó vẫn trường tồn bằng một sức mạnh kì diệu, một niềm tin tuyệt đối vào cuộc sống

Lỗ thị là một nhân vật rất thực và cũng rất tượng trưng Đó không còn

là thân phận người phụ nữ nữa mà là thân phận của đất nước Trunh Hoa vĩ đại

và đau thương Chính Mạc Ngôn đã từng bộc bạch: “Trong truyện tôi đã miêu

tả nỗi gian nan của gia đình li tán do chiến tranh của gia đình Thượng Quan

Lỗ thị, đó cũng là điều từng trải chung của những người thuộc thế hệ mẹ tôi” [12, 127]

Trang 25

Những cô con gái nhà Thượng Quan là những cô gái khát khao tình yêu, hạnh phúc và họ quyết giành lấy cuộc sống tự do, hạnh phúc cho mình Những cô gái được sinh ra trong hoàn cảnh đất nước trong cơn “quặn đẻ” Họ

ra đời trong một gia đình mà ông bố bất lực, là kết quả của những lần đi “xin giống” của bà mẹ Lỗ Toàn Nhi, và cũng ra đời trong sự khao khát muốn có cháu trai để nối dõi tông đường của ông bà nội Vì vậy, sự gia đời của các cô gái là điều không mong muốn của gia đình Thượng Quan, đặc biệt là bà nội

Lã thị Những cô gái phải chứng kiến sự đau đớn của mẹ trước những hành hạ của bà nội và ông bố vũ phu Bản thân họ cũng bị những trận hành hạ độc ác chỉ vì là con gái Bà Lã véo đùi non Lai Đệ bằng chiếc kim thợ rèn đen sì:

“Lai Đệ lặn lộn dưới đất như con lợn bị chọc tiết – Mày kêu này! Mày gào này! Bà Lã quát tháo, hai tay cầm kim, kẹp từng nhát trên người Lai Đệ, chính xác và mạnh của con người lâu năm trong nghề rèn” Rồi chị Tám – Thượng Quan Ngọc Nữ thì bị bà nội ghì chặt: “Nhưng những ngón tay bà nội móc vào nahu như vuốt chim ưng không sao gỡ ra được Ngọc Nữ kêu thét như lợn bị chọc tiết, bà nội vẫn cắn chặt tai, nhai sồn sột như nhai miếng thịt dai ngoác”, “Mẹ gỡ từng ngón tay như vuốt diều hâu của bà, giải cứu cho Ngọc Nữ chỉ còn thở thoi thóp Vành tai chị chỉ còn là một đám bầy nhầy như lát khoai thối”

Sống trong hoàn cảnh gia đình như vậy, cùng với những biến động xã hội, lớn lên họ đều căm thù tập tục lạc hậu nên các cô gái nhà Thượng Quan

ai cũng cá tính mạnh mẽ, kiên cường, luôn khát khao theo đuổi ước mơ có được tình yêu, cuộc sống tự do, hạnh phúc… và họ sẵn sàng dấn thân vào dòng đời ấy Tất cả đều chịu sự ảnh hưởng của những biến động xã hội và mỗi người có một kết cục khác nhau

Người đầu tiên đi vào cuộc dấn thân vĩ đại ấy là chị cả Lai Đệ Năm mười tám tuổi cô cãi lời mẹ bỏ trốn theo Sa Nguyệt Lương Đó là hành động

Trang 26

phản kháng chống lại sự ngăn cản và ép lấy Tôn Câm của mẹ mình Lại Đệ chính là hình tượng của người phụ nữ Trung Hoa dám đứng lên chống lại tập tục lạc hậu để đi theo tiếng gọi của tình yêu Nhưng cuộc đời cô trải qua bao song gió, thăng trầm, đau khổ Ban đầu là vợ của du kích Sa Nguyệt Lương bất chấp sự ngăn cản của Lỗ thị: “Thượng Quan Lai Đệ mười tám tuổi, mặc chiếc áo lông từ điêu, cổ quàng khan lông chồn, đã bỏ đi cùng với đội trưởng

Sa Nguyệt Lương từ đêm” Thời thế thay đổi, Sa Nguyệt Lương từ du kích thành Hán gian, sa cơ lỡ vận rồi tự tử chết Lai Đệ trở nên điên dại, nửa tỉnh nửa mê, cố tự nhốt mình trong những kỷ niệm với người chồng quá cố Và trong cơn điên dại ấy cô đã có cuộc tình vụng trộm với em rể Tư Mã Khố khiến cô thức tỉnh Nhưng “cơn khô hạn” chưa dứt hẳn thì “người cứu tinh” –

Tư Mã Khố đã chết Và Lai Đệ chịu hi sinh dấn thân vào cuộc tình cô không mong đợi để giải thắt nút oan nghiệt giữa gia đình Thượng Quan và Tôn Bất Ngôn Lai Đệ gạt nước mắt chấp nhận lấy Tôn Bất Ngôn – một tên câm mang hình dáng như một con quái vật hung tợn đi qua chiến taraanh

Tôn Bất Ngôn hành hạ Lai Đệ về thân xác lẫn tinh thần Hắn ngấu nghiến thân thể cô như để trả thù cho lần thất hôn mười sáu năm về trước Tưởng chừng như những ngày còn lại của Lai Đệ chỉ sẽ mãi là những trận hành hạ, đày đọa của Tôn Bất Ngôn nhưng rồi cuộc tình kì lạ với Hàn Chim

đã giúp cô giải thoát Cuộc tình ấy là sự giải thoát cho một trái tim yêu tha thiết và cũng là sự trả thù của cô với Tôn Bất Ngôn, nhưng đó cũng là một mối tình vụng trộm, một mối tình loạn luân, là sự xuống cấp của tình cảm gia đình “Cuộc tình kỳ lạ giữa chị Cả và Hàn Chim như hoa cây thuốc phiện, rực

rỡ và cuồng nhiệt nhưng độc”, cuộc tình ấy đã hủy hoại ba người Khi bị Tôn Bất Ngôn phát hiện ngoại tình: “Trong cơn kinh hoàng, Lai Đệ vớ lấy chiếc ghế… Chị nên lên đầu hắn” Hành động bức bối, bồng bột ấy của Lai Đệ như

là một sự tự giải thoát mình khỏi những kìm nén, chịu đựng trong con người

Trang 27

chị Hành động ấy đồng thời kết thúc luôn mạng sống của đặc đẳng công thần Chí nguyện quân vừa cảm vừa què vừa tàn bạo – Tôn Bất Ngôn, kết thúc mạng sống của chị

Cái chết của Lai Đệ khép lại cuộc đời nhiều bi kịch, thăng trầm của chị

Nó kết thúc những ngang trái mà lai đệ phải gang trải trong cuộc đời Mạc Ngôn đã giúp người đọc nhìn ra được nguồn cơn của mọi chuyện: Những hành động của cô, những chuyện tình của cô những ngang trái của cô đều là

do xã hội gây ra Một xã hội đầy những lọc lừa, dối trá Một xã hội chuyển giao với nhiều góc khuất và bắt cập Một xã hội còn mang trong mình những tàn dư của phong kiến…Tất cả đã in hằn lên tấm thân của chị Cả nhà Thượng Quan khiến cho chị sống nửa đời trong những cơn điên dại và một nửa còn lại

là những chuỗi ngày vật vã đi tìm hành phúc trong tình yêu Lúc đó ta không

hề chê ghét mà chỉ thấy thương chị, thấy yêu Lai Đệ Thương một cô gái suốt đời sống trong ngang trái, đau khổ, yêu một tâm hồn luôn khát khao tình yêu chân chính và một trái tim sống nhiệt tình, sống hết mình trong tình yêu

Giống như Lai Đệ, hai cô em Chiêu Đệ và lãnh Đệ cũng đều yêu mãnh liệt những cũng chỉ là những người gặp ngang trái trong tình yêu và chịu một kết cục bi kịch Những cô gái nhà Thượng Quan, khi yêu họ yêu bằng trọn con tim Trong tình yêu, trái tim luôn có lí lẽ riêng của nó và trái tim Chiêu

Đệ cũng vậy, khi đã gặp được người làm chủ nó thì nó ngân lên những xúc động dạt dào và có những lí lẽ riêng của mình: “Con biết mẹ định nói anh ta

đã có ba vợ Con sẽ làm vợ thứ tư Con biết mẹ định nói anh ta nhiều tuổi hơn

mẹ Con với anh ta không cùng họ, càng không phải đồng tông, chảng phải cái gì hết!” Và với những lí lẽ ấy, Lỗ thị chỉ còn biết tự nhủ: “Mẹ không còn

đủ sức để ngăn chặn vì mẹ biết rằng bọn con gái nhà Thượng Quan một khi

đã có cảm tình với người đàn ông nào thì dù có tám ngựa thì cũng không kéo lại” Tình yêu Chiêu Đệ dành cho Tư Mã Khố - cậu hai nhà Phúc Sinh Đường

Trang 28

là thứ tình yêu toàn tâm toàn ý Điều đó được thể hiện qua tấm lòng sắt son của cô trong những ngày cùng Tư Mã Khố lên voi xuống chó, Chiêu Đệ là hình ảnh bổ sung cho những cô gái Trung Quốc trong thời kì mới: “Mẹ ơi! Con sống là người của người ta, chết là ma của người ta Mẹ cứu thằng nhỏ này, suốt đời con không quên ơn đức của mẹ! Chị hai vùng dậy bò ra ngoài

Mẹ níu chị lại – Mẹ ơi chân anh ý máu cứ chảy hoài Con không đến thì anh

ấy sẽ chết Anh ấy mà chết thì con sống còn ý nghĩa gì? Mẹ, mẹ cho con đi!” Qua Lai Đệ và Chiêu Đệ ta có thể thấy được phần nào cách nghĩ, cách làm và cách yêu của những cô con gái nhà Thượng Quan mà nói rộng ra là những cô gái của đất nước Trung Quốc

Những cô gái nhà Thượng Quan đều là những con người luôn khát khao yêu thương, ánh sáng của tình yêu vẫn rạng ngời trong những trái tim nhân hậu Cuộc đời họ đầy cay đắng, thiệt thòi nhưng họ rất giàu đức hi sinh Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra sự hi sinh và trái tim cao cả trong mảng sáng của gia đình Thượng Quan Đó là chị Tám Ngọc Nữ : “Trong nạn đói vì muốn

gỡ bớt một phần gánh nặng cho gia đình, chị đã ra sông tự tận hay một trái tim nhân hậu nữa ấy là Thượng Quan Tưởng Đệ Nạn đói năm 1941 không chỉ cướp đi những người láng giềng thân thiết của gia đình Thượng Quan, mà

nó còn cướp đi nhiều thứ khác, những thứ còn quan trọng hơn cả mạng sống –

đó là nhân cách của con người Nhiều người đã bán vợ đợ con chỉ để có cái

ăn, họ tranh giành nhưu những con vật chỉ để có được những mớ rau dại…Tuy nhiên, ngay trong lúc ấy, gia đình Thượng Quan lại được sưởi ấm bằng sự hi sinh xuất phát từ trái tim tràn đầy yêu thương của Tưởng Đệ Để cứu gia đình bảy sinh mạng sắp chết đói và để có tiền chữa bệnh cho mẹ, chị

Tư đã bán mình vào nhà thổ Tưởng Đệ - con người cao cả, giàu đức hi sinh cũng là một cuộc đời bi thương cho đến phút cuối Số phận chị tư Thượng Quan Tưởng Đệ giống như Kim Đồng đã nói chị Tư có một số tiểu sử cay

Trang 29

đắng, đầy nước mắt, suốt những năm lưu lạc ấy, chị đã nếm trải biết bao cay đắng tủi nhục…” Nhưng sau bao năm đau khổ trôi dạt giữa dòng đời, con người lạc lõng ấy tìm cách quay về lại chính cái xã hội chối bỏ, giẫm đạp, khoét sâu thêm nỗi đau Những người sắm ai là thành viên trong xã hội mở cuộc triển lãm giáo dục đấu tranh giai cấp, chúng “bắt chị Tư đến triển lãm làm hiện vật, bắt chị tự tố cáo chị” “Dân Cao Mật phát điên lên, người ta chen chúc nhau, ngắm chị như ngắm một động vật quý hiếm… Trên thực tế,

sự xuất hiện của chị Tư, khiến cuộc triển lãm giáo dục giai cấp ở Cao Mật hoàn toàn mất hết ý nghĩa Đàn ông đến xem con điếm Đám phụ nữ cũng đến xem con điếm” Cái nghề mà chị Tư đã làm “ngày nào cũng là cô dâu, đêm nào cũng động phòng hoa chúc” là sự sỉ nhục cho xã hôi, người ta nhắc đến chị như một dơ bẩn, nhưng họ quên mất rằng chính xã hội này đã sản sinh cái nghề ấy Hơn ai hết những con người như Tưởng Đệ lại chính là những nhân chứng lịch sử hùng hồn cho một giai đoạn đầy sai lầm

Những cô gái đáng được trân trọng, cảm thông Nhưng lại có những cô gái mang tư tưởng khác hẳn với họ, đó là mảng tối trong gia đình Thượng Quan Phán Đệ là thành viên cá biệt nhất trong gia đình Thượng Quan mang

tư tưởng ích kỉ, hám danh Giống chị Cả, chị Hai, chị Ba, chị Năm Phán Đệ cũng yêu, chị cũng yêu bằng một trái tim mãnh liệt, cũng khao khát về một cuốc sống hạnh phúc trọn vẹn nhưng con người, số phận của chi Năm khác hẳn Kết duyên cùng Lỗ Lập Nhân, một Đảng viên Công sản đảng Nhưng cặp vợ chồng Đảng viên này lại mang trong mình những tư tưởng ích kỉ, hẹp hòi và lạc hậu Cả cuộc đời của Phán Đệ là cuộc chạy đua theo danh vọng, tuy cũng có những lúc phán đệ hết sức bênh vực gia đình, cô từng nổi giận tung ngay quả lựu đạn vào Tôn Bất Ngôn, kẻ làm nhục em mình nhưng xét kĩ sự việc thì hành động ấy cũng chỉ xuất phát từ sự tức giận do uy quyền và danh

dự của cá nhân cô bị xúc phạm Đối với cô, danh vọng là tất cả Trên bước

Trang 30

đường tìm kiếm vinh quang của mình, Phán Đệ đã bán rẻ tất cả những giá trị thiêng liêng của một gia đình Trong con mắt của nũa Đảng viên Cộng sản đảng ấy, người dân và gia đình chỉ là nơi để cô thể hiện uy quyền của những người lãnh đạo ngay cả trong lúc thất thế “Chị Phán Đệ giương to mắt nhìn

mẹ nói: - Mẹ, đều là con gái của mẹ, mẹ nuôi hộ các chị ấy thì cũng phải nuôi

hộ con!” Trên miện của Phán Đệ luôn giương giương tự đắc với những lí lẽ chính trị sáo rỗng và sặc mùi cánh tả cực đoan: “Chính trị là tổng soái, là linh hồn, chính trị là mạng sống của tất cả mọi việc Khoa học tách khỏi chính trị thì không còn là khoa học, trong từ điển của giai cấp vô sản, không có khoa học siêu giai cấp Giai cấp vô sản có khoa học của giai cấp vô sản, giai cấp tư sản có khoa học của giai cấp tư sản! ” Và khi cần, người Đảng viên ấy sẵn sàng vứt bỏ gia đình, nguồn gốc thậm chí là danh dự, tình thương để bảo toàn lợi ích của mình Gia đình đối với cô trong những phút giây ấy chỉ như những chướng ngại trên con đường tiến thân của cô: “Mã Thụy Liên tóc ngắn rẽ ngôi lệch, không ra nam cũng chẳng ra nữ, dựng lên như bờm ngựa… Đồ khốn! Kim Đồng rủa thầm, tưởn ai, té ra là chị Phán Đệ Vì nhà Thượng Quan chúng tôi tiếng xấu đồn xa, nên chị ta thay tên đổi họ” Những quyền lực mà Phán Đệ có được chị đánh đổi bằng biết bao tội lỗi, có cả máu, cả những cái chết đau lòng của những người thân, vì quyền lực mà quyết tội tử hình hai đứa cháu ruột là Tư Mã Thượng và Tư Mã Hoàng…

Phán Đệ là hình ảnh của những người làm cách mạng nhưng xa rời quần chúng, chỉ khư khư với những triết lí chính trị rỗng tếch Hình ảnh Phán

Đệ là hình ảnh những người cực tả, làm chính trị một cách mù quáng, rập khuôn Là hình ảnh những người tranh giành quyền lực trong buổi đầu của cách mạng Sự xa rời với quần chúng nhân dân là căn bệnh của cách mạng Trung Quốc trong những ngày đầu còn non trẻ Trong lịch sử của văn hóa Trung Quốc, người đầu tiên phát hiện và cảnh báo cho người Cộng sản về căn

Ngày đăng: 01/04/2021, 08:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (1998), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
2. Trịnh Ân Ba, Trịnh Thu Lợi, Lê Hải Yến (2002), Văn học Trung Quốc, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Trung Quốc
Tác giả: Trịnh Ân Ba, Trịnh Thu Lợi, Lê Hải Yến
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2002
3. M.Bakhtin (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
4. Lê Nguyên Cẩn (2003), Cái kì ảo trong tác phẩm Banlzac, NXB Đại học sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái kì ảo trong tác phẩm Banlzac
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
Năm: 2003
5. Jean Chevalier, Alain Gheerbant (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, NXB, Đà Nẵng, Trường viết văn Nguyễn Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Jean Chevalier, Alain Gheerbant
Năm: 1997
6. Trần Xuân Đề (2002), Lịch sử văn học Trung Quốc, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Trung Quốc
Tác giả: Trần Xuân Đề
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
7. Hà Minh Đức chủ biên (2003), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
8. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
9. N. I. Konrat (1997), Phương Đông và phương Tây (Bản dịch của Trịnh Bá Đĩnh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương Đông và phương Tây
Tác giả: N. I. Konrat
Năm: 1997
10. Phương Lựu (1997), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
11. Mạc Ngôn (2007), Tứ thập nhất pháo, NXB Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tứ thập nhất pháo
Tác giả: Mạc Ngôn
Nhà XB: NXB Văn nghệ
Năm: 2007
12. Mạc Ngôn (2008), Người tình nói chuyện mộng du, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Người tình nói chuyện mộng du
Tác giả: Mạc Ngôn
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2008
13. Mạc Ngôn (2001), Báu vật của đời, NXB Văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh 14. Lâm Kiến Phát, Vương Nghiên (2004), Mạc Ngôn và những lời tự bạch, NXB Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báu vật của đời", NXB Văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh 14. Lâm Kiến Phát, Vương Nghiên (2004), "Mạc Ngôn và những lời tự bạch
Tác giả: Mạc Ngôn (2001), Báu vật của đời, NXB Văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh 14. Lâm Kiến Phát, Vương Nghiên
Nhà XB: NXB Văn nghệ
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w