Lịch sử vấn đề Nắm được lịch sử vấn đề nghiên cứu để tìm ra lối đi riêng là một việc làm quan trọng không thể thiếu khi thực hiện đề tài Hình tượng người phụ nữ trong thơ Vi Thùy Linh nh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Hà Nội, 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Người hướng dẫn khoa học
Hà Nội, 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sự tri ân sâu
sắc đến TS Nguyễn Thị Vân Anh, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc nhất tới các thầy cô trong khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong tổ
Lí luận văn học cùng với bạn bè và người thân đã tạo điều kiện để tôi có thể
hoàn thành khóa luận này
Để hoàn thành khóa luận này, chúng tôi cũng đã cố gắng tìm tòi và nghiên cứu Tuy nhiên, bài viết không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2019
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Hằng Nga
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của giảng viên,
TS.Nguyễn Thị Vân Anh Tôi xin cam đoan:
- Khóa luận là kết quả nghiên cứu, tìm hiểu của bản thân tôi
- Những kết quả từ những tác giả trước mà tôi sử dụng trong khóa luận đều được trích dẫn rõ ràng, cụ thể
- Không có bất kì sự không trung thực nào trong kết quả nghiên cứu Tôi xin chịu trách nhiệm trước lời cam đoan của mình!
Hà Nội, tháng 4 năm 2019
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Hằng Nga
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Mục đích nghiên cứu 9
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
6 Phương pháp nghiên cứu 10
7 Cấu trúc khóa luận 11
NỘI DUNG 12
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIỚI VÀ TIẾP CẬN VĂN HỌC TỪ GÓC NHÌN GIỚI 12
1.1 Khái niệm “giới” 12
1.2 Phân biệt “giới tính” (sex) và “phái tính” (gender) 13
1.3 Ý nghĩa của việc ứng dụng lý thuyết về giới vào nghiên cứu và giảng dạy văn học 14
1.4 Quan điểm về nữ giới trong văn học Việt Nam 15
1.5 Khái quát về tác giả Vi Thùy Linh 17
Chương 2 NGƯỜI PHỤ NỮ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ GIỚI TÍNH TỰ NHIÊN (SEX)……… 21
2.1 Vẻ đẹp hình thể 21
2.1.1 Quan niệm về hình thể người phụ nữ trong văn học Việt Nam 21
2.1.2 Vẻ đẹp hình thể người phụ nữ trong thơ Vi Thùy Linh 23
2 2 Thế giới tâm lí, tâm trạng 25
2.2.1 Say đắm, nồng nàn với tình yêu 26
2.2.2 Khao khát, ước mong về tình yêu, về hạnh phúc 27
Trang 62.2.3 Sự lãng mạn, thơ ngây trong cái nhìn về tình yêu, cuộc sống 29
2.2.4 Nỗi nhớ nhung gắn với cảm xúc yêu đương cháy bỏng 30
2.2.5 Những dự cảm, sợ hãi, lo lắng 32
2.2.6 Nỗi đớn đau khi tình yêu tan vỡ 33
2.3 Sự thăng hoa của xung năng tính dục 36
2.3.1 Khái niệm “tính dục” 36
2.3.2 “Tính dục” trong sáng tác văn chương 36
2.3.3 Vấn đề tính dục trong thơ Vi Thùy Linh 37
Chương 3 NGƯỜI PHỤ NỮ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA - XÃ HỘI (GENDER) 44
3.1 Vẻ đẹp tâm hồn, phẩm cách 44
3.1.1 Vẻ đẹp thiên tính nữ 44
3.1.2 Vẻ đẹp thiên tính mẫu 49
3.2.Chủ trương hạ bệ đàn ông 51
3.2.1 Tư tưởng hạ bệ đàn ông trong văn chương 51
3.2.2 Biểu hiện của tư tưởng hạ bệ đàn ông trong thơ Vi Thùy Linh 52
KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7và quan trọng như nhau trong đời sống nhưng có một thực tế là trong tương quan giữa người phụ nữ với người đàn ông trong lịch sử văn hóa và văn học không phải lúc nào cũng bình đẳng Trong lịch sử, có một thời kỳ lâu dài, xã hội phương Đông nói chung và xã hội Việt Nam nói riêng vận hành theo kiểu
xã hội nam quyền, người đàn ông đã chế ngự nữ giới và áp đặt các chuẩn mực của họ về cái đẹp, về hành vi, về đức hạnh cho người phụ nữ Trong văn học,
ở những thế kỷ đầu tiên của nền văn học viết Việt Nam, kiểu nhân vật độc chiếm là những người đàn ông, họ có thể là các thiền sư, các nho gia hay có thể là đạo sĩ Hoặc nếu có sự hiện diện của nhân vật người phụ nữ thì cũng ở đôi ba trường hợp, tuy nhiên họ thường bị nhìn qua lăng kính của tư tưởng nam quyền[17] Sang đến văn học hiện đại, trong không khí của cuộc cách mạng sục sôi và dưới ánh sáng của lý tưởng mới, hơn bao giờ hết hình ảnh người phụ nữ hiện lên với vẻ đẹp mới Vẻ đẹp của những con người đã được giải phóng hoàn toàn, thoát ra khỏi vòng cương tỏa của lễ giáo phong kiến, để hòa mình vào công cuộc chung của đất nước Sau cách mạng, cũng là hình ảnh người con gái làm nhân vật trung tâm, nhưng không còn là những cô gái chỉ biết đa sầu đa cảm mà đó là những người con gái của cuộc đời mới, gánh vác việc chung không kém sức trai Đặc biệt là sang đến thế kỉ XXI với thế hệ các nhà thơ 7X, 8X, hình tượng người phụ nữ trong văn học lại tiếp tục được xây dựng với những giá trị mới, những chuẩn mực thẩm mỹ mới Và đối với các nhà thơ, nhà văn trẻ lúc đó được xem là một cuộc chơi để chứng tỏ bản thân
2 Trước kia, khi làm thơ người ta hay bị gò bó vào những khuôn khổ của đường luật, hay lục bát luật, và cố dồn nén câu từ một cách hàm súc, cô đọng nhất, đa tầng ý nghĩa "ý tại ngôn ngoại” Nhưng với sự vận động không ngừng nghỉ, thơ ngày càng đa dạng hơn về diện mạo cũng như nội dung Đặc
Trang 82
biệt từ sau 1975, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã thúc đẩy tinh thần dân chủ và sự phát triển mạnh mẽ ý thức cá nhân trong văn học Thơ thời kì này thể hiện khát vọng đào sâu vào bản ngã, vào con người bên trong con người để rồi nhiều xu hướng thôi được nảy nở, được thể nghiệm mạnh bạo được ra mắt công chúng Quan niệm thơ có nhiều biến đổi và ý thức cách tân thơ ngày càng mạnh mẽ, thơ như trò chơi của ngôn từ Với "gương mặt" mới này, thơ Việt Nam sau 1975 ngày càng gần gũi hơn với xu hướng thơ thế giới đương đại[14]
3 Một thế hệ thơ trẻ xuất hiện từ sau năm 1975, nhất là từ đầu những năm 90, của thế kỉ XX đã mang đến nhiều tiếng nói mới, cách nhìn mới, xúc cảm mới trong thơ Ít chiu sự ràng buộc bởi quan niệm truyền thống, họ mạnh dạn và tự do hơn trong sự tìm tòi, thể nghiệm, với nhu cầu được bộc lộ hết mình của con người cá nhân Trong số họ, tuy chưa có những phong cách khẳng định được vị trí của mình trong lòng công chúng rộng rãi, nhưng đã có những tên tuổi gây được chú ý: Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Quốc Chánh, Đồng Đức Bốn và gần đây là Phan Thị Huyền Thư, Vi Thùy Linh Các nhà thơ dân tộc thiểu số cũng góp những tiếng thơ đặc sắc mang bản sắc dân tộc:
Y Phương, Lò Ngân Sún, [14]
4 Vi Thùy Linh là một cây bút trẻ thuộc thế hệ 7X, 8X chịu ảnh hưởng của nhiều luồng văn học trên thế giới nên thơ chị có những nét phá cách và có nhiều thể nghiệm mới mẻ Cùng với hành trình tìm cho mình phong cách thơ mới định hình, thơ của tác giả đang có những bứt phá mới Nữ thi sĩ họ Vi đã
trở thành "một hiện tượng của thơ ca Việt Nam hiện đại" (Nhà thơ Thanh
Thảo)[23] với sức sáng tạo khá sung mãn Đọc thơ Vi Thùy Linh, người đọc trở về với những gì chân thật nhất, đời thường nhất: đó là tình yêu trần thế, bản chất giới tính, sự tồn tại mang tính nhân văn và con người Bằng cá tính thơ của mình, đặc biệt từ góc nhìn giới cây bút trẻ này đã khắc họa hình tượng người phụ nữ vô cùng độc đáo, đa dạng, sáng tạo, mới mẻ Từ đó hình thành một phong cách thơ nữ với những đặc trưng hết sức riêng biệt về nội dung, nghệ thuật cũng như phong cách Nhờ đó, Vi Thùy Linh được coi là một trong những nhà thơ trẻ góp phần tạo ra diện mạo mới của thơ đương đại
Trang 92 Lịch sử vấn đề
Nắm được lịch sử vấn đề nghiên cứu để tìm ra lối đi riêng là một việc làm quan trọng không thể thiếu khi thực hiện đề tài Hình tượng người phụ nữ trong thơ Vi Thùy Linh nhìn từ quan điểm giới Thơ Vi Thùy Linh vốn nhận được đông đảo sự quan tâm từ phía độc giả cũng như các nhà phê bình, bởi vậy, nghiên cứu về thơ Vi Thùy Linh đã có một bề dày lịch sử Hơn thế, nhờ
sự tiến bộ xã hội, ý thức về giới, nhất là giới nữ ngày càng mạnh mẽ Thành thử trong văn học cũng đã có một số nghiên cứu về giới thông qua một số các tác phẩm Như thế, có thể thấy hai vấn đề trên mặc dù đều được nghiên cứu nhưng lại chưa có nghiên cứu nào kết hợp triển khai Nghiên cứu về thơ Vi Thùy Linh nhìn từ góc độ giới qua hình tượng người phụ nữ, do đó, thực sự là
ý tưởng, để nhằm mục đích duy nhất, tạo cho thơ tránh khỏi lối mòn, tránh khỏi khuôn khổ chật hẹp xưa nay Như thế, đồng nghĩa với việc họ đang có đủ
tự tin và bản lĩnh để trở thành người mở đường giải phóng cho cái tôi phụ nữ
Trang 104
nhỏ bé nhưng cũng đầy tự tin, cao ngạo của thơ nữ trẻ đương đại Việt Nam trong thời buổi hội nhập toàn cầu [14]
Năm 2006, đề tài khoa học “Sự thức tỉnh của người phụ nữ trong văn
học Nam Bộ đầu thế kỉ XX” của Lê Ngọc Phương - Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã lí giải sự ra đời của ý thức nữ giới nước ta theo bối cảnh lịch sử - xã hội cụ thể và phân tích những cây bút nữ nổi bật trong thời kì này cả về phương diện nội dung tư tưởng cũng như nghệ thuật thể hiện[20]
Năm 2007, luận văn Thạc sĩ của Cao Hạnh Thủy trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh với đề tài Hồ Xuân Hương -
tiếp cận quan điểm giới tính đã vận dụng lí thuyết về giới để nghiên cứu bà
chúa Hồ Xuân Hương từ cuộc đời đến thơ ca Đi theo hướng tiếp cận này, tác giả đã động chạm đến một số vấn đề liên quan đến nữ quyền[28]
Trong bài viết Ý thức nữ quyền và sự phát triển bước đầu của Văn học
nữ Nam Bộ trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc đầu thế kỉ XX, tác
giả Hồ Khánh Vân có đưa ra quan điểm của nhà phê bình văn học Phan Khôi
về vấn đề này: " Phụ nữ nên tham gia vào sáng tác văn học và có thể tạo nên
một nền văn học vững trãi, dày dặn, có giá trị cho giới của mình Từ sự tương đồng giữa phụ nữ và tính chất mỹ cảm của văn chương, ông cho rằng phụ nữ thích hợp với văn chương hơn so với nam giới khi dùng ngòi bút bộc lộ đời sống tình cảm bên trong con người, đặc biệt là khi hướng đến đối tượng là
chính bản thân họ"[30]
Nguyễn Thị Kiêm cũng là một nhà báo sắc sảo trên văn đàn đương thời.Trong bài diễn thuyết nhằm khẳng định vai tròcủa người phụ nữ đối với văn chương và tri thức của nhân loại, nữ sĩ đưa ra những dẫn chứng cụ thể khẳng định vai trò "nội tướng" nữ giới trong sự nghiệp văn học so với nam giới các nước, phong trà học thuật của các quốc gia tiên tiến: "( ) cái địa vị của đàn bà trong văn học cũng không phải là thấp thỏi gì theo như nhiều người đã tưởng và cái ảnh hưởng của đàn bà đối với bậc văn nhân tạo sĩ cũng rất là nặng nề, thảm thiết, nhờ đó mà văn học phát đạt vô cùng"[11]
Trang 115
Trong khi đó, Hoàng Thụy Anh lại đưa ra những nhận định khá sâu sắc:
"từ thế kỉ XIX đến thế kỉ XX, phương Tây đã rầm rộ với chủ nghĩa nữ quyền: đấu tranh lại mọi áp bức, thống trị của nam giới và của xã hội để thiết lập sự bình đẳng giới và "phục hồi" cái tôi của mình Ở Việt Nam, những năm đầu thế kỉ XX, vấn đề bình đẳng nam nữ cũng được bàn đến Trong đó, quan
trọng nhất, là sự ra đời của tờ báo Nữ giới chung (1918) do Sương Nguyệt ánh
làm chủ bút, tuy còn nhiều hạn chế, nhưng có thể nói lần đầu tiên, người phụ
nữ được cất lên tiếng nói trực tiếp của mình"[1]
Tuy nhiên, mãi đến khi công cuộc đổi mới và cải cách diễn ra toàn diện, chủ nghĩa nữ quyền mới bắt nhịp với văn học Việt Nam Và sau năm 1986, thời kì "âm thịnh dương suy" trong văn học thực sự bùng phát Năm 2006, trong bài viết tham dự Hội thảo Quốc Tế về văn học tại viện Văn học có nhan
đề Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học nữ quyền trong văn
học Việt Nam đương đại, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp đã giới thiệu
khái quát về vấn đề phái tính trong văn học ở từng giai đoạn và đưa ra những bình luận ban đầu về vấn đề tính nữ trong văn học Việt Nam: "Sự xuất hiện
và mở rộng âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại, theo ý tôi,xuất phát từ ba nguyên nhân cơ bản: Thứ nhất, sự thay đổi tư duy và sự
mở rộng của tinh thần dân chủ xã hội khiến cho nữ giới có điều kiện tự do cất cao tiếng nói của mình với tư cách là chủ thể độc lập; Thứ hai, bản thân nữ giới đã có những thay đổi lớn vềnhận thức, học vấn, điều kiện tự chủ kinh tế, khả năng am hiểu luật pháp, ; Thứ ba, cấu trúc sinh học cũng như sự nhạy cảm và mối quan tâm của nữ giới có nhiều điểm gặp gỡ với nhịp sống thời hiện đại"[7] Tác giả đã chỉ ra những khoảng trống trong phê bình nữ quyền ở Việt Nam hiện nay: "Vấn đề phái tính và văn học nữ quyền ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa được giới học thuật nước ta quan tâm nhiều mặc dù trong ý thức, chúng ta đều hiểu đây là một vấn đề quan trọng của đời sống hiện đại ( ) Trong quá trình khẳng định bản ngã của nữ giới, nhà văn có thể miêu tả những khoái cảm tình dục nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc coi giải phóng tình dục là con đường duy nhất để giải phóng cá nhân Cần phải nhìn tình dục vừa như một hoạt động bản năng vừa có ý nghĩa văn hóa Bởi thế
Trang 126
trong văn học, sex phải hiện lên như một yếu tố văn hóa và nhà văn có thể thông qua sex để biểu đạt những vấn đề nhân sinh một cách có nghệ thuật"[7]
Năm 2008, Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn của Bùi Thị Thủy -
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội với đề tài: "Dấu hiệu ý thức nữ quyền trong
văn nữ Việt Nam đương đại” đã cung cấp một số khái niệm công cụ về "nữ
quyền", ảnh hưởng của nó trong văn học cũng như những biểu hiện, nghệ thuật thể hiện của "nữ quyền" trong sáng tác của các tác giả nữ đương đại[27]
Những nhận định, nghiên cứu về hình tượng người phụ nhìn từ quan điểm giới trong văn học nữ trước và sau 1975 tuy có nhưng vẫn còn lẻ tẻ, nhiều mặt còn chưa đi đến tận cùng và vẫn thiên về yếu tố lí luận phê bình là nhiều còn được thể hiện rõ ràng ra sao thì chưa được xem là tâm điểm của nghiên cứu và đánh giá
2.2 Những nghiên cứu về thơ Vi Thùy Linh
Vi Thùy Linh sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, cô tốt nghiệp Phân viện Báo chí và tuyên truyền Hiện nay cô đang là nhà báo nhưng đồng thời cũng là
một nhà thơ Linh xuất bản hai tập thơ Khát và Linh ngay từ khi còn ngồi trên giảng đường đại học Đây được xem như là sự khởi đầu cho sự nghiệp sáng
tác nghệ thuật của Vi Thùy Linh Là một nhà thơ trẻ, nhưng Vi Thùy Linh đã sớm được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam (2007) Cô là tác giả trẻ nhất
trong Tuyển tập Thơ nữ từ xưa đến nay (Nxb Phụ nữ, được in song ngữ Việt -
Anh) Chị cũng là một trong những tác giả đạt giải "Bông hồng vàng" của Đài truyền hình kĩ thuật số VTC do khán giả bình chọn (2006) cùng với Kỉ niệm chương của Hội liên hiệp phụ nữ Hà Nội (7.03.2008) Vi Thùy Linh là tác giả trẻ Việt Nam dự liên hoan thơ Quốc tế tại cộng hòa Pháp (11.2003) Với hơn
10 năm sáng tác, có thể thấy Vi Thùy linh đã đạt được những thành quả đáng ghi nhận
Thơ Vi Thùy Linh đã trải qua một hành trình khá dài từ Khát (1990),
Linh (2000), đến Đồng tử (2005), và tập thơ thứ tư với cái tên rất ấn tượng, Vili in love (2008) Tình yêu đối với thơ luôn được chị đặt song hành trong
cuộc đời cũng như sự nghiệp Được khơi nguồn từ cảm xúc nồng nhiệt, đắm say đối với cuộc đời, bằng một lối thơ cuộn cháy, Vi Thùy Linh đã dâng cho
Trang 137
đời những vần thơ mang vẻ đẹp bản năng, đầy sức hấp dẫn và độc đáo Trên con đường nghệ thuật đầy khổ ải ấy, chị luôn nỗ lực tự làm mới cho thơ ca, tự hoàn thiện mình qua những vần thơ nóng bỏng, thiết tha Sự sáng tạo nghệ thuật đó của chị nhận được nhiều sự ủng hộ của bạn đọc yêu thơ chị và một số nhà nghiên cứu nhà thơ của thế hệ đi trước như: Thanh Thảo, Thụy Khuê, Đây là những người tích cực ủng hộ, cổ vũ cho giọng thơ này Họ đều thấy ở thơ Vi Thùy Linh những trăn trở, những khát vọng được yêu, được thành thực và nỗ lực phá bỏ mọi thói quen, mọi quan niệm cũ mòn, cứng nhắc [14]
Xuất hiện trên thi đàn, ngay từ tập thơ đầu tiên, Vi Thùy Linh đã tạo nên sự chú ý bởi những ấn tượng khác biệt của mình Có rất nhiều ý kiến,
khen mà chê cũng không ít Vi Thùy Linh trở thành "một hiện tượng của thơ
ca Việt Nam hiện đại" (Nhà thơ Thanh Thảo)
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã thấy một "Hiện tượng Vi Thùy Linh" (in trong báo Sinh viên Việt Nam , 9, 2003, rút trong tập Phê bình, tiểu luận
Giăng lưới bắt chim, Nxb Hội nhà văn, 2005 - Giải thưởng Phê bình Hội nhà
văn Hà Nội 2006) "Nhiều người nói với tôi rằng Vi Thùy Linh là hiện tượng sex trong thơ Tôi không thấy thế Tôi thấy ViThùy Linh là một biểu tượng trong trắng đấy chứ Vi Thùy Linh là một hiện tượng trong thơ Việt Nam Một tiếng thơ lạ"[25]
Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên khi đọc tập "Đồng tử" thấy
Linh là "Người "tận lực tham ô tuổi trẻ" để sống thơ" (Tạp chí văn học số 9, 2005) "Vẫn một niềm khát khao của Linh như ngày nào, khao khát vừa ngây thơ, vừa đau đớn mà hạnh phúc Tôi (và ta) gặp lại ở đây những khát vọng cháy bỏng và thăng hoa trong thơ Linh về tình yêu "Chân lý" bị khước từ ở đây là những con mắt đạo đức giả, những rao giảng tới điều nhàm chán cũ rích, những sự bất lực, những chân lí lỗi thời Mặc tất! - vì tình yêu mạnh hơn
và sinh tạo ra những chân lí đẹp nhất, đó là phát minh vĩ đại nhất của mọi thời đại Thế là đủ cho Linh hát ca và hoan lạc Một niềm hoan lạc sống đời thơ"[18]
Trang 148
Còn Nguyễn Việt Chiến khi đọc tập thơ này đã viết bài "Thơ Vi Thùy Linh cơn cuồng mê từ những mê - lộ - chữ" và nhận thấy "Vi Thùy Linh có một đời sống nồng cháy đam mê và nhiều nỗi đau mờ, nhiều nỗi đau Trong những bài thơ định mệnh của mình Vi Thùy Linh như một người dệt tầm gai nhẫn nại đan dệt những cảm xúc của mình với nỗi đau vô hình trong tay ngôn ngữ luôn bị trầy xước, rớm máu bởi những nỗi đau vô hình trong thi ca và hữu hình trong tình yêu, đời sống
Tác giả Dương Tường tỏ ra bênh vực Vi Thùy Linh trước dư luận, đồng thời khẳng định thơ cô nêu cao biểu tượng cho khát vọng được thay đổi, vượt thoát ra ngoài khuôn khổ cũ: "Vi Thùy Linh là một cơn lốc - lốc ý tưởng
- lốc chữ (chứa chất nó), lốc tình (đôi khi là khoái cảm) Cơn lốc không kiềm chế đó đương nhiên gây sốc, khiến nhiều người ngộ nhận những cố gắng trong thơ cô và lầm lẫn cho sự bất chấp những ước lệ và kiêng kị và phạm húy Với tôi, Vi Thùy Linh là một biểu tượng giải phóng phụ nữ trong thơ"[29]
Gần nhất trong việc nghiên cứu hình tượng người nữ từ quan điểm giới
trong thơ Vi Thùy Linh là đề tài Khát vọng nữ quyền trong thơ Vi Thùy Linh
Khóa luận tốt nghiệp (2009) của Nguyễn Mỹ Linh, Trường Đại học Hùng Vương Hay trong Khóa luận tốt nghiệp (2016) của Lê Thị Kim Oanh,
Trường Đại học Sư phạm Hà nội 2, có nghiên cứu về Hình tượng tác giả nữ
trong thơ Vi Thùy Linh Tuy nhiên, hai đề tài trên chưa thực sự đi sâu vào lý
thuyết giới để nghiên cứu và phân tích mà chỉ mới động chạm đến khái niệm
nữ quyền
Có thể thấy rằng "hiện tượng" Vi Thùy Linh đã gây được nhiều sự chú
ý với những thiện cảm, xét cả ở góc độ độc giả lẫn các nhà phê bình có kinh nghiệm Tuy nhiên các bài viết mới chỉ gợi hoặc nêu ra được một phương diện nào đó về tính nữ trong thơ chị qua hình tượng người phụ nữ chứ chưa
có công trình nào tập trung nghiên cứu về vấn đề hay đề tài này Đây là những gợi dẫn quý báu để chúng tôi thực hiện đề tài này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 159
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khóa luận được chúng tôi xác định ở đây là các biểu hiện cụ thể của hình tượng người phụ nữ từ góc nhìn giới trong thơ Vi Thùy Linh
3.2 Phạm vi khảo sát của khóa luận
Thực hiện đề tài, chúng tôi tập trung khảo sát một số tập thơ tiêu biểu
của Vi Thùy Linh: Khát (Nxb Hội nhà văn, 1999), Linh (Nxb Thanh niên,
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài như: khái niệm giới; biểu hiện của tư tưởng nữ quyền, quan điểm văn hóa về nữ giới ở Việt Nam thời hiện đại và hậu hiện đại; thân thế và thời đại nhà thơ Vi Thùy Linh
- Phân loại, phân tích, cắt nghĩa các biểu hiện về giới (giới nữ) thông qua hình tượng người phụ nữ trong thơ Vi Thùy Linh.Tìm hiểu sự chi phối của quan điểm giới của thời đại đến nghệ thuật xây dựng các kiểu hình tượng người phụ nữ qua ngoại hình, ngôn ngữ, tâm lý, cách ứng xử hành động, số phận của họ và cách bình giá của người trần thuật, của tác giả lời bình về họ
- So sánh biểu hiện và tư tưởng nữ quyền qua tiến trình lịch sử và văn hóa được thể hiện qua sáng tác văn chương để thấy điểm sáng tạo, mới mẻ và tiến bộ của tác giả
Trang 1610
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính là: Phương pháp tiếp cận văn hóa học, Phương pháp thống kê, Phương pháp hệ thống và Phương pháp so sánh
-Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Chúng tôi vận dụng phương pháp tiếp cận văn hoá học để giải mã hình tượng người phụ nữ, tìm ra nền tảng văn hóa lịch sử của chúng Bởi nếu như trước kia xã hội Việt Nam là một xã hội nam quyền nhìn từ quan điểm giới Thì đến nay, người phụ nữ được nhìn nhận và đánh giá trên một phông nền hoàn toàn mới mẻ, tiến bộ và văn minh
Họ được trân trọng và được tự chủ thể hiện cá tính, tài năng và đóng vai trò nhất định trong xã hội Do đó, quan điểm về giới nữ so với những thời kì trước có nhiều sự thay đổi Không những thế, với sự thay đổi của môi trường, hoàn cảnh, lịch sử thế hệ các nhà thơ thuộc thế hệ 7X, 8X không bị câu thúc, trì níu bởi quá khứ lịch sử như thế hệ trước Vì vậy học sẵn sàng vung bút, dấn thân, mạnh dạn thể hiện cái tôi cá nhân chủ quan Phần lớn họ chọn những đề tài về cuộc sống riêng tư, gắn với trải nghiệm cá nhân như tình yêu, tình dục, thể hiện thông qua các hình tượng nghệ thuật của mình, nhất là hình tượng người phụ nữ, với quan điểm về giới tiến bộ
- Phương pháp thống kê: Ở đề tài này chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê để khảo sát, thống kê hình tượng nhân vật người phụ nữ trong thơ Vi Thùy Linh, từ đó phân loại hình tượng nhân vật, tìm hiểu vẻ đẹp, tâm trạng, ước mơ, hoài bão của nhân vật trữ tình nữ cũng như nghệ thuật xây dựng hình tượng người phụ nữ trong các tác phẩm thơ của Vi Thùy Linh Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống kê để xử lí thông tin trong các tư liệu được sử dụng để chứng minh các luận điểm đã đưa ra
- Phương pháp hệ thống: Là một trong những yếu tố cấu thành chỉnh thể tác phẩm, nhân vật người phụ nữ được xem xét trong mối tương quan với toàn bộ hệ thống nhân vật, với mạch cảm xúc, giọng điệu, kết cấu Chúng tôi
sử dụng phương pháp hệ thốngnày nhằm mục đích tìm hiểu, phân tích đối tượng, biểu hiện của tư tưởng về giới một cách sâu sắc và đầy đủ hơn
Trang 1711
- Phương pháp so sánh: Để thấy được các mối liên hệ đa dạng, đa chiều, cũng như nét chung, nét riêng độc đáo của nhân vật nữ trong thơ Vi Thùy Linh, bài luận sử dụng phương pháp so sánh Chúng tôi dự kiến so sánh hình tượng nhân vật nữ trong thơ Vi Thùy Linh với hình tượng người phụ nữ trong thơ trung đại và trong thơ kháng chiến để thấy được điểm khác biệt và tiến bộ
về hình tượng người phụ nữ từ quan điểm giới của từng thời kì, giai đoạn để làm nổi bật đối tượng nghiên cứu
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm ba chương:
Chương 1.Những vấn đề chung về giới và tiếp cận văn họctừ góc nhìn giới Chương 2 Người phụ nữ nhìn từ góc độ giới tính tự nhiên (sex)
Chương 3 Người phụ nữ nhìn từ góc độ văn hóa – xã hội (gender)
Trang 1812
NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIỚI VÀ TIẾP CẬN VĂN HỌC
TỪ GÓC NHÌN GIỚI
1.1 Khái niệm “giới”
Giới là một thuật ngữ khoa học được sử dụng trong nhiều lĩnh vực Do
đó, mỗi lĩnh vực đưa ra những cách diễn giải khác nhau về thuật ngữ này Tuy nhiên, ở đây, chúng tôi không đi phân tích từng định nghĩa mà trên cơ sở nêu lên chỉ đưa ra một quan niệm tiêu biểu nhằm làm chỗ dựa trong qúa trình nghiên cứu
M.L Andersen – một giáo sư xã hội học định nghĩa về giới như sau:
“Giới liên quan tới việc học hỏi các hành vi xã hội và những trông đợi được tạo nên với hai giới tính Trong khi con trai và con gái là những yếu tố sinh học thì việc trở thành một phụ nữ hay nam giới là một quá trình văn hóa”[26]
Nếu như định nghĩa của M.L Andersen nhấn mạnh giới như một cấu trúc văn hóa – xã hội thì định nghĩa sau đây lại chú đến mối quan hệ giữa phụ
nữ và nam giới “Giới là sự khác biệt giữa nữ giới và nam giới trong cùng hộ gia đình, trong và giữa các nền văn hóa, là cấu trúc xã hội – văn hóa có thể biến đổi theo thời gian Những khác biệt này được phản ánh trong các vai trò, trách nhiệm, khả năng tiếp cận các nguồn lực, những sức ép, những ưu tiên, các nhu cầu, nhân thức và quan điểm,… được thấy trong cả hai giới Do vậy, giới không đồng nhất với phụ nữ mà được xem là cả nữ giới và nam giới cùng những mối quan hệ tương tác của họ”[26]
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam định nghĩa: “Giới là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm về giới khác nhau Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được”[10]
Như vậy, một số định nghĩa trên đây về giới đã cho ta hình dung những cách tiếp cận đa dạng về thuật ngữ này Tuy nhiên, chúng tôi nhất trí với quan
Trang 1913
điểm cho rằng: “Khái niệm giới không chỉ đề cập tới nam và nữ mà cả mối quan hệ giữa nam và nữ Trong mối quan hệ ấy có sự phân biệt về vai trò, trách mỗi giới Những quy định mong đợi xã hội này phù hợp với các đặc nhiệm, hành vi hoặc sự mong đợi mà xã hội đã quy định cho điểm văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội và tôn giáo; vì thế mà nó luôn biến đổi theo các giai đoạn lịch sử và có sự khác biệt giữa các cộng đồng, xã hội”[26]
Giới do vậy là một thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những đòi hỏi, yêu cầu đối với nam và nữ Nó là sản phẩm của xã hội - văn hóa
1.2 Phân biệt “giới tính” (sex) và “phái tính” (gender)
Thực tế cho thấy, thuật ngữ phái tính (gender) thường bị dùng lẫn lộn với thuật ngữ giới tính (sex) Thực chất dây là hai phạm trù mang tính tương
hỗ nhưng không đồng nhất Nếu giới tính (sex) chỉ nhấn mạnh đến đặc tính nam/nữ về mặt sinh học, thì phái tính (gender) nhấn mạnh đến sự phân biệt nam/nữ trên cả phương diện xã hội Sự khác biệt này được Robert Stoller chỉ rõ: “Trong khi giống gắn liền với đặc điểm sinh lí, giới là yếu tố do văn hoá quy định, gồm toàn bộ những phản hồi được điều kiện hóa đối với cái nhìn của xã hội về tính cách của nam và nữ”[22]
Như vậy, khái niệm giới mà chúng tôi sử dụng không đơn thuần chỉ phương diện giới tính và giải thích người đàn ông và phụ nữ ở khía cạnh sinh
lí mà còn quan tâm đến cả phương diện văn hóa - xã hội của họ như trong mối
quan hệ gia đình, quan hệ nam nữ
- Giới tính là khái niệm thường được sử dụng nhằm phân biệt nam giới
và nữ giới về mặt sinh học thông qua những yếu tố như hooc môn, nhiễm sắc thể, buồng trứng, âm vật, dương vật… Khác với phái tính, giới tính là những đặc điểm sinh học bẩm sinh, mang tính phổ quát và không thay đổi ở cả hai giới [2] (trừ trường hợp có sự can thiệp của y học) Ví dụ nam giới có thể làm thụ thai, phụ nữ có thể sinh con và cho con bú
- Khác với giới tính, phái tính (gender) là khái niệm dùng để phân biệt người nam và nữ dựa trên các đặc điểm về văn hóa - xã hội Theo đó, mỗi xã hội sẽ tùy thuộc vào những tập tục văn hóa và những quy tắc ứng xử riêng của
Trang 2014
nền văn hóa ấy mà hình thành nên những quan điểm mang tính đặc thù về nam tính và nữ tính Như thế, phái tính là sản phậm được kiến tạo trên nền tảng của văn hóa - xã hội Nó không dĩ thành bất biến mà có thể biến đổi theo
sự vận động của nền văn hóa - xã hội[2] Nói khác đi, mỗi không gian văn hóa - xã hội, ở vào những thời điểm lịch sử cụ thể quy định những quan niệm khác nhau về phạm trù phái tính Ví dụ: phụ nữ làm nội trợ, thêu thùa, chăm sóc con cái, nam giới xây dựng nhà cửa, làm kinh tế, chính trị,… Những hành
vi này không phải là hành vi hay kỹ năng bẩm sinh mà do họ được xã hội, gia đình, cộng đồng dạy dỗ để làm việc đó vì xã hội cho rằng như vậy là phù hợp với thiên chức phụ nữ hoặc nam giới
1.3 Ý nghĩa của việc ứng dụng lý thuyết về giới vào nghiên cứu và giảng dạy văn học
Giới tuy không phải là xu hướng nghiên cứu mới mẻ trong lịch sử nhân loại học mà đã được nói đến từ thời cổ đại cả ở phương Đông và phương
Tây Paul Rakita Goldin, tác giả cuốn Văn hóa giới ở Trung Hoa thời cổ đại
khẳng định: “Các học giả Trung Hoa cổ đại đã bàn luận tới giới tính công khai và nghiêm túc như một trong những đề tài quan trọng nhất của sự nghiên cứu con người”[21] Quả thực cho đến nay, khoa học về giới đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực: Người ta nghiên cứu giới theo quan điểm sinh lý, chỉ ra sự khác biệt về cấu tạo cơ thể, về sức khỏe, về tình dục giữa nam và nữ để ứng dụng vào y học, sinh học,…Người ta cũng có thể nghiên cứu giới theo quan điểm xã hội để ứng dụng trong phân công lao động xã hội giữa nam và nữ, giải quyết vấn đề ngành nghề cho nam và nữ, so sánh và cân đối thu nhập giữa nam và nữ,…Giới cũng có thể được nghiên cứu trong tâm
lý học để chỉ ra được đặc trưng dị biệt trong tâm lí giữa phái nam và phái nữ…Giới cũng có thể được nghiên cứu theo quan điểm văn hóa để chỉ ra cái nhìn về giới cả nam và nữ đối với nhau, chỉ ra địa vị gia đình và xã hội của nam và nữ giới v.v…[17]
Trong nghiên cứu văn học, người ta có thể vận dụng phương pháp nghiên cứu giới tính nhân vật văn học để tìm hiểu các hình tượng nam/nữ Chẳng hạn, nghiên cứu nhân vật phụ nữ như nàng Kiều trong Truyện Kiều từ quan điểm giới, người ta có thể thấy quan niệm trinh tiết nghiệt ngã của Nho
Trang 2115
giáo đã trói buộc nàng Kiều, khiến nàng mang mặc cảm tội lỗi vì mình không còn trong trắng và từ chối sống tình với Kim Trọng sau mười năm ly biệt, chờ đợi Qua đó, hiểu được một cách toàn diện những nguyên nhân dẫn đến bất hạnh của Kiều, từ nguyên nhân xã hội đến nguyên nhân thuộc về quan niệm giới Hay nghiên cứu Truyền kì mạn lục từ quan điểm giới giúp ta hiểu được những chi phối từ quan điểm phong kiến đến người phụ nữ thông qua hai hình tượng là Người phụ nữ chính diện lí tưởng và người phụ nữ phản diện Nói cách khác, vấn đề giới giúp cho việc nhận thức nhân vật toàn diện hơn Nếu như trước đây, các nhân vật nam/nữ thường chỉ được nhìn theo quan niệm giai cấp hay theo quan điểm đạo đức, thì với điểm nhìn giới, chúng ta hiểu thêm được nhân vật từ một phương diện khác
1.4 Quan điểm về nữ giới trong văn học Việt Nam
Mặc dù nghiên cứu từ góc độ giới, và cụ thể ở đây là giới nữ, thế nhưng sắc thái nữ có phần khác nhau giữa hai thế hệ trước và sau năm 1975 Chính điều ấy đã làm nên đặc trưng cho màu sắc của từng giai đoạn và cho thấy sự tiến trình phát triển mạnh mẽ, văn minh của tinh thần nữ quyền
1.4.1 Quan điểm về nữ giới trong văn học Việt Nam trước năm 1975
Có thể nói đặc điểm chung của các tác giả trước năm 1975 đều là trải qua nỗi đau chiến tranh Họ vừa là nạn nhân, đồng thời cũng là những người chứng kiến nỗi đau của dân tộc Từng sự kiện trong cuộc đời họ dường như gắn liền với những biến cố, sự kiện của đất nước Bởi thế, những ảnh hưởng bởi quan niệm, điều kiện lịch sử, thời đại tới tâm thế sáng tác của từng tác giả
là vô cùng sâu sắc
Trước hết, họ chịu sự ràng buộc, chi phối bởi văn hóa nam quyền (trọng nam khinh nữ) và văn hóa Nho giáo (tam tòng, tứ đức) vốn đã tồn tại hàng nghìn năm nay Rào cản ấy đã khiến các nhân vật nữ trong các tác phẩm văn học bị trói buộc bởi biết bao định kiến; cho dù cố thoát ra thì thế giới khiến các nhân vật nữ có thể được an yên lại là một thế giới khác được đánh đổi bằng mạng sống Các nhân vật nữ của các tác giả hầu như sống nhưng lại bơi trong sự mâu thuẫn của hai ranh giới: bản thể cái tôi cá nhân với khát
Trang 221.4.2 Quan điểm về nữ giới trong văn học Việt Nam sau năm 1975
Ở Việt Nam, các nhà văn, nhà thơ nữ, đặc biệt là thế hệ sau 1975, cũng
là những người đưa ý thức giới từ đời sống vào văn học, và ngược lại, bằng văn học, nâng cao những nhận thức về giới Các nhận thức về việc phụ nữ phải được xem là một nửa dân số, phụ nữ được quyền tham gia và quyết định
ở mọi phương diện đời sống, phụ nữ phải được bảo vệ và bồi dưỡng, đào tạo, phụ nữ phải được tự do trong khẳng định bản ngã, tự do trong tình dục, đã được nhiều nhà văn nữ công khai lên tiếng, giúp cho cả hai giới nam và nữ nhận biết sự khác biệt giới tính cũng như những đòi hỏi bức thiết về bình đẳng giới Và cũng nhờ có họ, xã hội Việt Nam đã có những cách nhìn khác hơn về phụ nữ so với trước Phụ nữ trong trang viết của các nhà văn, nhà thơ
nữ, phụ nữ của đất nước Việt Nam thời hậu chiến, thời đổi mới, đã ý thức hơn
về bản thân, về giới tính của chính mình Và từ những thức tỉnh giới tính ấy, trong nhiều tác phẩm, tiếng nói nữ giới (tiếng nói của nhà văn nữ, của nhân vật nữ, của tự thân những câu chuyện về phụ nữ ) đã trở thành những diễn ngôn mang đậm tinh thần nữ quyền
Cũng ở giai đoạn này, chưa bao giờ trong văn học Việt Nam lại xuất hiện nhiều đến thế những tác phẩm văn học mang đậm ý thức giới tính Nhiều
tác phẩm đã công khai “danh tính” của giới nữ ngay từ nhan đề: Hành trang
của người đàn bà Âu Lạc (Võ Thị Hảo), Người đàn bà ám khói (Nguyễn Thị
Thu Huệ), Người đàn bà bí ẩn (Phạm Thị Ngọc Liên), Người đàn bà bơi trên
sóng (Bích Ngân), Người đàn bà kể chuyện, Tiểu thuyết đàn bà, Ba người đàn
bà (Lý Lan), Đàn bà xấu thì không có quà, I am đàn bà, Người đàn bà có ma
lực (Y Ban), … Nhiều tiêu đề tác phẩm chứa đựng những kí hiệu “ám chỉ” về
Trang 2317
chuyện của giới nữ: Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Nàng tiên xanh xao, Hồn trinh nữ,
Góa phụ đen (Võ Thị Hảo), Thiếu phụ chưa chồng (Nguyễn Thị Thu Huệ), Chuyện của con gái người hát rong (Võ Thị Xuân Hà), Gái một con (Trần
Thanh Hà, Sự đa dạng về phong cách, thể loại, những người đàn bà viết thế
hệ sau 1975 đã đi từ những diễn ngôn cá nhân đến những diễn ngôn của giới, biến những ý thức về giới trong xã hội thành những “tuyên bố” của giới nữ thông qua những câu chuyện trải nghiệm giới tính trong văn chương[6]
Những năm đầu sau 1986, bối cảnh xã hội những năm tháng vừa mới ra khỏi chiến tranh, vừa làm quen với thời đổi mới khiến ý thức nữ quyền trong nhiều tác phẩm dù đã lên tiếng, song vẫn chưa được đẩy lên đến mức bạo liệt Phải đến đầu thế kỉ XXI, vượt lên định kiến, văn chương thế hệ các nhà văn
nữ sau 1975 không chỉ là diễn ngôn của giới mà trở thành những diễn ngôn mang ý thức nữ quyền - hiện sinh Trong dàn gương mặt tác giả nữ xuất sắc dành nhiều tâm tư cho nữ quyền phải kể đến Vi Thùy Linh
1.5 Khái quát về tác giả Vi Thùy Linh
1.5.1 Tác giả Vi Thùy Linh
Vi Thùy Linh sinh ngày 4/4/1980 tại Hà Nội, là một nhà thơ nữ trẻ của Việt Nam Là thế hệ nhà thơ trẻ nhưng có thể nói Vi Thùy Linh đã nhanh chóng trở thành một "hiện tượng" trong nền thi ca Việt Nam đương đại Chị là nhà thơ Việt Nam đầu tiên được mời thực hiện một đêm thơ riêng tại Paris mang tên "Tình tự Hà Nội", cũng là nhà thơ đầu tiên thực hiện tour diễn Pháp
Trang 24báo giới, hay mố i quan tâm của giới ho ̣c thuâ ̣t, mà cái chính ấy là những chân giá tri ̣ của tác phẩm[3] Tất nhiên để cảm nhâ ̣n đươ ̣c và bình được thi phẩm
củ a ViLi nữ sĩ cũng không phải dễ và không phải ai cũng có thể “giải mã” đươ ̣c Vi Thùy Linh trong những lần trả lời phỏng vấn các báo cũng từng bày
tỏ đa ̣i ý: ba ̣n đo ̣c của cô là cho ̣n lo ̣c[12] Điều đó cũng có nghĩa sáng tác của
cô không dành cho số đông mà dành cho những người có vốn kiến thức nhất
đi ̣nh Điều này cũng lý giải vì sao, mỗi khi tác phẩm ra đời dù có nhiều luồng
dư luâ ̣n khác nhau Linh vẫn hết sức điềm tĩnh, kiên trì con đường sáng ta ̣o
củ a mình
Vững vàng trong nền tảng học vấn cô ̣ng với sự quảng giao đã cho phép
nữ sĩ ho ̣ Vi nhìn sâu vào những vấn đề của đời sống, mang đến cho thơ chị
một gio ̣ng điê ̣u vừa riêng, vừa la ̣ Tình yêu với nữ sĩ ho ̣ Vi đôi khi là mô ̣t khát khao cháy bỏng, mô ̣t sự tâ ̣n hiến, cô tình nguyê ̣n làm “nô lê ̣” cho tình lang
củ a mình mà không cầu giải phóng: “Hình như tôi đã lớn lên cùng tình yêu dành cho Anh, từ khi bắt đầu là bào thai con gái trong bụng mẹ/ Tôi hôn Anh rưng rưng và biết mình đang trở thành nô lệ của tình yêu, một nô lệ không cần được giải phóng” Ngay cả những đổ vỡ trong thơ Linh cũng sắc la ̣nh, nhói buố t không kém: “Em không nhớ đã gặp anh bao lần, bất kể khi nắng còn hay
đã tắt/Để rồi đêm nay/Em cay đắng khi anh đẩy em bằng ánh mắt!” và “Em lầm lũi lại đến trước nhà anh nhặt xác nỗi buồn, đốt lên thành lửa/Rồi đi/Sau lưng em ngày nắng tắt” Cách nữ sĩ mô tả ánh mắt của kẻ tình nhân bô ̣i phản
“đẩy” người con gái kia bằng ánh mắt và hay nỗi buồn “đốt” lòng cô gái ấy rất đặc trưng trong gio ̣ng thơ Vi Thùy Linh
Trướ c Vi Thùy Linh rất nhiều nữ sĩ đã viết về tình yêu như Xuân Quỳnh, nhưng phải đến Vi Thùy Linh, ý thức về nữ quyền, ái quyền trong
tình yêu mới đươ ̣c cảm nhâ ̣n mô ̣t cách đầy đầy đủ Đặc biệt, khi nói về Vi Thù y Linh, thơ cô không chỉ giới ha ̣n ở những vấn đề thuô ̣c về đời tư mà hơn
Trang 2519
thế Vi Thù y Linh đã đứng từ góc nhìn bản thể cắt nghĩa đời sống, đi ̣nh giá những hiê ̣n tươ ̣ng Tất nhiên cách cắt nghĩa ấy, hiê ̣n tượng ấy cũng mang dấu ấn Vi Thùy Linh rất rõ
Có lẽ hơn ai hết khi sáng tác, tác giả luôn ý thức đươ ̣c viê ̣c tìm hình thứ c thể loa ̣i phù hơ ̣p để truyền tải ý tưởng đến đô ̣c giả Thực tế Linh đã không lựa cho ̣n những hình thức thể loa ̣i truyền thống mà dùng hình thức thơ
tự do để truyền tải những ý tưởng của mình Thể thơ tự do với kiểu ngắt dòng ngắ n dài không đều nhau chính là phương tiê ̣n đắc du ̣ng hàm tải ý tưởng có phần mớ i la ̣ và mang hơi hướng triết ho ̣c của thơ Vi Thùy Linh
Trở la ̣i với viê ̣c thơ Linh được mê ̣nh danh là “hiê ̣n tượng Vi Thùy Linh” ngoài những giá tri ̣ tự thân trong còn phải kể đến những nỗ lực hết sức nghiêm tú c của tác giả trong viê ̣c tìm tòi những hình thức thể nghiê ̣m nghê ̣ thuật mới đưa thơ đến với người đo ̣c Trước Vi Thùy Linh đã có những nhà thơ làm viê ̣c ấy nhưng không mấy thành công Vi Thùy Linh trái la ̣i khiến
mọi người phải ngỡ ngàng khi tổ chức trình diễn thơ: “Bay cùng Vili” ta ̣i Nhà
Hát lớn, nơi vẫn thường mê ̣nh đươ ̣c mê ̣nh danh là “thánh đường văn hóa” nước Viê ̣t Sự hiê ̣n diê ̣n của các tên tuổi như: GS Vũ Khiêu, nhà sử học Dương Trung Quốc, NSND Hoàng Cúc, NSND Ngô Hoàng Quân, NSUT Phạm Cường, nha ̣c sỹ Phú Quang, Ngo ̣c Đa ̣i,… Chừng ấy đã đủ nói lên
“thương hiê ̣u” của người thơ Vi Li
Như đã nói Vi Thùy Linh là mô ̣t nhà thơ trẻ, những gì Linh đã làm còn cần phải có mô ̣t khoảng lùi cần thiết để ba ̣n đo ̣c đi ̣nh giá Ta ̣m bỏ qua những những khen, chê trong viê ̣c Linh đã làm, chỉ riêng viê ̣c Vi Thùy Linh cho ̣n theo đuổi nghề văn và chấp nhâ ̣n cái giá của những thi ̣ phi trong nghề viết, chí ít cần dành mô ̣t sự tôn trong đă ̣c biê ̣t đối với nữ sĩ vâ ̣y
1.5.2 Một số tác phẩm tiêu biểu
Có thể thấy, Vi Thùy Linh chủ yếu viết về đề tài tình yêu Cảm xúc trong thơ chị chủ yếu là cảm xúc của người phụ nữ, của nhân vật “Em” xung quanh vấn đề khao khát được yêu, khát khao được bộc lộ những cảm xúc chân thành và trần tục của con người khi yêu Có thể nói đây là thế mạnh, là
sở trường của Vi Thùy Linh; là “cơ sở và tiền đề” giúp Vi Thùy Linh tại được
Trang 2620
“tiếng vang” trên thi đàn nhưng năm qua; được không ít những người gọi đó
là “hiện tượng thơ”, là “biểu tượng giải phóng phụ nữ” hay thậm chí là
“huyền thoại” nữa Vi Thùy Linh là một trong số không nhiều những gương mặt thơ đương đại có nội lực sáng tác dồi dào Chị sáng tác không nghỉ ngơi
Có thể dẫn ra một số tác phẩm tiêu biểu của tác giả như:
Trang 2721
Chương 2 NGƯỜI PHỤ NỮ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
GIỚI TÍNH TỰ NHIÊN (SEX) 2.1 Vẻ đẹp hình thể
2.1.1 Quan niệm về hình thể người phụ nữ trong văn học Việt Nam
“Thân thể” là một cái biểu đạt đa nghĩa trong các nền văn hóa, nó cũng
là một vấn đề mang tính lịch sử Bởi mỗi tôn giáo, dân tộc, thời đại lại có những quan điểm khác nhau về vấn đề này Quan niệm về thân thể của con người nhất là thân thể người nữ trong văn học Việt Nam cũng vậy Bên cạnh những đặc điểm chung, cách nhìn nhận về thân thể người phụ nữ ở mỗi giai đoạn văn học lại có những nét đặc trung, loại biệt do những điều kiện lịch sử -
xã hội và văn hóa quy định[24]
Trong văn học dân gian và văn học trung đại, thân thể của người phụ
nữ được xem như là biểu tượng của cái đẹp Cụ thể: Trong văn học dân gian, thân thể của người phụ nữ mang vẻ đẹp phóng khoáng, tự nhiên; thể hiện rõ
tư duy của người lao động chất phác và ít nhiều có dấu ấn phong tục:
“Ai trắng như bông lòng tôi không chuộng
Ai đó đen giòn, làm ruộng tôi thương”
(Ca dao)
Văn học trung đại chủ yếu là văn học bác học , văn học của tầng lớp trí thức nên cũng có nhiều điểm khác biệt so với văn học dân gian Theo đó mẫu hình người đẹp thường là cô gái có vẻ đẹp mỏng manh, liễu yếu đào tơ mà ta
có thể thấy qua cách miêu tả và xây dưng hai nhân vật Thúy Vân và Thúy Kiều của Nguyễn Du khi cụ miêu tả về vẻ đẹp của hai nàng:
“ Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”
Trang 2822
“ Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn Làn thu thủy, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”
(Truyện Kiều)
Tuy nhiên, vì văn học là một hình thái ý thức, nó chịu sự ảnh hưởng và tác động của các hình hình thái ý thức xã hội khác, nên văn học dân gian và văn học trung đại đều chịu sự chi phối bởi quan niệm đạo đức đương thời Đó
là quan niệm chủ yếu xuất phát từ tư duy Phật giáo và Nho giáo Theo đó, con người coi thường thân thể, trong đó có thân thể người nữ, chú trọng nhân cách
và coi như thể nhân tố đối lập với nhân cách[24] Cổ nhân có câu: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” Hay thậm chí, vẻ đẹp thân thể còn được quan niệm như là mầm mống của tai họa Khi “anh hùng không qua được ải mĩ nhân”, những người đẹp trở thành những người có khả năng khuynh đảo cả lịch sử, là mầm mống gieo giắc tai vạ Người ta cũng vẫn thường hay nói: hồng nhan thì bạc mệnh Trong văn học trung đại, thân thể người phụ nữ thậm chí còn bị con người khinh thường vì nó gắn liền với dục vọng thấp hèn do chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tâm lí “khắc chế”, ‘khắc kỉ” của Nho giáo
Nối tiếp truyền thống của văn học dân gian và văn học viết trung đại, văn học viết Việt Nam thời kì 1930 - 1945 cũng xem thân thể là biểu tượng cho vẻ đẹp của con người Song, nó đã vượt qua vòng kiểm tỏa của luân lí đạo đức xã hội phong kiến, ca ngợi vẻ đẹp thân thể của những cô gái giang hồ, vũ nữ, với quan niệm nghệ thuật đề cao cái đẹp phóng khoáng Đặc biệt, do ảnh hưởng của văn hóa, văn học phương Tây mà hình ảnh thân thể trong văn học Việt Nam 1930 - 1945 lại gắn liền với ý niệm về một tình yêu thể xác rất trần tục, rất trần thế[24]
“Hai vú nàng! Hai vú nàng!Chao ôi!
Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng.”
(Tranh lõa thể)
Trang 2923
Khác với quan điểm thẩm mĩ về hình thể của các giai đoạn văn học trước, do những đặc điểm về lịch sử và thời đại, quan niệm về thân thể người phụ nữ sau 1945 lại có điểm riêng biệt với vẻ đẹp khỏe khoắn, dũng mãnh và gắn với sự hiến sinh, với tư thế làm chủ lịch sử, làm chủ số phận:
“Em là ai? Cô gái hay nàng tiên
Em có tuổi hay không có tuổi Mái tóc em đây là mây là suối Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm đông Thịt da em hay là sắt là đồng?”
(Người con gái Việt Nam)
Sau 1975, thơ ca nói riêng, văn học nói chung không còn phát triển tạo thành những phong trào mạnh mẽ và chiếm vị trí chủ lực như trước Tuy nhiên, trước sự thay đổi thời thế về quan điểm thẩm mĩ cũng như quan niệm đạo đức, đặc biệt là trước sự tác động từ nhận thức về giới, thơ ca cũng có nhiều thay đổi Là gương mặt sáng giá, người được coi là có ý thức mãnh liệt
về giới, Vi Thùy Linh đã thể hiện xuyên suốt quan điểm ấy qua hình tượng người phụ nữ, mà trước hết là về mặt thân thể/hình thể
2.1.2 Vẻ đẹp hình thể người phụ nữ trong thơ Vi Thùy Linh
Kế thừa đà thơ của nền văn học trước, Vi Thùy Linh mạnh dạn phô khoe vẻ đẹp thân thể người phụ nữ qua các diện mạo khác nhau, không chịu
và không chấp nhận một khuôn mẫu đạo đức hay quan niệm nào Đó là một
vẻ đẹp với thân thể mảnh mai, mong manh, non mềm của cô gái độ xuân thì nhưng tràn đầy sự tự do, phóng khoáng của con người thời đại mới dường như cô đơn, lạc lõng với những suy nghĩ và dự cảm về cuộc đời, thời thế
Vẻ đẹp của người phụ nữ trong thơ của Vi Thùy Linh hiện lên cũng đầy màu sắc Có khi là người con gái với vẻ đẹp thuần khiết, giản dị, nữ tính làm hấp dẫn người đối diện Đó là vẻ đẹp hài hòa giữa nội tâm bên trong và bên ngoài:
“Em xinh đẹp như vùng đất mới
Trang 3024
Giấc mơ dưới đáy đại dương lấp lánh trên bờ tóc”
(Say nắng)
Người con gái xinh đẹp được ví như vùng đất mới Vùng đất mới có thể
là một vùng đất đẹp, màu mỡ phì nhiêu Cũng có thể là vùng đất đơn sơ, mộc mạc mà thiên nhiên ban tặng Nhưng nhân vật em được nhà thơ ví như vùng đất mới cho thấy vẻ đẹp của người con gái hiện lên hết sức giản dị, đời thường nhưng tràn trề sức sống Đó là vẻ đẹp cần được khám phá, chiếm lĩnh
và chinh phục
Vẻ đẹp của người phụ nữ không chỉ mới lạ, căng tràn sức sống mà còn
“chín” khi vào độ tuổi đẹp nhất của tuổi thanh xuân:
“Tôi như ổi chín” (Mùa đông cuối cùng)
“Thân thể em trái chín” (Những mặt trời đang phôi thai)
“Em như bông lúa chín” (Sinh ngày 4 tháng 4)
“Ổi chín”, “trái chín”, “bông lúa chín” đều là những thức quà Những sản vật lương thực hết sức tầm thường, dân dã của làng quê Việt Tất cả vào
độ chín đều tỏa ra mùi hương thơm làn tỏa ngào ngạt Vậy mà vẻ đẹp của “em” lại lần nữa được ví như “trái chín”, “bông lúa chín”, ‘ổi chín” là cho độc giả liên tưởng đến người con gái có vẻ đẹp đời thường, giản dị Vẻ đẹp ấy đã đạt đến độ chín, chính là tuổi xuân đẹp nhất của người con gái[19]
Không chỉ thể hiện vẻ đẹp con gái đang ở độ tuổi xuân thì, người phụ
nữ trong thơ Vi Thùy Linh còn thể hiện bằng những hành động mạnh bạo cuồng si, bằng những hình ảnh đầy nhục cảm “bàn tay, đôi mắt, môi hôn, cặp chân dài, làn tóc, eo thon” đều gợi nét đẹp về hình thể của người phụ nữ trưởng thành:
“Trên lưng anh, bờ mải miết ngón ngón em dài trắng Môi em trườn đêm căng
Duỗi chân dài, em nối những danh giới, những núi đồi, sông biển”
(Nơi ánh sáng)
Trang 3125
Nếu như các nhà thơ thế hệ trước luôn kiêng dè khi nhắc về vẻ đẹp hình thể, họ chỉ nói về người phụ nữ qua vẻ đẹp kín đáo qua đôi mắt, mái tóc,… như nét biểu hiện của người con gái đẹp “Tóc mềm lấp lánh tan chảy” (Cẩm Lai) hay “tóc đâu quá đỗi dịu dàng” (Lê Thị Mây), thì Vi Thùy Linh đã nói nhiều hơn thế:
“Hôn ngực em thật thơm Xin cho hôn vào, hôn vào trái ngoan Ngực đầy êm và ấm
Nụ hồng non đỏ thắm Ngực tròn căng nhựa sống vươn lên mịt mùng”
(Tự tình ca)
Ý thức về vẻ đẹp giới, tác giả đã khắc họa thành công nét đẹp ngoại hình của người phụ nữ thật đa dạng, phong phú Đọc thơ Vi Thùy Linh chúng
ta gặp rất nhiều những chi tiết khắc họa nét đẹp ngón tay, ngực đầy, chân dài,
bờ eo thon… Tác giả khẳng định vẻ đẹp riêng sức sống bền bỉ dẻo dai của giới nữ
2 2 Thế giới tâm lí, tâm trạng
Nếu như hình thể hay thân thể chỉ là cái bề ngoài để phân biệt giới tính
- yếu tố sex giữa nam và nữ thì yếu tố cốt yếu giúp cho con người lấy nó làm căn cứ phân biệt về đặc điểm giới chính là tâm lí, tâm trạng Đặc điểm về giới quy định nam giới thiên về lí trí hay lí tính thì ngược lại, phụ nữ lại sống thiên nặng về cảm xúc, dạng tâm lí bất ổn định với nhiều những cung bậc suy nghĩ, cảm xúc Chính đặc điểm này trở thành một nhân tố quan trọng trong quá trình xây dựng bất kì một hình tượng nhân vật nào của các nhà thơ, nhà văn Với sự đa dạng về tâm lí, cảm xúc của phụ nữ còn trở thành một đề tài, chủ đề mang lại những điều mới mẻ, bất ngờ, linh hoạt gây hấp dẫn đối với độc giả
Vi Thùy Linh ngoài là một thi sĩ - những người vốn đã mang trong mình sự nhạy cảm, tinh tế thì bản thân chị cũng là một người phụ nữ, chị hiểu hơn ai hết mọi cung bậc tâm lí, cảm xúc, suy nghĩ ở một người phụ nữ là như thế nào Chính sự kết hợp hoàn hảo đó đã để lại dấu ấn trong thơ Vi Thùy Linh những
Trang 3226
kết tinh xuất sắc nhất để người đọc có thể cảm nhận được đặc tính về giới nữ
ở phương diện tâm lí, tâm trạng Và điều đó được chị khéo léo lồng vào tâm trạng của một người phụ nữ mang trong mình thứ tình yêu, tình cảm mãnh liệt Bởi khi mang trong mình những cảm xúc mãnh liệt, thiên tính nữ của giới nữ được thể hiện rõ nhất
2.2.1 Say đắm, nồng nàn với tình yêu
Tình yêu luôn là một đề tài nhận được nhiều sự chú ý của các thi sĩ, bởi
lẽ tình yêu luôn là món ăn nóng hổi đầy hấp dẫn đối với con người, nhất là người trẻ Sự thăng hoa, niềm hạnh phúc, cảm xúc rạo rực chính là những gì
mà tình yêu mang lại và khiến mỗi người theo đuổi để có được nó
Vi Thùy Linh là nhà thơ của tình yêu Tình yêu là khởi điểm trong thơ
Vi Thùy Linh Hầu hết các bài thơ của nhà thơ đều bắt nguồn từ đề tài tình yêu Bởi vậy mà hình tượng người phụ nữ trong thơ chị luôn mang trong mình trái tim đầy cảm xúc Bởi hình tượng ấy như là chị tạc từ lòng mình ra vậy Cho nên đọc thơ chị ta luôn thấy ở đó một thứ tình yêu mãnh liệt, cháy bỏng mà người ta không thể nhầm lẫn chị với bất cứ ai
Hiện lên trên trang thơ của chị là cô gái đương độ tuổi xuân thì đã đánh cược cả số phận để cháy hết mình với tình yêu:
“Em đã đu mình lên chữ T tên Anh, như đu cả số phận lên thập giá vĩnh viễn”
“Đường đi cùng anh và ở lại cùng anh sau khi chết Đường yêu, tình phu - thê không biết suy tàn Đường xiêu liêu hồ say liên miên
Chỉ với Anh, em được ngủ yên trong kinh thành phì nhiêu cổ Chỉ với Anh, em chờ đón ngày sinh con trai Đồng Tử”
(Nơi ánh sáng )
Tình yêu trong thơ Linh là một thứ tình yêu không bao giờ đạt đích, một thứ tình chưa tìm tới bến, mà càng lao vào, càng mù mịt đơn côi Tình
Trang 33Kim la bàn theo hướng linh giác
Hải âu lượn trong mắt biếc Anh phía tâm ước của em Thuyền dâng đỉnh sóng”
( Say nắng)
Như thế, hướng Linh đi là hướng Anh, chữ Anh bao giờ Linh cũng viết hoa và giải thích đó là hướng tâm ước của em Những chuyến đi của Linh là những chuyến căng buồm ra khơi của một kẻ liều mạng không biết bơi mà cứ lao mình vào biển cả
Đường thơ là đường đời Chẳng cần gần gụi cũng biết Vi Thùy Linh, người con gái ấy liều lĩnh, bản năng, tha thiết, là ốc đảo cô đơn, là con thuyền lao bừa lên đỉnh sóng
2.2.2 Khao khát, ước mong về tình yêu, về hạnh phúc
Sự mãnh liệt đó của tình yêu có lẽ được thể hiện rõ nhất qua những khao khát, ước mong về tình yêu, về hạnh phúc:
“Hello, em chờ Anh tỏ tình trong lời Lionel Richie”
“Hello, em chờ Anh tới”
“Hello, em muốn được ghì chặt Anh”
(Một lá thư chưa gửi)