Chính Nguyễn Công Trứ cũng nhiều lần đặt ra vấn đề này trong thơ ông: Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông Ở đây, trong bài thơ này, Nguyễn Xuân Ôn có sự gặp gỡ vớ[r]
Trang 1Ngày 15/3/2012
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN ĐỊA PHƯƠNG – LỚP 8
Tiết 31: NGẪU NHIÊNCẢM HỨNG LÀM THƠ
( Nguyễn Xuân Ôn )
A Kết quả cần đạt:
- Giúp học sinh hiểu được:
+Những giá trị đặc sắc về nội dung và nghệ thuật
+Tấm lòng của nhà thơ
- Rèn kĩ năng đọc, phân tích cảm nhận thơ Đường thất ngôn bát cú
B Những điều cần lưu ý:
- Nguyễn Xuân Ôn sinh ngày 10/5/1825 trong một gia đình nhà nho nghèo Mẹ mất
sớm, từ bé đã ở với bà nội Nhà bà nghèo nên lớn tuổi ông mới được đi học Qua nhiều năm
đi học, đi thi đến năm 42 tuổi ông mới đậu cử nhân và 3 năm sau thì đậu luôn tiến sĩ
- Sau khi thi đậu, Nguyễn Xuân Ôn tập sự ở kinh 3 năm, rồi được bổ làm tri phủ Quảng
Ninh, tỉnh Quảng Bình, ít lâu sau lại làm đốc học Bình Định, rồi án sát Bình Thuận Bấy giờ,
Pháp đã chiếm xong Nam Kì đang chuẩn bị đánh ra miền Bắc Bình Thuận là vùng giáp ranh
giữa Nam Kì với Trung Kì nên luôn bị thực dân Pháp khiêu khích
- Có chuyện kể rằng: Có 1 lần, viên giáo sĩ người Pháp ngang nhiên dùng lọng vàng
(thứ lọng vua dùng) để đi giảng đạo ở các làng thuộc tỉnh Bình Thuận Nguyễn Xuân Ôn cho
bắt viên giáo sỹ kia về hỏi tội, buộc y phải cam đoan không được xúc phạm đến phong tục, lễ
nghi của người Việt Nam
- Thái độ cứng rắn của Nguyễn Xuân Ôn đối với Pháp khiến vua Tự Đức sợ để ông ở
Bình Thuận lâu ngày sẽ xảy ra lôi thôi với Pháp nên đổi ông ra Quảng Bình Thời gian này,
ông liên tiếp gửi sớ lên triều đình trình bày cụ thể việc lãnh đạo chống giặc cứu nước, nhưng
không được chấp thuận Sau đó, ông bị cách chức Thế là Nguyễn Xuân Ôn về quê, tự lo liệu
việc kháng chiến chống Pháp Năm 1885, kinh thành thất thủ, Hàm Nghi xuống chiếu Cần
Vương, ông được phong làm An Tĩnh hiệp thống quân vụ đại thần lãnh đạo nghĩa quân Nghệ
An, Hà Tĩnh chống giặc
- Mùa đông 1885, nghĩa quân của ông khoảng 2000 người kéo lên vùng núi Yên Thành-
Nghệ An lập căn cứ chống giặc Nghĩa quân của ông nhiều lần giáp chiến với giặc, bản thân
ông tuổi già nhưng mỗi lần ra trận đều đi đầu rất dũng cảm
Nhưng rồi, thực dân Pháp có tay sai chỉ điểm đã bắt ông Ông toan tự sát nhưng không kịp
Thực dân Pháp giam ông ở nhà lao Diễn Châu, Vinh, Hải Dương, Huế,…
- Năm 1889: Thực dân Pháp lập Thành Thái lên ngôi, chúng giả nhân giả nghĩa ân xá cho
ông, song lại sợ uy tín lớn của ông đối với nhân dân Nghệ Tĩnh nên chúng không cho ông về
Trang 2quê mà quản thúc ở Huế Ra tù được mấy tháng thì bệnh nặng cùng với tuổi già khiến ông
mất tại Huế năm 1889, thọ 64 tuổi
- Sáng tác của ông còn lại có 300 bài thơ trong "Ngọc Đường thi tập" và 22 bài văn xuôi
cùng một số câu đối trong "Ngọc Đường văn tập" tất cả đều bằng chữ Hán Ngoài ra ông
còn một số bài thơ Tiếng Việt được nhân dân truyền tụng Hiện nay những sáng tác của ông
được để trong viện bảo tàng cách mạng Việt Nam Nhân dân ghi nhớ tên tuổi của ông- một
nhà thơ nhưng trước hết là một chiến sỹ kiên cường chống Pháp Ở Diễn Châu- quê ông có
trường học mang tên Nguyễn Xuân Ôn
- Nét nhất quán trong thơ văn Nguyễn Xuân Ôn là tinh thần yêu nước tha thiết, ý chí bất
khuất không gì lay chuyển được
-Trong thời kỳ đầu, sáng tác của ông tập trung nói lên hoài bão của nhà thơ- một con
người theo nho giáo, có lý tưởng tích cực, muốn ra làm việc cho dân cho nước Ông viết: Quân tử thân danh đơn bút duyện
Nam nhi phận sự nhất tang hồ
( Thanh danh của người quân tử chỉ trông vào quản bút
Phận sự của người con trai là ở cây cung dâu)
( Trích bài Bột hứng)
Đứng trước ngưỡng cửa của tuổi tráng niên rất đẹp thấy mình chưa làm được gì, nhà thơ có
lúc sốt ruột nhưng không bi quan mà để lo lắng, tích cực hơn:
“Tuổi thanh niên vừa đến, hiềm vì nó dễ trôi qua
Ngày niên thiếu một khi đi rồi thì khó gặp lại nữa
Kiếp này chưa trả xong cái nợ công danh
Sợ phụ khi xưa bắn sáu mũi tên bằng cỏ bồng"
( Trích dịch xuôi bài Đông nhật cửu hoài- tức mối xúc cảm trong ngày mùa
đông)
- Bài thơ được học nằm trong mạch cảm xúc chung, nhất quán , thể hiện tâm sự và lý
tưởng của nhà thơ
C Chuẩn bị:
- Học sinh: + Đọc, soạn bài theo hệ thống câu hỏi ở SGK Ngữ văn Nghệ An
+ Tìm các tư liệu liên quan đến tác giả
- Giáo viên: + Nghiên cứu kỹ bài thơ
+ Tìm tài liệu, tranh ảnh liên quan đến tác giả
D Tiến trình tổ chức hoạt động day- học:
Kiểm tra sự chuẩn bị ở nhà của HS
Trang 3Giới thiệu bài mới
Hướng dẫn HS tìm hiểu văn bản qua các phần cụ thể sau:
I Vài nét về tác giả, tác phẩm:
HS: Đọc chú thích ở SGK
GV lưu ý một số thông tin cơ bản:
- Nguyễn Xuân Ôn (1825- 1889) hiệu là Ngọc Đường, người ở xã Lương Điền, huyện Đông Thành ( nay là xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An)
- Cuộc đời tác giả từ khi thi cử đến làm quan rồi phải tù tội, bị quản thúc cho đến khi mất đều vì mục đích: yêu nước, thương dân
- Nội dung chính của thơ văn Nguyễn Xuân Ôn: Nêu cao lòng tự hào dân tộc, tố cáo quân giặc bạo tàn và bọn phong kiến hèn nhát, thể hiện tinh thần quyết tâm kháng chiến chống Pháp
- GV đọc mẫu và hướng dẫn HS cách đọc
HS đọc lại
Em hiểu thế nào về đề nhan đê bài thơ ?
Bài được sáng tác theo thể thơ nào ? Em
hiểu gì về thể thơ ấy ?
Phương thức biểu đạt có sử dụng trong
bài ?
Hãy đọc và nêu nhận xét của em về hai
câu đề ?
Điều gì khiến nhân vật trữ tình phải thao
thức không ngủ ?
II Đọc- hiểu chung:
1 Đọc:
2 Tìm hiểu chung:
- Ngẫu: ngẫu nhiên
- Hứng: cảm hứng sáng tác
=> Ngẫu nhiên cảm hứng làm thơ ( chứ không phải là chủ ý tìm cảm hứng làm thơ)
- Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật
- Bố cục: 4 phần, mỗi phần 2 câu, mỗi câu 7 chữ…
- Biểu cảm xen miêu tả
III Tìm hiểu chi tiết:
1 Hai câu đề:
- Hai câu đề có:
+ Hình ảnh: gió thu- gió se lạnh, ở đây gió thu thấm gối
+ Thời gian: Đêm nửa về khuya + Từ ngữ: Bồi hồi- gợi tâm trạng
=> Gợi tả hình ảnh nhân vật trữ tình với nỗi buồn thấm cả vào thời gian, ta hình dung thấy một con người thao thức trong đêm khuya không ngủ
Hai câu đề vừa giới thiệu, vừa gợi suy nghĩ liên tưởng ở người đọc, người nghe.Ngay từ đầu, bài thơ đã tạo được sự chú ý
Trang 4Có gì đặc sắc về nghệ thuật ở bốn câu thơ
này ?
( GV nói thêm: Tùng bách thường tượng
trưng cho người quân tử
Tang bồng vốn là chí của người làm
trai theo quan niệm xưa và cũng là lý
tưởng sống của một số nho sỹ tiến bộ khi
đầu xanh, tuổi trẻ Họ cho rằng: Con
người sống ở đời nhất thiết phải làm việc
có ích cho đời
Chính Nguyễn Công Trứ cũng
nhiều lần đặt ra vấn đề này trong thơ ông:
Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông
Ở đây, trong bài thơ này, Nguyễn
Xuân Ôn có sự gặp gỡ với Nguyễn Công
Trứ về suy nghĩ, lý tưởng dù Nguyễn
Công Trứ sinh trước 47 năm và cũng mất
trước tới 30 năm
Em hiểu được gì qua bốn câu thực
luận ?
Hãy cho biết nội dung của hai câu kết ?
2 Bốn câu thực luận:
Tùng bách đã chờn năm rét đậm Tang bồng còn phụ chí trai xưa Hai câu thơ có đối tương hỗ: câu trên: Tùng bách vốn coi thường mưa rét nhưng giờ đã sờn lòng, câu dưới: Người làm trai chưa trả được nợ tang bồng
=> nhấn mạnh nỗi buồn của kẻ làm trai
=> Hai câu thực vì vậy vừa gián tiếp làm rõ nguyên nhân nỗi buồn của nhân vật trữ tình, vừa bày tỏ suy nghĩ, quan niệm
Trăng trong gió mát khô bầu rượu Nước chảy non cao lựa tiếng tơ
Hai câu thơ có:
+ Đối thanh, đối từ loại + Giàu hình ảnh
=> vẽ ra một không gian cao rộng, khung cảnh thiên nhiên đẹp
( Các cụm từ: Khô bầu rượu, Lựa tiếng tơ phải chăng là sự bất lực của một con người có quan niệm, lý tưởng sống đẹp song vấp phải một lực cản lớn- đó là chế độ xã hội đương thời nên con người ấy đành ôm nỗi đau buồn, xót xa ?)
- Hai cặp câu thực luận có đối ý rất chỉnh:
Ý hai câu thực: Quan niệm, lý tưởng sống: phải làm việc có ích, việc lớn
Ý hai câu luận: Thực tế chua làm được gì để giúp đời
- Tác giả mượn hình ảnh thiên nhiên để gửi gắm tâm trạng buồn, quan niệm sống…
- Đó là tam trạng, quan niệm, lý tưởng của một con người có lòng yêu nước sâu sắc, kín đáo
3 Hai câu kết:
Tác giả trực tiếp bày tỏ sự nuối tiếc, xót xa bởi ước muốn lớn lao, quan niệm đúng đắn, song " lực bất tòng tâm" vì tuổi đã già, sức đã yếu
- Thật ra không phải tác giả không làm được điều
gì mà ông đã cố gắng trong suốt cả đời mình Lòng yêu nước, cái buồn, xót của tác giả khiến ta trân trọng
- Nghệ thuật: Thơ Đường, mượn cảnh để bộc lộ
Trang 5Đặt hai câu kết vào hoàn cảnh tác giả, em
hiểu thêm điều gì ?
Bài thơ để lại trong em ấn tượng
gì về nội dung và nghệ thuật ?
tâm sự của cái tôi trữ tình, giàu hình ảnh, đối sáng tạo…
- Nội dung: Bài thơ thể hiện:
+ Quan niệm về ý nghĩa đời người + Bộc lộ chí làm trai
=> Qua đó thể hiện lòng yêu nước sâu sắc, kín đáo của Nguyễn Xuân Ôn
Luyện tập: Bài tập 1: Đọc diễn cảm bài thơ
Bài tập 2: Cảm nghĩ của em từ văn bản " Ngẫu hứng"
Đọc thêm: Chí anh hùng
(Nguyễn Công Trứ)
Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả trả vay Chí làm trai nam bắc đông tây Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể Nhân sinh thế thượng thuỳ vô nghệ Lưu thủ đan tâm chiểu hãn thanh
Đã chắc rằng ai nhục ai vinh Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ Cũng có lúc mây tuôn sóng vỗ Quyết ra tay buồm lái trận cuồng phong Chí những toan xẻ núi lấp sông
Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ Đường mây rộng thênh thang cử bộ
Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo Thảnh thơi thơ túi rượu bầu
Rót kinh nghiÖm:
Trang 6Ngày 16/3/2012
Tiết 52: ĐỀ HÀ NỘI TỈNH THI
(Hồ Sỹ Tạo)
A Kết quả cần đạt:
- Giúp HS hiểu được từ văn bản:
+ Cảm xúc hoài niệm của tác giả trước sự thay đổi của Hà Nội nói riêng và của đất nước nói chung
+ Lòng yêu nước kín đáo của nhà thơ
- Rèn kỹ năng đọc, phân tích thơ trữ tình
B Những điều cần lưu ý:
* Hiện nay có ba tài liệu nói đến năm sinh của Hồ Sỹ Tạo:
- Người cháu tên là Hồ Sỹ Sênh- Hội viên Hội văn nghệ Nghệ An viết rằng: Hồ Sỹ Tạo sinh năm 1834
- Tổng tập văn học Việt Nam tập 19 viết: Hồ Sỹ Tạo sinh năm 1831
- Cụ Cao Xuân Dục- học trò của ông Tạo trong sách" Nghệ An khoa bảng" viết: Ông Tạo sinh năm 1841
=> Khi dạy không nên khẳng định năm sinh, năm mất của tác giả
* Đương thời Hồ Sỹ Tạo sáng tác nhiều nhưng đều thất truyền
Giảng dạy văn bản này chủ yếu căn cứ vào ngôn từ văn bản nên có cái khó riêng, GV cần linh hoạt trong việc định hướng cảm nhận cho HS sao cho đúng
C Chuẩn bị:
- HS: + Đọc, trả lời câu hỏi trong SGK
+ Tìm hiểu thêm thông tin về tác giả, tác phẩm
- GV: + Nghiên cứu kỹ bài thơ
+ Tìm tài liệu liên quan đến tác giả, tác phẩm và những bài thơ khác cùng đề tài
D Tiến trình tổ chức hoạt động dạy- học:
Kiểm tra sự chuẩn bị ở nhà của HS
Giới thiệu bài:
- Học chương trình Ngữ văn địa phương, chúng ta đã biết đến Nguyễn Xuân Ôn qua" Ngẫu hứng" Lòng yêu nước kín đáo, sâu sắc của ông khiến ta trân trọng, khâm phục…
- Cũng diễn tả lòng yêu nước, Hồ Sỹ Tạo có một cách riêng…Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu…
I Giới thiệu tác giả, tác phẩm:
HS: Đọc chú thích ở SGK
GV lưu ý:
1 Tác giả:
- Hồ Sỹ Tạo sống vào giai đoạn nửa cuối thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20, ông là người
xã Thanh Quả, tổng Võ Liệt ( nay thuộc xã Thanh Khê, huyện Thanh Chương- tỉnh Nghệ An)
Trang 7- Ông là người thông minh, ham học, tài hoa nổi tiêng cả vùng.
- Năm 1868, ông đỗ giải nguyên trường Nghệ, được bổ làm quan đến tri phủ nhưng khi nhà Nguyễn đầu hàng, ông bất bình bỏ quan về nhà Cuối đời có dạy học và đi đây đó
2 Tác phẩm:
- Ông làm thơ nhiều song hầu như mất mát
- Bài thơ được học rút từ một cuốn sách chép tay của gia đình
- GV đọc, hướng dẫn HS cách đọc
- 2- 3 Hs đọc lại
Hai câu đề giới thiệu con người hay cảnh
vật ? Cách giới thiệu có gì đặc sắc?
Cảnh gì được tác giả nhắc đến qua 2 câu
thực?
Từ cảnh thực , tác giả "luận" như thế nào?
II Đọc, tìm hiểu chung:
1 Đọc:
2 Tìm hiểu chung:
GV cho HS nhắc lại những đặc điểm của thơ Đường thất ngôn bát cú và lưu ý:
- Bài thơ viết bằng chữ Hán
- Bài có sự kết hợp của các phương thức biểu đạt: Biểu cảm, miêu tả
III Tìm hiểu chi tiết:
1 Hai câu đề:
- Giới thiệu con người
- Cách giới thiệu:
Gió bụi nhiều nay tới cố kinh Sớm ra nhìn lại xót xa tình
Hình ảnh " Gió bụi" gợi con người trải qua nhiều vất vả
Từ ngữ: Bất thăng tình , sớm ra - Thời gian chỉ qua một đêm, nhanh quá!
=> Hình ảnh con người với tâm trạng thảng thốt, bùi ngùi, xót xa trước cảnh vật có nhiều thay đổi
2 Bốn câu thực, luận:
Cá hồ xao động ba triều biến Long đỗ trơ vơ mấy dặm thành
Các vương triều thay đổi liên tục: từ
1883 đến 1884 mà có tới ba cuộc phế lập vua ( theo chú thích)
Long Đỗ- đất Thăng Long xưa sầm uất là thế mà giờ đây trơ vơ…( từ trơ vơ được hiểu theo nghĩa: trơ trọi , xác xơ)
=> Cảnh vật thay đổi theo chiều hướng tàn tạ đi khiến nhà thơ buồn, xót dù không nói ra được thành lời, nhưng chúng ta cảm nhận được đằng sau mỗi câu, mỗi chữ là cả một tâm trạng… Bảng lảng núi Nùng mây phủ kín
Trang 8Qua bốn câu thực luận, em hiểu gì về tình
cảm của tác giả?
Từ niềm hoài cổ, xót thương, tác giả đã
kết thúc bài thơ như thế nào?
Em hãy so sánh hai câu thơ dịch với
nguyên tác?
Nỗi lòng của tác giả thể hiện như thế
nào trong hai câu kết?
Nét đặc sắc nhất về nội dung và nghệ
thuật của bài thơ?
Khóc than dòng Nhị nước trôi nhanh
Ngước nhìn ngọn núi Nùng mây nổi pha màu sắc cổ kim (ở nguyên tác)
Cúi xuống nhìn nước dòng sông Nhị chảy tựa như tiếng khóc than
=> Cảnh trên núi với dưới sông cho ta cảm nhận được sự ảm đạm, nỗi buồn, sự tiếc thương cho đất Thăng Long xưa
- Ông là người có tình yêu đối với Thăng Long mãnh liệt như thế nào thì mới có nỗi buồn, xót như vậy
3 Hai câu kết:
Anh hùng hào kiệt đi đâu cả
Ai giúp non sông rửa bất bình
- Câu thứ bảy dịch không sát nghĩa làm giảm đi khí thế của quân dân đời Trần Hơn nữa, trong bài thơ, tác giả dường như đang sống lại quá khứ hào hùng…quay về thực tại càng thêm xót xa
- Câu thứ tám: nguyên tác là từ "tẩy" có nghĩa mạnh hơn so với "rửa" ở bản dịch
- Bất bình trước thời cuộc, trước sự thay đổi của Thăng Long
- Mong muốn thiết tha có anh hùng hào kiệt ra giúp non sông đất nước
( GV nói thêm: nỗi niềm bâng khuâng, tiếc nuối, lo lắng cho đất nước Trước Hồ Sĩ Tạo, Nguyễn Trãi cũng từng viết:
" Việc cũ quay đầu ôi đã vắng Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng." Cảm hứng hoài niệm còn có trong " Thăng Long thành hoài cổ" của Bà Huyện Thanh Quan
=> các tác giả đều là những người có lòng yêu nước, có trách nhiệm trước mọi thăng trầm của
xã hội
IV Tổng kết
- Nghệ thuật:
+ Thơ Đường thất ngôn bát cú, sử dụng phép đối linh hoạt
+ Sử dụng nhiều hình ảnh, từ ngữ gợi tả gợi cảm
Trang 9- Nội dung:
+ Cảm hứng hoài niệm trước những dâu bể của
Hà Nội và đất nước + Tình yêu nước sâu sắc, kín đáo
Luyện tập:
1 Đọc thuộc bài thơ
2 Cảm nhận của em về bài thơ " Đề Hà Nội tỉnh thi"
Đọc thêm: Thăng Long thành hoài cổ (Bà Huyện Thanh Quan) Tạo hoá gây chi cuộc hý trường, Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, Nền cũ lâu đài bóng tịch dương, Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, Nước còn cau mặt với tang thương Ngàn năm gương cũ soi kim cổ, Cảnh đấy người đây luống đoạn trường Rót kinh nghiÖm:
Trang 10
Ngày soạn:28/12/2011
(Thế Lữ)
A.Mửực ủoọ cần đạt: Giúp học sinh:
1.Kiến thức:- Hiểu được bút pháp lãng mạn đầy truyền cảm của bài thơ.
- Cảm nhận được niềm khát khao mãnh liệt tự do; nỗi chán ghét sâu sắc cảnh thực tại tù túng, tầm thường, dã dối được thể hiện trong bài thơ qua lời con hổ bị nhốt ở vườn bách thú
2.Kỉ năng:Rèn luyện kỉ năng đọc thơ 8 chữ vần liền, phân tích nhân vật trữ tình qua diễn
biến tâm trạng
B Hoạt động lên lớp
1.OÅn định lớp
2.Kiểm tra bài cũ
Phân tích tâm trạng của con hổ qua khổ thơ 1?
3.Nội dung bài mớ
Hoạt động của GV Và HS Nội dung Kiến thức
GV gọi HS đọc đoạn 3
Tác giả đã khắc hoạ vẻ đẹp và sự oai vũ
của con hổ qua những khoảnh khắc nào?
Trên từng cảnh đó hổ hiện lên như thế
nào?
Em hãy cho một lời bình về cảnh ấy?
Em có nhận xét gì về nghệ thuật tác giả
sử dụng trong đoạn thơ này? Tác dụng?
II Tìm hiểu văn bản:
* 4 bình diện thời gian
+ Đêm vàng - trăng tan + Ngày mưa - rung chuyển bốn phương ngàn + Bình minh - cây xanh nắng gội
+ Hoàng hôn - đỏ máu, mặt trời đang chết
-> Một chàng trai, một thi sĩ mơ màng
->Một đế vương oai phong đang lặng ngắm giang sơn
-> Một chúa rừng đang ru mình trong giấc ngủ -> Một vị chúa khao khát chờ đợi bóng đêm để tung hoành
=> Một vẻ đẹp nhiều màu sắc, hình khối, đọc đáo, lộng lẫy
- HS
- Giọng điệu hùng tráng, tha thiết, dồn dập
- Điệp ngữ: “Đâu”
=> Diễn tả sự nuối tiếc, đớn đau về những kỉ niệm