1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

MINH HỌA 3D: CÁC LOẠI LỰC V.LY06

31 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 43,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Keát luaän: Vôùi nhöõng thaéng lôïi caû veà quaân söï vaø chính trò trong naêm 1963, söï suïp ñoå caûu chính quyeàn Ngoâ Ñình Dieäm ñaõ daãn ñeánt thaát baïi trong chieán dòch X-ta-laây-[r]

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP Phần: LỊCH SỬ VIỆT NAM CỔ-TRUNG ĐẠI Câu1: Mối quan hệ giữa thời đại Hùng Vương và nền văn hoá Đông Sơn.

Giải:

Khi bàn về mối quan hệ giữa thời đại Hùng Vương và nền văn hoá Đông Sơn, có nhiều quan điểm trái ngược nhau Có quan điểm cho rằng: giữa nền vh Đông Sơn và thơi đại Hùng Vương không có quan hệ gì với nhau cả Nhưng cũng có quan điểm chorằng: Thời đại Hùng Vương là “con đẻ” của nền Vh Đông Sơn Vậy, trong hai quan điểm này, quan điểm nào là đúng

Muốn biết giữa nền Văn hoá Đông Sơn và thời đại Hùng Vương có quan hệ vớinhau như thế nào chúng ta hãy xét những vấn đề sau:

Một là, thời gian tồn tại của thời đại Hùng Vương có tương ứng với thời gian tồntại của nền Văn hoá Đông Sơn hay không? Nói về vấn đề này,cho đến nay có nhiềugiả thuyết khác nhau

Theo “ Đại Việt Sử ký toàn thư” của Ngô Sĩ Liên thế kỷ XV thì Hùng Vương có emlà Đế Nghi làm vua ở phương Bắc (Trung Quốc) có niên đại là 2879 TCN HùngVương thứ nhất là cháu kinh Dương Vương nên năm lên ngôi có thể vào khoảng 2800TCN tức cách ngày nay khoảng 4800 năm

Cũng theo Đại Việt Sử ký toàn thư và Cổ Sử Việt thì triều đại Hùng Vương tồn tạiđược 18 đời

Theo các học giả phương Tây khi nghiên cứu về nền Văn hoá Đông Sơn trướcnăm 1945 cho rằng: nền Văn hoá Đồn Sơn là nền văn hoá đột biến, du nhập từ bênngoài vào không liên quan gì đến thời đại Hung Vương Cơ sở để họ khẳng định điềunày là vì họ nghiên cứu được nền Văn hoá Đông Sơn tồn tại cách đây khoảng 2800năm đến 200 năm, trong khi người Việt ta từ trước vẫn cho rằng thời đại Hùng Vươngtồn tại cách đây khoảng 4000 năm Hơn nữa, họ không tìm thấy được cơ sở phát triểncủa nền Văn hoá Đông Sơn là gì và tại sao nó biến mất?

Từ năm 1968, ngành khảo cổ học Việt Nam được thành lập, người Việt mới cóđiều kiện nghiên cứu kỹ hơn về nền Văn hoa Đồn Sơn và thời đại Hùng Vương Theocác kết quả nghiên cứu được, chúng ta có thể khẳng định: nền Văn hoá Đông Sơn lànền Văn hoá bản địa ( chữ không phải được du nhập từ bên ngoài) và phát triển rựcrỡ dựa trên cơ sở kế thừa thành tựu cảu nền văn hoá trước đó( chứ không phải độtbiến như các nước phương Tây khẳng định)

Trước nền Văn hoá Đông Sơn, người Việt đã có các nền văn hoá như: Văn hóaPhùng Nguyên ( có niên đại khoản 4000 – 3400 năm), văn hoá Đồng Đậu (khoảng

3070 năm) và văn hoá Gò Mun (khoảng 3040 năm) Bằng chứng nào để chúng takhẳng định các nền văn hoá trên là của người Việt? Đó chính là các xỉ đồng và rấtnhiều công cụ bằng đồng được tìm thấy trên lãnh thổ nước ta Bởi lẽ, chỉ có những nớichế tác và sản xuất công cụ bằng đồng thì mới tìm thấy “ xỉ đồng” (tạp chất của đồngkhi nung)

Trang 2

Theo Đại Việt Sử Lược viết vào thời Trần thế kỷ XIV, đầu thời Hùng Vương ngangvới thời Trang Vương nhà Chu bên Trung Quốc, tức khoảng năm 696 – 682TCN, tứccách nay khoảng 2700 năm, tương ứng với giai đoạn đầu của nền Văn hoá Đông Sơn Thời đại Hùng Vương tồn tại đến thời nhà Tần (Trung Quốc) Từ năm 218-208TCN, Tần Thuỷ Hoàng sai Đồ Thư đem 50 vạn quân sang xân lược nước ta Nhândân ta, dưới sự lãnh đạo của Thục Phán đã đánh bại quân Tần Năm 208 TCN, ThụcPhán lên ngôi Vua, hợp nhất hai vùng đất Tây Aâu và Lạc Việt thành nước Aâu Lạc Đối chiếu các nguồn sử liệu lại với nhau, chúng ta nhận thấy thời gian tồn tại củathời đại Hùng Vương theo Đại Việt Sử ký toàn thư là không phù hợp bởi vì nhìn vào

sơ đồ sau đây, ta nhận thấy thời gian tồn tại của thời đại Hùng Vương vào khoảng

2800 – 218 = 2582 năm Nếu đem 2582 năm chia cho 18 đời Hùng Vương thì mỗi đờitồn tại khoảng 143 năm Đây là một điều vô lý

TCN CN

- 2800 - 700 - 218 - 2008

Hơn nữa nếu thưòi đại Hùng Vương tồn tại khoảng 4800 năm thì lại càng vô lý hơnbởi vì trong thời gian này thế giới vẫn còn ở tong thời đại đồ đá Đồ đồng chỉ xuất hiệnsớm nhất vào khoảng 4000 năm Theo quy luật phát triển của xã hội loài người, chỉkhi đồ đồng xuất hiện thì mới phân hoá giai cấp, nhà nước ra đời Vậy nên không thểcó một thời đại Hùng Vương tồn tại hơn 2500 năm và cách đây khoảng 4800 năm Thời đại Hùng Vương chỉ có thể tồn tại trong khoảng thời gian từ thế kỷ VII TCNđến năm 218 TCN tức khoảng 482 năm, cách ngày nay khoảng 2700 ( xem sơ đồtrên) Bởi lẽ, thứ nhất 482 năm chia cho 1 đời Hùng Vương, thì mỗi đời trị vì khoảng 26năm Đây là điều hợp lý Thứ hai, cái mốc 2700 năm của thời đại Hùng Vương tươngứng với cái mốc 2800-2000 năm của nền Văn hoá Đông Sơn ( kết quả nghiên cứucủa các học giả phương Tây)

Đến đây, chúng ta có thể khẳng định, về mặt thời gian, thời đại Hùng Vương hoàntoàn tương thích với thời gian tồn tại cuat nền Văn hoá Đông Sơn

Vấn đề thứ hai chúng ta cần làm rõ để thấy được giữa thời đại Hùng Vương và nềnVăn hoá Đông Sơn có mối quan hệ với nhau hay không, đó là: lãnh thổ của nước VănLang của vua Hùng có tương ứng với địa bàn của nền Văn hoá Đông Sơn hay không?Theo các kết quả khảo cổ học nước ta, lãnh thổ của nước Văn Lang hoàn toàn tươngứng với địa bàn nền Văn hoá Đông Sơn, tức là khoảng vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộnước ta ngày nay Bằng chứng là ở các vùng này, các nhà khảo cổ học tìm được rấtnhiều trống đồng ( có tới hàng tram chiếc) có niên đại vào khoảng 2800 năm đến

2600 năm

Vấn đề cuối cùng là chủ nhân của nền Văn hoá Đông Sơn có sphải là cư dân VănLang hay không? Theo các kết quả nghiên cứu, chủ nhân của nền Văn hoá ĐôngSơn và thời đại Hùng Vương đều là người Lạc Việt (khi nước Văn Làng thành lậpngười lạc Việt được gọi là cư dân Văn Lang)

Đến đây chúng ta có thể khẳng định, giữa nền Văn hoá Đông Sơn và thời đạiHùng Vương có quan hệ chặt chẽ với nhau Có thể nói, thời đại Hùng Vương là “con

Trang 3

đẻ” của nền Văn hoá Đông Sơn Nền Văn hoá Đông Sơn là nền văn hoá phát triềncao của nước ta thời cổ đại, nhưng rất tiếc là những thành tựu của nó đều không đượcgìn giữ và lưu truyền đến ngày nay Sở dĩ có điều này là vì, trong thời kỳ Bắc thuộc,nhà Hán đã cấm nhân dân ta không được đúc đồng, rèn sắt, đồng thời họ còn lấy đirất nhiều trống đồng của nước ta về nước ( hiện nay tìm thấy ở Trung Quốc khoảng 24chiếc) Do vậy, mà nền Văn hoá Đông Sơn từ đó cũng biến mất Chính điều này đãkhiến các học giả phương Tây khẳng định sai rằng nền Văn hoá Đông Sơn là nền vănhoá đột biến du nhập từ bên ngoài, chứ khong phải là nền văn hoá bản địa của ngườiViệt

Câu 2: Cuộc kháng chiến chống Tống dưới thời Lý (1075 – 1077)

Giải:

1/ Aâm mưu xâm lược nước ta của nhà Tống

Từ thế kỷ XI, nhà Tống gặp phải những khó khăn chồng chất Trong nước, ngânkhố cạn kiệt, tài chính nguy ngập, nội bộ mâu thuẫn Nhân dân bị đói khổ, nhiều nơinổi dậy đấu tranh Vùng biên cương phía Bắc của nhà Tống thường xuyên bị hai nướcLiêu, Hạ quấy nhiễu Lúc này Tống Thần Tông lên ngôi năm 1068, Vương An Thạchlà tể tường hiếu chiến

Để giải quyết những khó khăn trên, đồng thời nhân lúc vua Lý Thánh Tông mất,vua Lý Nhân Tông mới 6 tuổi lên ngôi 1072, nhà Tống đã tiến hành xâm lược ĐạiViệt

Để đánh chiếm Đại Việt, nhà Tống xúi giục Cham-pa đánh từ phía Nam lên Còn ởphía Bắc cảu Đại Việt nhà Tống dụ giỗ, lôi kéo các tù trưởng dân tộc ít người

Nhà Tống cho xây dựng 3 căn cứ quân sự, các thành Châu Ung, Châu Khâm,Châu Liêm, cho tập kết quân, lương thực, khí giới ở để chuẩn bị xâm lược nước ta 2/ Kế sách “ Tiên phát chế nhân” của Lý Thường Kiệt

Thấy rõ âm mưu và kế hoạch xâm lược nước ta của nhà Tống, năm 1069, vua LýThánh Tông và Lý Thường Kiệt đã cho quân tiến đánh Champa nhằm loại trừ mốinguy hiểm từ phía Nam

Với tư tưởng chiến lược “ Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân đánh trứoc để ngăn chặn thế mạnh của giặc”, Lý Thường Kiệt chỉ huy 10 vạn quân, chia làm 2 đạo thuỷ – bộ tấn công vào đất Tống Quân bộ do các tù trưởng Thân Cảnh Phúc, Tông Đản chỉ huy dân binh miền núi đánh vào Châu Ung (Quảng Tây) Lý Thường Kiệt chỉ huy cánh quân đường thuỷ đánh vào Châu Khâm, Châu Liêm ( Quảng Đông) Sau khitiêu diệt Châu Khâm, Châu Liêm, Lý Thường Kiệt tiến đánh Châu Ung Sau 42 ngày đêm chiến đấu, quân Lý Thường Kiệt đã hạ được thành Tướng Tô Giám nhà Tống phải tự tử Đạt được mục đích, Lý Thường Kiệt chủ động rút quân, chuẩn bị phòng tuyến Như Nguyệt chặn địch ở trong nước

Trận tập kích này đã đánh một đòn phủ đầu, làm hoang mang quân Tống, đẩychúng vào thế bị động

3/ Trận chiến trên phòng tuyến Như Nguyệt ( Sông Cầu)

Trang 4

Sau khi rút quân về nước, Lý Thường Kiệt hạ lệnh cho các địa phương ráo riếtchuẩn bị bố phòng Lý Thường Kiệt bố trí một lực lượng thủy binh ở Đông Kênh(Quảng Ninh) do Lý Kế Nguyên chỉ huy để chặn thủy binh địch Bộ binh được bố trísuốt dọc theo chiến tuyến sông Như Nguyệt Đội quân chủ lực này do Lý Thường Kiệtchỉ huy, đóng ở Yên Phụ (Bắc Ni nh), cách bến Như Nguyệt vài km.

Phòng tuyến Như Nguyệt được xây dựng trên bờ Nam sông Như Nguyệt Đây làcon sông chặn ngang tất cả các ngả đường bộ từ Quảng Tây (TQ) vào Thăng Long.Sông Như Nguyệt trở thành một chiến hào tự nhiên rất lợi hại Phòng tuyến được đắpbằng đất cao, vững chắc, có nhiều lớp dãy tre dày đặc, dài khoảng 100 km, từ ĐaPhúc đến Phả Lại

Cuối 1076, một đạo quân lớn gồm 10 vạn bộ binh tinh nhuệ, 20 vạn dân phu, 2vạn ngựa chiến do quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy ồ ạt tiến vào xâm lược nước ta Mộtđạo quân khác do hòa Mậu chỉ huy theo đường biển tiến vào tiếp ứng

Tháng 1/1077, đại quân Tống vượt cửa ai Nam Quan qua Lạng Sơn tiến sâuvào lãnh thổ nước ta Nhưng khi đến sông Như Nguyệt thì chúng bị chặn đứng bởiphòng tuyến của quân ta Do đó, Quách Quỳ phải đóng quân ở bờ Bắc sông NhưNguyệt chờ thủy quân đến Nhưng lúc đó, thủy quân của chúng bị quân Lý KếNguyên chặn đánh liên tiếp 10 trận tại vùng ven biển nên không thể tiến sâu vào tiếpứng cho đồng bọn

Chờ mãi không thấy thủy quân đến, Quách Quỳ nhiều lần cho bắc cầu phao,đóng bè lớn ào ạt tiến qua sông đánh vào phòng tuyến của ta nhưng đều thất bại Thất vọng, Quách Quỳ ra lệnh “ ai bàn đánh sẽ bị chém” và chuyển sang thếphòng ngự

Cuộc kháng chiến tiếp tục kéo dài Tương truyền, để động viện tinh thần chiếnđấu cảu quân sĩ, đêm đêm Lý Thường Kiệt cho người vào một ngôi đền trên bờ sông,ngân vang bài thở bất hủ:

“ Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan hủ bại hư.”

Cuối năm 1077, Lý Thường Kiệt mở cuộc tấn công lớn vào trận tuyến cảu địch.Quân Tống thua to, “ mười phần chết đến năm, sáu” Giữa lúc đó, Lý Thường Kiệt lạichủ động kết thúc chiến tranh bằng biện pháp mền dẻo, thương lượng, đề nghị “giảnghòa” Quách Quỳ chấp nhận, rút quân về nước

4/ Nguyên nhân thắng lợi:

- Triều Lý và Lý Thường Kiệt biết xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân nhất là đoànkết trong nội bộ triều Lý Đây là cơ sở đầu tiên làm quyết định thắng lợi của cuộckháng chiến chống Tống

- Do kế sách đánh giặc đúng đắn của Triều Lý và Lý Thường kiệt

+ Chủ động tấn công để hạn chế sức mạnh cảu địch( kế sách “tiên phát chế nhân”).+ lợi dụng địa hình sông Cầu để xây dựng phòng tuyến Như Nguyệt vững chắc

+ Kết thúc chiến tranh bằng biện pháp mền dẻo-“ giảng hòa”

Trang 5

5/ Ý nghĩa lịch sử:

-Cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ hai ( 1075-1077) thắng lợi đã đập tan âm mưuxâm lược nước ta của nhà Tống, bảo vệ nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ cảu tổquốc, đồng thời thắng lợi này còn có giá trị tăng cường sức phát triển toàn diện củaquốc gia Đại Việt

- Chiến thắng Như Nguyệt đi vào lịch sử dân tộc như những chiến công oai hùng nhất

- Đóng góp vào kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam, tư tưởng phòng ngự tích cựcvà đoàn kết toàn dân, toàn quân trong đánh giặc

Câu 3: Ba lần khắng chiến chống xâm lược Mông –Nguyên:

Giải:

1/ Âm mưu xâm lược nước ta của Mông Cổ:

- Thế kỷ XIII, đế quốc Mông Cổ được thành lập do Thành Cát Tư Hãn đứng đầu.Bằng sức mạnh của kỵ binh, đế quốc Mông Cổ đã gây nên nổi kinh hoàng cho nhiềunước ở Châu Á và Châu Aâu

- Năm 1257, Mông Cổ cho quân xâm lược nước ta để làm bàn đạp đánh chiếm NamTống (TQ)

2/ Cuộc kháng chiến chống Mông Cổ lần 1 ( 1258)

-Tháng 1/1258, khoảng 3 vạn quân Mông Cổ do Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy theođường sông Thao tiến vào xâm lược nước nta

- Quân ta chủ động chặn đánh địch ở vùng Bình Lệ Nguyên ( Vĩnh Phúc) Do thế giặcmạnh, quân ta chủ động rút khỏi Thăng Long xuôi về vùng Thiên Mạc (Hà Nam) thựchiện kế hoạch “vương không nhà trống”

- quân giặc chiếm được Thăng Long nhưng gặp phải khó khăn do thiếu lương thực.Nắm được thời cơ đó, quân ta tổ chức phản công Đến 29/1/1258, cuộc kháng chiếnkết thúc thắng lợi

3/ Cuộc kháng chiến chống Mông Cổ lần 2 (1285)

* Nhà Nguyên âm mưu xâm lược nước ta:

-Sau khi chiếm được Trung Quốc (1279), nhà Nguyên ráo riết thực hiện âm mưu xâmlược Đại Việt để làm cầu nối thôn tính các nước phía Nam Trung Quốc

- Để thực hiện âm mưu xâm lược Đại Việt, năm 1283, nhà Nguyên cho hơn 10 vạnquân Nguyên do tướng Toa Đô chỉ huy xâm lược Cham-Pa nhưng thất bại

* Nhà Trần chuẩn bị kháng chiến:

-Để bàn kế đánh giắc vua Trần đã triêuh tập hội nghi Bình tHan để bàn kế sách và tỏrõ quyết tâm đánh giặc Trần Quốc Tuấn được chọn làm tổng chỉ huy quân đội

- Năm 1285, vua Trần lại mở hội nghị Diên Hồng để đoàn kết toàn dân đánh giặc

* Diễn biến và kết quả cuộc chiến:

-Tháng 1/1285, khoảng 50 vạn quân Nguyên do thái tử Thoát Hoan chỉ huy tràn vàoxâm lược nước ta

- Do thế giặc mạnh, quân ta chủ động rút khỏi Thăng Long lùi về vùng Thiên Trường(Nam Định) thực hiện kế sách “vườn không nhà trống”

Trang 6

- quân giặc chiếm được Thăng Long nhưng gặp rất nhiều khó khăn do thiếu lươngthực.

- Nắm được thời cơ đó, tháng 5/1285, quân ta tổ chức phản công và giành thắng lợilớn ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương Ngày 9/6/1285, Thoát Hoan cho quân rútkhỏi Thăng Long, cuộc kháng chiến chống Mông –Nguyên lần thứ hai kết thúc thắnglợi hoàn toàn

4/ Chống quân nguyên xâm lược lần thứ 3 (1287 – 1288)

* Nhà Nguyên xâm lược Đại Việt:

- Tháng 12/1287, 50 vạn quân Nguyên chia làm 3 đạo tiến sâu vào xâm lược nước ta:+ Đạo 1: do Thoát Hoan chỉ huy theo đường Lạng Sơn Đay là dạo quân chủ lực

+ Đạo 2: Do Aùi Lỗ chỉ huy xuất phát từ Vân Nam theo sông Hồng

+ Đạo 3: Do Ô Mã Nhi chỉ huy theo đường sông Bạch Đằng Đay là đạo quân chởlương thực

* Diến biến:

- Lợi dụng sự sơ hở của giặc, Trần Khánh Dư đã cho quân bố trí trận địa mai phục ởVân Đồn tiêu diệt đoàn thuyền chở lương thực của Trương Văn Hồ Trận thắng này đãcắt đứt dạ dày của địch ngay từ đầu tạo cơ sở cho thắng lợi của ta sau này

- Tháng 2/1288, quân Nguyên chiếm được Thăng long nhưng gặp nhiều khó khăn dothiếu lương thực Trước nguy cơ bi tiêu diệt, quân Nguyên chia làm hai đạo rút vềnước: Đạo 1: theo đường sông Bạch Đằng Đạo 2: theo đường Lạng Sơn

- Nắm được tình hình trên, quân ta tổ chức chặn đánh quân giặc: Đường thủy: quân tatổ chức mai phục ở sông Bạch Đằng và giành thắng lợi lớn, đường bộ, quân ta truykích đuổi giặc nhanh chóng rút về nước

* Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử:

+ Nguyên nhân thắng lợi:

- Do tinh thần yêu nước của nhân dân: Trong các cuộc kháng chiến, tất cả các tầng

lớp nhân dân, các thành phần dân tộc đều tham gia đánh giặc, bảo vệ quê hương đấtnước Giặc đến đâu, nhân dân theo lệnh triều đình cất giấu lương thảo, của cải, thựchiện “vườn không nhà trống”, tự vũ trang đánh giặc, hăng hái tổ chức các đội dânbinh phối hợp chiến đấu với quân triều đình, làm cho quân Nguyên lâm vào thế bịđộng, thiếu lương thực, phân tán lực lượng để đối phó và bị đánh bại

- Do tinh thần đoàn kết chống giặc: Trong cả ba lần chống quân xâm lược Mông –

Nguyên, nhà Trần đã chuẩn bị rất chu đáo tiềm lực về mọi mặt cho mỗi cuộc khángchiến Nhà Trần rất quan tâm chăm lo sức dân, nâng cao đời sống vật chất, tinh thầncủa nhân dân bằng nhiều biện pháp để tạo nên sự gắn bó, đoàn kết giữa triều đìnhvới nhân dân

Các vua Trần thường về các địa phương để tìm hiều cuộc sống của nhân dân Vua Trần thường nói với các quan trong triều: “Trẫm muốn ra ngoài để được nghe tiếng nói của dân và xem lòng dân, biết tình trạng khó khăn của dân”…

Quý tộc, vương hầu nhà Trần chủ động giải quyết những bất hòa trong nội bộvương triều, tạo nên hạt nhân của khối đoàn kết dân tộc mà Trần Quốc Tuấn là tiêu

Trang 7

biểu Ông là người yêu nước thiết tha, căm thù giặc cao độ, thương yêu nhân dân,quân lính hết lòng.

- Do đóng góp lớn lao của Trần Quốc Tuấn: Trần Quốc Tuấn là nhà lí luận quân sự

tài ba Oâng là tác giả của các bộ binh thư nổi tiếng: Binh thư yếu lược, Vạn kiếp tông

bí truyền thư Oâng còn là tác giả cảu Hịch Tướng sĩ Với chức Quốc công tiết chế –Tổng chỉ huy duân đội, ông là người đã có công lao to lớn trong ba cuộc kháng chiến,đặc biệt là các cuộc kháng chiến lần thứ hai và thứ ba

- Thắng lợi của ba lần chống xâm lược Mông – Nguyên gắn liền với tinh thần hi sinh,quyết chiến quyết thắng của toàn dân ta, mà nòng cốt là quân đội nhà Trần

- Thắng lợi cũng không thể tách rời chiến lược, chiến thuật đúng đắn sáng tạo củavương triều Trần, đặc biệt là vua Trần Nhân Tông và các danh tướng: Trần QuốcTuấn, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư,…

Cách đánh giặc đúng đắn đó là: Thấy được chổ mạnh, chổ yếu của kẻ thù,tránh chổ mạnh và đánh vào chổ yếu của giặc; biết phát huy chổ mạnh, lợi thế củađất nước, của quân đội và nhân dân ta, buộc địch phải đánh theo cách đánh của tađã được chuẩn bị trước; buộc giặc từ thế mạnh chuyển sang yếu, từ chủ động thành

bị động để tiêu diệt chúng

+ Ý nghĩa lịch sử:

-Thắng lợi của ba lần kháng chiến chống quân Mông – Nguyên đã đập tan tham vọngvà ý chí xâm lược Đại Việt của đế chế Nguyên, bào vệ được độc lập toàn vẹn lãnhthổ và chủ quyền quốc gia của dân tộc, đánh bại một kẻ thù hùng mạnh và tàn bạonhất thế giới bấy giờ, trong bối cảnh nhiều nuuwocs bị đánh bại và nô dịch, so sánhlực lượng giữa ta và địch rất chênh lệch Điều đó càng khẳng định sức mạnh của dântộc Việt Nam, có ý nghĩa nâng cao lòng tự hào, tự cường chính đáng cho dân tộc ta,cũng cố niềm tin cho nhân dân

- Thắng lợi đó đã góp phần xây đắp nên truyền thống quân sự Việt Nam, truyềnthống chiến đấu của một nước nhỏ nhưng phải chống lại những kẻ thù mạnh hơnnhiều lần xâm lược

- Thắng lợi đó đã để lại bài học vô cùng quý giá, đó là cũng cố khối đại đoàn kết toàndân trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là sự quan tâm của nhà nước đến toàn dân,dựa vào dân để đánh giặc

“Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”(Đại

Việt Sử ký toàn thư)

- Thắng lợi trong ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên khôngnhững bảo vệ được độc lập của Tổ quốc mà còn góp phần ngăn chặn những cuộcxâm lươc của quân Nguyên đối với Nhật Bản và các nước phương Nam, làm thất bạimưu đồ thôn tính miền đất còn lại ở châu Á cảu Hốt Tất Liệt

Câu 4: Khởi nghĩa Lam Sơn (1418 -1427).

Giải:

1/ Các cuộc khởi nghĩa trước khởi nghĩa Lam Sơn:

Trang 8

- Năm 1407, nhà Minh cho quân sang xâm lược nước ta Do không được nhân dânủng hộ, cuộc kháng chiến của nhà Hồ nhanh chóng thất bại Nhà Minh đặt ách thốngtrị trên đất nước ta Do chính sách cai trị tàn bạo của nhà Minh, nhân dân ta đã đứngdậy khởi nghĩa , mở đầu là khởi nghĩa của Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng.

- Trần Ngỗi là con của Trần Nghệ Tông, được suy tôn là Giản Định Đế, có nhiềutướng giỏi giúp sức như: Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân Nghĩa quân Trần Ngỗichiếm được vùng đất Thanh Hóa, Nghệ An Tháng 12/1408 nghĩa quân thắng lớntrong trận Bô Cô ( Ý Yên, Nam Định) tiêu diệt 10 vạn quân Minh Sau chiến thắngnày nghĩa quân bị chia rẽ Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân bị Trần Ngỗi sắt hại(1409) Do đó, lực lượng nghĩa quân suy yếu nhanh chóng Trần Ngỗi bị bắt Cuộckhởi nghĩa Trần Ngỗi kết thúc

- Sau khi Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân bị sát hại, con của hai ông là Đặng Dungvà Nguyễn Cảnh Dị đã tôn Trần Quý Khoáng ( cháu vua Trần Nghệ Tông) lên làmvua, tiếp tục cuộc kháng chiến chống Minh Nghĩa quân làm chủ vùng đất rộng lớn từThanh – Nghệ đến Thuận Quảng Về sau, Trương Phụ tăng cường viện binh đàn áp.Cuộc khởi nghĩa bị dập tắt

2/ Khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1427):

Sau chuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi và Trần quý Khoáng, ở nước ta lại nổ ra mộtchuộc khởi nghĩa lớn hơn, đó là cuộc khỡi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi đứng đầu Khởinghĩa Lam Sơn chia làm ba giai đoạn:

* Giai đoạn 1: Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở miền Tây Thanh Hóa (1418- 1423)

- Ngày 7/2/1418 tại Lam Sơn (Thanh Hóa), Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa

- Đây là giai đoạn chiến đấu hết sức gian khổ của nghĩa quân Lam Sơn Họ phải balần rút quân lên núi Chí Linh chống lại sự càn quét của giặc Trong chiến đấu giankhổ, nhiều tấm gương yêu nước đã hy sinh, tiêu biểu là Lê Lai

* Giai đoạn 2: Mở rộng căn cứ vào Nghệ An, giải phóng Tân Bình, Thuận Hóa 1425):

(1424 Tháng 10/ 1424, theo kế hoạch của Nguyễn Chích, Lê Lợi cho đánh thành Trà Lân(Nghệ An), sau đó đánh thành Nghệ An mở rộng căn cứ đại ra Nghệ An, Thanh Hóa

- Tháng 8/1425, Lê Lợi cử Trần Nguyên Hãn, Lê Ngân, Lê Nỗ … mang quân thủy bộgiải phóng Tân Bình, Thuận Hóa (nay là Bình Trị Thiên)

* Giai đoạn 3: Tấn công ra Bắc giải phóng hoàn toàn đất nước( 1426 – 1427):

- Tháng 9/1426, nghĩa quân chia làm ba đạo tiến ra Bắc uy hiếp thành Đông quan,chặn viện binh giặc, giải phóng đất đai

- Cuối năm 1426, Vương Thông cho quân đánh vào chủ lực ta ở Cao Bộ (Hà Tây).Nắm được hướng tiên quân của giặc, quân ta tổ chức mai phục ở Tốt Động, ChúcĐộng Kết quả: 5 vạn quân giặc bị tiêu diệt, Vương Thông bị thương tháo chạy vềĐông Quan

- Tháng 10/ 1427, 15 vạn viện binh giặc do Liễu Thăng chỉ huy tiến vào nước ta theohướng Lặng Sơn Khi qua ải Chi Lăng Liễu Thăng đã bị quân ta phục kích giết chết.Quân giặc tiếp tục tiến về thành Xương Giang nhưng thành này đã bị ta tiêu diệt từ

Trang 9

trước chúng đành co cụm ở giữa đồng nên bị ta tiêu diệt gần hết Không thể trông chờvào viện binh được nữa, Vương Thông buộc phải xin hòa, cam kết rút quân về nước.

* Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử:

+ Nguyên nhân thắng lợi:

- Cuộc khởi nghĩa Lam sơn thắng lợi vẻ vang là do nhân dân ta có lòng yêu nướcnông nàn, ý chí bất khuất quyết tấm giành lại độc lập tự do cho đất nước, toàn dânđoàn kết chiến đấu Tất cả các tầng lớp nhân dân không phân biệt nam nữ, già trẻ,các thành phần dân tộc đều tham gia kháng chiến( gia nhập lực lượng vũ trang, tự vũtrang đánh giặc, ủng hộ, tiếp tế lượng thực cho nghĩa quân…)

- Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn gắn liền với đường lối chiến lược, chiếnthuật đúng đắn, sáng tạo của bộ tham mưu, đứng đầu là các anh hùng dân tộc LêLợi, Nguyễn Trãi Những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa cứu nước, hoàn thành thắnglợi nhiệm vụ giải phóng đất nước

* Ý nghĩa lich sử:

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi đã kết thúc 20 năm đô hộ tàn bạo của phongkiến nhà Minh, mở ra một thời kỳ phát triển mới cảu xã hội, đất nước, dân tộc ViệtNam – thời Lê sơ

Câu 5: Cuộc khắng chiến chống quân Xiêm xâm lược ( 1784 – 1785):

Giải:

1/ Quân Xiêm xâm lược nước ta:

- Xiêm là vương quốc mới thành lập từ thế kỷ XIII nhưng đã nhanh chóng phát triểnthành một quốc gia hùng mạnh ở Đông Nam Á Vào thế kỷ XVIII, các vua xiêm nhiềulần cho quân sang xâm lược các nước xung quanh, trong đó có Đàng Trong nước ta.Như vậy, vào thời điểm này, quân Xiêm đã có âm mưu xâm lược nước ta

- Sau thất bại 1783, Nguyễn Aùnh chạy sang xiêm xin cầu viện Vua xiêm bấy giờ làChakri ( Chất Tri) nhân cơ hội đó đã cho quân sang xâm lược nước ta Tháng 7/1784,vua Xiêm cử 5 vạn quân sang xâm lược nước ta Ba vạn quân bộ do tướng Lục Cônchỉ huy, 2 vạn quân thủy do 2 tướng Chiêu Tăng và Chiêu Sương chỉ huy Đến cuốinăm 1784, quân Xiêm đã tiến đến sông tiền và đóng quân ở Trà Tân Gần 2/3 đất đaicảu Gia Định nằm trong vùng thống trị của quân Xiêm

2/ Diến biến trận Rạch Gầm, Xoài Mút:

- Cuối năm 1784, khi thuận gió Nguyễn Huệ chỉ huy 2 vạn quân thủy bộ vào đóng ởMỹ Tho, ở phía tả ngạn sông Tiền cách bản doanh của địch 40 km

- Đêm ngày 18/01/1785, lợi dụng ánh trăng Nguyễn Huệ cho dấu thủy quân , quânbộ, pháo binh ở Rạch Gầm và Xoài Mút, cù lao Thái Sơn và tả ngạn sông Tiền Đêmđó, Nguyễn Huệ cho đội khinh binh đưa thuyền lên tận Trà Tân khiêu chiến nhằm dụquân địch vào trận địa mai phục Tảng sáng ngày 19/01, luc sông Tiền ở mức nước

“kém” nhất trong năm sắp đổi triều, Nguyễn Huệ từ Mỹ Tho cho quân lên đánh vỗmặt, quân thủy ở Rạch Gầm và Xoài Mút phóng ra chặn đầu và khóa đuôi, toàn bộbinh thuyền của quân Xiêm nằm trong tầm đại bác của pháp binh Tây Sơn NguyễnHuệ lại cho dùng hỏa lực công nên gần như toàn bộ quân xiêm bị đánh bất ngờ và bị

Trang 10

tiêu diệt vào sớm ngày 19/01/1785 Số quân bộ tìm đường tẩu thoát nhưng cũng bịtruy kích, chỉ còn vài ngàn tên sống sót chạy về nước Trong trận này, Nguyễn Aùnhcũng bị bắt, nhưng sau trốn thoát được.

3/ Phân tích nghệ thuật quân sự cảu Nguyễn huệ trong cuộc kháng chiến chống quânXiêm (trận Rạch Gầm, Xoài Mút)

Cuộc kháng chiến chống quân Xiêm thế kỷ XVIII với chiến thắng Rạch Gầm,Xoài Mút đã thể hiện rõ thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ Nghệ thuật quân sự củaNguyễn Huệ trong trận này thể hiện ở ba điểm sau:

- Một là vấn đề thời điểm: Thời điểm mà Nguyễn Huệ chọn để đánh nhau với quânXiêm là thời điểm lý tưởng nhất Nguyễn huệ chọn đêm 18/01 để dấu quân, bố trí trậnđịa mai phục, khiêu chiến và tảng sáng ngày 19/01/1785 để đánh giặc Có người hỏi,tại sao Nguyễn Huệ không chọn thời điểm nào khác mà chọn thời điểm này? Hay tạisao ông không đánh ngay quân Xiêm mới sang nước ta mà phải đợi đến tháng 1/1785mới đánh?

- Có thể thấy, Nguyễn Huệ không cho đánh quân Xiêm ngay khi chúng mới sang xâmlược nước ta mà phải đợi đến tháng 1/1785 mới đánh là đúng Bởi vì ở thời điểm trước

1785, giữa Tây Sơn và quân Xiêm xét về tương quan lực lượng và nhiều thứ khác, ưuthế nghiêng hẵn về quân Xiêm Trước hết, quan Xiêm đông hơn gấp gần 3 lần TâySơn (quân Xiêm có đến 5 vạn, chưa kể quân đội Nguyễn Aùnh dẫn đượng, trong khiTây Sơn chỉ có 2 vạn) Quân Xiêm lại có nhiều tướng giỏi và có Nguyễn Aùnh dẫnđường Điểm yếu thứ hai của quân Tây Sơn, khởi nghĩa Tây Sơn vốn là khởi nghĩanông dân nhằm chống laị triều đình phong kiến nên chắc chắn sẽ chưa có được ýthức dân tộc một cách sâu sắc Điểm yếu thứ ba của Tây Sơn là ở thời điểm trước

1785, quân Tây Sơn chưa có được đông đảo nhân dân Đàng Trong ủng hộ Bấy giờphần lớn nhân dân vẫn còn ủng hộ Nguyễn Aùnh, bởi vì trong tâm trí họ, các chúaNguyễn là người có vai trò hết sức to lớn trong việc mở đất, phát triển kinh tế, ổn địnhđời sống nhân dân ở Đàng Trong Điểm bất lợi thứ tư cho Tây Sơn là Đàng Trong làvùng đát mới được khai phá nên tổ chức làng xã chưa ổn định nên Nguyễn Huệkhông thể tổ chức làng xã chiến đấu như các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâmtrước đây của dân tộc ta

- Rõ ràng ở thời điểm trước 1785, quân Xiêm mạnh hơn hẵn quân Tây Sơn Nhưngquân Xiêm cũng bộc lộ điểm yếu căn bản củ chúng Đó là bản chất của đội quânxâm lược Đã là đội quân xâm lược thì chúng phải cướp bóc, giết người, cướp của,gây tội ác với nhân dân Đay là điểm yếu căn bản của quân Xiêm và là cơ sở đểNguyễn Huệ lợi dụng đánh bại chúng

- Ngược lại quân Xiêm, quân Tây Sơn mặc dù có nhiều điểm yếu nhưng cũng cónhững điểm mạnh cơ bản Đó là khởi nghia Tây Sơn là khởi nghĩa nông dân nhằmđem lại “ cơm no, áo ấm” cho nhân dân nen trước sau nghĩa quân Tây Sơn cũng đượcnhân dân ủng hộ Hơn nữa, sau nhiều năm khỡi nghĩa, lực lượn Tây Sơn đã trưởngthành đủ sức đánh bại quân Xiêm Quan trọng hơn hết, Tây Sơn có được người lãnhđạo tài ba, đó là thiên tài quân sự, anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ

Trang 11

- Rõ ràng với lý do trên, Nguyễn Huệ không đánh quân Xiêm ngay lúc chúng mớixâm lược nước ta là để khai thác điểm yếu của quân Xiêm và phát huy điểm mạnhcủa minh vậy Đây là sự lựa chọn thời điểm hết sức đúng đắn Nhưng có người lại hỏi,tại sao Nguyễn Huệ không chọn tháng nào khác trong năm mà lại chọn tháng 1 đểđánh? Bởi tháng 1 ở Gia Định (Nam Bộ ngày nay) là tháng mà mưc nước “kém” nhấttrong năm Điều này sẽ gây khó khăn cho các thuyền chuyến chở vốn rất to lớn củaquân giặc khi chúng di chuyển đánh nhau với ta.

- Thế tại sao ta lại chọn đêm 18/01 để dấu quân và khiêu chiến địch Bởi vì đêm18/01 có ánh trăng thuận lợi cho ta dáu binh và khiêu chiến địch và ngày 18/01/1785cũng là ngày ta hẹn đánh nhau với địch Do đó, khi Nguyễn Huệ cho quân lên tận TràTân khiêu chiến với quân Xiêm thì lập tức chúng dốc toàn quân đánh nhau với ta- thếlà mắc mưu của ta

- Thế tại sao lại chọn tảng sáng ngày 19/01/1785 để đánh nhau với giặc mà khôngphải là trưa hay chiều? Bời vì Nguyễn Huệ đã tính được quãng đường từ Trà Tân đếnRạch Gầm – Xoài Mút dài khoảng 35 km Nếu đêm 18/01 Nguyễn Huệ cho quân lênTrà Tân khiêu chiến và nhữ quân xiêm đến khi chúng vào trận địa mai phục ở RạchGầm- Xoài Mút thì trời sẽ vừa sáng Rạng sáng thì nước ở sông tiên ở mức “kém”nhất trong ngày Đó là thời điểm rất thích hợp để quân ta có thể lợi dụng để tiêu diệtcác thuyền chiến vốn rất to lớn của giặc nếu chúng lọt vào trận địa mai phục của ta ởRạch Gầm-Xoài Mút

- Đặc điểm thứ hai trong nghệ thuật quân sự của Nguyễn Huệ ỏa Rạch Gầm- XoàiMút là ông đã biết chọn địa hình chiến đấu hết sức phù hợp Tại sao Nguyễn Huệ lạichọn khúc sông Tiền từ Rạch Gầm đến Xoài Mút làm trận địa mai phục và quyếtchiến với quân xiêm? Bởi vì, đoạn sông này dài khoảng 6 km, rộng hơn 1 km, có chổgần 2 km Hai bên bờ sông cây cối rậm rạp, giữa dòng có cù lao Thới Sơn Địa hìnhrất thuận tiện cho việc phục binh và tiêu diệt giặc

- Đặc điểm thức ba trong nghệ thuật quân sự của Nguyễn Huệ trong trận Rạch Xoài Mút là ông đã chọn cách đánh hết sức phù hợp và hiệu quả Sau khi bố trí xongtrận địa mai phục ở Rạch Gầm-Xoài Mút Nguyễn Huệ cho quân lên tận Trà Tân (đạibản doạnh của quân Xiêm) khiêu chiến Bây giờ là đêm 18/01, cũng là ngày NguyễnHuệ hẹn ngày đánh nhau với quân Xiêm Do đó, khi gặp quân ta khiêu chiến, quânXiêm lập tức dốc toàn bộ lực lượng đuổi đánh Quân ta vauwf đánh vừa giả vờ thuachạy, nhữ giặc vào trận địa mai phục ở Rạch Gầm-Xoài Mút Khi toàn bộ quân Xiêmlọt vào trận địa mai phục, quân ta ở Rạch Gầm-Xoài Mút lập tức xông ra chặn đánh,khóa đuôi Đồng thời ở hai bên bờ sông và ở cù lao Thới Sơn quân ta đồng loạt dùngcung tên, đại bác bắn dữ dội vào các thuyền chiến của giặc Quân ta lại dùng hỏacông (hỏa hổ) nên 5 vạn quân giặc bi ta tiêu diệt gần hết, chỉ còn vài ngàn tên sốngsót theo đường bộ chạy về nước Như vậy, bằng cách đánh phù hợp, hiệu quả, quân

Gầm-ta đã tiêu diệt gần hết 5 vạn quân Xiêm chỉ trong 1 buổi sáng Đây là chiến thắngnhanh nhất trong lịch sử các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm cảu dân tộc ta, thểhiện rõ thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ

4/ Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử:

Trang 12

a/ Nguyên nhân thắng lợi:

- Do tài năng quân sự có một không hai cảu Nguyễn Huệ Oâng đã biết chon thờiđiểm, địa hình, cách đánh phù hợp Ngoài tài năng quân sự có một không hai,Nguyễn Huệ cũng tỏ ra là một nhà chính trị, ngoại giao hết sức tài ba Điều này thểhiện ở chổ: ông đã biết lợi dụng, khai thác điểm yếu của kẻ thù là bản chất cảu độiquân xâm lược để lôi kéo nhân dân về phía mình Oâng cũng biết lợi dụng sự chủ quancủa kẻ thù để đánh bại chúng đang ở trong thời điểm mạnh nhất ( về lực lượng, cảvề tinh thần) Đây chính là sự khác biệt lớn giữa ông và các nhà quân sự tài ba củanước ta

- Quân Xiêm: quân Xiêm thất bại không phải do chúng yếu về lực lượng mà do sựchủ quan của chúng mang lại Sự chủ quan này thể hiện ở chổ xem thường, đánh giáthấp nghĩa quân Tây Sơn và Nguyễn Huệ Sự thất bại của quân Xiêm cũng bắt nguồntừ bản chất của chúng Đó là bản chất cảu đội quân xâm lược Đó là đội quân cướpnước, cướp ccuar, giết người, gây tội ác, gây hận thù sâu sắc trong nhân dân nêntrước sau gì cũng bị tiêu diệt

b/ Ý nghĩa lịch sử:

Chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút chứng tỏ quân Tây Sơn đã trưởng thành về mọimặt, thể hiện thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ Phong trào Tây Sơn vươn lên làmnhiệm vụ cảu một phong trào dân tộc, làm cơ sở cho cuộc tấn công ra Bắc và đánhbại quân xâm lược Mãn Thanh sau này

Câu 7: Công cuộc khai phá đất Đàng Trong của các chúa Nguyễn.

Giải:

1/ Cơ sở tiền đề:

- Do sức ép củ các thế lực xâm lược, bành trướng phương Bắc ( Trung Quốc, quânTrịnh) thường xuyên đe dọa, đòi hỏi các chúa Nguyễn phải mở rộng lãnh thổ về phíaNam để tăng cường sức mạnh phòng thủ

- Sự phát triển của các làng xã canh tác lúa nước, cùng nhu cầu khẩn hoang của nhànước và nhân dân

- Sự lớn mạnh cảu các triều đại phong kiến Việt Nam từ thế kỳ X- XVIII

- Nhà Lý mở đất đến cửa Việt (1069, nhà Trần mở đất đến cửa Đại (1306), nhà Hồmở đất đến Quảng Ngãi (1402), nhà Lê mở đất đến Bình Định- Phú Yên (1471)

2/ Chúa Nguyễn tiếp tục mở đất:

- 1611, chúa Nguyễn mở đất đến Phú Yên

- 1653, chúa Nguyễn Phúc Tần mở đất đến Khánh Hòa

- 1693, chúa Nguyễn Phúc Chu lấy nốt đất của Champa

Trang 13

- 1623, chúa Nguyễn cho lập trạm thu thuế ở Sài Gòn, đánh dấu chủ quyền của chúaNguyễn ở đây.

- 1679, các cựu đại thần nhà Minh là Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên mang

50 chiến thuyền và 3000 quân xin vào tị nạn Chúa Nguyễn Phúc Tần đã khôn khéocho họ nhập cư ở vùng đất Mỹ Tho và Biên Hòa

- 1698, Nguyễn Hữu Cảnh đi kinh lí ở phía Nam đã lập phủ Gia Định

- 1708, Mạc Cửu- một cựu thần khác của nhà Minh, đem đất Hà Tiên dâng cho chúaNguyễn

Như vậy, đến giữa thế kỷ XVIII, Đàng Trong được mở rộng từ sông Gianh đếnCà Mau, đặt dưới kiểm soát của chúa Nguyễn

4/ Chính sách khai thác vùng đất mới cảu chúa Nguyễn:

- Đàng Trong là vùng đất rộng lớn, phì nhiêu cần nhiều lao động

Đó là:

- Người Việt: nông dân nghèo vùng Thuân Quảng, được chúa Nguyễn khuyếnkhích vào Nam khẩn hoang, lập làng

- Địa chủ được mộ dân nghèo khẩn hoang

- Tù nhân, binh lính

- Đặc biệt người Hoa được chú trọng sử dụng Người Hoa với khả năng tài chính,kinh doanh đã tạo dựng các phố, chợ, tạo nên chất lượng mới trong dân cưĐàng Trong

- Người bản địa cũng đước sử dụng để khai thác các tiềm năng của vùng đất mới.Nhờ chính sách khôn khéo về nhân lực, phù hợp với yêu cầu phát triền đất nướcnên Đàng Trong nhanh chóng phát triển trở thành chổ dựa cho các chúaNguyễn sau này

5/ Chính sách phát triển kinh tế:

- Mục tiêu: Xây dựng Đàng Trong lớn mạnh để có khả năng đương đầu với chúa Trịnh

ở Đàng Ngoài

- Biên pháp:

+ Khai hoang, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp

+ Chú trọng phát triển nền kinh tế hàng hóa và nền thương nghiệp, đặc biệt là ngoạithương: Nhà Nguyễn kêu gọi đầu tư nguồn nhân lực, tài chính hàng hóa nước ngoài

Câu 8: Sự phát triển kinh tế hàng hóa:

Giải:

1/ Sự phát triển kinh tế hàng hóa:

a/ Nông nghiệp: Các sản phẩm: gạo, tiêu, cau, gỗ, trầm hương, hải sản, yến sào.b/ Thủ công nghiệp: Gồm các ngành: Dệt, làm gốm, đúc đồng, làm đường, khai thácyến sào, khai thác mỏ, chế tạo và sửa chữa đồng hồ, làm kính thiên lí …

c/ Thương nghiệp:

-Trong nước: xuất hiện nhiều chợ, phố, thị tứ

- Ngoại thương: rất phát triển Các chúa Nguyễn buôn bán với các nước:

Trang 14

+ Trung Quốc:: từ thế kỷ XVII, nhiều thương nhân Trung Quốc đã buôn bán với ĐàngTrong Người Hoa buôn bán ở hầu khắp các vùng đất Đàng Trong, tập trung ở phốHội An, phố Thanh Hà, phố Nước Mặn.

+ Nhật Bản: Từ thế kỷ XVIII, thương nhân Nhật Bản đã đến nước ta buôn bán NgườiNhật buôn bấn nhiều ở Hội An

+ Bồ Đào Nha: là khách hàng phương Tây đến buôn bán sớm nhất với Đàng Trong.Họ không lập thương điếm mà trao đổi trực tiếp

+ Hà Lan: từ thế kỳ XVII, người Hà Lam đến buôn bán, lập thương điếm ở ĐàngTrong Nhưng về sau, họ có âm mưu liên kết với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài để đánhchiếm Đàng Trong Vì thế, chuá Nguyễn cho đóng cửa thương điếm, cự tuyệt buônbán, qua lại

+ Anh: người Anh đặt quan hệ buôn bán với Đàng Trong từ cuối thế kỷ XVII nhưng họlại có âm mưu xâm lược Đàng Trong nên bị chúa Nguyễn cắt đứt quan hệ

+ Pháp: người Pháp đến đặt quan hệ buôn bán với Đàng Trong từ giữa thế kỷ XVIIInhưng mục tiêu lớn của họ là nhằm thăm dò để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâmlược thực dân sau này nhiều hơn buôn bán

2/ Sự phồn thịnh của các đô thị:

- Quá trình phát triển kinh tế hàng hóa và mở rộng ngoại thương đã làm phồn thịnhmột số đô thị ở Đàng Trong mà tiêu biểu là Hội An ( Quảng Nam, Thanh Hà ( ThừaThiên Huế ), Nước Măn ( Bình Định ) vào thế kỷ XVII

- Hội An: tập trung rất nhiều người nước ngoài đến làm ăn sinh sống như: người Hoa,người Nhật, người Bồ Đào Nha, người Hà Lan … Trong đó, người Hoa giữ vai trò quantrọng nhất ở Hội An

- Thanh Hà: Cũng tập trung nhiều thương nhân nước ngoài và người Hoa vẫn giữ vaitrò quan trọng ở đây

- Nước Mặn: XVII, phố Nước Măn là thương cảng chính của phủ Quy Nhơn có quanhệ buôn bán với nhiều nước

- Các đô thị Đàng Trong thinh vương trong hai thế kỷ XVII – XVIII, về sau do hiệntượng bồi đắp lạch sông, cửa biển, thuyền bè cập bến khó khăn đành phải chuyểnđổi vị trí Nhu cầu trao đổi hàng hóa sau chiến tranh Trịnh – Nguyễn không còn mạnhmẽ, luồng buôn bán với các nước phương Tây không còn thường xuyên ….nên các đôthị ngày càng sa sút Chỉ có Hội An gắng gượng và đứng vững được trong thế kỷ XIX,hiện nay trở thành di sản văn hóa thế giới

Phần: LỊCH SỬ VIỆT NAM CẬN-HIỆN ĐẠI Câu 1: Phân tích vao trò của NAQ trong việc tiếp thu truyền bá CN Mác-Lênin và tổt chức phong trào cộng sản làm tiền đề dẫn đến hình thành chímh Đảng của g/c vô sản ở VN giai đoạn 1920-1930.

Giải:

1.Phân tích vai trò NAQ trong việc tiếp thu truyền bá CN Mác – Lênin

Trang 15

- Sau nhiều năm bôn ba hại ngoại tìm đường cứu nước, NAQ đã bắt gặp con đườngcứu nước bằng thắng lợi c/m Tháng 10 Nga năm 1917, gia nhập ĐCS Pháp, sự kiệnđó đánh dấu quá trình bắt đầu tiếp thu CN Mác-Lênin của NAQ.

- NAQ bắt đầu tiếp thu CN Mác-Lênin, sự kiện tháng 7-1920 khi bắt gặp tác phẩmcủa Lênin trên báo Nhân Đạo “Sơ khảo về luận cương lần thứ I” trong đó lập trườngủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa của quốc tế Công sảnĐảng Từ đó NAQ say sưa tìm trên hiểu trau dồi lý luận CN Mác và quyết tâm đi vềphía quốc tế Cộng sản

- Quá trình tiếp thu CN Mác-Lênin cảu NAQ đạt đến độ chín muồi, cuối năm 1920,sau Đại hội lần thứ 18 Đảng Xã Hội Pháp ở thành phố Tua, NAQ đã thể hiện lậptrường dứt khoát đứng về phía những người công sản, ủng hộ Quốc tế 3 Đặc biệt cótham gia thành lập Đảng Công sản Pháp, sự kiện đó thể hiện nhận thức của NAQ đãchuyển sang lập trường CN Mác-Lênin

- Từ cuối năm 1920-1924, NAQ một mặt ra sức học hỏi, trau dồi rèn luyện nâng caolý luận Mác-lênin, mặt khác ra sức tuyên truyền vận động CN Mác –Lênin đến cácdân tộc thuộc địa trong đó có Việt Nam Được thể hiện cụ thể qua 1 số sự kiện hoạtđộng tiêu biểu: Đồng sáng lập Hội Liên Hiệp thuộc địa ở Pháp, cung với những nhàyêu nước xuất bản tờ báo “ Người Cùng Khổ” tháng 4/1922, tham gia Đại hội Quốc tếnông dân tại Liên Xô tháng 10/1923, tham dự ĐẠi hội 5 Quốc tế Công sản tạiMatxơcơva ở Liên Xô tháng 7/1924 Qua các hoạt động đó NAQ đa viết nhiều thamluận, nhiều bài báo thể hiện nhận thức sâu sắc CN Mác-Lênin, lên án CN đế quốc,kê gọi nhân dân thuộc địa đứng lên chống CN đế quốc và đi theo con đường CN Mác–Lênin đề ra

- Đến cuối 1924, đa nhận thấy truyền bá CN Mác-Lênin trực tiếp về nước, đến TrungQuốc tìm gặp những nhà yêu nước đang lưu vong tại đó và đưa họ đi theo con đường

CN Mác –Lênin, tuyên truyền CN Mác-Lênin về trong nước

- Tháng 6/1925 NAQ đã thành lập Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên là nhằmmục đích tập hợp đội ngũ CM và hướng tổ chức Hội đi theo con đường CN Mác-Lênin Đồng thời thông qua Hội để tổ chức truyền bá CN Mác-Lênin váo Việt Nam.Hoạt động của NAQ được thể hiện thông qua việc tổ chức các lớp huấn luyện tậphuấn mà người đứng lớp là NAQ, mục đích là trang bị nhữn kiến thức cơ bản về CNMác – Lênin cho Hội viên về truyền bá vào trong nước Bên cạnh đó NAQ cho xuấtbản tờ báo Thanh Niên số đầu tiên 24/06/1925, Người vừa chủ bút, vừa là người viếtbài chính, mục đích là tuyên truyền tư tưởng quảng bá CN Mác-Lênin đến với nhândân VN Ngoài ra 1927, NAQ cho xuất bản tác phẩm “Đường cách mệnh” , với mụcđích trình bày những luận điểm cơ bản của CN Mác-Lênin và con đường CM của VNđể làm tài liệu tham khảo cho các hội viên đi theo con đường CM Đồng thời cũng làtài liệu tuyên truyền trực tiếp cho người đọc

- Từ 1925 – 1929 thông qua đội ngũ hội viên, thông qua tờ báo Thanh niên, qua tácphẩm “ Đường cách mệnh”, CN Mác-Lênin được truyền bá rộng rãi ở VN Đặc biệtqua trong trào vô sản hoá 1928-1929 của các hội viên VN CM Thanh niên kể cả cácĐảng của tổ chức Tân Việt Đảng, CN Mác-Lênin đã ngày càng thấm sâu vào công

Ngày đăng: 29/03/2021, 16:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w