Mở đầu Tiến trình văn hoá Việt Nam, cho đến nay, đã trải qua nhiều biến động,nhưng do những hoàn cảnh địa lí – khí hậu và lịch sử xã hội riêng nên dù biến động tới đâu, nó vẫn mang trong
Trang 1GIAO LƯU VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ
I Mở đầu
Tiến trình văn hoá Việt Nam, cho đến nay, đã trải qua nhiều biến động,nhưng do những hoàn cảnh địa lí – khí hậu và lịch sử xã hội riêng nên dù biến động tới đâu, nó vẫn mang trong mình những nét bản sắc không thể trộn lẫn được với một tiến trình tạo thành ba lớp văn hoá rõ rệt :
- Lớp văn hóa bản địa : hình thành trên nền văn hoá Nam Á và ĐôngNam Á
- Lớp thứ hai : hình thành trong quá trình giao lưu văn hoá khu vực,trươc hết là từ Trung Hoa
- Lớp thứ ba : hình thành trong qua trình giao lưu với văn hoá thế giới, đặcbiệt là giao lưu với văn hoá phương Tây
Từ khi văn hoá phương Tây bắt đầu thâm nhập, cùng lúc văn hoá Trung Hoasuy thoái đi, các yếu tố thuộc bản sắc truyền thống của văn hoá Việt Nam được dịp phát huy tác dụng Tuy nhiên, dù Việt Nam có ngày càng hội nhập sâuhơn vào thế giới, một số yếu tố văn hoá Trung Hoa đã mãi mãi trở thành một
bộ phận của truyền thống văn hoá Việt Nam
Giai đoạn từ 1858 đến 1945, nhìn ở diễn trình văn hoá, là một sự đứt gãychưa từng có Non một trăm năm, bắt đầu từ các đô thị, từ Sài Gòn đến Hà Nội,
từ Nam đến Bắc ,từ thành thị đến nông thôn ,văn hoá Việt Nam có những biến thiên ghê gớm Từ cách ăn, mặc ,đến các phương tiện đi lại, từ điêu khắc ở đìnhlàng đến tượng đài ở những nơi công viên, từ thơ Đường sang thơ mới, từvăn vần sang văn xuôi, tiểu thuyết, từ chữ Hán chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ,tất cả đều đi tới hoà nhập với thế giói hiện đại Tuy nhiên, bản sắc văn hoá dântộc vẫn không mất đi , không bị thay đổi Nói các khác, đó là văn hoá Việt Nam , là sự không chối từ về văn hoá trong việc tiếp thu các yếu tố ngoại sinh
Trang 2Sự tích hợp và kế thừa liên tục làm cho văn hoá Việt Nam trởthành một khối vững chắc biết ứng xữ khéo léo với tự nhiên và luôn luônchiến thắng những thế lực mạnh hơn mình gấp bội Truyền thống là ổn định,còn hiện tại phải là phát triển Sức mạnh văn hoá bốn nghìn năm đó cũng chính
là động lực phát triển cho xã hội ngày hôm nay
Nội dung đề tài xin trình bày bối cảnh của quá trình giao lưu văn hoáViệt –Pháp , Nội dung giao lưu văn hoá Việt – Pháp trong thời kỳ Pháp thuộc Đây là quá trình đồng hoá của thực dân Pháp và chống đồng hoá của nhân dân ta Nội dung các quá trình giao lưu văn hoá đã tạo nên nền văn hoá Việt Nam hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc
II Bối cảnh lịch sử văn hoá
1 Người Pháp xâm lược và dân tộc Việt Nam chống xâm lược
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam với lý do triều đìnhHuế ngược đãi các giáo sĩ và cự tuyệt không nhận quốc thư của Pháp đòi tự dobuôn bán Năm 1859, khi không thắng nổi quân dân Việt Nam, dươí sự lãnh đạocủa nhà Nguyễn, thực dân Pháp đã quay vào Nam Bộ và tiến công thành Gia Định.Triều đình nhà Nguyễn phân vân, có phái chủ chiến, có phái chủ hòa Năm 1862,thực dân Pháp đã chiếm được các tỉnh thành như Định Tường, Biên Hòa,GiaĐịnh, Vĩnh Long v.v…Năm 1867, chúng lại chiếm nốt ba tỉnh miền Tây, đặt áchcai trị ở Nam Bộ Năm 1873, người Pháp bắt đầu đánh ra Bắc Bộ Năm 1874, triềuNguyễn lại ký với Pháp một hiệp ước đầu hàng ( còn gọi là hiệp ước Giáp Tuất),gồm 22 khoản, trong đó có những khoản chủ yếu là công nhận chủ quyền của Pháp
ở cả Lục tỉnh, thay đổi chính sách đối với đạo Thiên Chúa, mở cửa cho Pháp tự dobuôn bán Năm 1882, thực dân Pháp đánh thành Hà Nội Năm 1883, chúng lạiđánh vào kinh thành Huế Ngày 25-8-1883, triều Nguyễn đã phải kí tại Huế một “Hiệp định hòa bình” ( còn gọi là Hiệp ước Hácmăng), với người Pháp, thừa nhậnPháp đặt quyền thống trị trên toàn bộ đất nước Việt Nam Từ đây, triều đình Huế
Trang 3thừa nhận Nam Kì là thuộc địa của người Pháp, còn lại Trung Kì, Bắc Kì thuộc chế
độ bảo hộ Phần đất từ Bình Thuận trở vào Nam là thuộc địa : Côsanhsin(Cochinchine) tức Nam Kì; phần đất từ Khánh Hòa tới Đèo Ngang là theo chế độnửa bảo hộ: An Nam tức Trung Kì; phần đất từ Đèo Ngang ra Bắc là theo chế độbảo hộ của Pháp: Tôngcanh ( Tonkin) tức Bắc Kì Đồng thời người Pháp cũng tước
bỏ hoàn toàn quyền ngoại giao của triều đình Huế Nói như cách nói của F.Angghen: dân tộc Việt Nam đã mất hành động độc lập trong lịch sử
Đứng trước vận mệnh lớn lao của lịch sử, nhân dân Việt Nam đã liêntục đứng lên chống Pháp Những quan lại của triều đình Huế như Nguyễn TriPhương, Hoàng Diệu, Tôn Thất Thuyết v.v…, những lãnh tụ nghĩa quân nhưTrương Định, Võ Duy Dương, Nguyễn Trung Trực ở Nam Kì, như Đinh CôngTráng, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Cầm Bá Thước v.v…, ở Bắc Kì,Trung Kì , liên tục đứng lên đánh Pháp, bằng lòng yêu nước nồng nàn của mình.Tất cả các phong trào yêu nước chống Pháp, bảo vệ độc lập dân tộc, tuy rất kiêncường, anh dũng nhưng đều bị thất bại
Công cuộc bình định Việt Nam của thực dân Pháp căn bản hoàn thành
và chúng bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa
Bắt đầu từ Pôn Đume ( Paul Doumer) với nhiệm kỳ toàn quyền ĐôngDương ( 1897- 1902), cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất ở Đông Dương bắtđầu Viên toàn quyền Đông Dương này đã tổ chức và kiện toàn cơ chế phủ toànquyền, đẩy mạnh việc khai thác thuộc địa trên mọi lĩnh vực Tác động của côngcuộc khai thác thuộc địa này với xã hội cổ truyền rất mạnh mẽ Những năm haimươi của thế kỉ XX, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp ởĐông Dương được đẩy nhanh về tốc độ lẫn bề rộng và bề sâu Theo ý đồ của AnbeXarô ( A Sarraut) , tư bản Pháp đầu tư rất nhiều vào nông nghiệp
Tuy nhiên, cả hai lần khai thác thuộc địa, thực dân Pháp không hề chủtrương xóa bỏ các quan hệ kinh tế cổ truyền mà chủ trương duy trì các quan hệ ấy
Trang 4Diện mạo xã hội Việt Nam thời kì này sẽ bao gồm cả quan hệ tư bản thực dân và
cả các quan hệ phong kiến
2.Chính sách văn hoá của người Pháp
Bộ máy thống trị thực dân đã thực thi một chính sách văn hóa nhằmcủng cố địa vị thống trị của chúng ở Đông Dương
Ở lĩnh vực văn hóa, tổ chức đời sống xã hội, chính sách văn hóa nhằmcủng cố địa vị thống trị của chúng ở Đông Dương
Ơ lĩnh vực văn hóa, tổ chức đời sống xã hội, chính sách chia để trị củathực dân Pháp chỉ tác động tới phần nổi ở bên trên với cả ba vùng: Bắc, Trung,Nam Cơ cấu xã hội cơ sở: làng xã vẫn tồi tại, thậm chí, người Pháp còn duy trì tổchức làng xã nhằm sử dụng bộ máy kì hào phong kiến để làm các công việc chochính quyền thuộc địa Ý đồ này bộc lộ rất rõ qua lời của viên Toàn quyền PônĐume (Paul Doumer): “Theo tôi, duy trì trọn vẹn, thậm chí tăng cường cách tổchức cũ kĩ mà chúng ta đã thấy, đó là một điều tốt Theo cách tổ chức cũ kĩ màchúng ta đã thấy, đó là một điều tốt Theo cách tổ chức này thì mỗi làng sẽ là mộtnước cộng hòa bé nhỏ, độc lập trong giới hạn những quyền lợi địa phương Đó làmột tập thể được tổ chức rất chặt chẽ, rất có kỉ luật và rất có trách nhiệm đối vớichính quyền cấp trên về những cá nhân thành viên của nó, những cá nhân mà chínhquyền cấp trên có thể không cần biết tới, điều đó rất thuận lợi cho công việc củachính quyền Tác động ngoài ý muốn của chính quyền cai trị đối với văn hóa từthái độ này lại là sự tạo điều kiện để văn hóa, nhất là văn hóa dân gian của ngườiViệt được giữ vững Bởi lẽ, cơ cấu tổ chức làng xã không bị phá vỡ
Ơ lĩnh vực giáo dục, ban đầu người Pháp duy trì Nho học với chế độkhoa cử đã lỗi thời nhằm lợi dụng Nho giáo để duy trì trật tự xã hội Việc này kéodài mãi đến dầu thế kỉ XX, ở Trung Kì năm 1918, ở Bắc Kì mới bãi bỏ chế độ thi
cử bằng chữ Hán
Trang 5Tuy nhiên, để có công chức cho chính quyền thuộc địa, thực dân Phápvẫn phải mở các cơ sở đào tạo loại naỳ Năm 1897, chúng mở trường Hậu bổ ở HàNội, cải tổ trường Quốc Tử Giám ở Huế, mở trường Sư phạm sơ cấp ở Hà Nội.Đồng thời, đối phó với các phong trào yêu nước như Đông Kinh Nghĩa Thục,Đông Du, Duy Tân, người Pháp cùng với Nam triều thành lập bộ Học, sửa đổi quychế thi Hương và Thi Hội Năm 1908, viên toàn quyền Klôbuycốpxki vẫn bắt đóngcửa trường đại học cho đến năm 1917, viên toàn quyền Anbe Xarô mới cho mởcửa trở lại Tuy là trường đại học nhưng các văn bằng của trưòng này không có sựtương đương với văn bằng ở chính quốc.
Ngoài các trường học, người Pháp còn mở một số cơ sở nghiên cứukhoa học như Viện vi trùng học ở Sài Gòn (1891), Nha Trang (1896), Hà Nội(1900), trường Viễn Đông Bác Cổ (1898) v.v…
Mục đích giáo dục của chính quyền thuộc địa không hoàn toàn là vìnâng cao dân trí cho người dân thuộc địa, mà chủ yếu nhắm đào tạo ra một đội ngũcông chức, để phục vụ cho nhà nước bảo hộ Một tầng lớp trí thức mới xuất hiện sẽthay thế địa vị của lớp Nho sĩ cũ trong xã hội, trên văn đàn
Đồng thời, nếu như trong suốt hơn hai thế kỉ cho đến năm 60 của thế kỉXIX, chữ Quốc ngữ chỉ dùng trong nội bộ đạo Thiên chúa, để in các sách đạo, thìsau khi chiếm được Nam Kì, người Pháp đã nhìn thấy chữ Quốc ngữ là công cụthuận lợi cho việc cai trị và đồng hóa văn hóa, vì thế, họ khuyến khích học chữQuốc ngữ.Trong trường học ở Nam kì, chữ Quốc ngữ được dạy trong các trườnghọc, trong các công văn giấy tờ bên cạnh chữ Nho Như vậy là, ban đầu, đi từ thứchữ dùng trong nội bộ đạo Thiên chúa tới chỗ phổ cập, chữ Quốc ngữ được truyền
bá bằng phương pháp cưỡng chế
Mặt khác, để thông báo các chính sách thực dân, và ca ngợi “công ơnkhai hóa, truyền bá văn minh Đại Pháp”, thực dân Pháp cho báo chí phát triển ởNam Kì sau rộng ra trên cả đất nước
Trang 6Tựu trung, chính sách về phương diện văn hóa của người Pháp nhằmphục vụ cho sự cai trị và các công cuộc khai thác thuộc địa của chính quốc Nằmngoài ý định của kẻ đi xâm lược, tác động của những chính sách này đối với diễntrình văn hóa Việt Nam giai đoạn này không phải là không có.
III Nội dung giao lưu văn hoá Việt – Pháp thời Pháp thuộc
1 Văn hoá vật chất
Ngay từ đầu, người Pháp đã triển khai phát triển đô thị, công nghiệp
và giao thông Đương nhiên là với muc đích rất rõ ràng là khai thác thuôc địa
- Trong lĩnh vực đô thị , từ cuối thế kỷ XIX ,đô thị Việt Nam từ mô hình cổtruyền với chức năng trung tâm chính trị đã chuyển theo mô hình đô thị côngnghiệp – thương nghiệp chu trọng chức năng kinh tế Nhiều nhà máy , xí nghiệp hình thành trong các đô thị , Ở đô thị lớn hình thành một tầng lớp tư sản dân tộc ;Các trường trung học và đại học cũng ra đời trong các đô thị Nhiều đô thị và thịtrấn nhỏ cũng dần dần phát triển
Xuất hiện các kiến trúc đô thị kết hợp khá tài tình phong cách phươngTây với tính cách dân tộc ,phù hợp với điều kiện thiên nhiên Việt Nam , chẳnghạn ,các toà nhà của Trường Đại học Đông Dương , Bộ Ngoại giao , Trường ViễnĐông Bác cổ … Đã sử dụng hệ thống mái ngói ,bố cục kiểu tam quan , lầu hình bát giác … làm nổi bật tính dân tộc Ở thành phố Sài Gòn , toà Đô Chánh ( nay
là trụ sở uỷ ban nhân dân thành phố ) ,được xây dựng từ năm 1898 , Toà án đượcxây từ năm 1873 … Các công trình kiến trúc đô thị Sài Gòn được chia làm hai gaiđoạn : giai đoạn bình định bằng bạo lực ,kiến trúc được “bê nguyên xi nghệ thuậtđịa phương mà họ khinh miệt ” Nhưng ở giai đoạn sau các công trình kiến trúc ,văn hoá , xã hội đã chú ý hơn đến yếu tố địa lý ,khí hậu và nghệ thuật địa phương
- Về công nghệp : nhiều ngành công nghiệp khác nhau ra đời như khai mỏ,chế biến nông lâm sản , công nhgiệp thực phẩm … làm cho bộ mặt kinh tế Việt
Trang 7Nam trước đây chủ yếu là nông nghiệp thì bây giờ có thêm các ngành khác Truyền thống lâu đời của dân Việt Nam là nông nghiệp trồng luá nước ,đến nayxuất hiện các loại cây công nghiệp từ nước ngoài mang vào như cao su … pháttriển một số cây công nghiệp trong nước đay , cói , đậu lấy dầu …
-Về giao thông : hàng chục vạn dân đinh đã được huy động xây dựng hệthống đường bộ , đường sắt , sân bay , bến cảng … Những con đường xuyênrừng núi , đến các đồn điền hầm mỏ Toàn bộ Đông Dương không nơi nào không
có đường giao thông nếu ở đó có những tài nguyên quý giá Cuộc khai thác thuộcđịa lần thứ nhât đã tạo ra những con đường liên tỉnh dài tới 20 ngàn Km Đườngthuỷ , nhất là ở Nam bộ được tu bổ ,khai thông tới năm 1914 tổng số độ dàiđường thuỷ đã tới 1745 Km Hệ thống đườngsắt hoàn thành vớichiều dài 2059 Km được đưa vào sử dụng vào năm 1936 Những phương tiện giao thông hiện đại đang từng bước thay thế các phương tiện giao thông truyền thống của Việt Nam Nhiều chiếc cầu sắt hiện đại ,rất dài cũng được bắc qua những con sông lớn ở nước
ta ( Cầu Long Biên )
Hệ thống đường sá và đô thị phát triển tạo cho diện mạo văn hoá vậtchất giai đoạn nầy có những khác biệt so với các giai đoạn trước
2 Văn hoá tinh thần:
a) Kitô giáo với văn hoá Việt Nam:
Lớp văn hoá giao lưu với phương Tây hình thành tư khoảng thế kỷ XVI - XVII ,song những ngưòi phương Tây đầu tiên đã tới Việt Nam và ĐôngNam Á sớm hơn nhiều ,vào khoảng đầu công nguyên họ đem đến cac đồtrang sức, pha lê , vũ khí , áo giáp … Đổi lấy các đồ quý hiếm của Đông Nam
Á như trầm hương ,kỳ nam , vàng , đá quý , yến sào ,đồi mồi , ngà voi , tê giác
… và đặc biệt là hồ tiêu và các loại gia vị dùng để bảo quản thịt Không phảingẫu nhiên mà giới nghiên cứu đã gọi tuyến đường biển từ Địa Trung Hải đến
Việt Nam và Đông Nam Á thời đó la Đưòng hồ tiêu.
Trang 8Sau thời Trung cổ nặng nề khiến cho sự giao lưu bị gián đoạn ,sác
h Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi nhận “vào năm Nguyên Hoà thứ
I đờivua Lê Trang Tông (1533 ) có môt người Tây dưong tên là I-nê – khu( Inatio ) theo đường biển lẻn vào giảng đạo Gia tô ở các làng Ninh Cường ,Qu
ần Anh ,Trà Lũ ( thuộc Nam Định cũ ) ” Từ đó các giáo sĩ Bồ Đào Nha và TâyBan Nha tìm đến ngày càng đông Ban đầu ,do chưa quen phong thổ ,chưa thông thạo ngôn ngữ nên việc truyền giáo ít thu được kết quả Dần dần công việc tiếntriển ngày càng khá hơn Theo tài iiệu của giaó hội thì đến năm 1593 , ở Nghệ
An đã có đến 12 làng Công giáo toàn tòng Ki tô giáo đã mở đầu cho sự giao lưu văn hoá giữa Việt Nam với phương Tây
Ki- tô giáo ( hay Cơ đốc giáo ,Thiên Chuá giáo ) là tên gọi chung chotất cả các tông phái cùng thờ chúa Jesus Christ Ki tô giáo ra đời như mộtnhánh của Do thái giaó ở vùng Palestin ,rồi nhanh chóng phát triển thành mộttôngiáo độc lập - tôn giáo của những người bị áp bức Ban đầu , do bị giới chủ
nô La Mã ngăn cản và bức hại Đến thế kỷ IV ,hoàng đế Constanti đệ nhất ra chỉ dụ tha đạo và công nhận Ki tô gáo là quốc giáo
Trong quá trình phát triển , đến khoãng năm 974-1054 ,Ki tô giáo đãtách ra thành hai giáo hội : giáo hội phía Tây gọi là Công giáo ( có nghĩa là đạochung cho toàn thế giới ), lấy Roma làm trung tâm ( nên còn gọi là Công giáo La
Mã , đôi khi gọi là La Mã giáo ) và giáo hội phía Đông gọi là Chính thống giáo lấy Constantism làm trung tâm
Đến năm 1520 , cùng với sự phát triển của giai cấp tư sản , phongtrào cải cách tôn giáo do mục sư Đức tên là M Luther cầm đầu dẫn đến mộtcuộc phân liệt thứ hai , từ khối Công giáo La Mã đã tách ra một dòng mới làđạo Tin lành Đạo Tin lành chiu ảnh hưởng đậm nét của tư tưỏng dân chủ tưsản và khuynh hưóng tự do các nhân : phủ nhận quyền lực của toà thánh và công đồng chung , chỉ thừa nhận Chúa Jesus và kinh thánh ,cho rằng bà
Trang 9Maria chỉ đồng trinh đến khi sinh chủa Jesus ( do sự phản đối giáo quyền La
Mã ,cho nên có tên gọi là Protestanism , nghĩa là Thệ phản ) Vào thế kỷ XVI còn diễn ra cuộc ly khai thứ ba : Anh giáo ,tách ra khỏi Công giáo La Mã
Sự tiếp xúc văn hoá trong giai đoạn đầu diễn ra trên phương diện tôngiáo và thương mại Vươn cánh tay tới phương Đông xa xôi nầy , nhà truyềngiáo và nhà tư bản tất yếu có nhu cầu liên kết chặt chẻ với nhau Nhà truyền giáo muốn mở rộng nước chúa cần phương tiện để đi xa Nhà tư bản muốn kiếm lờicần người am hiểu thị trường nên sẳn sàng giúp đở tài chính cho các giáo sĩ
và chở họ đi bất cứ nơi đâu Bù lại , khi đến nơi ,các giáo sĩ sẽ vừa đi truyền đạo , vừa tìm sẳn các nguồn hàng quý hiếm , nhiều khi các giáo sĩ giúp nhàbuôn bằng cách can thiệp với chính quyền địa phưong cho phép họ buôn bán
Trong việc buôn bán và truyền đạo trong giai đoạn nầy , các giáo sĩ
và thương nnhân phưong Tây thường phục tùng nghiêm chỉnh các quy định củanhà nưóc phong kiến Đổi lại , các chính quyền phong kiến Việt Nam rất niềm nởđón tiếp họ Cả chúa Nguyễn , chúa Trịnh và vua Lê đều muốn tranh thủ lựclượng nầy để củng cố thế lực ,phát triển kinh tế và tăng cưòng tiềm lực quân sự
để kiềm chế và chông lại đối phương Trong khi đó thì ở châu Âu , chủ nghĩa tưbản phát triển mạnh và đi vào con đường thực dân , chi phối mọi hoạt động của xã hội
Cuối năm 1624 , giáo sĩ ngưòi pháp Alxandre de Rhodes ( 1591 –
1660 ) , thường phiên âm là Á lịch sơn Đắc Lộ , thuộc giáo hội Bồ Đào Nha ,sau
mấy năm truyền giáo ở đàng Trong và Đàng Ngoài , đã trở về châu Au vận độngtoà thánh Rô ma giao cho Pháp quyền truyền đạo ở Viễn Đông Kết quả là năm
1658 ,giáo hoàng đã phong cho hai giáo sĩ Pháp là Francois Pallu và Lambert de
la Motte làm giám mục cai quản hai địa phận Đàng Trong và Đàng Ngoài Năm
Trang 101664 , Hội thừa sai Pari,thường gọi lả Hội truyền giáo nước ngoài của Pháp được
thành lập
Cuộc nội chiến Nguyễn Anh – Tây Sơn vào thế kỷ XVIII là một cơ hội
tốt cho cho sự bành trướng của Hội truyền giáo nước ngoài của pháp và sự canthiệp cuả thực dân Pháp Giám mục Pièrre Pigneaux de Béhaine ( 1741 –
1799 ) , thường được phiên âm là Bá Đa Lộc, còn gọi là cha Cả , đại diện của toàthánh ở Đàng Trong ,đã trở thành người đỡ đầu tích cực cho Nguyễn Anh Ong đãđưa hoàng tử Cảnh đi Pháp ,và năm 1787 đã đại diện cho Nguyễn Anh kí vớiPháp hiệp ước Versailles Sau đó , do xãy ra cách mạng Pháp 1789 ,hiệp ướcVersailles không được hiện Bá Đa Lộc đã tự mình mộ quân và sắm vũ khí giúpNguyễn Anh đánh Tây Sơn Hoạt động của Ba Đa Lộc đã giúp cho nước Pháp
có được một chổ đứng vững chắc ở Việt Nam về tôn giáo và chính trị
Sau khi lên ngôi vào năm 1802 , lấy niên hiệu là Gia Long , NguyễnAnh lâm vào một tình thế nước đôi : Môt mặt chịu ơn các giáo sĩ và ân nhânPháp , do vậy ông đã ban thưởng hậu và sử dụng một số làm cố vấn và quan lạitrong triều ; mặt khác lại lo ngại sự phát triển của Ki to giáo trước mắt sẽ ảnhhưởng xấu đến truyền thống đạo đức và thuần phong mỹ tục cổ truyền , sau nữa
có thể làm mất ổn định chính trị và dẫn đến nguy cơ mất nước
Để đối phó với tình hình nầy , Nhà Nguyễn chủ trương “bế môn toã cảng
” trong giao lưu và giữ nguyên hiện trạng đạo Ki tô chứ không khuyến khích pháttriển Trong chiếu ban hành tháng giêng năm 1084 , nhân nói với dân chung Bắc
Hà về việc thơ thần Phật ,vua Gia long đã tuyên bố :” dân các tổng nào có nhàthờ Gia tô đổ nát thì phải đưa đơn trình quan trấn mới được tu bổ , dựng nhà thờmới thì đều cấm”.Để bảo tồn văn hoá và tạo điều kiện giữ ổn định chính trị ,nhàNguyễn đã khôi phục Nho giáo là Quốc giáo ,Gia Long từng căn dặn MinhMạng :”Hãy biết ơn ngưòi Pháp ,nhưng đừng bao giờ để họ đặt chân vào triều đìnhcủa con”