QUÁ TRÌNH GIAO LƯU, HỘI NHẬP VĂN HÓA VIỆ, CHĂM TRONG LỊCH SỬ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào về đề tài này được công bố
Tác giả Luận văn
TRẦN DŨNG
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ CỦA ĐẠI VIỆT VÀ CHAMPA TRƯỚC THẾ KỶ X 17
1.1 Nước Đại Việt giai đoạn một ngàn năm Bắc thuộc 17
1.2 Nước Champa từ cuộc khởi nghĩa Khu Liên đến vương triều Đồng Dương 19
Chương 2: QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP 30
2.1 Chiến tranh, quan hệ bang giao (Từ thế kỷ X đến XIV) 30
2.2 Từ Chiêm Thành quốc đến trấn Thuận Thành – quá trình cộng cư và hội nhập văn hóa sôi động (Từ thế kỷ XV đến XVII) 36
2.3 Hội nhập Việt – Chăm, dòng chảy tất yếu của lịch sử (Từ thế kỷ XVII đến nay) 42
Chương 3: LÃNH VỰC GIAO LƯU VÀ TƯƠNG TÁC 55
3.1 Kinh tế – vật chất 55
3.2 Xã hội – tinh thần 80
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 121
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Lịch sử và các thầy cô trong khoa Lịch sử trường Đại học
Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Hà Bích Liên đã tận tình
hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình, những người thân yêu, bạn hữu đã dành tình cảm, động viên và giúp đỡ trong những ngày
học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trên lãnh thổ nước Việt Nam ngày nay, trong lịch sử, đã từng tồn tại nhiều quốc gia khác nhau, đặc biệt phải kể đến vương quốc Champa của người Chăm Người Chăm vốn sinh sống ở miền duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời và họ đã sớm xây dựng nên vương quốc Champa với một nền văn hóa rực rỡ, mang màu sắc ảnh hưởng từ nền văn minh Aán Độ Trải qua những biến thiên của lịch sử, vương quốc Champa đã dần dần sáp nhập vào lãnh thổ của Đại Việt Đó cũng là quá trình người Việt mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam, quá trình gặp gỡ, tiếp xúc, cộng cư, giao lưu và tiếp biến văn hóa của hai dân tộc
Hiện nay, người Chăm gồm có hai bộ phận chính: bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận, chủ yếu theo đạo Bà La Môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bàni) Bộ phận thứ hai cư trú ở các địa phương thuộc các tỉnh Châu Đốc, Tây Ninh, An Giang, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh, chủ yếu theo đạo Islam mới (Hồi giáo) Cũng như bao dân tộc khác, người Việt và người Chăm khắp mọi miền đều cầu mong có một cuộc sống an lành, ấm no, hạnh phúc và cùng nhau xây dựng Tổ Quốc giàu mạnh
Tìm hiểu quá trình giao lưu văn hóa Việt – Chăm trong lịch sử,
chúng ta sẽ hiểu rõ hơn sự ảnh hưởng qua lại giữa hai tộc người có bản sắc văn hóa độc đáo riêng Do nằm cạnh nhau và có chung những điều kiện tự nhiên, lịch sử , quá trình tương tác văn hóa đã xảy ra như một quy luật tất
Trang 7yếu trong nhiều lãnh vực, từ sinh hoạt vật chất, kết cấu đời sống xã hội đến phong tục, tập quán, ngôn ngữ, tín ngưỡng … Mặc dù người Đại Việt đã chinh phục thành công lãnh thổ của Champa, nhưng chính trong quá trình Nam tiến, mở đất đó, người Việt đã tiếp nhận nhiều yếu tố từ một nền văn hóa giàu bản sắc của người Chăm, từ những điệu hò da diết, đến những công trình kiến trúc nguy nga tráng lệ, những điệu múa say mê lòng
người … Do đó, tìm hiểu quá trình giao lưu văn hóa Việt – Chăm trong lịch
sử, chúng ta sẽ đánh giá đúng đắn hơn, khách quan hơn về vai trò, vị trí
của người Chăm trong quá trình kiến tạo văn hóa Việt Nam – một nền văn hóa đặc sắc, đa dạng, phong phú được kết tinh từ nhiều sắc màu văn hóa của các dân tộc anh em trên mọi miền đất nước
Tìm hiểu quá trình giao lưu văn hóa Việt – Chăm trong lịch sử còn
góp phần làm sáng tỏ thêm vấn đề khoa học lịch sử: quá trình mở rộng không gian sinh sống của người Việt Từ đó, chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về cộng đồng đại gia đình các dân tộc Việt Nam với người Việt là tộc người đóng vai trò chủ thể, còn người Chăm là một trong 53 tộc người thiểu số anh em khác
Trang 82 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu quá trình giao lưu và hội nhập văn hóa Việt –
Chăm từ quá khứ đến hiện tại, từ khi người Việt và người Chăm còn là chủ
nhân của hai quốc gia riêng biệt, đến khi họ đã trở thành hai dân tộc anh
em trong đại gia đình cộng đồng các dân tộc Việt Nam Mốc thời gian được giới hạn ở luận văn này là từ thế kỷ X đến thế kỷ XVII, tức là khi quốc gia Đại Việt ra đời và cũng là lúc bắt đầu một thời kỳ quan hệ sôi động trên tất cả các lãnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa Thế kỷ XVII là mốc thời gian đánh dấu Champa từ một vương quốc trở thành một trấn của Việt Nam Đương nhiên quá trình tiếp biến sau sự kiện 1693 mới thật sự sôi động và nhanh chóng, tuy nhiên, nó như là một hậu quả tất yếu của giai đoạn trước, và ở một giới hạn cho phép, chúng tôi cũng đề cập như là phần mở rộng của luận văn Về nội dung, luận văn cũng xem xét mối quan hệ văn hóa Việt – Chăm trên tất cả các lãnh vực, từ hoạt động kinh tế – vật chất đến đời sống xã hội – tinh thần
3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng hai phương pháp chính của chuyên ngành lịch sử là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Với phương pháp lịch sử, chúng tôi đã phân tích quá trình giao lưu hội nhập văn hóa Việt – Chăm theo trình tự thời gian và trong những không gian, hoàn cảnh cụ thể nhất định Với phương pháp logic, chúng tôi đã phân tích các mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa văn hóa Việt và văn hóa Chăm trên nhiều lãnh vực
Trang 9Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng kết quả nghiên cứu của một số bộ môn khoa học gần gũi như khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học, địa lý – kinh tế để hỗ trợ cho vấn đề mà luận văn nghiên cứu
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trước tiên, luận văn là một công trình nghiên cứu có ý nghĩa khoa
học, nhằm làm sáng tỏ một vấn đề lịch sử: quá trình giao lưu hội nhập văn
hóa Việt Chăm Bằng việc nghiên cứu, phân tích, so sánh nhiều nguồn sử
liệu khác nhau một cách nghiêm túc, chúng tôi đã cố gắng dựng lại bức tranh lịch sử về quá trình giao lưu hội nhập văn hóa Việt Chăm một cách chân thực và sống động Đồng thời, luận văn cũng góp phần làm sáng tỏ thêm vấn đề vị trí, vai trò của người Chăm trong quá trình xây dựng bản sắc văn hóa Việt Nam, và làm sáng tỏ hơn vấn đề khoa học lịch sử đang còn nhiều tranh cãi: quá trình mở rộng không gian sinh sống của người Việt trong lịch sử
Bên cạnh ý nghĩa khoa học, luận văn còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, đặc biệt là vấn đề đoàn kết dân tộc trong thời đại ngày nay
Dân tộc, từ xưa đến nay, luôn là vấn đề nhạy cảm đối với sự thống nhất quốc gia và an ninh thế giới Liên Bang Xô Viết bị tan rã trong những năm 90 của thế kỷ XX là do nhiều nguyên nhân, trong đó có vấn đề dân tộc
Nghị Quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng Sản
Việt Nam họp từ ngày 18-4 đến 25-4-2006 đã khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn
Trang 10kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc … Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiều số Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận, chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc” [45, tr.121-122]
Tìm hiểu nội dung đề tài này nhằm phát huy tình đoàn kết giữa các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Nội dung này còn giúp ích cho việc giảng dạy và học tập bộ môn lịch sử ở các trường phổ thông trung học
5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về những nội dung liên quan đến mối quan hệ Việt – Chăm trong lịch sử như sau:
- Dương Văn An (1997), Ô Châu Cận Lục, Nxb Khoa học Xã hội, Hà
Nội Trong tác phẩm của mình ông đã có nhũng cái nhìn rất sâu sắc tuy có phần phiến diện của một nhà Nho yêu nước Việt về những ảnh hưởng của văn hóa Chăm lên Văn hóa Việt khi người Việt mở đất sinh sống về phương Nam
Trang 11- Phan Huy Chú (1996), Hoàng Việt Địa Dư Chí, Nxb Thuận Hóa,
Huế Theo tác giả: Vùng đất Thuận Hóa xưa là nước Việt Thường, thời Hán thuộc Tượng Quận, thời Tấn thuộc Lâm Aáp Do những quan hệ chính trị, quân sự và ngoại giao nên từ năm 1075 đến năm 1306 đã lần lượt được sáp nhập vào quốc gia Đại Việt Cũng do những mối quan hệ này mà từ năm 1470 đến năm 1680, lãnh thổ của người Việt được mở rộng đến Bình Thuận
- Phan Huy Chú (1972), Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, Tập I, Nxb
Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn hóa, Sài Gòn Tác giả cho rằng: Người Việt ở Thuận Hóa giáp giới với Quảng Nam ở phía nam đã tiếp thu giống lúa của người Chăm trong sản xuất nông nghiệp “Phủ này (Thuận Hóa) có
ít ruộng mùa, nhiều ruộng Chiêm Vụ Chiêm là chính mùa, vụ mùa gọi là trái vụ, những sản vật tốt đẹp gồm các thứ gấm vóc, và chiếu cói dệt rất tinh xảo” (tr 439)
- Lê Quý Đôn (1964), Phủ Biên Tạp Lục, Nxb Khoa Học, Hà Nội Tác
giả cho biết về bộ máy chính quyền của nước Đại Việt trên vùng đất Thuận Hóa và Quảng Nam vào thế kỷ XVIII Tác giả còn nêu lên các nguồn tài nguyên của vùng này cùng các chế độ thuế má của nhà Nguyễn Cũng trên vùng đất này, người Việt đã biết tiếp thu và phát triển việc khai thác các sản vật thiên nhiên của người Chăm như khai thác vàng, tìm kiếm trầm hương …
- Ngô Gia Văn Phái (1987), Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Nxb Văn Học,
Hà Nội Sách nêu lên sức mạnh quân sự của nước Đại Việt vào thế kỷ XVIII, thời kỳ mà cả hai dân tộc Việt – Chăm cùng nhau đoàn kết chống
Trang 12ngoại xâm Người Nam (của nước Đại Việt) lúc này hay dùng voi trong chiến trận, khiến tướng Tôn Sĩ Nghị của nhà Thanh trước khi mang quân sang xâm lược nước ta, phải ban bố những điều luật khi đối phó với voi
- Ngô Thời Sĩ (2001), Việt Sử Tiêu Aùn, Nxb Thanh Niên, Hà Nội Tác
giả cho biết, khi quân Minh sang xâm lược nước ta vào thời nhà Hồ, nhiều người Việt phải lánh nạn sang Champa mà trong đó có nhiều người là con cháu nhà Trần
- Nguyễn Văn Siêu (1997), Đại Việt Địa Dư Toàn Biên, Nxb Văn Hóa,
Hà Nội Tác giả cho rằng: Vua và dân Champa đã từng ủng hộ phong trào Tây Sơn và cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi chống lại nhà Nguyễn Khi vua Champa mất, vua Minh Mạng “cho làm miếu thờ ở Lổi Thành cũ, bờ phía Nam sông Hương, Xuân Thu cúng tế, để giữ việc hương khói” (tr 310)
- Lê Quang Định (2005), Hoàng Việt Nhất Thống Địa Dư Chí, Nxb
Thuận Hóa, Huế Tác giả viết về Dinh Bình Thuận, nơi định cư lâu đời của người Chăm Khi người Việt mở rộng lãnh thổ về phía nam, cả hai dân tộc Việt – Chăm đã cùng nhau sinh sống, tiếp nhận tín ngưỡng của nhau như tôn thờ các vị thần Cá Voi, Thần Nông …
- Khuyết danh (2005) (Trần Quốc Vượng dịch), Việt Sử Lược, Nxb
Thuận Hoá, Huế Sách cho rằng các vua nhà Lý cũng ưa thích các nhạc khúc của người Chăm và cũng quan tâm đến cuộc sống của người Chăm trên đất Đại Việt Vua Lý Thái Tông đã cho lập các hương ấp để người Chăm sinh sống Vua Lý Thánh Tông đã thân phiên dịch nhạc khúc và tiết cổ âm của Chiêm Thành, sai nhạc công ca hát
Trang 13- Trịnh Hoài Đức (1998), Gia Định Thành Thông Chí, Nxb Giáo Dục,
TP.Hồ Chí Minh Tác giả đã nêu một số phong tục tập quán của các dân tộc ở Nam bộ mà chủ yếu là của người Việt Đã có sự hội nhập, nhưng mỗi dân tộc vẫn có những nét riêng “Thành Gia Định nước Nam ta, đất rộng lương thực nhiều, không lo về đói rét, cho nên ít chứa sẵn, tục dân xa hoa, kẻ sĩ đua nhau tài giỏi Người bốn phương ở lẫn nhau, mỗi nhà có tự có tục riêng” (tr 141)
- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập I-II-III (2000), Nxb Văn hóa Thông
tin, Hà Nội Sách nêu lên quá trình giao lưu và hội nhập của hai dân tộc Việt – Chăm từ thời Bắc thuộc đến năm 1656 Nổi bật là việc trồng cây lúa Chiêm, tôn thờ các vị thần, cách ăn mặc, các cuộc hôn nhân và đặc biệt là công cuộc chống ngoại xâm cũng như các chủ trương chính sách của nhà nước Đại Việt đối với người Chăm
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam Thực Lục, Tập 1, Nxb
Giáo Dục, Hà Nội Sách cho biết: Năm 1693, chúa Nguyễn Phúc Chu đổi nước Chiêm Thành làm trấn Thuận Thành nhưng vẫn để người Chăm cai quản để yên lòng nhân dân Năm 1694, khi vua Champa là Bà Tranh chết, chúa Nguyễn Phúc Chu cho tiền và gấm vóc để hậu táng
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam Thực Lục, Tập IV, Nxb
Giáo Dục, Hà Nội Sách cho chúng ta biết rằng, khi vương quốc Chămpa đã trở thành một tỉnh của nước ta, thì người Chăm vẫn là một bộ phận quan trọng không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Chính vì vậy, năm 1836, vua Minh Mạng cho những kẻ sĩ ở Bình Thuận đi học chữ và tiếng nói người Chăm
Trang 14- Quốc sử quán triều Nguyễn (1975), Đại Nam Thực Lục, Tập XXXIII,
Chính Biên – Đệ tứ kỷ VII, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách cho rằng,
năm 1874, vua Tự Đức đã quy định lại tục thờ tự miếu các đế vương ở các triều đại ở các địa phương, vẫn tôn trọng các vị vua Chăm
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm Định Việt Sử Thông Giám
Cương Mục, Tập I, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách cho biết: Vào năm 1044,
nhà Lý đã lập trấn Vĩnh Khang và Đăng Châu trên đất Đại Việt cho người Chăm làm ăn sinh sống Năm 1075, hai vương triều Việt – Chăm cũng đã thỏa thuận cho người Việt đến sinh sống trên đất Champa từ Quảng Bình đến Quảng Trị Năm 1307, nhà Trần đổi châu Ô và châu Lý thành Thuận Châu và Hóa Châu (Thuận Hóa) và sáp nhập vào Đại Việt một cách ôn hòa với sự chấp thuận của vua Champa là Chế Mân Đến năm 1472, người Việt đã đến làm ăn sinh sống trên đất Champa từ Quảng Nam cho đến Phú Yên, do chính quyền Đại Việt cai quản
- Thích Đại Sán (1963), Hải Ngoại Ký Sự, Nxb Viện Đại học Huế
Tác giả đã đến Huế và Hội An từ năm 1695 đến năm 1696, mô tả tình hình đất nước và con người dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu Tác giả ca ngợi sự phát triển kinh tế ở Hội An, nơi mà người Việt kế thừa và phát triển nền kinh tế của người Chăm Cũng theo Bản Ký Sự này thì chúa Nguyễn Phúc Chu rất quan tâm đến việc sử dụng voi, con vật mà người Chăm đã biết dùng từ rất sớm
- Trần Trọng Kim (1999), Việt Nam Sử Lược, Nxb Văn hoá Thông tin,
Hà Nội Tác giả nêu lên mối quan hệ có từ rất sớm giữa người Việt và người Chăm nhưng chủ yếu là quan hệ chính trị, quân sự và ngoại giao
Trang 15Mối quan hệ này có những bước thăng trầm như có lúc xung đột, có lúc hoà hiếu thân thiện
- Uûy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1984), Các Dân Tộc Ít Người Ở
Việt Nam (Các Tỉnh Phía Nam), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách cho
rằng, năm 1984, người Chăm ở Việt Nam có 76.000 người Dưới chế độ Mỹ – Ngụy, ngay trong nội bộ người Chăm ở Phan Rang cũng đã xãy ra xung đột đổ máu vì lý do tôn giáo Sau ngày giải phóng (1975), Đảng, chính quyền và các đoàn thể tỉnh Thuận Hải (Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay) đã góp phần hàn gắn sự bất hòa trong nội bộ người Chăm Nhận đđịnh về vai trò của Người Chăm và mối quan hệ bằng hữu của hai tộc người Việt – Chăm, các tác giả cho rằng, người Chăm và người Việt có mối quan hệ hổ tương khách quan và tất yếu trong cuộc kháng chiến chống các thế lực phong kiến bành trướng Trung Quốc, đặc biệt là chống quân xâm lược Nguyên Mông vào thế kỷ XIII Thế kỷ XVIII, người Chăm đã có mặt trong nghĩa quân Tây Sơn đánh đổ chế độ phong kiến thối nát và cát cứ của chúa Nguyễn Đàng Trong, của Lê Trịnh Đàng Ngoài, góp phần đánh tan quân Xiêm xâm lược (1784 – 1785) và quân viễn chinh nhà Thanh (1788 – 1789) Người Chăm cũng đã cùng với các dân tộc anh em ở Việt Nam đã đi theo Đảng Cộng Sản Việt Nam chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược
- Uûy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Sử học (1989), Đô Thị Cổ
Việt Nam, Nxb Hà Nội Sách đã đề cập đến đô thị cổ Hội An trước thế kỷ
XV, vào thời mà người Chăm còn tụ cư đông đúc, đã có thuyền buôn của
Trang 16ngoại quốc đến và thuyền buôn của họ từ đây đi ra nước ngoài Cư dân Việt đã đến ở rải rác ven biển hoặc làm nghề chài lưới hoặc làm ruộng
- Các tác giả Hà Văn Tấn – Phạm Thị Tâm (1975), Cuộc Kháng Chiến
Chống Xâm Lược Nguyên Mông TK XIII, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội
Lương Ninh (2004), Lịch Sử Vương Quốc Champa, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội Trong các tác phẩm của mình họ đều đề cập đến tình đoàn kết chống phong kiến xâm lược phương Bắc của hai dân tộc Việt – Chăm từ
xa xưa trong lịch sử, quá trình hội nhập, hai nền văn hóa đã ảnh hưởng lẫn nhau, từ kinh tế – vật chất đến xã hội – tinh thần như: chiếc áo dài, tục thờ cúng các vị thần, kiến trúc – điêu khắc, hôn nhân
- Phan An – Lê Xuân Diệm – Mạc Đường, Võ Sĩ Khải (2006), Lịch Sử
Việt Nam, Tập III, Nxb Trẻ, TP.Hồ Chí Minh Theo các tác giả: Nước
Champa ban đầu có tên là Lâm Aáp, được thành lập năm 192 Nhưng chính các vua Chăm luôn tự coi mình là vua của nước Champa Về hoạt động kinh tế vật chất, người Việt đã tiếp nhận một loại lúa đặc hữu của người
Chăm (gọi là lúa Chiêm) từ rất sớm “Lê Quý Đôn trong sách Vân Đài
Loại ngữ, mục Phẩm Vật có ghi Người nước Nam (tức Đại Việt) tiếp xúc với người Chiêm nên trồng được nhiều thứ lúa đạo, chín về mùa hạ, gọi là lúa Chiêm” (tr 265)
- Phan Xuân Biên – Phan An – Phan Văn Dốp (1991), Văn Hóa
Chăm, Nxb Khoa học Xã hội, TP.Hồ Chí Minh Theo các tác giả: Những
dụng cụ chế tác đồ gốm của người Chăm có phần gần gũi với một số dụng cụ làm đồ gốm của người Việt Đặc biệt, dưới cái nhìn của các nhà dân tộc học, các tác giả nghiên cứu và cho rằng, từ trang phục đđến những sinh
Trang 17hoạt trong đđời sống hàng ngày như ăn, uống, hút … , người Chăm một mặt ảnh hưởng những tập quán và quy định của tôn giáo, nhưng mặt khác cũng có giao lưu với người Việt.
- Vũ Minh Giang (Chủ biên) (2008), Lược Sử Vùng Đất Nam Bộ – Việt
Nam, Nxb Thế Giới, Hà Nội Theo các tác giả: Vào năm 1999, miền Tây
Nam Bộ có dân số là 16.130.675 người, trong đó có 14.000 người Chăm
“Từ rất sớm các cộng đồng dân cư Nam Bộ đã có truyền thống đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau, không phân biệt người đến trước, người đến sau, không kỳ thị dân tộc” (tr 69)
- Hall D.G.E (1997) (Người dịch: Bùi Thanh Sơn, Nguyễn Thái Yên
Hương, Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Vũ Tùng, Đoàn Thắng), Lịch Sử Đông
Nam Á, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Tác giả cho biết về sự ra đời của
nhà nước Champa là vào năm 192 Tác giả nêu lên kết luận của Maspero về nguyên nhân suy yếu của vương quốc Champa là “Mối hạân thù kéo dài hàng thế kỷ với Campuchia đã làm cho vương quốc Champa suy yếu, và sự phục hồi rất chậm chạp” (tr 301)
- Ngô Văn Lệ – Ngô Văn Tiệp – Nguyễn Văn Diệu (1997), Văn Hoá
Các Dân Tộc Thiểu Số Ở Việt Nam, Nxb Giáo Dục, TP.Hồ Chí Minh Các
tác giả cho rằng: Lớp thanh niên nam nữ người Chăm ngày nay đã quen dùng y phục hiện đại Trang phục truyền thống chỉ còn thấy ở những người lớn tuổi, ở những vùng xa và trong những ngày lễ hội truyền thống Điều đó nói lên quá trình hội nhập của các dân tộc ở Việt Nam
- Nguyên Ngọc (Chủ biên) (2005), Tìm Hiểu Con Người Xứ Quảng,
Nxb Đà Nẵng Tác giả cho rằng: Đất Quảng nguyên là xứ Amavati, trung
Trang 18tâm kinh tế, chính trị, văn hóa lâu đời và quan trọng nhất của Champa Hai đợt chuyển cư quan trọng của người Việt vào đất Quảng diễn ra vào những năm 1470 (thời vua Lê Thánh Tông) và từ năm 1600 (thời chúa Nguyễn Hoàng) Tác giả coi ở đất Quảng, đã diễn ra cuộc tiếp biến văn hóa lần thứ
ba của người Việt (lần một là với Aán Độ, lần hai là Trung Quốc, lần ba là Champa), người Việt không có thái độ kỳ thị với văn hóa Chăm “Có một sự dung hợp tín ngưỡng rộng rãi, cởi mở của người Việt đối với văn hóa tâm linh của người Chăm” (tr 215)
- Sở Văn hóa Thông tin Quảng Nam (2002), Vai Trò Lịch Sử Dinh
Trấn Quảng Nam, Nxb Quảng Nam Các tác giả cho rằng: Sự giao lưu và
gắn kết văn hóa Việt – Chăm đã tạo nên sự đa dạng phong phú của tiểu vùng văn hóa xứ Quảng, đặc biệt là đã tạo nên những đặc tính đã trở thành phẩm chất của con người xứ Quảng Cái cày trong sản xuất nông nghiệp của người Việt ở xứ Quảng là một minh chứng cho sự cải tạo, dung nạp văn hóa vật chất của người Việt và người Chăm Chiếc ghe bầu của người Việt sử dụng ở Đàng Trong cải tiến theo mô thức của người Chăm Trong nghệ thuật cũng có sự giao thoa của hai nền văn hóa Việt – Chăm khá sâu đậm như dân ca Bài Chòi thịnh hành từ Quảng Nam đến Bình Định ngày nay có nguồn gốc từ Champa Việc thu thuế của người Việt ở Đàng Trong cũng theo kiểu người Chăm Các nghề thủ công, đặc biệt là nghề khai thác yến sào, làm đường phổi, đường phèn trắng và đường cát ở Quảng Nam, người Việt cũng đã học hỏi của người Chăm Các tác giả còn nêu lên nghi vấn chiếc áo Chiêm mà các nhà dân tộc gọi là “áo chui đầu” (poncho),
Trang 19biết đâu là tiền thân của chiếc áo dài của người Việt sau này Rất nhiều vị thần của người Chăm đã được người Việt “Việt hóa” để thờ
- Nguyễn Đình Tư (1974), Non Nước Ninh Thuận, Nxb Sống Mới, Sài
Gòn Theo tác giả: Người Chăm ở Ninh Thuận đã sinh sống xen lẫn với người Việt và đã Việt hóa hoàn toàn như nói được 2 thứ tiếng Việt – Chăm, khi giao tiếp với người Việt thì nói tiếng Việt, khi giao tiếp với nhau thì nói tiếng Chăm Lễ Păng Ka tê và Păng cha bur hàng năm giống như ngày Tết của người Việt là có ăn uống và tế lễ rất linh đình Việc sinh đẻ, ngày nay hầu hết các sản phụ Chăm cũng như Việt đều nằm tại các nhà bảo sanh Ngay dưới thời triều Nguyễn việc ly hôn của người Chăm cũng phải ra nhà chức trách làm giấy ly dị Đất hương hỏa của người Chăm có hình thức và tính chất giống như của người Việt là truyền lại cho con cháu Tang lễ của người Chăm cũng như người Việt là cho xác chết ăn uống, dùng nhà cái để che xác chết, thết đãi ăn uống cho người dự lễ tang
- Nguyễn Phước Tương (2004), Hội An Di Sản Thế Giới, Nxb Văn
Nghệ, TP.Hồ Chí Minh Theo tác giả: Từ thế kỷ XII đến XIX, người Chăm và người Việt đã lấy nước ngọt từ các giếng cổ của người Chăm ở Cù Lao Chàm để cung cấp cho các tàu buôn nước ngoài trên hành trình vượt đại dương ghé qua Cù Lao Chàm
- Nguyễn Thị Thanh (1998), The French Conquest Of Cochinchina,
Ithaca, New York Tác giả cho rằng, người Chăm là những cư dân định cư sau cùng ở đồng bằng sông Cửu Long Họ từ Thuận Hải và Phú Khánh sang Campuchia vào những năm 1790 và 1834 Năm 1858, hàng ngàn người Chăm từ Campuchia trở lại định cư ở Châu Đốc, sau đó mở rộng ra
Trang 20các vùng Tân Châu, Cồn Tiên và Châu Phú ở đồng bằng sông Mê Kông của Việt Nam
- Sharma J.C (1992), Temples Of Champa In Viet Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Ngô Văn Doanh (2003), Thánh Địa Mỹ Sơn, Nxb Trẻ,
TP.Hồ Chí Minh Các tác giả mô tả nghệ thuật kiến trúc độc đáo của người Chăm trong lịch sử, nhưng cũng chịu ảnh hưởng từ bên ngoài, trong đó có Đại Việt
- Li Tana (1999), Xứ Đàng Trong, Nxb Trẻ, TP.Hồ Chí Minh Đây là
một bản Luận án Tiến sĩ viết về lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam ở Đàng Trong vào thế kỷ XVII và XVIII Tác giả cho rằng, có sự giao lưu học hỏi lẫn nhau giữa hai dân tộc Việt – Chăm, từ văn hoá vật chất đến văn hoá tinh thần “Tiến xuống phía Nam, người Việt ở Đàng Trong đã tiếp xúc chặt chẽ với các dân tộc địa phương thuộc các nền văn hoá khác biệt Đứng đầu trong số các dân tộc này là người Chăm Các di dân người Việt đã tiếp nhận và thích nghi một cách thoải mái nhiều yếu tố của nền văn hóa Chăm trong một quá trình dài vay mượn có chọn lọc cái mới và loại bỏ cái cũ không còn phù hợp nơi vùng đất mới” (tr 192)
- Hà Bích Liên (2000), Quan Hệ Giữa Vương Quốc Cổ Champa Với
Các Nước Trong Khu Vực, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội Tác giả nêu lên mối quan hệ đầy biến động về chính trị – quân sự – ngoại giao giữa hai dân tộc Việt – Chăm trước năm 1832 Ngoài
ra, Luận văn còn nêu lên mối giao lưu, hội nhập và tiếp biến giữa hai nền văn hóa
Trang 21- Ở miền Nam Việt Nam từ những năm 50 của thế kỷ XX, có những
bài viết về mối quan hệ Việt – Chăm như: Aûnh hưởng và di tích Chiêm
Thành trong nền văn hóa Việt Nam của Tân Việt Điểu (Tạp chí Văn hóa
Nguyệt San), Aûnh hưởng của Chiêm Thành trong nền văn hóa Việt Nam của Thái Văn Kiểm (Tạp chí Văn hóa Á châu), Aûnh hưởng của văn hóa Chàm
qua Việt Nam của Vũ Lang và Nguyễn Khắc Ngữ (Tạp chí Văn hóa
Nguyệt San) Các tác giả đã nêu sự “ảnh hưởng và hòa nhập” về một số lãnh vực như: ăn mặc, kiến trúc, tín ngưỡng, âm nhạc
- Ngoài ra còn nhiều tài liệu khác, trong đó có các nguồn từ các Websites, cũng cho biết cuộc sống của hai dân tộc Việt – Chăm từ quá khứ đến hiện tại
Như vậy, việc nghiên cứu về quá trình giao lưu và hội nhập văn hóa
Việt – Chăm trong lịch sử đã có và khá phong phú Tuy nhiên, có một điều
dễ nhận thấy là chưa có một tác phẩm nào đề cập đến vấn đề quan hệ Việt
- Chăm một cách hoàn chỉnh trên tất cả các lãnh vực: kinh tế vật chất và xã hội tinh thần một cách có hệ thống Những năm gần đây thiếu vắng hẳn những công trình nghiên cứu đđề cập đđến những ảnh hưởng của văn hóa Chăm trong nền văn hóa Việt, tạo nên một khoảng trống đáng kể khi nghiên cứu về tính phong phú, đđa dạng , dung hợp và cởi mở củangười Việt trong quá trình mở đđất về phương Nam và quá trình hội nhập cộng cư với cư dân bản đđịa - như thực tế lịch sử từng xảy ra
Trang 22Chương 1KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ CỦA ĐẠI VIỆT VÀ CHAMPA
TRƯỚC THẾ KỶ X
1.1 Nước Đại Việt giai đoạn một ngàn năm Bắc thuộc
Trên cơ sở nền văn hóa Đông Sơn, người Việt đã lập nên nhà nước Văn Lang Theo sử cũ và truyền thuyết, nước Văn Lang được dựng lập cách đây hơn 4000 năm Vị vua tổ của dân tộc Việt, người sáng lập ra nước Văn Lang, quốc gia đầu tiên của dân tộc là vua Hùng Vương thứ nhất, đóng đô ở Phong Châu ( Phú Thọ) (Về kinh đô của nước Văn Lang, có nhiều sách viết khác nhau: Văn Lang, Phong Châu, Bạch Hạc), chia nước làm 15 bộ Nước Văn Lang đông giáp biển Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến Hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn (tức Chiêm Thành, nay là Quảng Nam)
Những năm cuối thế kỷ III TCN, triều đại Hùng Vương bước vào giai đoạn suy thoái Bấy giờ bộ lạc Aâu Việt ở phía bắc nước Văn Lang do thủ lĩnh Thục Phán cầm đầu đang trong giai đoạn phát triển, đã đưa quân đánh chiếm kinh đô Phong Châu, lật đổ triều đại Hùng Vương, thống nhất hai bộ lạc Aâu Việt và Lạc Việt (nước Văn Lang) thành một quốc gia mới lấy tên là Aâu Lạc và vương hiệu là An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh – Hà Nội) Cho xây dựng thành Cổ Loa làm trung tâm chính trị và căn cứ quân sự của quốc gia
Năm 207 TCN (có tài liệu ghi năm 208 TCN hoặc 179 TCN), Triệu Đà đem quân đánh lấy nước Aâu Lạc, sáp nhập vào nước Nam Việt Từ
Trang 23năm 207 TCN trở đi, nhiều triều đại phong kiến phương Bắc thay nhau cai trị nước ta, như:
- Nhà Triệu (từ năm 207 TCN đến năm 111 TCN)
- Nhà Tây Hán (111 TCN – 39)
- Nhà Đông Hán (39 – 220)
Hơn 1000 năm Bắc thuộc, nhân dân ta luôn nổi dậy chống lại sự cai trị của phong kiến phương Bắc để giành độc lập, điển hình là những cuộc khởi nghĩa:
- Hai Bà Trưng năm 40
- Bà Triệu năm 248
Trang 24Năm 938, Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, đã mở ra một thời đại mới – thời đại độc lập, tự chủ lâu dài của dân tộc ta Năm 939, Ngô Quyền xưng vương, bắt tay xây dựng chính quyền mới, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh – Hà Nội)
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng Đế (Đinh Tiên Hoàng), đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời kinh đô về động Hoa Lư
Năm 980, Lê Hoàn sáng lập triều đại Tiền Lê Bên trong, chống cát cứ, xây dựng cơ sở của nền kinh tế Bên ngoài, thi hành chính sách ngoại giao mềm dẻo khôn khéo nhưng kiên quyết bảo vệ nền độc lập của đất nước
1.2 Nước Champa từ cuộc khởi nghĩa Khu Liên đến vương triều Đồng Dương
“Về nguồn gốc người Chăm cũng như của các dân tộc thuộc ngữ hệ Mã Lai – Đa Đảo ở Việt Nam đến nay trong khoa học còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau Có người cho rằng họ là con cháu của những người di cư từ thế giới Đảo Đông Nam Á đến Và ngược lại, có người cho rằng họ từ các quần đảo vùng biển Nam Trung Quốc mà di cư xuống vùng đất liền Đông Dương rồi từ đó di cư ra Hải Đảo Đông Nam Á Và người Chăm cùng với các dân tộc thuộc ngữ hệ Mã Lai – Đa Đảo ở Việt Nam chính là đội hậu bị, là cái đuôi của đoàn quân di cư từ vùng lục địa Đông Dương ra vùng Hải Đảo Cũng có người cho rằng trên đường di cư từ các quần đảo Nam Trung Quốc xuống vùng đảo Đông Nam Á, đã có một bộ phận rẽ vào đất Việt Nam, đó chính là người Chăm và các dân tộc Mã Lai – Đa Đảo hiện nay ở Việt Nam Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy trên vùng đất miền Trung Việt Nam có một số di chỉ của một nền văn hóa cổ, mà sau này đặt
Trang 25tên là văn hóa Sa Huỳnh, tên địa điểm đầu tiên tìm ra di tích nền văn hóa này ở Quảng Ngãi vào đầu thế kỷ XX Cho đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện được nhiều di chỉ thuộc văn hóa Sa Huỳnh, phân bố trên một không gian khá rộng, từ Trị – Thiên đến Đồng Nai, từ ven núi Trường Sơn
ra miền duyên hải miền Trung Các di chỉ văn hóa Sa Huỳnh có niên đại từ 4000 năm đến 2000 năm cách ngày nay Đó là nền văn hóa cổ thuộc thời đại kim khí, từ đồng thau đến sắt sớm Theo ý kiến của nhiều nhà khoa học, chủ nhân của nền văn hóa đó có liên quan đến tổ tiên của người Chăm, nền văn hóa Sa Huỳnh được coi như văn hóa Tiền Champa” [11, tr.9-10]
Theo truyền thuyết thì vương quốc Champa ra đời trên cơ sở hợp nhất hai bộ lạc Cau và Dừa khác nhau trên hai vùng lãnh thổ kế cận Bộ lạc Cau cư trú ở vùng Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận ( xứ Panduranga) Bôï lạc Dừa cư trú ở vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định (xứ Indrapura) Vào đầu Công nguyên tiểu vương quốc Nam Chăm ra đời, sau đó là tiểu vương quốc Bắc Chăm
Theo Giáo sư Lương Ninh: “Vương quốc Champa hình thành và phát triển trên dải ven biển miền Trung Việt Nam và một phần cao nguyên Trường Sơn, lúc lớn mạnh nhất trải dài từ Hoành Sơn, sông Gianh ở phía Bắc đến sông Dinh – Hàm Tân ở phía Nam đến lưu vực Krong Pô Cô và sông Đà Rằng trên Tây Nguyên Về phía Đông, họ thực sự làm chủ cả vùng ven Biển Đông cùng với dãy đảo gần bờ Cư dân – chủ nhân của vương quốc này là người Chăm Trước đây còn gọi là người Chàm, Chiêm, nói tiếng Malayo – Polynesian Ngày nay một bộ phận người Chăm nói
Trang 26tiếng Malayo – Chamic, giữ văn hóa truyền thống Champa vẫn sinh sống ở đất cũ, ven biển miền Trung, hoặc đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam Một bộ phận khác không ít, khoảng 2 vạn người sống ở tỉnh Bình Định và Phú Yên, tự gọi là người Chăm Hơroi, cũng nói tiếng Malayo – Chamic, nhưng lại không biết chữ Chăm và không gắn bó gì với văn hóa Champa Ngoài ra còn có 400.000 người nói tiếng Malayo – Polynesian sống thành vùng trên Tây Nguyên như người Raglai, Ê đê, Gia Rai, Churu … Như vậy hẳn là vốn không có một tộc gọi là Chăm riêng biệt ngay từ đầu mà chỉ là một bộ phận dân cư nói tiếng Malayo – Polynesian Những người nói tiếng Malayo – Polynesian cư trú rất rộng trên vùng đảo Tây – Nam Thái Bình
Dương, Tây Aán Độ Dương mà một bộ phận của họ tự gọi là Người biển
(Orang Laut); một bộ phận khác tự gọi là Người rừng (Orang Glai/ Raglai/ Gia Lai), như muốn đối xứng với những dân nói ngôn ngữ Nam Á – Môn
Khơme cùng sống trên cao nguyên miền Trung Việt Nam có lẽ từ xưa hơn
tự gọi là Người (miền) núi (Mnong, Pnong) Như thế, một bộ phận sống ở
ven biển miền Trung Việt Nam ngày nay được gọi là người Chăm là do gắn với Champa từ khi họ lập vương quốc Champa” [100, tr.3-4]
Năm 111 TCN, nhà Hán thay thế nhà Triệu xâm lược và thống trị nước Aâu Lạc Ngoài hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân, nhà Hán lập thêm quận Nhật Nam Quận Nhật Nam là vùng đất từ Hoành Sơn đến đèo Cù Mông, chia làm 5 huyện: Tây Quyển, Chu Ngô, Tỷ Cảnh (Tỷ Aûnh), Lô Dung và Tượng Lâm Tượng Lâm là huyện xa nhất về phương Nam trong các đất chiếm đóng của nhà Hán, là đất Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay
Trang 27Cuối thế kỷ II (190 – 193), Khu Liên (có sách gọi là Khu Quỳ, Khu Đạt hay Khu Vương) đã lãnh đạo nhân dân quận Nhật Nam khởi nghĩa thắng lợi, lên làm vua, đóng đô ở Sinhapura (Trà Kiệu – Quảng Nam), lập nước Lâm Aáp về sau gọi là Champa
“Lâm Aáp: Quốc giới của Việt Thường Thị xưa, đời Tần là huyện Lâm Aáp, thuộc Tượng Quận, đời Hán đổi làm huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam Cuối đời Hán, cái viên Công tào ở huyện ấy là Khu Liên, giết huyện lệnh, tự lập làm vua nước Lâm Aáp Sau vì Khu Liên không có con kế tự, cháu ngoại là Phạm Hùng lên thay làm vua, truyền ngôi đến con là Phạm Dật Người gia nô Phạm Dật là Phạm Văn dạy Phạm Dật xây đắp thành trì, nhà cửa, đặt binh trận, chế tạo khí giới Phạm Văn được Phạm Dật tin yêu Kịp khi Phạm Dật chết, Phạm Văn cướp ngôi làm vua Phạm Văn chết, con là Phạm Phật nối ngôi, Phạm Phâït chết, cháu là Hồ Đạt lên làm vua Đến Văn Địch, cháu năm đời của Phạm Phật, bị con vua Phù Nam là Đương Côn Thằng (có chỗ chép là Thuần) giết chết Đại thần Phạm Chư Nông bình được loạn ấy, tự lập làm vua Chư Nông chết, con là Dương Mại lên kế vị Dương Mại chết, con là Đốt lên làm vua, vẫn lấy lại tên là Dương Mại, thường sang lấn cướp quận Nhật Nam Nhà Tấn sai Đàn Hòa Chi đi đánh Dương Mại sợ, sai sứ sang triều cống, về sau không triều cống nữa Nhà Tùy sai Lưu Phương sang đánh Chúa Lâm Ấp là Phạm Chí sai sứ sang tạ lỗi Khoảng giữa niên hiêïu Trinh Quán (627 – 649) nhà Đường, vua Lâm Aáp là Đầu Lê chết, con là Trấn Long bị giết, người trong nước lập con nhà cô của Đầu Lê là Gia Cát Địa lên làm vua, đổi quốc hiệu là Hoàn Vương, thường sang xâm lấn An Nam Bị đô hộ nhà Đường là
Trang 28Trương Chu đánh phá, nước ấy mới bỏ Lâm Aáp, dời đến Chiêm, gọi là nước Chiêm Thành” [126, tr.145-146]
Thế kỷ VII, có lẽ là sự khởi đầu của những phát triển về nghệ thuật, chủ yếu ở Mỹ Sơn và Trà Kiệu, gần Amaravati (Quảng Nam) ngay ở phía nam của các vùng mà ngày nay là Đà Nẵng và đèo Hải Vân “Ngày nay, vẫn còn thấy một số tượng đài Mỹ Sơn, nhưng ở Trà Kiệu thì chỉ còn các nền móng, bởi vì thành phố bị phá hủy Hầu hết các tượng đài này đều thuộc về một triều đại kéo dài và thanh bình của Prakasadharma, khi lên ngôi năm 653 đã lấy vương hiệu là Vikrantavarman Các bức tượng này gần Aán Độ về phong cách Một số bức tượng tưởng niẹâm thần Vishnu, và sự sùng bái vị thần đó đã xuất hiện lần đầu tiên ở vương quốc Champa trong triều đại Prakasadharma Cả Prakasadharma và người kế vị là Vikrantavarman II (686 – 731) đã cử nhiều phái bộ sang Trung Quốc” [53, tr.293]
Năm 750, người Chăm chuyển kinh đô vào miền Nam, vào Rajapura, tức Virapura ở phía Nam đèo Cả “Vào giữa thế kỷ VIII, người Trung Quốc không còn dùng chữ Lin-Yi (Lâm Aáp) mà gọi người Chàm là Huan-Wang Sự thay đổi này xảy ra đồng thời với việc chuyển trung tâm quyền lực ở vương quốc này về phía Nam từ Quảng Nam đến Panduranga (Phan Rang) và Kauthara (Nha Trang) Theo tính toán của Geoges Maspero, một triều đại mới, triều đại thứ năm, đã cai trị ở đó từ năm 758 đến năm 859 Triều đại này bắt đầu sử dụng những cái tên dùng sau khi chết để chỉ vị thần mà nhà vua qua đời đã đồng nhất Người ta đã nhấn mạnh nhiều đến quốc giáo Siva và sùng bái linga (dương vật) [53, tr.294]
Trang 29Từ thế kỷ VIII đến thế kỷ IX, Champa trở thành một quốc gia hùng mạnh, lãnh thổ kéo dài từ Hoành Sơn ở phía Bắc đến sông Đồng Nai ở phía Nam, được sách sử Trung Quốc ghi nhận với tên gọi là Hoàn Vương Quốc
“Tân Đường Thư, mục truyện Hoàn Vương có đoạn ghi Hoàn Vương
phía Nam giáp Bôn Đà Lang …, địa danh Bôn Đà Lang còn được khắc ghi
trên bia ký cổ tại chỗ, theo Phạn ngữ là Panduranga, theo tiếng Champa cổ là Paran … chính là địa bàn tương ứng với vùng đất Ninh Thuận – Bình Thuận ngày nay, là quê hương, cũng là nơi phát tích nghiệp vương của các
vị vua, cùng hoàng tộc thuộc vương triều, mà sử gia ngày nay gọi là vương triều Panduranga (758 – 875) … Trên đất quê hương, các vị vua vương triều này đã lập kinh đô ở Virapura (có nghĩa là kinh thành hùng tráng) cách thị xã Phan Rang về phía Tây khoảng 15 km Ngoài ra còn lần lượt xây cất nhiều dinh thự, đền tháp … Các vị vua vương triều này còn dồn công sức, của cải để bảo vệ và tôn tạo khu thánh địa của vương triều tại Po Nagar trong tiểu quốc Cổ Đam (Kauthara)” [1, tr.242-243]
Nhưng theo D.G.E Hall: “Nửa cuối thế kỷ VIII là thời kỳ khủng hoảng của Champa Giống như Campuchia, Champa phải chịu một loạt tấn công dữ dội của người Java Một cuộc tấn công năm 774 đã tàn phá vùng đất thánh cổ kính Po Nagar ở Nha Trang Ba năm sau, một cuộc tấn công khác đã phá hủy một ngôi đền gần kinh đô Virapura, không xa thị xã Phan Rang ngày nay” [53, tr.294]
Thế kỷ IX, người Chăm dời kinh đô từ Panduranga ở miền Nam đến Indrapura (Đồng Dương) ở miền Bắc thuộc xã Bình Định, huyện Thăng
Trang 30Bình, tỉnh Quảng Nam, cách Đà Nẵng 40 km, tức cách Trà Kiệu 20 km về phía Nam
“Dưới thời vua Indravarman II (854 – 893), miền Bắc trở thành trung tâm, đức vua lập kinh đô lấy tên Indrapura (tỉnh Quảng Nam) khôi phục quan hệ tốt với Trung Quốc, và trong triều đại này các nhà sử học Trung Quốc bắt đầu gọi nó bằng cái tên thứ ba là Chang-Cheng, có nghĩa là thành phố của Chan, theo tiếng Phạn là Champapura Đây là một triều đại thanh bình, nổi tiếng về cơ sở Phật giáo to lớn, một tu viện mà những dấu ấn được xác định ở Đồng Dương, Đông Nam của Mỹ Sơn Đây là bằng chứng đầu tiên về sự tồn tại của Phật giáo Đại thừa ở Champa [53, tr.295] Theo thông tin trên các Websites về Champa thì: Sau năm 877, Trung Quốc (Nhà Đường) bắt đầu gọi vương quốc Champa là Chiêm Thành Quốc Lúc đó, vương quốc này gồm 5 tiểu quốc là Indrapura (vùng Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế ngày nay), Amaravati (vùng Quảng Nam ngày nay), Vijaya (vùng Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay), Kauthara (vùng Phú Yên, Khánh Hòa ngày nay) và Panduranga (vùng Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay)
Chiêm Thành có gốc Phạn ngữ (Sanskrit) là Champapura được phiên âm ra Hán – Việt ngữ là Chiêm (Champa) thành (pura) Trên thực tế, nhiều vị vua từ nước Lâm Aáp đến nước Hoàn Vương đều tự coi mình là vua nước Champa
Năm 1000, vua Vijaya Sri cho xây dựng kinh đô mới là Vijaya (tiếng Việt gọi là Chà Bàn, Đồ Bàn hay Phật Thệ) thuộc tỉnh Bình Bịnh ngày nay “Đầu năm 1000, người kế nhiệm của Harivarman II, được mọi người
Trang 31biết đến dưới cái tên không đầy đủ là Yang Pu Ku Vijaya Sri, buộc phải từ bỏ Indrapura và dời đô đến Vijaya (Bình Định) ít bị đe dọa hơn [53, tr 296]
Sách Lịch sử Đông Nam Á của D.G.E Hall chép: “Khi vị hoàng đế
đầu tiên của nhà Chin (Tấn) lên ngôi năm 280, thủ hiến Bắc kỳ đã gửi một bức thông điệp phàn nàn về những cuộc đột kích của vua Lin-Yi (Champa)
với sự giúp đỡ của các thân hữu Funan, vào vùng Je-nan, cuốn Lịch sử
Chin nói rằng nhà nước của lũ giặc Lin-Yi đã được một viên chức bản xứ
là Ch’u Lien thành lập trước đó một thế kỷ, người này đã lợi dụng sự suy yếu của triều đình nhà Hán (từ năm 206 trước công nguyên đến năm 221 sau Công nguyên) để chiếm đất Jenan và tạo cho mình một vương quốc vào năm 192 sau Công nguyên Tên mà người Trung Quốc đặt cho vương quốc của Ch’u Lien là Hsiang-lin Trên thực tế đó là tên của một tổng của Trung Quốc, mà ở đó đã nổ ra phong trào đấu tranh giành độc lập Khu vực này hầu như trùng khớp hoàn toàn với tỉnh Thừa Thiên ở miền Trung (Việt Nam) hiện nay, nơi có thành phố Huế Nhà nước mà sau này được biết đến là Champa đã lần đầu tiên xuất hiện như vậy trong lịch sử Các bằng chứng khảo cổ học cho thấy rằng trung tâm quyền lực của nó nằm ngay ở phía Nam của xứ Huế, thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng ở miền Trung (Việt Nam) ngày nay Tỉnh này rất phong phú về các di tích và rõ ràng đó là lãnh thổ thiêng liêng của Champa Mặc dầu các địa điểm nổi tiếng là Trà Kiệu, Mỹ Sơn và Đồng Dương đã cung cấp nhiều mẫu vật của nền nghệ thuật Amaravati, không có các bằng chứng như trong trường hợp nước Funan láng giềng, về truyền thống triều đại của các vị vua Champa
Trang 32hay về sự thâm nhập của ảnh hưởng Aán Độ Phải đến đầu thế kỷ VII thì tên gọi Champa mới xuất hiện lần đầu tiên trong các tài liệu văn khắc, mặc dầu với tư cách là một vương quốc của người Chàm có thể nó đã tồn tại trước niên đại đó Tuy nhiên, chính nhờ cái tên Trung Quốc là Lin-Yi mà trong suốt giai đoạn đầu của cuộc đấu tranh trường kỳ của họ, Champa được biết đến trong cuộc đấu tranh lâu dài để bành trướng lên phía Bắc vào các vùng đất nằm dưới sự kiểm soát của Trung Quốc” [53, tr.55-56]
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Hai dân tộc Việt – Chăm là những cư dân bản địa sinh sống lâu đời trên lãnh thổ Việt Nam
Người Việt đã thành lập quốc gia Văn lang rồi đến Âu Lạc từ rất sớm, khoảng thế kỷ VII TCN Nhưng đến thế kỷ III TCN (có tài liệu cho là thế kỷ II TCN) thì bị phong kiến phương Bắc xâm chiếm Hơn 1000 năm Bắc thuộc, người Việt luôn nổi dậy, có sự hưởng ứng của người Chăm để giành độc lập nhưng chưa thành công Đến thế kỷ X, người Việt mới giành được nền độc lập, tự chủ
Trong mười thế kỷ đầu cơng nguyên, người Việt và người Chăm luôn cùng nhau chống sự xâm lược của các thế lực phong kiến phương Bắc “Canh Tý, năm thứ 1 (40), (Hán Kiến Vũ năm 16) Mùa Xuân, tháng
2, vua khổ vì Thái thú Tô Định dùng pháp luật trói buộc, lại thù Định giết chồng mình, mới cùng với em là Nhị nổi binh đánh hãm trị sở ở châu Định
Trang 33chạy về nước Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam, tự lập vua, mới xưng là họ Trưng” [42, tr.214]
Khi Khu Liên chỉ huy người Chăm ở quận Nhật Nam chống giặc thì người Việt ở quận Cửu Chân cũng hưởng ứng “Đinh Sửu, (137), (Hán Vĩnh Hòa năm thứ 2) Người Man ở huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam (ở địa giới Việt Thường xưa), là Khu Liên phá quận huyện, giết trưởng lại Thứ sử Giao Châu là Phàn Diễn đem quân châu và quận Cửu Chân hơn vạn người đi cứu ứng, nhưng quân lính ngại đi xa Mùa thu, tháng 7, quân hai quận làm phản đánh phủ trị, thế chuyển thành mạnh” [42, tr.218]
Năm 144, dân quận Nhật Nam (phần lớn là người Chăm) nổi dậy, liên kết với dân Cửu Chân (tức là người Việt) cùng chống kẻ thù chung Hàng ngàn nghĩa quân đánh phá các huyện trị, thành ấp của bọn quan lại nhà Hán Thứ sử Giao Châu là Hà Phương phải dùng thủ đoạn mới dẹp yên được
Năm 157, Chu Đạt lãnh đạo nhân dân quận Cửu Chân khởi nghĩa Nghĩa quân đã trừng phạt tên huyện lệnh khét tiếng tham bạo ở Cư Phong, đánh phá quận trị Cửu Chân, giết chết Thái thú Nghê Thức Nhà Hán cử Ngụy Lang sang làm Đô úy quận Cửu Chân, tổ chức đàn áp thảm khốc, tàn sát hơn 2000 người Nghĩa quân vào chiếm giữ Nhật Nam cùng với dân ở đây tiếp tục đấu tranh trong 3 năm (157 – 160), lực lượng có lúc phát triển hơn 2 vạn người
Năm 178, Lương Long lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở quận Giao Chỉ, lan sang Hợp Phố, Ô Hử và lôi cuốn hàng vạn dân Cửu Chân, Nhật Nam
Trang 34tham gia Nghĩa quân đánh chiếm các quận huyện và làm chủ tình hình trong 3 năm (178 – 181)
Cuộc khởi nghĩa của người Việt do Mai Thúc Loan lãnh đạo, chống sự cai trị của nhà Đường vào năm 722, với lực lượng khoảng 30 vạn người trong đó có cả người Chăm “Nhâm Tuất, (722), (Đường Huyền Tông, Long Cơ, Khai Nguyên năm thứ 10) Tướng giặc là Mai Thúc Loan chiếm giữ châu, xưng Hắc Đế, bên ngoài liên kết với người Lâm Ấp, Chân Lạp, số quân nói là 30 vạn Vua Đường sai Nội thị tả giám môn vệ tướng quân là Dương Tư Húc và Đô hộ là Nguyên Sở Khách đánh dẹp được” [42, tr.269]
Trước thế kỷ X, quan hệ giao lưu văn hóa Việt - Chăm chưa được ghi lại và nếu có cũng chỉ là những quan hệ tự phát lẻ tẻ ở những vùng dân cư sống gần nhau ở vùng biên giới Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh Với sự ra đời của Đại Việt, quan hệ văn hóa Việt – Chăm thực sự đã bước vào một giai đoạn mới trên cơ sở, nền tảng của mối quan hệ chính trị và bang giao giữa hai vương quốc Chính nền tảng lịch sử này đã thúc đẩy quá trình hội nhập và giao lưu diễn ra mạnh mẽ và quyết liệt
Trang 35Năm 983, vì lý do an ninh, Lê Hoàn đã cho đào con kênh qua núi Đồng Cổ đến sông Bà Hòa thuộc tỉnh Thanh Hóa, nhưng cũng đã tạo điều kiện cho việc đi lại giữa người Việt và người Chăm được thuận lợi hơn Vùng đất Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên ngày nay là nơi mà người Việt cùng sinh sống với người Chăm từ rất sớm Người Chăm có xu hướng di chuyển về phía Nam, nhường đất cũ cho người Việt
Năm 992, “Mùa hạ, tháng 6, (vua Lê Đại Hành) cho người Chiêm Thành nhận lĩnh hơn 360 người ở thành cũ châu Địa Lý (Quảng Bình) đem về châu Ô Lý (Quảng Trị – Thừa Thiên)” [42, tr.333]
Theo Li Tana: “Trong nhiều thế kỷ sau, những người Chăm bị bắt trong chiến tranh và dòng dõi của họ thường chiếm một tỉ lệ khá lớn trong số những người dân sinh sống gần thủ đô Việt Nam” [77, tr.25]
Cũng trong năm 992, Lê Hoàn đã cử 30.000 người tới làm một con đường từ Cửa Sót (huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh) tới ranh giới Việt – Chăm trong vùng Hoành Sơn “Mùa thu, tháng 8, sai Phụ quốc Ngô Tử An đem 3
Trang 36vạn người đi mở đường bộ từ cửa biển Nam Giới đến châu Địa Lý” [42, tr.334] Chắc chắn đây là con đường bộ đầu tiên được mở giữa Đại Cồ Việt với Champa và từ đây, sẽ được các thế hệ di dân Việt sử dụng để tiến xuống phía Nam vào các năm sau này
Thời nhà Lý, các tù binh Chiêm Thành được gọi là người Phiên, được định cư làm ăn sinh sống cùng người Việt Năm 1025, Lý Thái Tổ cho “lập trại Định Phiên ở địa giới phía Nam châu Hoan (Nghệ An – Hà Tĩnh ngày nay) cho quản giáp Lý Thai Giai làm trại chủ” [42, tr.370] Năm 1044, Lý Thái Tông “xuống chiếu cho các tù binh (Chiêm Thành) đều được nhận người cùng bộ tộc, cho ở từ trấn Vĩnh Khang (Nghệ An ngày nay) đến Đăng Châu (nay là Quy Hóa) (tên châu thời Lý, nay thuộc đất Yên Bái và Lào Cai), đặt hương ấp phỏng tên gọi cũ của Chiêm Thành.” [42, tr 408]
Sách Khâm Định Việt sử Thông Giám Cương Mục chép: Năm 1044,
“Tháng 9, mùa Thu Bầy tôi dâng 5000 người Chiêm bị bắt làm tù binh Nhà vua xuống chiếu lấy trấn Vĩnh Khang và Đăng Châu đặt ra làng xóm phỏng theo như tên gọi cũ của Chiêm Thành, để họ cứ chiếu theo bộ thuộc, nhận lấy mà ở Lại làm ra cung riêng để cho các cung nữ Chiêm Thành ở” [126, tr.310]
Năm 1069, Chế Củ là vua Chiêm Thành đã dâng 3 châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính cho Đại Việt để chuộc tội Châu Địa Lý, năm 1075, đổi là châu Lâm Bình, nay là đất huyện Lệ Ninh, tỉnh Quảng Bình Châu Ma Linh, năm 1075, đổi là châu Minh Linh, nay là đất huyện Bến Hải, tỉnh Quảng Trị Châu Bố Chính nay là đất các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
Trang 37Trong số những người Chăm sinh sống trên đất Đại Việt thời kỳ này, có nhiều người tự nguyện sang xin lánh nạn do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là do xung đột trong nội bộ hoàng tộc, chẳng hạn như:
“Năm 986 (vua Lê Đại Hành) sai Ngô Quốc Aân sang đáp lễ nhà Tống và nói về việc người Chiêm Thành là Bồ La Aùt đem 500 người họ xin nội phụ” [42, tr.328]
“Mùa hạ, tháng 4 (năm 1039), con vua Chiêm Thành là Địa Bà Lạt (cùng bọn) Lạc Thuẫn, Sạ Đâu, La Kế, A Thát Lạt 5 người sang quy phụ nước ta” [42, tr.395]
“Mùa thu, tháng 8 (năm 1040), người giữ trại Bố Chính của nước Chiêm Thành là Bố Linh, Bố Kha, Lan Đà Tinh đem bộ thuọâc hơn trăm người sang quy phụ” [42, tr.398]
“Năm 1074 thì trong triều đã nổ ra vụ chính biến, khiến cho ông vua (Chế Củ – Rudravarman IV) nà phải chạy sang xin quy phụ Đại Việt, đem theo hơn 3000 lính và vợ con” [100, tr 82]
Năm 1075, Lý Thường Kiệt vẽ bản đồ 3 châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh và chiêu mộ dân chúng đến ở
Sách Đại Việt Địa Dư Toàn Biên chép: “Quảng Bình là đất của Chiêm
Thành đời xưa An Nam Lý Thánh Tông bắt vua Chiêm là Chế Củ Người nước Chiêm đem đất 3 châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính chuộc tội Nhân Tông năm Thái Ninh thứ 4 đổi tên Địa Lý làm châu Lâm Bình, Ma Linh làm châu Minh Linh, Bố Chính làm châu Bố Chính (Lý sử chép trước vẫn
là Bố Chính Thơ cửa biển Bố Chính của Lê Thánh Tông có câu rằng: Sơn
bão hồi hoàn thủy điểu di Bố Chinh tòng cổ hiệu hoàng thùy Nghĩa là núi
Trang 38ôm quanh quất, nước mênh mông Bố Chinh từ xưa là nơi rậm Bố Chính tức là Bố Chinh đời xưa Nhưng đổi tên từ đời nào chưa rõ) Chiêu dân đến
ở 3 châu ấy” [144, tr 239-240]
Quảng Trị ngày xưa có ít nhất là hai vùng: vùng Ma Linh (Minh Linh) với cảng Cửa Tùng (Minh Linh – Tùng Luật) với trục sông Hiền Lương nối liền núi - biển, tây – đông Vùng Châu Ô (Thuận Châu) với cảng Cửa Việt (Việt Khách, Việt Hải) với trục sông Thạch Hản nối liền núi – biển, tây – đông
Ở Cù lao Chàm, nằm trên biển Đông, cách đô thị cổ Hội An khoảng
18 km, người Chăm đã sinh sống từ thế kỷ II Họ đã xây dựng những cái giếng nước có đáy hình vuông có lát những thanh gỗ, luôn luôn có nước trong và ngọt, luôn luôn đầy kể cả mùa khô hạn nhất ở giữa vùng nước mặn “Chính trong những thế kỷ XII – XIX trước đây, chiếc giếng cổ này của người Chăm và sau đó là của người Việt đã cung cấp nước ngọt cho các tàu buôn nước ngoài, kể cả người Ba Tư và người Ả Rập trên hành trình vượt đại dương ghé qua Cù lao Chàm” [174, tr.250]
Nhà Lý cũng rất quan tâm đến quan hệ đối ngoại hòa bình với các vương triều Champa Năm 1152, vua Lý Anh Tông cử Thượng chế Lý Mông đem hơn 5000 người ở phủ Thanh Hóa và châu Nghệ An sang Champa lập Ung Minh Ta Diệp (Oâng Vangsaraja) lên làm vua nhưng không thành Nhà vua còn chấp nhận việc vua Champa là Chế Bì La Bút (Jaya Harivarman I, ở ngôi năm 1145 – 1170) dâng con gái
Thế kỷ XIII, mặc dầu vẫn tồn tại hai quốc gia độc lập là Champa và Chân Lạp, nhưng đất rộng người thưa, chưa khai phá hết vì không có nhu
Trang 39cầu và khả năng khai phá Châu Đạt Quan, người Trung Hoa, đã đến Chân Lạp trong những năm 1296 và 1297 đã mô tả như sau:
“Bắt đầu vào Chân Bồ (Tchen p’ou, Vũng Tàu hay Bà Rịa) hầu hết cả vùng đều là bụi rậm của khu rừng thấp, những cửa rộng của con sông lớn chạy dài hàng trăm lí, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú xum xê Tiếng chim hót và thú vật kêu vang dội khắp nơi Vào nửa đường trong cửa sông, người ta mới thấy lần đầu cánh đồng ruộng bỏ hoang, không có một gốc cây nào Xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ kê đầy dẩy Hàng trăm hàng ngàn trâu rừng tựu họp từng bầy trong vùng nầy Tiếp đó nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm lí Tại mắt loại tre này có gai mọc và măng thì có vị rất đắng” [115, tr.80]
Thời nhà Trần, trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông của cả hai dân tộc vào thế kỷ XIII, Đại Việt đã từng giúp Champa 2 vạn quân và
500 chiến thuyền, mặc dầu lúc bấy giờ Đại Việt cũng đang gặp khó khăn Để tăng cường tình đoàn kết chống ngoại xâm, năm 1285, vua Trần Nhân Tông sai viên Trung phẩm phụng ngự là Đặng Du Chi đưa trả các tướng Chăm là Ba Lậu Kê, Na Liên về nước, vì đi theo Toa Đô bị quân Đại Việt bắt được
Sau thắng lợi, để tạo mối quan hệ láng giềng thân thiện, tháng 6 năm
1306, Thượng hoàng Trần Nhân Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Champa là Chế Mân Chế Mân đem đất châu Ô, châu Lý làm lễ vật dẫn cưới và phong Huyền Trân làm hoàng hậu Huyền Trân về Champa thì dân hai châu Hoan, Aùi (Thanh Hóa, Nghệ An) cũng rầm rộ kéo nhau vào tiếp
Trang 40nhận hai châu Ô, Lý Năm 1307, nhà Trần đổi châu Ô thành châu Thuận, châu Lý thành châu Hóa Nhân dân thường gọi chung là Thuận Hóa, nhà Trần sai Hành khiển Đỗ Nhữ Hài đến chọn người Champa trao cho quan tước, lại cấp ruộng đất, miễn thuế 3 năm
Sách Hoàng Việt Địa Dư Chí của Phan Huy Chú chép: “Thuận Hóa
xưa thuộc nước Việt Thường, thời Hán thuộc Tượng Quận, thời Tấn thuộc Lâm Aáp, đến đời Đường chia làm Lâm Châu và Cảnh Châu, sau nhập lại lấy tên là Lâm Aáp, thời Tống thuộc nước Chiêm Thành Khi Lý Thái Tông thân chinh, vua Chiêm dâng 3 châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính để chuộc tội Đời Lý Nhân Tông năm thứ tư (1075) vua sai Lý Thường Kiệt vào đây vẽ bản đồ sông núi của xứ này, từ đó đổi châu Địa Lý thành Lâm Bình, Ma Linh thành Minh Linh rồi ông chiêu tập dân chúng đến sinh sống Từ Kỳ Hoa cho đến phía Nam Hoành Sơn một dãi thuộc vào bản đồ của nước ta từ đó Niên hiệu Long Phù thứ 3 (1103) vua Chiêm là Chế Ma
Na xua quân sang đánh phá muốn chiếm lại 3 châu ấy, năm thứ tư (1104), Lý Thường Kiệt đem quân đi chinh phạt Chế Ma Na thua trận nên phải nộp lại đất ba châu ấy, từ đó vua Chiêm tuân lệ triều cống thường xuyên Mãi đến đời Trần Anh Tông, niên hiệu Hưng Long thứ 14 (1306), nhà Trần đem gã Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân, vua Chiêm lấy
2 châu Ô và Lý để làm sính lễ Từ đó triều đình đổi tên là châu Thuận Hóa” [25, tr.1-2]
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư , năm 1333, thời Trần Hiến Tông,
“Nhật Duật thích đi chơi với người nước ngoài, thường cưỡi voi đến chơi thôn Bà Già (thôn này hồi Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành, bắt được