Đền là một trong Thăng Long tứ trấn 4 vị thần trấn thành Thăng Long: thần Huyền Thiên trấn phía bắc, thần Bạch Mã trấn phía đông đền Bạch Mã, thần Linh Lang trấn phía tây đền Voi Phục, t
Trang 1TÌM HIỂU VỀ ĐỀN QUÁN THÁNH
I) Lịch sử hình thành và xây dựng của đền
Vị trí: Đền Quán Thánh nằm ở góc đường Cổ Ngư (nay là đường
Thanh Niên) và phố Quán Thánh trông ra Hồ Tây (đời Lê thuộc đất phường Thụy Chương, huyện Vĩnh Thuận, phía nam Hồ Tây) Đền còn được gọi là Trấn Vũ Quán, thờ thần Huyền Thiên Trấn Vũ Đền là một trong Thăng Long tứ trấn (4 vị thần trấn thành Thăng Long): thần Huyền Thiên trấn phía bắc, thần Bạch Mã trấn phía đông (đền Bạch Mã), thần Linh Lang trấn phía tây (đền Voi Phục), thần Cao Vương trấn phía nam (đền Kim Liên) Đền xưa có tên là Huyền Thiên Trấn Vũ Đại
đế quán, đến năm 1823 vua Minh Mạng đổi ra là Trấn Vũ quán, năm
1842 dưới thời vua Thiệu Trị đổi ra tên hiện nay
+ Tương truyền đền được xây năm 1102 trong hoàng thành, thờ “Huyền Thiên Trấn Vũ chân quán” hoặc “Huyền Thiên Chân Vũ Đại đế” Năm
1474, do mở rộng hoàng thành (nội kinh), đền được di dời ra ngoài và xây ở bờ nam Tây Hồ, tức địa điểm hiện nay
+ Theo văn bia ở đền thì quán này được xây dựng từ đời Lý Thái Tổ, ngay lúc thiên đô ra Thăng Long, năm Thuận Thiên thứ nhất (1010) Đền đã trải qua nhiều đợt trùng tu vào các năm 1618,1677,1768,1836, 1843,1893,1941 (các lần trùng tu này được ghi lại trên văn bia).nhưng
có 2 lần trùng tu là lớn là năm Vĩnh Trị thứ 2 (1677, đời Lê Hy Tông) và năm Thành Thái thứ 5 (1893)
- Năm 1677, đời vua Lê Hy Tông, chúa Trịnh Tạc sai đình thần là Nguyễn Đình Luân trùng tu đền
- Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm và tặng một đồng tiền vàng cùng với một số vàng do các hoàng thân dâng cúng để đúc lại thành một cái vòng treo ở cổ tay tượng thần
- Năm 1856, bố chánh Sơn Tây, bố chánh Hà Nội, tri huyện Vĩnh Thuận đã tổ chức quyên góp trùng tu, sửa lại chính điện, đình điều hương, bái đường và gác chuông, làm thêm hai dãy hành lang bên phải và bên trái, đắp lại 4 pho tượng đại nguyên soái
Trang 2- Năm 1893 đền được tu sửa lớn như diện mạo ngày nay.
- Đền được công nhận di tích lịch sử-văn hóa cấp quốc gia đợt đầu năm 1962
Văn bia tại đền do trạng nguyên Đặng Công Chất và tiến sĩ Hồ Sĩ
Dương soạn Thời Tây Sơn, đô đốc Lê Văn Ngữ, cùng nhiều người nữa
đã quyên tiền đúc chiếc khánh bằng đồng (chiều 1,10 x 1,25m) vào năm Cảnh Thịnh thứ hai Đến đời Nguyễn, vua Minh Mạng đến thăm đền, đã cấp tiền tu sửa Năm 1923 cho đổi là Trấn Vũ quán Đền hiện nay còn 6 tấm bia
- Năm 2008 UBND quận Ba Đình đã lập dự án đầu tư tu bổ đến Quán Thánh Công trình tu bổ tôn tạo di tích đền Quán Thánh được đầu tư xây dựng bao gồm các hạng mục như: Hạ giải toàn bộ mái đền chính, lợp lại bằng ngói mũi hài phúc chế; cải tạo tu bổ phần máng thoát nước, tường rào; thay mới cửa đi, cửa sổ hai bên hồi, tu
bổ lại bệ thờ cho đồng nhất hình thức; tu bổ am hóa vàng; cải
tạo,bổ sung hệ thống phòng cháy chữa cháy; cải tạo toàn bộ hệ thống sân vườn, xây bó vỉa, lát lại sân, tu bổ hệ thống thoát nước,
đổ đất màu trong cỏ các ô vườn, tu bổ lại một số số đoạn tường rào…
Trải qua gần 1 thế kỉ ngôi đền vẫn uy nghi và tượng thánh Huyền Thiên Trấn Vũ ở phía Bắc kinh thành Thăng Long – Hà Nội vẫn là một di tích lịch sử - văn hoá nổi tiếng mà khách du lịch và người hành hương khắp nơi vẫn về chiêm ngưỡng, dâng hương rất đông Và trong tâm linh người Việt, thánh vẫn là đấng thiêng liêng vô hình vừa có công tích diệt trừ yêu quái - hồ tinh chín đuôi – như huyền thoại, vừa là biểu tượng của sự trấn
an - bảo vệ phía Bắc kinh thành cho đời sống nhân dân được yên vui, thái bình
Trang 3Ngoài nghệ thuật đúc đồng, đền Quán Thánh còn nổi tiếng với vẻ đẹp của nghệ thuật chạm khắc gỗ,với vẻ đẹp của các bộ phận kiến trúc bằng
gỗ của ngôi đền thể hiện qua các đề tài như tứ linh, dơi, cá, tùng, trúc, cúc, mai, lẵng hoa, bầu rượu, thanh gươm, cảnh sinh hoạt của trần gian
và thượng giới đều được chạm khắc một cách tinh xảo, mang đậm phong cách nghệ thuật thời Lê
Các bộ phận kiến trúc đền sau khi trùng tu bao gồm tam quan, sân, ba lớp nhà tiền tế, trung tế, hậu cung Các mảng chạm khắc trên gỗ có giá trị nghệ thuật cao Bố cục không gian thoáng và hài hòa Hồ Tây phía trước mặt tiền tạo nên bầu không khí mát mẻ quanh năm
Đền Quán Thánh xây theo hướng Bắc và cũng giống như nhiều đạo quán trước kia được làm theo kiểu kiến trúc cổ.Cổng có bốn cột trụ với tượng bốn con phượng hoàng đấu lưng với nhau và con nghê trên đỉnh Ở hai bên là hai bức bình phong đắp nổi hình mãnh hổ hạ sơn Phía trên là tượng đắp nổi hình cá hóa rồng Ở các mặt trước và sau của bốn cột trụ được trang trí bởi những cặp câu đối đỏ trông rất nổi bật
Sau cổng ngoài là tam quan có cấu tạo như một phương đình Cổng tam quan được xây trên những tấm đá lớn,phía trên là 3 chữ 真真真 (Trấn Võ (Vũ) quán) Điều đặc biệt, phía trên cổng giữa của tam quan đắp nổi tượng thần Rahu Đây là vị thần trong thần thoại Ấn Độ, đã nuốt Mặt Trăng và Mặt Trời nên gây ra hiện tượng nhật thực và nguyệt thực Một
số đền ở Hà Nội cũng có sự hiện diện của thần Rahu bên ngoài cổng như đền Bạch Mã Điều này nói lên phần nào sự hội nhập tín ngưỡng của người Việt Nam
Tam quan của đền có ba cửa và hai tầng Trên gác tam quan có quả chuông đồng cao 1.5m, nặng 1 tấn, được đúc vào năm 1677, triều đại vua Lê Hy Tông Tiếng chuông này đã đi vào ca dao với những câu thơ đậm chất trữ tình:
Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương”.
Trang 4Qua tam quan, chúng ta sẽ đến với nhà bia bên trong đền Nhà bia có lưu văn bia do Tiến sĩ Lê Hy Vinh (nguyên Học chính tỉnh Thanh Hóa) soạn, Nguyễn Văn Ninh (Lệ mục huyện Thọ Xương) trông coi việc khắc bia Nội dung bia nói về các thời điểm trùng tu đền Trong đó có câu:
“… Có thể làm cho giang sơn này đẹp hơn lên phải chăng chỉ có người
Hà Nội? Dân khí đã hòa thì thần ban phúc cho Điềm lành không đợi phải nói Nay viết để khắc vào bia đá Năm Tự Đức thứ 10 (1857) tháng
5, ngày tốt.”
Qua cổng là một sân rộng được trang trí bằng một chiếc ang lớn, bên trong để hòn non bộ và nuôi cá vàng Ngôi chính điện (bái đường) nơi đặt tượng Trấn Vũ có 4 lớp mái (4 hàng hiên) Chính giữa là bức hoành phi đề "Trấn Vũ Quán"
Qua sân bái rộng – nơi sắp xếp đội ngũ chuẩn bị cho nghi thức lễ đền –
là đến cửa bái đường Ở bậc tam cấp trước bái đường có hai lư hương lớn Tiếp đến là bàn để chuẩn bị đồ tế lễ Ngoài hiên bái đường, bên trái đắp nổi tượng cọp xuống núi, bên phải đắp nổi tượng cá hóa rồng Ngoài
ra, ở bên phải có bảng giới thiệu lịch sử tượng đồng Huyền Thiên Trấn Vũ
Hai bên cửa phía trong đền có chữ Tẫn nhập, Huyền xuất (vào cửa Tẫn
ra cửa Huyền) Theo các nhà nghiên cứu thì đây là chữ lấy trong sách Đạo đức kinh Huyền Tẫn chi môn thi vị thiên địa (cửa Huyền Tẫn là gốc của trời đất)
Bên trong các cột xà, cửa võng đều được sơn son thiếp vàng rực rỡ khắc họa những hình ảnh, biểu tượng của sự sống trường thọ, đắc đạo lên cõi tiên như hoa thủy tiên, tùng, bách, rùa, hạc, sư tử, kỳ lân, long, phượng, bức phù điêu miêu tả cảnh tam giới với thiên-địa-thủy… vốn là đặc trưng mỹ thuật Đạo giáo Hai tường hồi có khắc các bài thơ ca ngợi cảnh đẹp của đền và tượng Trấn Vũ của các tác giả thời nhà Nguyễn như Nguyễn Thượng Hiền, Vũ Phạm Hàm… Bên trong tòa đại bái còn trưng bày 2 cổ vật quý là chiếc khánh đồng làm vào thời chúa Trịnh (thế kỷ 17-18) và tấm biển đồng chữ do vua Thiệu Trị (1841) ban, bên trong có bài thơ ca 1ngơi công lao đức thần Trấn Vũ Trong nội cung đáng chú ý nhất là pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ bằng đồng đen cao 3,72m, nặng
Trang 54 tấn, tay trái bắt quyết, tay phải cầm gương có rắn quấn chống lên lưng rùa (rắn tượng trưng cho sức mạnh, rùa tượng trưng cho sự trường tồn) Bên phải, phía sau nhà bia, nằm sát đường Quán Thánh là đền thờ liệt sĩ Đền được xây dạng phương đình (đình hình vuông), bên trong đặt bàn thờ với dòng chữ “Tổ quốc ghi công”; hai bên là hai cặp câu đối Xung quanh tường treo ảnh của các liệt sĩ thuộc khu vực đền Quán Thánh Điều này nói lên lòng biết ơn của nhân dân với các liệt sĩ đã hi sinh cho việc bảo vệ và xây dựng đất nước
Trước kia tượng Huyền Thiên Trấn Vũ được làm bằng gỗ, đến năm 1677 được đúc lại bằng đồng đen Tượng cao 3,07m, chu vi 8m, nặng 4 tấn Tượng thần được đặt ở hậu cung Tượng có khuôn mặt vuông, râu dài, tóc xõa, mặc áo đạo sĩ, ngồi trên bục đá, tay trái bắt quyết, tay phải chống gươm có rắn quấn và chống lên lưng một con rùa
5 DI VẬT QUÝ TẠI CHÙA
1) Tượng huyền thiên trấn vũ (1677)
Đúc vào năm 1677 thời vua Lê hy Tông Tượng Trấn Vũ là một công trình nghệ thuật độc đáo duy nhất tại Việt Nam, khẳng định nghệ thuật đúc đồng và tạc tượng của người Hà Nội cách đây hơn
ba thế
2) Biển đồng làm thời Thiệu Trị (1841)
Tấm biển đồng chữ do vua Thiệu Trị (1841) ban, bên trong có bài thơ
ca ngơi công lao đức thần Trấn Vũ
3) khánh đồng đúc năm cảnh thịnh thời chúa Trinh (1794)
chiếc khánh đồng lớn 1,10m x 1,25m do Đại đô đốc Lê Văn Ngữ (thời Tây Sơn) đứng ra quyên góp để đúc vào năm Cảnh Thịnh thứ
2 (1794)
Trang 64) sáu tấm bia đá, trong đó có những bia nói rõ lẽ huyền diệu trong việc tu dưỡng tinh thần - đạo lý và việc tu sửa đền mà các tác giả đều là những Trạng Nguyên, Tiến sĩ hoặc Thiền sư được các triều
Lê Trung Hưng và nhà Nguyễn sai soạn như: Trạng nguyên Đặng Công Chất (1616 - ?), Tiến sĩ Hồ Sĩ Dương (1622 – 1681), Phổ Huệ Quang Không hiển ứng đạo hiệu Viên Thông… hoặc Tiến sĩ
Lê Huy Vinh (soạn vào khoảng 1857)
5) Cây đèn đồng do các nghệ nhân làng Ngũ Xã đúc
III) SƠ LƯỢC VỀ ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC THỜ CÚNG
a) Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ
theo truyền thuyết, thì Thánh Trấn Vũ, vị thần được thờ tại đền Quán Thánh mang tính cách vừa là của Việt Nam, vừa là của Trung Quốc
Huyền Thiên Trấn Vũ là thần coi giữ phương Bắc, từng đầu thai làm con vua nước Tinh Lạc (Trung Quốc), lớn lên bỏ ngôi hoàng tử đến tu luyện trong hang ở Vũ Dương liền trong 42 năm, đã giúp người phương Bắc diệt trừ nhiều quỷ dữ, giúp dân đời Chu chiến thắng thần dịch hạch gây bệnh chết người hàng loạt, được Thượng đế phong là Đại Từ, Đại Bi, cuối cùng được phong là Huyền Thiên Trấn Vũ
huyền Thiên Trấn Vũ sau đó sang nước Việt giúp dân trừ tà ma, yêu quái phá hoại đời sống yên lành vùng chung quanh thành Thăng Long: trừ rùa thành tinh (đời Hùng Vương 14); trừ cáo chín đuôi ở Tây Hồ; giúp An Dương Vương trừ tinh gà trắng xây thành Cổ Loa; diệt hồ ly tinh trên sông Hồng đời vua Lý Thánh Tông Đến thời nhà Lê, các vua cũng thường đến đây để cầu mưa mỗi khi có hạn hán
Thần tích cho biết, ngày xưa có con hồ ly tinh chín đuôi, tung hoành khắp nơi, làm hại dân rất nhiều Vùng hồ Tây cũng không thoát cảnh đó Ngọc Hoàng Thượng đế động lòng, cho thần Huyền Thiên giáng hạ, trừ hại cho dân Huyền Thiên dùng thần kiếm và phù phép giết được hồ
Trang 7tinh Ngoài nạn hồ tinh chín đuôi, vua Lý lập đền thờ này để trừ mọi loại yêu quái khác, giữ yên phương Bắc cho kinh thành
Hiện trong Đền còn pho tượng đồng Huyền Thiên Trấn Vũ nặng gần 4 tấn, đúc năm 1677 đời Lê Hy Tông
Theo thần phả để lại, lúc mới đầu tượng được tạc bằng gỗ, qua thời gian
bị xuống cấp nghiêm trọng nên vào năm Vĩnh Trị thứ 2 (1677) đời vua
Lê Hy Tông truyền sai nghệ nhân nổi tiếng bấy giờ ở làng Ngũ Xá đúc lại bằng đồng Tượng được làm ròng rã trong bảy tháng trời mới xong Tượng không phải được làm bằng đồng đen như nhiều người lầm tưởng,
mà bằng đồng thau Trong quá trình đúc, người dân đã cung tiến khá nhiều vàng nên tượng càng giá trị Sau khi đúc xong những người thợ mới tiến hành hun và xử lý kĩ thuật để toàn thân trở thành màu đen như hiện tại Pho tượng là một công trình nghệ thuật quý giá thể hiện trình độ đúc đồng tinh xảo của nghệ nhân đúc đồng năm xưa của nước ta ở thế kỷ
17 Đến chiêm ngưỡng pho tượng Huyền Thiên quý giá, khách thập phương thường lấy tay sờ vào chân ngài vì truyền thuyết giúp tâm du khách thanh thản hơn
Tượng cao 3,96m, chu vi 8m, nặng 4 tấn tọa trên tảng đá cẩm thạch cao 1,2m Thế cương nhu trong điêu khắc và tinh thần của Đạo giáo được thể hiện qua nhiều chi tiết tưởng đối lập nhưng hóa ra lại rất hiền hòa Tượng có khuôn mặt chữ điền, trán cao, môi to, mũi to thể hiện uy lực của một vị thần Râu dài đến ngực, đầu để trần, tóc xõa xuống tận vai Đôi mắt đỏ ngầu có vẻ dữ tợn nhưng lại có nét nhìn xuống nên vẫn toát lên vẻ trầm mặc rất đỗi hiền lành Hai lớp áo, bên trong là một bộ giáp trụ được tạo nên từ mai rùa và vẩy rắn trông rất chắc chắn, cứng cáp; lớp ngoài lại là bộ quần áo choàng của đạo sĩ với chiếc khăn dài Lớp áo choàng ngoài này khiến pho tượng tuy to lớn nhưng vẫn rất mềm mại Bàn tay trái của tượng đưa lên ngang ngực bắt ấn thuyết pháp, bàn tay phải úp lên đốc kiếm, kiếm chống trên lưng rùa nằm giữa hai bàn chân, quanh lưỡi kiếm có con rắn quấn từ dưới lên trên Theo truyền thống, rắn và rùa là hai con vật tượng trương của thần trấn phương Bắc Cùng được đúc với tượng là quả chuông cao tới gần 1,5m, hiện treo ở gác Tam quan
Trang 8Bức tượng Huyền Thiên Trấn Vũ là một công trình nghệ thuật độc đáo, khẳng định nghệ thuật đúc đồng và tạc tượng của người Hà Nội cách đây
1 thế kỉ
b) Tượng ông Trùm Trọng
Ở nhà bái đường cũng có một pho tượng được gọi tên là Đức ông Trùm Trọng Pho tượng nhỏ màu đồng đen, ở tư thế ngồi, đầu trần cạo trọc, nét mặt tươi vui, nay vẫn được hương khói Có nhiều thuyết lý giải
về xuất thân pho tượng này
+ thứ nhất đây là một vị thiên thần được Ngọc Hoàng phái xuống giúp dân
+ thứ 2 cho rằng đây là tượng viên thái giám được vua Lê Hy Tông chỉ định trông coi việc đúc tượng
+ thứ 3 là tượng người nghệ nhân đúc ra pho tượng Huyền Thiên Trấn
Vũ Nguyên khi đúc thành công pho tượng thánh, ông chỉ có nguyện vọng duy nhất là sau khi ông qua đời, ông được thờ phụng ở đền này Tượng này chắc chắn do học trò của ông đúc để kính viếng người thầy, người thợ cả tài hoa của họ
真 Giả thuyết thứ 3 được xem là hợp lý hơn cả
Ngoài ra, hậu cung còn tượng bốn vị nguyên soái khác cũng được thờ
tự Tương truyền, thánh Huyền Thiên có 36 nguyên soái giúp việc trừ tà
ma yêu quái Song hiện ở đền chỉ đắp tượng trưng 4 vị như Tứ đại
Nguyên suý Pháp tượng, Bạch Ngọc thần Pháp tượng…nhưng đáng lưu
ý là tượng Tử đồng Văn Xương đế quân Đây là vị thần theo quan niệm Đạo giáo, coi về văn chương thi cử Uy tín của thần rất lớn đối với các nho sinh Khoảng đầu thế kỷ này, các thầy đồ, thầy khoá cứ vào các ngày mồng 1, ngày mồng 6 âm lịch hàng tháng thường mang vàng
hương lễ vật đến khấn cầu rất thành kính, rồi ngủ lại đền chờ thần báo mộng xem cuộc thi sắp tới đỗ hay không đỗ Nhất là những năm, tháng
có khoa thi thì đền càng tấp nập Sở dĩ có lệ ấy là do tương truyền
Trang 9thuyết, thần từng giáng bút cho biết, vì thấy nước Nam là nước văn hiến nên hàng tháng cứ vào hai ngày ấy thần sẽ tới báo mộng cho sĩ tử… Văn Xương Đế Quân là vị thánh của Đạo giáo, được thờ ở Trung Quốc Đến đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497), Nguyễn Công Định đi sứ Trung Quốc đem tượng thánh về thờ chung với Huyền Thiên Trấn Vũ ở Trấn Vũ Quán Đến năm 1843, Hội Hướng Thiện mới rước từ Trấn Vũ Quán về thờ ở đền Ngọc Sơn Từ đó, quán không còn thờ đức Văn Xương Đế Quân
+ Bên phải, phía sau nhà bia, nằm sát đường Quán Thánh là đền thờ liệt
sĩ Đền được xây dạng phương đình (đình hình vuông), bên trong đặt bàn thờ với dòng chữ “Tổ quốc ghi công”; hai bên là hai cặp câu đối Xung quanh tường treo ảnh của các liệt sĩ thuộc khu vực đền Quán Thánh Điều này nói lên lòng biết ơn của nhân dân với các liệt sĩ đã hi sinh cho việc bảo vệ và xây dựng đất nước
IV) CÁC NGHI LỄ THỜ CÚNG VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN
NGƯỠNG TẠI ĐÊN
A) Các nghi lễ thờ cúng
Trải qua gần 1 thế kỉ ngôi đền vẫn uy nghi và tượng thánh Huyền Thiên Trấn Vũ ở phía Bắc kinh thành Thăng Long – Hà Nội vẫn là một di tích lịch sử - văn hoá nổi tiếng mà khách du lịch và người hành hương khắp nơi vẫn về chiêm ngưỡng, dâng hương rất đông Và trong tâm linh người Việt, thánh vẫn là đấng thiêng liêng vô hình vừa có công tích diệt trừ yêu quái - hồ tinh chín đuôi – như huyền thoại, vừa
là biểu tượng của sự trấn an - bảo vệ phía Bắc kinh thành cho đời sống nhân dân được yên vui, thái bình
Đền là 1 trong Thăng Long Tứ Trấn,được xem là 1 nơi linh thiêng nên mọi người về đây hành lễ,thắp hương cầu khấn rất đông nhất là vào những ngày tết,ngày rằm,mùng 1
Thứ tự hành lễ tại Đền Quán Thánh:
Trang 101 - Lễ hai quan cai quản Đền: Là 2 ông voi hai bên xin phép hai quan cho vào lễ thánh
2 - Lễ bát hương to ngoài trời thờ trời đất, quan cai quản năm đó ví dụ năm 2012: Ngài Sở Vương Hành Khiển Hỏa Tinh Chi Thần Biển Tào Phán Quan
3 - Lễ 2 ngài Thanh Long, Bạch Hổ ( ở 2 bên trái phải ) xin hai ngài vào lễ Thánh.Nếu đóng cửa thì nhờ hai ngài kêu thay vào trong với các quan, thánh
4 - Lễ Công đồng tứ phủ, hội đồng các giá, các quan
5 - Rẽ phải lễ ông Trùm Trọng
6 - Rẽ trái lễ hội đồng các quan cung đệ nhị
7 - Lễ quan văn võ
8 - Lễ Thánh
Khi ra về thì lễ tạ ngược lại với lúc vào: 8-7-6-5-4-3-2-1
Có thể nói cách hành lễ ở bất cứ nơi nào cũng phải có trình tự giống như việc chúng ta vào một cơ quan nào đó
Khách đến lễ chùa đầu năm không chỉ cầu may mà còn chen chân xếp hàng đăng ký dâng sao giải hạn Cúng sao giải hạn là một tập tục tồn tại từ lâu đời,