1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch: Thuyết minh về Đền Quán Thánh

34 2,2K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 520,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đền Quán Thánh có từ đời Lý Thái Tổ 1010 - 1028, thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, đây là vị thần tiêu biểu của thần điện Đạo giáo và là một trong bốn vị thầnđược lập đền thờ để trấn giữ bốn cửa

Trang 1

THUYẾT MINH ĐỀN QUÁN THÁNH

Đền Quán Thánh, tên chữ là Trấn Vũ Quán là một ngôi quán cổ, tọa lạc ở một

vị trí đắc địa tại phố Quán Thánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội Đền nằm bêncạnh hồ Trúc Bạch nhìn ra hồ Tây cùng với chùa Trấn Quốc và chùa Kim Liên tạonên sự hài hoà trong kiến trúc cảnh quan và trong văn hoá tín ngưỡng đối với cảkhu vực phía Tây Bắc của Hà Nội

Đền Quán Thánh có từ đời Lý Thái Tổ (1010 - 1028), thờ Huyền Thiên Trấn

Vũ, đây là vị thần tiêu biểu của thần điện Đạo giáo và là một trong bốn vị thầnđược lập đền thờ để trấn giữ bốn cửa ngõ thành Thăng Long khi xưa hay còn gọi làThăng Long tứ trấn Bốn ngôi đền đó là: Đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ (trấn giữphía Đông kinh thành); Đền Voi Phục thờ thần Linh Lang (trấn giữ phía Tây kinhthành); Đền Kim Liên thờ thần Cao Sơn (trấn giữ phía Nam kinh thành); Đền QuánThánh thờ Huyền Thiên Trấn Vũ (trấn giữ phía Bắc kinh thành)

Năm 1010 sau khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư - Ninh Bình về Đại La ThăngLong (Hà Nội ngày nay) Ông đã cho xây dựng thành Thăng Long để bảo vệ cơquan đầu não của nhà nước phong kiến xưa Có thể nói đây là một tòa thành hội tụtất cả những gì tinh hoa và nó thật xứng đáng với những kỳ vọng của Lý Thái Tổkhi ông viết:" Thành Đại La, đô cũ của Cao Vương ở vào nơi trung tâm trời đất,được cái thế Rồng cuộn Hổ ngồi Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây, lại tiện đườngnhìn sông dựa núi Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng Dân cư khỏi chịucảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực tốt tươi Xem khắp đất Việt chỉ cónơi này là thắng địa Thật là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng

là nơi kinh đô bặc nhất của đế vương muôn đời" (Chiếu dời đô - Lý Công Uẩn).Kinh thành Thăng Long xưa bên cạnh những rào chắn thiên nhiên như sôngNhị, núi Tản, sông Tô, núi Nùng còn có những lực lượng bảo vệ kinh thành về mặt

Trang 2

tâm linh Đó là 4 ngôi đền thờ các vị thần trấn 4 phương, mà chúng ta gọi là ThăngLong tứ trấn Đây là 4 ngôi đền linh thiêng bảo vệ thành Thăng Long khỏi các thếlực bên ngoài, cũng như các lực lượng thù địch bốn phương luôn luôn đe dọa sựbình yên của nhân dân Đại Việt Bốn ngôi đền này ra đời cùng với sự ra đời củakinh thành Thăng Long dưới triều Lý Thái Tổ (1010 - 1028) Nó khẳng định ý thứcđộc lập chủ quyền của vương triều mới thành lập và sự gắn bó kết hợp chặt chẽgiữa vương quyền và thần quyền trong việc bảo vệ kinh thành Thăng Long và bảo

vệ độc lập dân tộc

Các vị thần được thờ trong tứ trấn đều là những nhân thần hoặc là những convật thiêng được nhân hóa Như đền Kim Liên thờ thần Cao Sơn, người có công giữyên nội trị ngăn không cho nội chiến xảy ra (giữa vua Hùng với vua Thục, giúp vua

Lê Tương Dực khôi phục sự thanh bình của đất nước); đền Bạch Mã thờ thần Ngựatrắng được nhân hóa thành thần linh của đất Thăng Long; đền Quán Thánh thờHuyền Vũ cùng 2 con vật thiêng là con Rùa và con Rắn - hai con vật biểu tượngcho sự hiện diện của vị thần trấn giữ phương Bắc Bốn ngôi đền này đều thờ nhữngngười có công với nước, được các triều đại sắc phong với nhiều mỹ tự khác nhau(thần Long Đỗ hay còn gọi là thần Bạch Mã là một vị thần được coi là sự hội tụ củalinh khí của đất kinh kỳ, được vua Lý Thái Tổ sắc phong là: Quốc Đô Thăng Longthành hoàng đại vương; thần Cao Sơn trấn phương Nam, thần Cao Sơn đã có côngdẹp giặc ngoại xâm và phòng chống lũ lụt cùng với Sơn Tinh; thần Linh Lang trấnphía Tây, thần đã có công đánh giặc cứu nước, sau hóa thành một loài giao long bòxuống hồ Thủ Lệ ) Có thể nói Thăng Long tứ trấn là sự tiếp nối tín ngưỡng thờthần truyền thống của người dân Việt kết hợp với tín ngưỡng thờ Thành Hoàng củaTrung Hoa đã được Việt Hóa Bốn ngôi đền là 4 công trình linh thiêng, 4 pháo đàibất khả xâm phạm bảo vệ kinh thành và 4 vị thần được thờ ở đây chính là nhữngngười bảo vệ đầy quyền năng - những Thành Hoàng của đất Thăng Long Như vậy

Trang 3

đền Quán Thánh, ngôi đền chúng ta sắp thăm quan thực sự là một công trình kiếntrúc đặc biệt quan trọng gắn liền với sự hình thành và phát triển của kinh thànhThăng Long và Hà Nội ngày nay.

Trấn Vũ quán là một công trình kiến trúc tiêu biểu của Đạo giáo, một tôn giáo

có nguồn gốc ở Trung Quốc, được hình thành vào thời Xuân Thu (770 - 480 TCN)

và Chiến Quốc (480 - 220 TCN), ở Trung Hoa diễn ra tình hình phong kiến cát cứ,hàng năm nước lớn nhỏ, mỗi nước cát cứ một phương, trị dân mỗi cách, các nướcgây ra chiến tranh Để ổn định thống nhất đất nước, nhiều học thuyết ra đời Phápgia thì chủ trương trị nước, trị dân bằng pháp luật, Nho gia chủ trương trị nướcbằng lễ trị, đức trị Đạo giáo do Lão Tử khởi xướng chủ trương trị nước theo họcthuyết Đạo và Đức và lấy tác phẩm "Đạo đức kinh" của Lão Tử làm tư tưởng giáo

lý của tôn giáo này Những người tu hành theo Đạo giáo thường sống trong các đềnhay các cộng đồng tương tự thầy tu Phật giáo Đền của họ được gọi bằng một cáitên riêng là "Quán" Đạo giáo đã được du nhập vào Việt Nam vào thời thịnh Đườngthế kỷ VI - VII, khi tư tưởng Đạo giáo vào nước ta, nó đã kéo theo việc xây dựngcác kiến trúc của Đạo giáo đó là ngôi quán, nơi thờ những vị thần liên quan trựctiếp đến ngôi quán đó, ví dụ như Bích Câu đạo quán thờ Tú Uyên, Giáng Kiều Haynhư tại Lâm Dương quán (Hà Đông) hiện trong điện thờ vẫn thờ bộ tượng TamThanh, Nam Tào, Bắc Đẩu

Và ở quán Trấn Vũ vị thần được thờ là Huyền Thiên Trấn Vũ hay còn có têngọi là Huyền Thiên thượng đế Đăng ma thiên tôn Trấn Vũ Đây là vị thần tiêu biểucủa thần điện Đạo giáo Ngài có nhiệm vụ trấn giữ phương Bắc, người xưa chorằng: phía Đông ứng với mùa xuân, màu xanh, hành mộc và thờ thần Bạch Hổ;phía Tây ứng với mùa thu, màu trắng hành kim và thờ thần Thanh Long; phía Namđược coi là tiền án của kinh thành ứng với mùa hạ, màu đỏ, hành hỏa và thờ thầnChu Tước (Sẻ Đỏ), phía Bắc ứng với mùa đông, màu đen, hành thủy và thờ Huyền

Trang 4

Vũ (con Rùa) Huyền Thiên Trấn Vũ là một vị thần rất hiển linh, Ngài có công lớntrong việc diệt trừ yêu quái giúp cho việc xây dựng các công trình được bền vững,giữ yên sơn hà xã tắc Trong dân gian còn lưu truyền rất nhiều huyền thoại về vịthần Trấn Vũ như:

Sách Chân Vũ quán lục do Thanh Hòa Tứ soạn vào năm Tự Đức thứ 7 (1854)

có kể lại rằng: Vào thuở sơ khai, Huyền Thiên Trấn Vũ đã hiển linh vào cuối đờiHùng Vương Thời ấy tại làng Long Đỗ (tức thành Thăng Long bây giờ) thuộc bộGiao chỉ có một khu đất gọi là Lâm Ấp, có núi Thiết Lâm có con cáo 9 đuôi thường

ẩn hiện để làm hại người Ngài đã dùng phép diệt trừ giống yêu quái ấy rồi cả khurừng sụp xuống thành Hồ Tây Về sau thuộc bộ Vũ Minh, núi ông Hổ lại có giốngyêu quái xuất hiện hại người Huyền đế lại hiển linh trừ yêu rồi lại hóa Vua sai lậpđền thờ chỗ Ngài hiển linh và đặt tên là Kim Khuyết cung, đổi tên núi Ông Hổthành núi Vũ Đương, tại núi Vũ Đương bên Trung Hoa Huyền Đế thường hiển linh

ở đấy Từ sự tích thánh Trấn Vũ giết cáo 9 đuôi nên Hồ Tây xưa còn có tên là đầmXác Cáo

Sang thời khai hoang nhà Tùy (589 - 600), Ngài giáng sinh vào vương cungrồi bỏ ngôi thái tử, xuất gia ở núi Vũ Đương thuộc phủ Tường Nô bên Trung Quốc.Khi ngài tu đắc đạo sang chơi nước Nam ta, đến sông Nhị Hà làng Long Độ, ngài ởmột ngôi đền bên hồ Tây để tu đạo Ngài dùng phép diệt trừ yêu quái để cứu dânrồi Ngài hóa Người ta nhớ ơn đức Ngài mới lập đền thờ gọi là quán Huyền Thiên.Theo tấm bia dựng năm Bảo Đại thứ 3 (1928) tại quán Trấn Vũ, thôn NgọcTrì, xã Cự Linh, huyện Gia Lâm có ghi rằng: "Huyền Thiên sau bốn lần giáng trần,lần thứ 4 mới thành công Nước ta thời An Dương Vương có đắp thành Phong Khê(Cổ Loa), cứ đắp xong thì lại đổ, nhà vua bèn cho lập đàn cúng tế trời Bỗng thấymột con rùa vàng xuất hiện từ phương Đông tự xưng là Thanh Giang sứ giángxuống hộ quốc Vua hỏi việc đắp thành, Thanh Giang xứ nói rằng ở núi Thất Diệu

Trang 5

có tinh gà trắng cũng là giống yêu quái Thanh Giang sứ giúp nhà vua diệt trừ yêuquái và xây thành Phong Khê Thành được đắp xong nhân dân yên ổn cả" Thuyếtcho rằng Thanh Giang sứ là thần Kim Quy, thuộc hạ của Huyền Thiên Trấn Vũ.Đức Huyền Thiên Trấn Vũ không những đã hiển linh để diệt trừ các loài yêu quái

mà ngài còn sang mước Việt đánh đuổi giặc ngoài xâm ba lần

Lần thứ nhất, vào đời Hùng Vương thứ 6 quân giặc từ vùng biển tràn vào đánhphá, không tướng nào chống cự được Thần đã hóa thân vào trong cái gậy đá củamột gia đình ông bà già ở Tiên Lạt, xứ Việt Thường, rồi biến thành một cậu bé bảytuooirm thông minh nhanh nhẹn, khi nghe vua cầu người tài giỏi để đánh giặc đãmột mình đánh tan giặc vào sau đó đến ngọn núi Phượng Hoàng (huyên Kim Anhngày nay) thì hóa Lần thứ 2 vào đời Hùng Vương thứ 7 giặc Hán sang xâm lượcnước ta do tướng là Thạch Linh dẫn quân đến đóng đô ô ở bờ sông Thương Danhtướng nước ta là Lý Công Đạt đem quân đến núi Tam Táng để chống giữ nhưng bịthua, phải chạy đến thành Long Đỗ (Thăng Long) Vua cho cầu người tài để giúpnước Huyền Thiên Trấn Vũ đã đầu thai vào một bà mẹ ở làng Nghĩa Vũ tổng VũNinh thành một cậu bé, bỗng chốc lớn lên nhanh chóng và nói với sứ giả rèn chomột con ngựa sắt nặng nghìn cân và một roi sắt nặng trăm cân Thần cùng ba tướngdẫn ba vạn quân, đuổi đánh chúng ở xứ Vũ Ninh, giết được 4 tướng giặc và sau đếnnúi Vũ Ninh thì hóa Vua Hùng phong tước gọi là Thiên Vương và cho lập đền thờthần Ở nơi thần sinh ra, dân làng cũng lập đền thờ và khắc vào bia đá 7 chữ: ĐồngThiên Vương Thành Mẫu cô trạch" Như vậy là Huyền Thiên Chân Vũ cũng chính

là Thánh Gióng mà nhân dân ta vẫn thờ cũng Có công trong việc đánh giặc Ân.Bên cạnh đó thần còn có rất nhiều công lao như: giúp vua Lê Đại Hành chốngquân Tống và diệt trừ yêu quái, giúp vua Lý Thánh Tông giết chết 3 con vật là Hồtinh, Quy tinh và Xà tinh đã phá vỡ đê sông Hồng Vua đã lập đền thờ gọi là đềnChân Vũ, chính là ngôi đền Quán Thánh hiện nay

Trang 6

Qua các truyền thuyết kể lại chúng ta có thể biết rằng, vị thần được thờ ở Trấn

Vũ Quán là một vị thần Đạo lão ở Trung Quốc Đây là vị thần trấn giữ phương Bắc

Vị thần này đã được du nhập vào nước ta từ khá sớm Tuy nhiên, việc thờ ĐứcHuyền Thiên Trấn Vũ đã trở thành một thứ tôn giáo pha trộn tín ngưỡng của ngườidân Việt Việc thờ đạo Lão nói chung và thờ thần Trấn Vũ nói riêng là rất phổ cập

ở xứ Bắc Kỳ Tuy nhiên, trong hàng loạt những ngôi quán thờ đức Huyền ThiênTrấn Vũ thì quán Trấn Vũ ở Hà Nội vẫn là ngôi quán cổ kính và là một di tích nổitiếng vào bậc nhất

Là một trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long xưa, Trấn Vũ quán không chỉ

là một nơi thờ tự linh thiêng mà quán còn là một di tích nổi tiếng, một danh thắngvào bậc nhất không những của kinh đô Thăng Long mà trên toàn xứ Bắc Kỳ Quántồn tại suốt nghìn năm lịch sử, được đời đời chúng dân hương đăng thờ phụng, cácđời phong kiến thế tập, quan lại luôn quan tâm tập trung nhân tài vật lực tu bổ tôntạo quán thêm bền vững, nguy nga tráng lệ

Quán đã nhiều lần được tu bổ, tôn tạo lớn dưới sự trợ giúp của triều đình vua

Lê và phủ chúa Trịnh năm 1677 và triều đình nhà Nguyễn vào năm 1893 đời vuaThành Thái

Ngoài ra quán cũng được trùng tu vào năm 1618 Lần trùng tu này được ghitrong tấm bia "Diệu cảm tu tâm kiến văn lạc đạo bi" dựng vào ngày tốt tháng QuýDậu, niên hiệu Đức Long ngũ niên (1633) có nói đến chuyện ông họ Trần ở làngLương Xá, phủ Thuận Thành, Bắc Ninh, vì cha mẹ ông cầu đảo ở quán này sinh raông nên: "lại đến tháng 10 năm Mậu Ngọ (1618) xây dựng nền quán chỗ dấu xưa"Đời vua Lê Hy Tông, niên hiệu Vĩnh Trị 2 (1677), chúa Trịnh sai đình thần làNguyễn Đình Luân trùng tu Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ trong quán trước đâybằng gỗ đã bị mối mọt, đã được triều đình cho đúc lại bằng đồng đen Tượng cao

Trang 7

3,72m và nặng gần 4 tấn Ngoài ra còn cho đúc một quả chuông đồng cao 1,6mhiện nay còn được treo ở tam quan của đền Sau khi sửa xong, trạng nguyên ĐặngCông Chất và tiến sĩ Hồ sĩ Dương đã soạn văn bia.

Niên hiệu Cảnh Hưng thứ 29 (1768) chúa Trịnh Sâm có cho sửa chữa khu đềnnày và ghi thêm vào tấm bia đời Vĩnh Trị thứ 2 (tấm bia này không còn)

Khoảng thế kỷ 18, đô đốc Lê Văn Ngữ cùng nhiều người nữa đã quyên tiềnđúc chiếc khánh bằng đồng Mặt khánh khắc chữ Hán đại ý nói đền có chuông vàtrống, nay có thêm khánh sẽ hoàn chỉnh hơn về những âm thanh phát ra Khánh gợihình ảnh mặt trăng và núi rừng Nghe tiếng khánh vang lên, những người đangbuồn rầu bỗng trở nên vui vẻ, người ngu dốt trở nên minh mẫn

Đến thời Nguyễn, vua Minh Mạng đến thăm đền, vua đã cúng vào quán 50lạng bạc để tu sửa, năm 1832 cho đổi tên là Chân Vũ quán

Lần trùng tu quy mô lớn đưới triều Nguyễn được thực hiện vào năm Quý Tỵ,năm thứ năm đời vua Thành Thái (1893) Toàn bộ hoành phi câu đối, cuốn thư,biển đào đề thơ được khảm trai lộng lẫy, tu sửa tôn ạo lại các tòa nhà bị hư hỏngdột nát, bồi đắp sửa sang tam quan, dựng bia đá, xây nhà bia khiến Quán Trấn Vũtrở nên khang trang diễm lệ hơn bao giờ hết

Sang thế kỷ 20, dưới thời thuộc Pháp, Quán Trấn Vũ được Viễn Đông Bác Cổhọc viện liệt hạng số 1 và được nhà nước bảo hộ Pháp cùng quan dân sở tại tu sửanhỏ nhiều lần, như năm 1941, quán được đắp thêm đôi voi chầu ở sân trước khuđiện thờ chính Những lần tu sửa này đã giữ cho ngôi quán được trang nghiêm nhưhiện nay

Trang 8

Việc tu sửa đền Quán Thánh vẫn được thực hiện rải rác cho đến ngày nay Tuynhiên giá trị kiến trúc cảnh quan hiện nay mà ta có thể thấy được đó là phong cáchkiến trúc ở lần trùng tu đời vua Thành Thái thứ 5 (1893).

Tóm lại, sau gần nghìn năm lịch sử tồn tại và phát triển, do những biến độngcủa thời cuộc, quán Trấn Vũ đã bị thu hẹp nhiều về quy mô nhưng vẫn giữ đượctoàn bộ tổng thể những bộ phận chính của một công trình tôn giáo tín ngưỡng Các

bộ phận kiến trúc của công trình còn nguyên vẹn, nguy nga đồ sộ, bên trong chứanhiều di vật quý giá của các thời đại đã qua Lại nằm ở vị trí đẹp đẽ thuận lợi vềgiao thông, trung tâm chính trị, văn hóa xã hội và du lịch của Thủ Đô Hà Nội QuánTrấn Vũ quanh năm 4 mùa thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đếntham quan vãn cảnh, chiêm bái và ngưỡng vọng thờ phụng thần Trấn Vũ

Nằm ở một vị trí đắc địa, cạnh hồ Tây và hồ Trúc Bạch, trung tâm chính trị văn hóa, xã hội, mặt chính của ngôi quán lại quay ra phía đường Thanh Niên Conđường này có từ khoảng thế kỷ 17 (năm 1620) sau khi dân của hai làng Yên Hoa vàYên Quang đắp một con đê nhỏ ngăn góc đông nam Hồ Tây ra để cho tiện việcđánh cá Con đê này có tên chữ là "Cố Ngự yển" (nghĩa là Đập Giữ Vững) Từ chữ

-Cố Ngự mà dân gian đọc chệch là Cổ Ngư Con đường Cổ Ngư tồn tại mãi cho đếnnăm 1957, khi mà Thành đoàn thanh niên lao động thành phố Hà Nội tổ chức laođộng xã hội chủ nghĩa đắp mở rộng đường ra Thanh niên Hà Nội phải lao độngtrong hai năm đường mới hoàn thành và trở nên rộng đẹp, có vườn hoa, cây cảnhtươi tốt như ngày nay Theo sáng kiến đề xuất của Bác Hồ, con đường mang tênThanh Niên từ năm 1959 Hiện nay, đường Thanh Niên được nhiều người biết đếnkhông chỉ đơn thuần là một khu phố vui chơi với những cảnh đẹp thiên nhiên màmọi người còn biết tới nó bởi con đường này là nơi có nhiều di tích lịch sử nổitiếng của Thủ đô Hà Nội

Trang 9

Đối với các di tích, hướng Tây và hướng Nam là hai hướng đẹp và rất phổbiến Hướng Nam là hướng đầy dương tính, sáng sủa, hợp với khí hậu nước ta,đồng thời là hướng của đế vương, là phương của trí tuệ Hướng Tây là hướng thíchhợp với kiến trúc cổ truyền trên đất Bắc vì hướng này hợp với quy luật đối đãi của

âm dương, hướng này là hướng của thần Quán Trấn Vũ là một ngôi quán đượcquay theo hướng Tây Di tích quay về phía Tây là điều hợp lý vì với mặt trước củathần là dương nhìn về hướng Tây là âm là hợp Lưng của thần là âm về hướngĐông là dương, tay trái là âm về hướng Nam là dương, tay phải dương về hướngBắc là âm Thần ngồi như vậy sẽ yên vị Không chỉ tuân thủ theo quy luật của âmdương mà quán Trấn Vũ quay theo hướng Tây thực chất là quay ra phía hồ Tây - là

hồ lớn nhất của thủ đô Hà Nội hiện nay Hồ Tây ở đây được coi là một nơi tụ linh,

tụ thủy của di tích Không những thế, quán còn tọa lạc giữa một trong mấy nơithắng cảnh đẹp nhất vùng đồng bằng, với các thảm nước mênh mông yên tĩnh

Có thể thấy, quán Trấn Vũ hội tụ khá trọn vẹn những yếu tố địa hình, cảnhquan của một nơi linh địa, hút được sinh lực của tầng trên Đây là mảnh đất đẹp,gắn yếu tố nước, hợp với tư duy của cư dân nông nghiệp Yếu tố nước ở đây chính

là Hồ Tây chảy trước mặt và hồ Trúc Bạch gần bên

Di tích đền Quán Thánh là một quần thể kiến trúc theo hướng Tây quay mặt

về phía hồ Bốn cột trụ biểu nằm ở sát mặt đường Thanh Niên Qua một khoảng sângạch hè chúng ta bước vào tam quan của đền Tam quan thật đồ sộ, uy nghi đượcxây dựng bề thế trên nền những phiến đã xanh lớn, rộng bản Tam quan được xâydựng hai tầng trên tầng hai của tam quan để treo chuông Sau tam quan là mộtkhoảng sân rộng được tráng xi măng, hai bên có đôi voi được đắp xi măng đangchầu quì Phái bên phải của sân, bên mé đường Quán Thánh là nhà bia "Thạch Biđình" trong dựng tấm bia đá lớn, cách nhà bia một khoảng là một ngôi nhà, đây lànhà bia tưởng niệm các liệt sỹ phường Quán Thánh, được xây dựng năm 1997, cửa

Trang 10

hướng ra mặt phố Quán Thánh Phía bên trái của đền còn có 1 dãy nhà cấp 4, là nơibán hàng lưu niệm Qua phần sân, ta vào tới ngôi đền Phần chính của đền bao gồmnhà Tiền tế với ba lớp nhà song song và Hậu cung Không giống các kiến trúc khácnhư đình, chùa được gọi theo tên chữ Trung Quốc Các dãy nhà của quán Trấn Vũđược cấu trúc theo kiểu trùng thiềm điệp ốc, tạo nên những nét lô xô của các lớpnhà.

Bước chân tới tham ngôi đền, hình ảnh đầu tiên mà chúng ta bắt gặp đó chính

là tứ trụ với bốn cột trụ biểu nằm sát mặt đường Thanh Niên, tứ trụ quay về hướngTây được xây băng gạch và vôi vữa Kết cấu kiến trúc gồm bốn trụ cột: hai trụ lớn

và hai trụ nhỏ cân đối Nối liền giữa trụ lớn và trụ nhỏ là tương bao xây liền khối

 Trụ chính

Cột trụ chính được chia làm nhiều phần nối liền nhau Bên dưới là bộ phậnchân bệ đắp nổi khối vuông cả bốn mặt Bên trên là phần thân cột được xây lõm,bên trong đắp nổi hàng chữ Hán được viết rất đẹp và rõ nét Tiếp theo đó là gờ chỉgiật cấp thu nhỏ thân cột tạo ra phần trên thân cột một khối hình vuông lồng đèn.Bốn mặt của lồng đèn được đắp khung hình vuông có gờ chỉ nối Tại đây người takhắc nổi chữ Hỷ

Phía trên lồng đèn là phần mui luyện Mui luyện được thu nhỏ dần tạo sốngcạnh bốn góc Trên mui luyện là một phần được đắp nổi khối tròn đều Các mặtchính của khối tròn có trang trí

Đỉnh trụ được trang trí hình tượng tứ phượng quy hồi, biểu tượng cho chốnhội tụ tinh hoa trời đất Phượng là con vật linh thiêng, với ý nghĩa đầu đội công lý,mắt là mặt trời, mặt trăng, lưng cõng bầu trời, lông là cây cỏ, cánh là gió, đuôi làtinh tú, chân là đất, phượng tượng trưng cho cả vũ trụ Bốn con chim phượng quay

ra bốn góc lộn ngược thân xuống dưới, đầu cong lên Đuôi chim phượng chụm lại

Trang 11

thành bốn múi, chĩa lên trên, gọi là kiểu lá lật, đuôi phượng mang dáng dấp một thứ

là cách điệu Cả hệ thống đỉnh trụ tứ phượng được đặt trên một bệ vuông thót đáy

Cả cột trụ chính cao tới 8m

 Trụ nhỏ

Về hình thức và kiểu dáng, hai cột trụ nhỏ này có kết cấu kiến trúc giống haitrụ lớn, tuy nhiên kích thước thấp hơn một chút là 6m Phần đỉnh cột thay vì kiểuphượng lá lật, người ta đã đắp ở đây hình một con nghê bằng xi măng Trong quanniệm dân gian của người Việt theo thuyết phong thủy, tượng nghê thường dùng trấngiữ cửa nhà, hóa giải hung khí vào nhà, hóa giải Sao sát khí chiếu mỗi năm Chúng

ta có thể thấy trên thân nghê có nhiều vân xoắn, có đôi mắt thú tròn lồi, mũi sư tửlớn, khoằm, miệng mở rộng để môi trễ xuống Tai thú, tóc và râu nghê xoắn lạitừng cụm nhỏ, thân uốn cong, hông hơi nâng cao, đuôi uốn cong lên trên Bốn chânnghê đang vươn về phía trước Cách tạo dáng này như muốn thể hiện sức mạnh linhthiêng của nó

Nối giữa trụ lớn và trụ nhỏ là bức tường bao Hai mặt chính diện trước sau củatường bao đều được đắp nổi hình hổ Hình hổ nằm gọn trong một khung hình chữnhật với những đường gờ nổi chạy xung quanh Hổ được thể hiện trong tư thế vậnđộng, hai chân trước chồm lên và chụm lại, hai chân sau tạo thế đứng khỏe khoắn.Đầu hổ lộ ra ngoài thể hiện nét mặt dữ tợn Miệng hồ há rộng để lộ hàm răng thúsắc nhọn Đuôi hổ phất cao lên trên Hổ là hình tượng biểu trưng cho sức mạnh vàtrí tuệ của con người trước thiên nhiên Ở đền Quán Thánh, hình tượng hổ được thểhiện là một "con vật linh thiêng" có sức mạnh bảo vệ cho vị thần Trấn Vũ

Bên trên tường bao là hình tượng hổ phù khắc thủng xen lẫn với đôi rồngchầu Hình hổ phù được thể hiện rất dữ tợn có đôi mắt thú lồi to tròn đều Mũi theokiểu mũi sư tử to, cánh mũi nở rộng về hai bên Miệng hổ phù há để lộ hàm răngđang cắn nửa vành trăng có gắn chữ thọ Hai tay hổ phù dang rộng ra hai bên chống

Trang 12

xuống như đỡ thân mình Hình tượng hổ phù ngậm vành trăng là cầu mong sự no

đủ, hạnh phúc, trường tồn, biểu thị cho sự trường tồn mãu mãi của thần Trấn Vũtrong niềm tin tâm linh của nhân dân Việt Nam Hình tượng hổ phù còn biểu hiện

vũ trụ bao la vô bờ bến, là hình ảnh linh thiêng, xua đuổi tà mà, chống lại ám khí,bảo vệ chủ nhân Đối xứng hai bên hổ phù là hình một đôi rồng chầu Toàn thânrồng uốn thành nhiều nếp cong cân đối Điểm xuyết thân rồng là những cụm mâyxoắn thành nhiều lớp nhỏ Hai đuôi rồng chụm vào nhau nâng cằm của hổ phù Vớicách thức bố cục cân đối, mảng trang trí rồng chầu hổ phù càng thêm trang trọng,đẹp mắt

 Tam quan

Từ tứ trụ qua một khoảng vỉa hè rộng, ta tới tam quan của đền Quán Thánh.Nếu như ở chùa, tam quan bao hàm ý nghĩa Phật triết sâu sắc, có thể coi như tuyênngôn của đạo Phật đối với đời thì tam quan của Quán lại là biểu tượng của "huyền"tức là của đạo, của hư vô và huyền ảo

Tam quan được xây dựng hai tầng, tầng trên là gác chuông, tầng dưới là cửa ravào Phía trước tam quan có hai cột vuông lớn cao 8m Về hình thức hai cột này rấtgiống với tứ trụ trước Tam quan Cột trụ được nối với tam quan bằng tường bao.Trên hai bức tường này có trang trí đề án Tùng - Hạc và Mai - Điểu

Đố án Mai - Điểu được thể hiện dưới dạng phù điêu khá chi tiết Cây mai cổthụ có nhiều nếp gấp uốn thân, để lộ ra những mắt cây già cỗi Thân mai vươn caotrên núi đá, cành hoa nở in trên nền trời xanh Trên cây là một đôi uyên ương đangchuyền cành, tạo ra không khí sinh động cho bức tranh Bức tranh Mai - Điểu ở đâymuốn mang đến ý nghĩa tốt đẹp về một cuộc sống hạnh phúc

Đồ án Tùng - Hạc được thể hiện ở tường bao bên trái, ở đây, cây tùng cũng cónhững biểu hiện già cỗi mà cứng rắn Những nếp uốn thân cây vươn lên trên núi đá,tỏa bóng mát xuống thân hạc Chính diện là một chim hạc đứng, bóng dáng hạc ở

Trang 13

đây trông rất trầm tư như một con người cụ thể Đồ án Tùng - Hạc thường đượcbiểu hiện cho sự trường thọ.

Tầng dưới của tam quan được kết cấu theo kiểu khối vuông đắp trụ đứng nổi.Kết cấu kiến trúc được chia làm ba cửa ra vào Bốn góc tam quan là hệ thống tứ trụnối liền với các tường bao bít đốc Dọc theo phần thân trụ có đôi câu đối chữ Hánmàu đen trên nền vôi quét trắng Ba tầng dưới tam quan được thể hiện theo kiểucuốn vòm, chính giữa phần cửa trên có trang trí hình tượng hổ phù lớn, hai chândang rộng, nửa như đe nẹt, nửa như mời chào Cửa cuốn hai bên thấp hơn cửachính giữa, phía trên có tạo một khung hình chữ nhật chìm với những đường viềnđược đắp nổi bằng xi măng, bên trong khung này có khắc chìm hai chữ được viếthoa theo kiểu chữ triện Phần chấn song cửa được chạm khắc hình thân cây trúc,điểm xuyết là các cụm lá trúc được khắc nổi ngay trên chấn song

Kiến trúc phần gác chuông cũng được thể hiện theo khối vuông và có ba lớpmái tương ứng với ba lầu nhỏ Những lầu nhỏ này nối liền với nhau bằng mộttường xây Lẫu giữa lớn hơn lầu hai bên, được kết cấu theo kiểu hai tầng tám mái.Mặt chính diện phía trước cửa lầu đề ba chữ "Chân Vũ Quán" là tên của di tích.Phía dưới phần chữ tầng lầu lớn này không sử dụng hệ thống cửa thông thường màcửa ở đây được tạo là một cửa tròn Cửa sổ hình tròn kết hợp với tam quan đượcxây dựng theo khối vuông tạo nên sự hài hòa về cảnh quan và hơn nữa đây là biểutượng cho sự kết hợp giữa trời đất, vũ trụ tại chính di tích này

Kết cấu hai lớp mái tầng lầu giữa là lớp ngói ống trải đều Đầu ngói ống mái

có một vàng tròn khắc chữ Hỷ Đầu đao lá mái trên và dưới đều uốn cong thanhthoát Trên bờ dài của mái dưới đắp nổi hình rồng chầu về bốn hướng Rồng đượcthể hiện trong thế vận động, cuốn thân thành nhiều nếp như đang vươn tới Đầurồng ngẩng cao, mắt thú tròn lồi nhìn thẳng Tóc bay về phía sau, râu sắc nhọn uốnxuống dưới Các vây lưng sắc nhọn Hình ảnh của những đôi rồng biệu tượng chosức mạnh, trí tuệ và sự uy nghiêm của di tích này

Trang 14

Lớp mái trên có kết cấu tương tự nhưng được thu nhỏ hơn Trên bờ nóc chínhgiữa có hình ảnh rồng chầu mặt trời với ý nghĩa ngọn lửa thiêng bảo vệ sự an lànhcho nơi linh thiêng trước mọi sự xâm nhập của tà ma Bờ dải có đắp nổi hình conphượng chầu Đầu phượng ngẩng cao quay về trung tâm Thân phượng bám vào bờdải theo bốn hướng Cánh phượng dài ôm lấy thân mình tròn đều Đuôi phượngchạy dài mềm mại theo bờ dải Hình ảnh phượng hòa vào kiến trúc một cách thanhthoát.

Đối xứng với lầu giữa là hai lầu nhỏ ở hai bên Hai lầu này thấp hơn, đườngđao cong mềm mại, phía trong hai lầu nhỏ được xây theo kiểu cuốn vòm Phía trêncửa người ta đắp nổi hình hai trái đào và hia trái lựu lồng vào nhau chung mộtcuống Hình tượng quả ở đây cũng mang ý nghĩa nhất định: quả lựu (biểu tượngcủa sự sung túc, no đủ), quả đào (biểu tượng cho sự trường thọ)

Toàn bộ Tam quan đền Quán Thánh được xây dựng trên nền là những phiến

đá xanh lớn ghép lại với nhau Sự liên kết này tạo cho công trình sự vững chãi.Bước qua cổng tam quan là một khoảng sân khá rộng, khoảng sân này chính làkhông gian chứa đầy ánh sáng và màu xanh để chuyển tiếp giữa cái bình dị của đờithường với cái uy nghiêm của Thần Thánh Đặc biệt, hai bên sân có đôi voi phục.Theo thuyết phong thủy, con voi có thể mang lại may mắn và thành công Chúngđược ngưỡng mộ vì có trí thông minh, sức mạnh và nhân phẩm tuyệt vời Chúngvừa có phẩm chất con người vừa có phẩm chất của thần linh, nên với người PhươngĐông voi là biểu tượng chung cho sự may mắn, được thờ cúng và tôn vinh Điều đó

dễ thấy vì sao đôi ngựa được đặt tại di tích này

Sau khi qua khoảng sân rộng rãi chúng ta sẽ thấy trước mặt là tòa nhà Tiền tế

Do ngôi quán được kết cấu theo kiểu trùng thiềm điệp ốc với những lớp nhà nốitiếp nhau Bởi vậy, khu nhà Tiền tế cũng có 3 lớp nhà

 Lớp nhà thứ nhất

Trang 15

Nhà thứ nhất được làm theo kiểu tường hồi bít đốc với hai mái cân xứng, lợpngói kiểu vảy hến Phần chính giữa bờ nóc đắp bầu rượu hai bên là cá chép Cáchép tỳ thân xuống nóc, hai vây xòe ra hai bên Thân và đuôi uốn cong để lộ ranhững vẩy xếp đều nhau Song đáng chú ý là bằng sự cách điệu rất khéo léo người

ta đã biến lá sen đỡ nậm rượu thành bộ mặt hổ phù sinh động Đó là một lá senhoàn chỉnh, các gân lá được khắc rõ Mép lá hai bên uốn cong xuống dưới tạothành tay của hồ phù, còn cuống lá sen ta thấy rõ hình chiếc mũi sư tử Thêm vào

đó hau gân lá cuốn tròn hình thành đôi mắt thú lồi Hình tượng cá chép chầu hồ lô

là hình tượng khá quen thuộc trong điêu khắc trang trí trong các công trình tínngưỡng dân gian Theo triết lý của Nho gia, hình tượng cá chép chầu hồ lô thể hiện

ý chí rèn luyện của bậc quân tử, điều này xuất phát từ sự tích "cá chép vượt vũ mônhóa rồng Qua đây có thể thấy, qua hình tượng này các nhà điêu khắc ngụ ý muốn

ca ngợi vị thần Trấn Vũ với ý chí, phẩm chất của người quân tử với, đề cao sứcmạnh, uy quyền của thần trong việc giúp dân diệt trừ tai họa

Bờ nóc kéo dài về hai phía, tạo dáng cho đầu kìm Gối đầu kim là hoa văntriện kỷ hà được khắc thủng rõ nét Dọc phía bờ dải phía trước đắp nổi hai lá đuôiphượng Ở đây phượng được ẩn mình trong dải lá cuộn mềm mại bám lấy bờ dải.Con kìm được tạo bởi đường bờ nóc xây bằng vữa hơi uốn cong lên Đỡ phíadưới đường cong là một hình hoa văn thủng Bờ dải phía trên tường hồi chạy thẳng

từ đầu kìm xuống có đắp phượng uốn cong ngoảnh mặt về phía trong Bờ dải nốivới tường hồi và trụ biểu Tường hồi bên phải là thanh long đắp nổi, miệng phunnước, thân được khảm các mảnh sứ, bên trái là Bạch Hổ đắp nổi ngồi trên núi Trênhai cột trụ biểu có đắp nổi hình tứ linh, những con vật này đều được thể hiện ở tưthế động Đỉnh trụ có đôi nghê quay mặt vào nhau và ngồi trên đài sen

Chiều ngang của tòa nhà này là 9,5m, sâu 3,3m bộ khung được định vị khávững chắc bởi 4 bộ vì kèo giá chiêng, tạo thành 3 gian Kích thước các gian khôngđều nhau, gian giữa rộng nhất

Trang 16

Gian chính giữa có một án thờ, giáp với mái hiên có một bức hoành phi đề 3chữ "Trấn Vũ Quán" là tên của di tích này Phía sau hoành phi là bức chạm khắccảnh sinh hoạt của Tam phủ Có thể coi đây là một bức tranh kiệt tác, bức phù điêulớn bằng gỗ Với kỹ thuật chạm bông kênh điêu luyện, các nghệ nhân đã tạo nênmột khung cảnh sinh hoạt ở ba tầng là: Thiên phủ, Thủy phủ và Địa phủ hết sứcsinh động Với những nét chạm nhỏ, mỏng nhưng sắc sảo hình ảnh con người, thầntiên, những tòa lầu rực rỡ hiện lên hết sức chân thực và rõ nét.

Ngăn cách giữa lớp nhà Tiền tế thứ nhất và nhà tiền tế thứ hai là một hệ thốngcửa gỗ được chạm khắc dày đặc hình tứ quí và thứ cây khá phổ biến trong tạo hình

là hình nho, sóc Cửa được chia làm ba ô, hai ô trên dưới nhỏ, ở giữa để ô to hơn

 Lớp nhà thứ 2

Lớp nhà này nằm song song với lớp nhà thứ nhất, có chung hàng cột và đượcngăn cách bởi một hệ thống cửa gỗ Mái được lợp ngói vẩy hến, trên bờ nóc có gắnđôi rồng chầu mặt trời, bờ dải có gắn rồng uốn cong Với ý nghĩa của ngọn lửathiêng, bảo vệ sự an lành của nơi linh thiêng trước mọi sự thâm nhập của tà ma.Biểu tượng này còn mang ý nghĩa cầu trời mua thuận gió hòa, mong ước mùa màngbội thu

Lớp nhà thứ 2 cũng có 3 gian, với chiều dài bằng với chiều dài của lớp nhà thứnhất, nhưng sâu hơn và có số đo là 8,14m Lớp nhà thứ hai được trang trí cầu kìnhất so với tất cả các lớp nhà, cửa võng, hoành phi đều được sơn son thiếp vànglộng lẫy, bộ vì nóc cũng được trang trí khá cầu kỳ, đặc biệt tại lớp nhà Tiền tế thứ 2này đặt một nhang án thờ lớn nhất của di tích, được chạm khắc công phu; hơn nữađây cũng là nơi lưu giữ một số hiện vật có giá trị của di tích như: đôi cây đèn thần,chiếc khánh đồng và biển đồng vào thời Nguyễn;

Trung tâm của lớp nhà thứ hai mà chúng thể có thể nhìn thấy chính là nhang

án được đặt ngay chính giữa của gian giữa nhà Nhang án được làm như một chiếc

tủ hình hộp chữ nhật có nhiều ngăn nhỏ lắp kín Bề mặt nhang án là tấm gỗ mỏng

Trang 17

được ghép kín, hai đầu uốn cong như cánh lá cuộn Phía trước là một mảng chạmkhắc lớn được chia làm hai phần trên, dưới bằng một gờ chỉ nổi Phần trên thể hiệncảnh sinh hoạt cung đình của vua chúa Phía dưới thể hiện thế giới động vật rất sinhđộng với các đồ án tứ linh, tứ quý Những linh vật này được thể hiện phong phú.Mảng chạm đã thể hiện quan niệm thế giới, sự gần gũi con người với thiên nhiên.Bằng kỹ thuật chạm lộng, chạm thủng, người nghệ nhân đã rất chú ý tới yếu tố phốicảnh không gian; sự hài hòa của thiên nhiên, con người và động thực vật.

Trước nhang án là hình tượng đôi Rùa đội Hạc Trong quan niệm của ngườiViệt, rùa là loài bò sát lưỡng cư, có tuổi thọ cao và thân hình vững chắc nên biểuthị cho sự trường tồn Rùa là loài không ăn nhiều, nhịn đói tốt nên được coi làthanh cao, thoát tục Hạc là loại chim quý được dùng để tượng trưng cho đạo giáothần tiên, ở đâu có hạc là ở đó có tiên nên các hoa văn, họa tiết trang trí thường cócảnh tiên cưỡi hạc Do đó hạc là biểu hiện cho sự tinh túy, thanh cao

Theo một câu chuyện truyền thuyết thì hạc và rùa là đôi bạn thân của nhau.Rùa là loài sống ở dưới nước, biết bò Hạc là loài sống trên cạn, biết bay Khi trờimưa lũ, rùa đã giúp hạc vượt qua vùng ngập nước úng để đến nơi khô ráo Ngượclại, khi trời hạn hán rùa được hạc giúp đưa đến vùng có nước Câu chuyện này nóilên lòng chung thủy, sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong lúc khó khăn

Chính vì ý nghĩa đó mà rùa và hạc là hai trong số những con vật được ngườiViệt đề cao, biểu thị cho sự khát vọng tốt đẹp may mắn và chúng có một vị trí quantrọng trong nền văn hóa dân tộc, chúng còn là hình ảnh biểu thị cho sự hòa hợpgiữa trời và đất, giữa hai thái cực âm dương

 Đèn đồng

Phía trước của nhang án là hai cây đền đồng do ông Nguyễn Văn Đạo ngườilàng Ngũ Xá đúc cho chùa Thần Quang tại làng Cây đèn này đúc cùng năm vớipho tượng đồng Adiđà ở chùa Thần Quang làng Ngũ Xá vào năm 1950

Ngày đăng: 18/03/2017, 14:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w