định lượng trong phân tích vân bản... Thật ra trong một[r]
Trang 1Chương Vỉ
MỘT SỐ P H Ư Ơ N G P H Á P N G H I Ê N cứu X Ã H Ộ I H Ọ C
1 Một sô vấn đề về phương pháp luận nghiên cứu
1.1 Cũng như bất kì một khoa học nào, việc nghiên cứu xã hội hcc cũng thường bắt đầu từ việc xác định các quan điểm nghiér cứu hay là phương pháp luận nghiên cứu, trong đó nổi bật là quan điểm vể đối tuợng nghiên cứu và phương pháp tiếp cân đới tượng.
Chtng ta hiểu rằng, xã hội cũng giống như một thực thể có đời sống, có sự vận động và phát triển liên tục theo những quy luật khách quan, vốn có của nó Sự vận động và phát triển này cũng là một quá trình lịch sử, có những nguyên nhân, có động lực khích quan, tạo ra chính sự phát triển đó.
Dù theo quan điếm, lí thuyết nào, xét cho cùng, có lí thuyết
vể hình thái kinh tế xã hội, tồn tại và ý thức xã hội, lí luận về nhận ihức và hoạt động thực tiễn chính là những kiến thức có tính phương pháp luận cho các công trinh nghiên cứu xã hội học
ở các :ấp độ khác nhau (vi mô hoậc vi mò).
“Vơi quan điểm tổng quan, chúng ta quan niệm xã hội là một
sự vật một cấu trúc có hệ thống, trong đó các bộ phận có mối quan tệ tương hỗ với nhau, sự vận động và phát triển cùa xã hội diễn ri theo những quy luật chung”.
"Bằng cách tiếp cận xã hội đa diện, xã hội học chứng tỏ giá trị cao của I1Ó, không chì đối với các nhà xã hội học chuyên nghiệp mà còn cả đối với những người thuộc các ngành khoa học kiác như Lịch sử, Khoa học chính trị, Kinh tế, Tâm lí, Nhân chủng học, Doanh thương " (Bruce J Cohen - Terri L.Orbich).
Trang 2Nghiên cứu xã hội học là công trình nghiên cứu mưng tinh tổng hợp, nghĩa là xem xét bất cứ hiện tượng, quá trinh xã hội nào cũng phái dặt chúng trong tính chỉnh thể, toàn vẹn did nó
Chính vì vậy trong nghiên cứu, nhà nghiên cứu phải có kiến thức rộng và cần vận dụng, áp dụng nhiều phương pháp của các khoa học có liên quan.
1.2. Nghiên cứu xã hội học còn là nghiên cứu một hiện tượng
xã hội, một quá trình xã hội với ý nghĩa là kết quà của hoạt động của con người trong thể thống nhất giữa các yếu tô' cliủ quan và khách quan (môi liên hệ giữa các điều kiện khách quan với nhu cầu, nguyện vọng của con người).
Theo Durkheim, xã hội học với tư cách là một khoa học thực nghiệm, do đó cần coi các sự kiện xã hội như là các "dồ vật", nhà xã hội học xuất phát từ các sự kiện xã hội, những hành vi
và ứng xử thực tế và mô tả, giải thích chúng một cách khách quan Xã hội có những cơ chế và quy luật khách quan, kliỏng phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của cá nhân, vì thế chỉ có thể giải thích sự kiện xã hội này bằng các sự kiện xã hội khác, không thê quy về những nguyên nhân tâm lí, động cơ hay khát vọng của cá nhàn Và như vậy thì các sự kiện xã hội chỉ trở thành đổi tượng nghiên cứu của xã hội học khi chúng dược đưa vào phân tích trong khuôn khổ xã hội học.
1.3 Mục đích và tẩm quan trọng của nghiên cứu xã liội học.
Như trên đã trình bày, nếu nói một cách khái quát thì nghiên cứu xã hội học là nghiên cứu về sự tương tác giữa người và người trong đời sống xã hội, mối tương tác này liên quan đến toàn bộ nền vãn hóa rộng lớn, với sự di động và biến chuyển của cơ cấu xã hội Do vậy nghiên cứu xã hội học có V nghĩa và tầm quan trọng lớn lao đối với nhiều khía cạnh và lĩnh vực khác nhau của đời sống của con người •
Xã hội học cho chúng ta cách nhìn mới mẻ vể xà hội, giúp chúng ta có kiến thức và phương pháp để tự khảo sát, tìm hiểu
vị trí đích thực của bản thân trong các nhóm xã hội, từ đó mà tự điều chỉnh, thích ứng với sự mong đợi của xã hội.
Trang 3- Với kiên thức và kĩ năng thu hoạch được, nhìn bao quát đôi vr'íi xung quanh, chúng ta có cơ sở đê nhận thức đúng động lực của xã hội, ánh hưởng cùa nó đôi với hành vi của cá nhân cũng như đối với các nhóm (với tư cách là thành phấn của cơ câu xã hội
- Nám bắt được xã hội học, chúng ta sẽ giám bớt dược các thành kiến, dịnh kiến xã hội, phát huy tính mềm déo, năng động trong hànli vi hoạt động, thích ứng với sự phát trien và tiến bộ của xã hội.
- Do biết phàn tích có phương pháp tìm ra bản chất của xã hội, tiếp cận các thiết chế xã hội, các nhóm xã hội, chúng ta sẽ
có sự hiểu biết và kĩ năng tổ chức, thiết kế các mô hình, các quá trĩnh lioạt động xã hội, hướng các hoạt động đạt tới hiệu quả cao hơn.
Nghiôn cứu về thực trạng xã hội, sự vận động và quá trình phát triển cùa xã hội, xã hội học đem lại cho các lĩnh vực hoạt động khác như chính trị, vãn hóa, giáo dục, các nhà quản lí những dự báo có giá trị, giúp vào việc lập kế hoạch phát triển, hoạch định các chính sách xã hội một cách khách quan, sát với thực tế hơn.
ỈA Chọn dc tài nghiên cứu
Đối với những người mới làm nghiên cứu thì việc chọn và xác định để tài có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Có thể chọn để tài từ những mâu thuản đang nảy sinh trong thực tế đời sông: những vấn đề mới đane xuất hiện mà nhận thức cũ hoặc lí thuyết cũ không đủ để giải quyết Cũng có thê đó là một lỗ hóng vể kiến thức, xưa nay được quan tâm tìm hiểu, thậm chí là một vấn dề cũ nhưng lại được giải quyết có hiệu quà bàng phương pháp mới
Thổng thường người ta hay phản biệf thành hai loại đé tài chính: đề tài Iighièn cứu cơ bản (basic research) và để tài thực tiẻn (applied research, action research).
Các LỈề tải nghiên cứu cơ bán thường được nảy sinh từ động
cơ muốn tìm hiểu thực trạng xã hội, lí giải thực tại, từ đó mà
Trang 4tiên đoán, dự báo về các dữ kiện sẽ xảy ra Với nội dung và tính chất như vậy, nghiên cứu cơ bản có khả năng bổ sung kiến thức,
lí thuyết mới; hoăc để kiểm chứng các giả thuyết chúng ta có thể kiểm chứng chúng qua các thực nghiệm xã hội (ví dụ trong
kế hoạch hóa gia đình, trong giáo dục giới tính ).
Các để tài thực tiễn - trong xã hội học phần lớn ta có các (tể tài thực tiễn, này sinh ra từ các yêu cầu thực tế cùa đời sống, đối khi rất bức xúc: một hiện tượng mới, cơ chế mới cần ctưực
mồ tả kĩ càng thực trạng Tất nhiên không chỉ thuần túy là mô
tả mà còn từ thực trạng vạch ra nguyên nhân hoặc dự báo xu thế phát triển trong tương lai Ví như: mô tả về dặc điểm của sự tãng dân sô' ở Việt Nam, hiện trạng và xu thế phát triển; ảnh hưởng của tâm lí truyền thống trong cộng đồng dân cư và víín
đề tăng dân số Cũng có khi để tài thực tiễn hướng vào việc đánh giá các chính sách xã hội, các biện pháp quản lí xã hội đang được áp dụng (ví như chương trình xóa đói giảm nghèo ở miền núi và vấn đề ổn định dân cư; vấn đề xã hội hóa giáo dục
ở địa bàn nông thôn )
Thật ra sự phân loại trên chì có ý nghĩa tương đối, trong thực
tế nghiên cứu các tính chất trên thường dan xen vào nhau, vẠy nên khi xác định loại để tài, thường là nhấn mạnh đến mạt đạc trưng chủ yếu mà thỏi.
Khi lựa chọn, xác định đề tài cần chú ý các vấn đề sau:
- Tính chất cấp thiết của vấn để nghiên cứu.
- Tính chất hữu ích về mật khoa học và về thực tiễn;
- Khả năng thực hiện và điẽu kiện của nhà nghiên cứu;
- Tính khả thi, tính mới mẻ (dự kiến vể đóng góp của kết quả nghiên cứu ) Để nghiên cứu một đề tài còn cần phải giới hạn đúng mức vấn đề nghiên cứu (cả vé lí thuyết và thực tiễn).
2 Lập giả thuyết và thao tác hóa khái niệm
2.1 Xây dựng giả thuyết khoa học cho một đề tài nghièn cứu
là yêu cầu bất buộc đối với bất cứ công trình nghiên cứu nào.
Trang 5Xây dựng giá thuyết trong nghiên cứu xã hội học đòi hỏi nhà nghiên cứu phải có kiến thức liên ngành vững vàng, sâu sắc.
Xay dựng giả thuyết thành công thể hiện năng lực sáng tạo bước đầu cùa người làm khoa học Giả thuyết thường liên quan với tiên đoán khoa học.
Già thuyết thật ra cũng được trinh bày với nhiều cấp độ khác nhau: giả định là sự tưởng tượng có tính chất dự kiến về hướng phát triển đề tài (dựa trên lí thuyết đã có để đi tới kết luận khoa học trong tương lai), ở đày thê hiện sự nhạy bén trong nhận thức và tư duy, kể cả yếu tố kinh nghiệm.
Giả thuyết khoa học hoàn chỉnh cũng dựa trên cơ sở lí luận nhưng mang tính chất giả định lại vừa có tính định hướng khoa học chặt chẽ, dựa vào đó để lập luận, chứng minh một lĩnh vực hoạt động, một nhân tô mới mẻ nào đó trong quá trình xã hội.
Đã là giả thuyết thì ngay từ khi xác định chúng ta phải thừa nhận, dựa vào logic khoa học dể hoạt động nhưng phải trải qua nghiên cứu, kiểm chứng mới có thể trở thành kết luận khoa học của công trình nghiên cứu Vâv là trải qua quá trình nghiên cứu công phu, từng yếu tố, từng thành phần trong giả thuyết sẽ được lập luận, chứng minh với các phương pháp đa dạng, thích hợp trở thành cái mới, đóng góp vào khoa học.
Fât nhiên đã là giả thuyết của đề tài, về nguyên tắc không mâu thuẫn với sự kiện, thực trạng của vấn để nghiên cứu và phù hợp với hướng phát triển của khoa học.
Tóm lại giả-thuyết vừa mang tính khách quan, khoa học lại vừa có tính chất chủ quan (vì dù sao thì cũng do nhà nghiên cứu lựa chọn, xác lập theo chủ kiến của mình).
Đày là một hình thức tư duy khoa học dựa trên tiên đề và logic khoa học, là thao tác nghiên cứu rất phổ biến trong nghiên cứu, tìm tòi, phát hiện, được xem là tư tưởng, là điểin tựa của công trình nghiên cứu nhưng vẫn mang tính chất giả định "Tôi
Trang 6lập ra giả thuyết nhưng đã là giả thuyết thì dù là cùa tôi, tói cũng không tin hẳn" (Niutưn)
2.2 Vấn dề thao túc hóa khái niệm
Trong quá trình nghiên cứu chúng ta phải vận dụng lí thuyết khoa học, trong đó bao hàm các khái niệm đưực kết cấu, sắp xếp một cách logic Việc vận dụng các khái niệm khoa học đòi hỏi nhà nghiên cứu phải có kĩ năng vận dụng các thao tác phù hợp với từng tình huống, từng đối tượng nghiên cứu cụ thể.
Thật ra trong nội dung và kết cấu cùa mỗi khua học không chỉ có lí thuyết mà còn bao gồm cả:
- Các tài liệu thực tế, tích lũy được trong tiến trình lịch sử nghiên cứu, hình thành nên lí thuyết nào đó;
- Những luận điểm, những nguyên lí xuất phát của những lí thuyết (mà ta dùng làm giả thuyết để nghiên cứu) đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, chứng minh hoãc phản bác;
- Những kết quà thu được qua phản tích - tổng hợp, khái quát hóa (có tính chất bộ phận) từ những lí luận và thực tế tương ứng;
- Sự giải thích, chứng minh chặt chẽ cả về lí thuyết và thực tiễn về những tính quy luật tương ứng, luôn luôn phát irién ngày càng hoàn thiện hơn Thông qua các thao tác tư duy khoa học (so sánh - đối chiếu; phân tích - tổng hợp; khái quát hóc - trừu tượng hóa; phân tích - chứng minh; quy nạp diễn dịch), chúng
ta có cơ sở thực tế để phân định ranh giới giữa cái đúng và cái chưa đúng, cái cũ và cái mới, cái mới bộ phận và cái nới mẻ vừa được phát hiện
Khoa học vận động, phát triển, thực hiện các nhiệm vụ của
nó từ việc nghiên cứu, nắm bát các sự kiện thông qua quan sát, điều tra, chứng minh, bằng thể nghiệm, thực nghiệm, tất cả đều phải thông qua tư duy khoa học. Nhờ vậy mới tránh được lôi tư biện, lí thuyết suông Trong nghiên cứu lí thuyết phải £ắn với thực tiễn, phục vụ cho yêu cầu thực tế của đời sông, của tã hội.
Trang 7Nhưng sự kiện dù là quan trọng cũng chỉ là “nguyên liệu” của khoa học Nhà khoa học phải có "tay nghé” vững, phải nắm chác và vận dụng sáng tạo các thao tác tư duy mới có thê phát hiện đung, đích thực cái mới, mới có khá năng chứng minh giả thuyết và nâng lên thành lí luận, ở đây một loạt phạm trù triết học có liên quan đến nhận thức khoa học trong môi tương tác biện chứng giữa lí luận và thực tiễn Còn động lực thúc đẩy khoa học phát triển ngày càng sấu, càng cao chính là đòi hỏi có tính thực tiền của cuộc sống Cơ sở tri thức khoa học, chân lí khoa học được "đo" bằng hoạt động sáng tạo, muôn màu muôn
vẻ cùa con người.
3 Phương pháp chọn mẫu
3.1. Trong quá trinh nghiên cứu, sau khi đã xây dựng được
mô hình phân tích, chúng ta phải dùng các phương pháp để nghiên cứu, sưu tập các sự kiện để đối chiếu với mô hình lí thuyết Các dữ kiện phái là các dữ kiện có ích cho việc so sánh, đối chiếu nhằm kiểm chứng các giả thuyết và đã dược xác định
cụ thể bởi các chỉ báo của các biến số.
Trong các phương pháp chọn lựa, ta có thể dùng phương pháp chọn mẫu Mẫu - có thể hiểu là một tập hợp được lựa chọn, có đú các yếu tố có tính chất tiêu biếu và được rút ra từ một tập hợp lớn mà nó là đại diện cho nhóm đối tượng, mà chúng ta nghiên cứu Ví dụ 80% dân số nước ta làm nỏng nghiệp, ờ nông thôn Vậy muốn nghiên cứu lối sống của nông dân ta hiện nay trên phạm vi cả nước (khoảng ±60 triệu người)
ta không thê phỏng vấn hoăc điều tra tất cà mà chỉ có thể chọn mầu đại diện cho họ mới có thê nghiên cứu nổi.
Tùy theo quy mô của đối tượng nghiên cứu mà ta lựa chọn mảu Dơn vị mẫu có thê là yếu tô' duy nhất của mẫu hoặc một nhóm đại diện tập hợp được các yếu tố cùa mẫu ta cẩn nghiên cứu.
3.2 Có thể chọn lựa ở 3 mức Jộ\
- Nghiên cứu toàn thể đối tượng (từ chuyên môn gọi là "toàn thể d â n số")
Trang 8- Nghiên cứu một mẫu tiêu biểu
- Hoậc một mẫu với một số nét đăc trưng.
Chọn mẫu tuy khó khăn iihưng lại tạo ra thuận lợi cho viộc nghiên cứu bởi vì chỉ nghiên cứu với quy mô nhỏ mà vản cho kết quả chính xác, tiết kiệm được thời gian, tiên bạc, công sức.
Vé phân loại, có thể xây dựng và nghiên cứu các loại mẫu sau đây: loại mẫu có tính xác suất (probalitv sampling) và loại mẫu không có tính xác suất.
- Chọn theo phương pháp xác suất tức là thực hiện việc lựa chọn hoàn toàn ngẫu nhiên, khách quan hoặc do rút thăm nên không hể có ý thiên vị hay định kiến của người nghiên cưu Nhưng cần nhớ ràng một xác suất là mảu trong đó có thê biết được tính xác suất cùa việc lựa chọn trong từng trường hợp.
- Chọn mẩu không có tính cách xác suất
Các phương pháp này thường được sử dụng trong các cuộc nghiên cứu định tính, có quy mô nhỏ Tuy vậy nó có điểm hạn chế là, người nghiên cứu không thể xác định rằng dối tượng được lựa chọn là thật sự tiêu biểu cho tập hợp đối tượng, do đó những điéu rút ra được chỉ có ý nghĩa trong giới hạn, phạm vi đôi tượng nghiên cứu Nhà nghiên cứu cũng không thể dựa vào kết quả thu được để tính được độ chính xác hoặc độ sai lệch của mẫu.
3.3 Quỵ mô của mẫu
- Quy mô của mẫu phụ thuộc vào tính chất cùa đỏi tượng nghiên cứu, mục tiêu và quy mô của việc nghiên cứu.
Có thể nói rằng quy mô của mẫu tùy thuộc vào quy mò cùa toàn thể đối tượng mà ta chọn mẫu.
Theo Slovin (1960) thì công thức để xác định quy mô cùa mẫu có thể là:
n = N/( 1 + N.e2) (n = qui mô của mẫu; N = qui mô của loàn thể đối tượng nghiên cứu; e = mức sai lộch mong muốn (hay cho phép tính theo tỉ lộ % sai lệch do việc sử dụng mẫu)).
Trang 9Tất nhiôn trong trường hợp đối tượng, phạm vi nghiên cứu hẹp hcậc nhỏ thì không cần dùng công thức nói trên (vì có thê nghiên cứu toàn thể).
Chú ý ràng nếu không nắm được dân số cụ thê thì rất khó chọn mẫu Tuy vậy theo kĩ thuật thống kê, theo kinh nghiệm, ít nhát phải có tôi thiêu 30 trường hợp mới có thê phân tích thống
kê đưcc (Champion 1970).
Về quy mô tôi thiểu có thê chấp nhận được tùy theo loại hình nghiêr cứu:
- AIghiên cứu mô tá tối thiểu là 10% tổng số; đối với đối tượng zó số lượng nhỏ hơn, tối thiểu cần 20% tổng số.
- Nghiên cứu so sánh tương quan tối thiểu là 30% đối tượng.
- N ’hiên cứu thực nghiệm tối thiểu mỗi nhóm phải có 15 đối tưựng (cũng có tác già nêu chí ít là 30 đối tượng) Tất nhiên những chỉ sô' trên chỉ là quy ước, có giá trị tương đối, có thể điổu cìiỉnh khi cần, sao cho phù hợp với thực tế mà vẫn đảm bào tính khoa học của việc nghiên cứu.
Tón lại: nghiên cứu mẫu cho ta tìm được những thông tin có tần suít % và tần số (thường lặp đi lặp lại trong một đơn vị thời gan) các hiện tượng nào đó trong một đôi tượng nghiên cứu (móm, xã hội ) xác định.
4 Thương pháp phân tích các nguồn tài liệu
4.1 Là phương pháp nghiên cứu dựa trên các tư liệu, các văn bản, cíc tác phẩm (sách, báo, công trình nghiên cứu) liên quan nhằm phục vụ cho công việc nghiên cứu.
Muì'n dùng phương pháp này trước hết phải dựa trên để tài, mục tiỉu nghiên cứu mà lựa chọn những tài liệu thích hợp.
ưu điểm của việc nghiên cứu các nguồn tài liệu là:
- G úp chúng ta nghiên cứu những đối tượng trong quá khứ hoặc hiện nay không có dịp trực tiếp tiếp xúc được.
- ít gặp vướng mắc hoặc bị phản ứng từ phía đối tượng;
Trang 10Tiết kiệm thời gian, tiền bạc mà vẫn đảm bảo được tính chinh xác khoa học
Tuy vậy phương pháp này cũng có những mặt hạn chế:
- Dẻ bị ảnh hường bởi quan đ iểm , tư tưởng của tác g i ả (VÌ số đông được viết tự do không phải phục vụ cho nghiên cứu );
- Có nhiều măt hạn chế, nhất là khi dùng các nguồn tu liệu riêng tư hoặc nầm trong phạm vi bảo mật.
4.2 Cách thức thực hiện.
Để nghiên cứu văn bản có hệ thống, sát với nội dung nghiên cứu trong quá trình nghiên cứu cần:
- Phân loại, sắp xếp các loại tư liệu, văn bản theo nội Jung
và theo yêu cầu nghiên cứu (lịch sử vấn đề; các sự kiện đã được ghi chép, sắp xếp, phân loại; các tài liệu cá nhân )
- Nghiên cứu theo nội dung, cấu trúc của văn bàn, tính khoa học, tính chân thực, giá trị sử dụng
Có thể dùng các thao tác sau:
- Phân tích bên ngoài: chú ý đến lịch sử xuất hiộn của Vân bản, thời gian, địa điểm xuất hiện, mục tiêu sử dụng Điều này tuy đơn giản nhưng rất quan trọng, nếu bỏ qua chúng ta dễ phạm sai lầm: giải thích sai, ngộ nhận giá trị (vì không hiểu hết nguồn gốc và quá trình phát triển )
- Phân tích bên trong: nôm na là khai thác nội dung tài liệu vãn bản, từ đó mà so sánh, phân biệt sự khác nhau giữa thực tế
và nội dung (lí luận) văn bản Nhờ vậy chúng ta hiểu đúng, hiểu sâu sắc văn bản, có căn cứ để liên hệ, phân tích, nhận thức đúng vấn đé nghiên cứu (có lúc là phân tích cơ sở pháp lí; có lúc là phân tích tâm lí đối tượng tùy theo yêu cầu nghiên cứu).
Dù phân tích theo kiểu nào cũng phải để ra Phương pháp định lượng trong phân tích vân bản Phải tìm ra các dấu hiệu, các đặc điểm, các thuộc tích của văn bản (ví dụ tần suất xuất hiện của sự kiện, của tình huống, hoăc của từ ngữ nào đó )