1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

PHÂN TÍCH TÁC PHẨM NGỮ VĂN 9

176 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 403,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Ngạc nhiên vì có tới hai người cha + Tin vào lời nói hành động của mẹ - Do Trương sinh ứng xử hồ đồ + Không tin lời vợ phân trần giải thích + Hàng xóm can ngăn cũng không tin + Không c

Trang 1

Thể loại Nội dung chủ yếu Nghệ thuật

Truyền

kì mạnlục

- Khẳng định vẻ đẹp tâmhồn truyền thống củangười phụ nữ Việt Nam

- Niềm cảm thương sốphận bi kịch của họ dướichế độ phong kiến

- Truyện truyền

kỳ viết bằngchữ Hán

- Kết hợpnhững yếu tốhiện thực vàyếu tố kỳ ảo,hoang đườngvới cách kểchuyện, xâydựng nhân vậtrất thành công

Tùy bút Đời sống xa hoa vô độ

của bọn vua chúa, quanlại phong kiến thời vua

Lê, chúa Trịnh suy tàn

Tuỳ bút chữHán, ghi chéptheo cảm hứng

sự việc, câuchuyện conngười đươngthời một cách

cụ thể, chânthực, sinh động

(Ngô ThìChí, NgôThì Du TK18)

Thể chí(tiểuthuyếtlịch sửtheo lốichươnghồi)

- Hình ảnh anh hùng dântộc Quang TrungNguyễn Huệ với chiếncông thần tốc vĩ đại đạiphá quân Thanh mùaxuân 1789

- Sự thảm hại của quântướng Tôn Sĩ Nghị và sốphận bi đát của vua tôi

Lê Chiêu Thống phảnnước hại dân

- Tiểu thuyếtlịch sử chươnghồi viết bằngchữ Hán

- Cách kểchuyện nhanhgọn, chọn lọc

sự việc, khắchoạ nhân vậtchủ yếu quahành động vàlời nói

Truyệnthơ nômlục bát

Cuộc đời và tính cáchNguyễn Du, vai trò và vịtrí của ông trong lịch sửvăn học Việt Nam

- Giới thiệu tácgiả, tác phẩm.Truyện thơNôm, lục bát

Trang 2

Thể loại Nội dung chủ yếu Nghệ thuật

Thuý Kiều

Nguyễn

Du (TK 18-19)

Truyệnthơ nômlục bát

Trân trọng ngợi ca vẻđẹp của chị em ThuýKiều Vẻ đẹp toàn bíchcủa những thiếu nữphong kiến Qua đó dựcảm về kiếp người tàihoa bạc mệnh

- Thể hiện cảm hứngnhân văn văn NguyễnDu

Nghệ thuật ước

lệ cổ điển lấythiên nhiên làmchuẩn mực để

tả vẻ đẹp conngười Khắchoạ rõ nét chândung chị emThuý Kiều

b Cảnh ngày

xuân

Nguyễn

Du (TK 18-19)

Truyệnthơ nômlục bát

Bức tranh thiên nhiên, lễhội mùa xuân tươi đẹp,trong sáng

Tả cảnh thiênnhiên bằngnhững từ ngữ,hình ảnh giàuchất tạo hình

c Kiều ở lầu

Ngưng Bích

Nguyễn

Du (TK 18-19)

Truyệnthơ nômlục bát

Cảnh ngộ cô đơn buồntủi và tấm lòng thuỷchung, hiếu thảo rấtđáng thương, đáng trântrọng của Thuý Kiều

- Miêu tả nộitâm nhân vậtthành côngnhất

- Bút pháp tảcảnh ngụ tìnhtuyệt bút

Truyệnthơ nômlục bát

- Bóc trần bản chất conbuôn xấu xa, đê tiện của

Mã Giám Sinh

- Hoàn cảnh đángthương của Thuý Kiềutrong cơn gia biến

- Tố cáo xã hội phongkiến, chà đạp lên sắc tài,nhân phẩm của ngườiphụ nữ

Nghệ thuật kểchuyện kết hợpvới miêu tảngoại hình, cửchỉ và ngôn ngữđối thoại đểkhắc hoạ tínhcách nhân vật

Truyệnthơ nôm

- Vài nét về cuộc đời, sựnghiệp, vai trò củaNguyễn Đình Chiểu

- Là truyền thơNôm, một trongnhững tác phẩm

Trang 3

Thể loại Nội dung chủ yếu Nghệ thuật

chủ yếu Nguyệt Nga (TK19) trong lịch sử văn học

VN

- Tóm tắt cốt chuyệnLVT

- Khát vọng hành đạogiúp đời sống của tácgiả, khắc hoạ nhữngphẩm chất đẹp đẽ củahai nhân vật : LVT tài

ba, dũng cảm, trọngnghĩa, khinh tài ; KNNhiền hậu, nết na, ân tình

xuất sắc củaNĐC được lưutruyền rộng rãitrong nhân dân

- Nghệ thuật kểchuyện, miêu tảrất giản dị, mộcmạc, giàu màusắc Nam Bộ

Lục Vân

Tiên gặp

nạn

Nguyễn Đình Chiểu (TK 19)

Truyệnthơ nôm

- Sự đối lập giữa thiện

và ác, giữa nhân cáchcao cả và những toantính thấp hèn

- Thái độ, tình cảm vàlòng tin của tác giả đốivới nhân dân lao động

- Nghệ thuật kểchuyện kết hợpvới tả nhân vậtqua hành động,ngôn ngữ, lờithơ giàu cảmxúc, bình dị,dân dã, giàumàu sắc NamBộ

Trang 4

- Nguyễn Dữ (chưa rõ năm sinh, năm mất), quê ở Hải Dương.

- Nguyễn Dữ sống vào nửa đầu thế kỷ XVI, là thời kỳ Triều đình nhà Lê đã bắt đầu

khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền lực, gây ranhững cuộc nội chiến kéo dài

- Ông học rộng, tài cao nhưng chỉ làm quan một năm rồi cáo về, sống ẩn dật ở vùng núiThanh Hoá Đó là cách phản kháng của nhiều tri thức tâm huyết đương thời

II Tác phẩm:

1 Xuất xứ: “Chuyện người con gái Nam Xương” là truyện thứ 16 trong số 20 truyện

nằm trong tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Dữ “Truyền kỳ mạn lục” Truyện có

nguồn gốc từ một truyện cổ dân gian trong kho tàng cổ tích Việt Nam “Vợ chàngTrương”

2 Thể loại: Truyện truyền kỳ mạn lục (ghi chép tản mạn những truyện kỳ lạ vẫn được

lưu truyền) Viết bằng chữ Hán

3 Chủ đề: Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương,

“Chuyện người con gái Nam Xương” thể hiện niềm thương cảm đối với số phận oan

nghiệt, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp truyền thống của những phụ nữ Việt Nam dưới chế độphong kiến

4 Tóm tắt: Vũ Thị Thiết (Vũ Nương) là người phụ nữ nhan sắc, đức hạnh Chồng nàng

là Trương Sinh phải đi lính sau khi cưới ít lâu Nàng ở nhà, một mình vừa nuôi con nhỏvừa chăm sóc mẹ chồng đau ốm rồi làm ma chu đáo khi bà mất Trương Sinh trở về,nghe lời con, nghi vợ thất tiết nên đánh đuổi đi Vũ Nương uất ức gieo mình xuống sôngHoàng Giang tự vẫn, được thần Rùa Linh Phi và các tiên nữ cứu Sau đó Trương Sinhmới biết vợ bị oan Ít lâu sau, Vũ Nương gặp Phan Lang, người cùng làng chết đuốiđược Linh Phi cứu Khi Lang trở về, Vũ Nương nhờ gửi chiếc hoa vàng nhắn chàngTrương lập đàn giải oan cho nàng Trương Sinh nghe theo, Vũ Nương ẩn hiện giữadòng, nói vọng vào bờ lời tạ từ rồi biến mất

5 Bố cục: 3 đoạn

- Đoạn 1:… của mình: Cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương, sự xa cách vì

chiến tranh và phẩm hạnh của nàng trong thời gian xa cách

- Đoạn 2: … qua rồi: Nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ Nương.

- Đoạn 3: Còn lại: Cuộc gặp gỡ giữa Vũ Nương và Phan Lang trong đội Linh Phi Vũ

Nương được giải oan

III Giá trị nội dung của tác phẩm: (Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc)

1 Giá trị hiện thực:

- Chuyện phản ánh hiện thực xã hội phong kiến bất công với chế độ nam quyền, chà đạp

số phận người phụ nữ (Đại diện là nhân vật Trương Sinh)

- Phản ánh số phận con người chủ yếu qua số phận phụ nữ: chịu nhiều oan khuất và bếtắc

Trang 5

- Phản ánh xã hội phong kiến với những cuộc chiến tranh phi nghĩa làm cho cuộc sốngcủa người dân càng rơi vào bế tắc

2 Giá trị nhân đạo:

a Ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam thông qua nhân vật Vũ Nương

Tác giả đặt nhân vật Vũ Nương vào những hoàn cảnh khác nhau để bộc lộ đời sống vàtính cách nhân vật

Cảnh 1: Trước khi Trương Sinh ra trận

- Là người con gái đẹp người đẹp nết: Ngay từ đầu, nàng đã được giới thiệu là “tính đã thuỳ mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp” Chàng Trương cũng bởi mến cái dung hạnh

ấy, nên mới xin với mẹ trăm lạng vàng cưới về

- Là người vợ hiền đảm đang: Trong cuộc sống vợ chồng bình thường, nàng luôn giữ

gìn khuôn phép nên dù chồng nàng đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức nhưng giađình chưa từng phải thất hoà

Cảnh 2: khi Trương Sinh ra trận: (Các ý chính)

- Thủy chung chờ chồng ra trận:

+ không màng vinh hiển, chỉ cầu bình an

+ Cảm thông sâu sắc nỗi vất vả của chồng

- Nàng là người mẹ hiền:

+ Hết mực thương con

+ Chỉ vào chiếc bóng trên vách bảo đó là cha

+ Chiếc bóng như tấm lòng thương con vô bờ bến

- Là người con dâu hiếu thảo

+ Hết lòng chăm sóc mẹ chồng khi bà ốm

+ Thuốc thang dùng lời ngon ngọt khuyên lơn

+ Khi bà mất lo liệu ma chay trọn vẹn nghĩa

+ Lời mẹ động viên thể hiện sự trân trọng yêu thương

Phân tích: Vũ Nương rót chén rượu đầy, dặn dò chồng những lời tình nghĩa đằm

thắm Nàng “chẳng dám mong” vinh hiển mà chỉ cầu cho chồng “khi về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi” Vũ Nương cũng thông cảm cho những nỗi gian

lao, vất vả mà chồng sẽ phải chịu đựng Và xúc động nhất là những lời tâm tình về nỗinhớ nhung, trông chờ khắc khoải của mình khi xa chồng Những lời văn từng nhịp, từngnhịp biền ngẫu như nhịp đập trái tim nàng - trái tim của người vợ trẻ khát khao yêuthương đang thổn thức lo âu cho chồng Những lời đso thấm vào lòng người, khiến ai aicũng xúc động ứa hai hàng lệ

Rồi đến khi xa chồng, nàng càng chứng tỏ và bộc lộ nhiều phẩm chất đáng quý Trước hết, nàng là người vợ hết mực chung thuỷ với chồng Nỗi buồn nhớ chồng vò võ, kéo

dài qua năm tháng Mỗi khi thấy “bướm lượn đầy vườn” – cảnh vui mùa xuân hay “mâyche kín núi” – cảnh buồn mùa đông, nàng lại chặn “nỗi buồn góc bể chân trời nhớ người

đi xa Đồng thời, nàng là người mẹ hiền, hết lòng nuôi dạy, chăm sóc, bù đắp cho đứa

con trai nhỏ sự thiếu vắng tình cha Bằng chứng chính là chiếc bóng ở phần sau câu

chuyện mà nàng vẫn bảo đó là cha Đản Cuối cùng, Vũ Nương còn bộc lộ đức tính hiếu thảo của người con dâu, tận tình chăm sóc mẹ chồng già yếu, ốm đau Nàng lo

Trang 6

chạy chữa thuốc thang cho mẹ qua khỏi, thành tâm lễ bái thần phật, bởi yếu tố tâm linh

đối với người xưa là rất quan trọng Nàng lúc nào cũng dịu dàng, “lấy lời ngọt ngào khôn khéo, khuyên lơn” Lời trăng trối cuối cùng của bà mẹ chồng đã đánh giá cao công lao của Vũ Nương đối với gia đình: “Xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ” Thông thường, nhất là trong xã hội cũ, mối quan hệ mẹ chồng – con

dâu là mối quan hệ căng thẳng, phức tạp Nhưng trước người con dâu hết mực hiền thảonhư Vũ Nương thì bà mẹ Trương Sinh không thể không yêu mến Khi bà mất, Vũ

Nương đã “hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình” Có thể nói, cuộc đời Vũ Nương tuy ngắn ngủi nhưng nàng đã làm tròn bổn phận

của người phụ nữ: một người vợ thuỷ chung, một người mẹ thương con, một người dâuhiếu thảo Ở bất kỳ một cương vị nào, nàng cũng làm rất hoàn hảo

Cảnh 3: Khi bị chồng nghi oan:

- Giữ trọn tấm lòng trong trắng

- Khôn nguôi nhớ thương chồng con

Nàng đã tìm mọi cách để xoá bỏ ngờ vực trong lòng Trương Sinh

+ Ở lời nói đầu tiên, nàng nói đến thân phận mình, tình nghĩa vợ chồng và khẳng địnhtấm lòng chung thuỷ trong trắng của mình Cầu xin chồng đừng nghi oan, nghĩa là nàng

đã cố gắng hàn gắn, cứu vãn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ

+ Ở lời nói thứ hai trong tâm trạng “bất đắc dĩ”, Vũ Nương bày tỏ nỗi thất vọng khi

không hiểu vì sao bị đối xử tàn nhẫn, bất công, không có quyền tự bảo vệ mình, thậmchí không có quyền được bảo vệ bởi những lời biện bạch, thanh minh của hàng xóm

láng giềng Người phụ nữ của gia đình đã mất đi hạnh phúc gia đình, “thú vui nghi gia nghi thất” Tình cảm đơn chiếc thuỷ chung nàng dành cho chồng đã bị phủ nhận không thương tiếc Giờ đây “bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió, khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồn xa”, cả nỗi nhớ chờ chồng mà hoá đá trước đây cũng không còn Vậy thì cuộc đời còn

gì ý nghĩa nữa đối với người vợ trẻ khao khát yêu thương ấy?

+ Ở lời nói thứ ba khi nàng chẳng còn gì cả, chỉ có nỗi thất vọng tột cùng, đau đớn ê chềbởi cuộc hôn nhân đã không còn cách nào hàn gắn nổi, mà nàng thì phải chịu oan khuấttày trời Bị dồn đến bước đường cùng, sau mọi cố gắng không thành, Vũ Nương chỉ cònbiết mượn dòng nước Hoàng Giang để rửa nỗi oan nhục Nàng đã tắm gội chay sạchmong dòng nước mát làm dịu đi tức giận trong lòng, khiến nàng suy nghĩ tỉnh táo hơn

để không hành động bồng bột Nhưng nàng vẫn không thay đổi quyết định ban đầu, bởichẳng còn con đường nào khác cho người phụ nữ bất hạnh này Lời than của nàng trướctrời cao sông thẳm là lời nguyện xin thần sông chứng giám cho nỗi oan khuất cũng nhưđức hạnh của nàng Hành động trẫm mình là hành động quyết liệt cuối cùng, chất chứanỗi tuyệt vọng đắng cay nhưng cũng đi theo sự chỉ đạo của lý trí

Lưu ý: đề thi Hà Nội năm 2011 nằm ở phần này.

+ Được các tiên nữ cứu, nàng sống dưới thuỷ cung và được đối xử tình nghĩa Nàng hếtsức cảm kích ơn cứu mạng của Linh Phi và các tiên nữ cung nước Nhưng nàng vẫnkhông nguôi nỗi nhớ cuộc sống trần thế – cuộc sống nghiệt ngã đã đẩy nàng đến cáichết Vũ Nương vẫn là người vợ yêu chồng, người mẹ thương con, vẫn nặng lòng nhungnhớ quê hương, mộ phần cha mẹ, đồng thời vẫn khao khát được trả lại danh dự Bởi vậy

Trang 7

mà nàng đã hiện về khi Trương Sinh lập đàn giải oan Thế nhưng “cảm ơn đức của LinhPhi, đã thề sống chết cũng không bỏ”, Vũ Nương không quay trở về trần gian nữa

Tóm lại: Vũ Nương là một người phụ nữ xinh đẹp, nết na, hiền thục lại đảm đang, tháo

vát, thờ kính mẹ chồng rất mực hiếu thảo, một dạ thuỷ chung với chồng, hết lòng vunđắp cho hạnh phúc gia đình Nàng là người phụ nữ hoàn hảo, lý tưởng của mọi gia đình,

là khuôn vàng thước ngọc của mọi người phụ nữ Người như nàng xứng đáng đượchưởng hạnh phúc trọn vẹn, vậy mà lại phải chết oan uổng, đau đớn

b Vũ Nương có số phận oan nghiệt (ý chính)

Những duyên cớ khiến cho một người phụ nữ đức hạnh như Vũ Nương không thể sống

mà phải chết một cách oan uổng:

* Nguyên nhân trực tiếp:

- Do lời nói ngây thơ của bé Đản.

+ Ngạc nhiên vì có tới hai người cha

+ Tin vào lời nói hành động của mẹ

- Do Trương sinh ứng xử hồ đồ

+ Không tin lời vợ phân trần giải thích

+ Hàng xóm can ngăn cũng không tin

+ Không cần có căn nguyên chứng cứ rõ ràng

- Hành động tàn nhẫn

+ Mắng nhiếc nàng và đánh đuổi nàng đi

+ Gán cho tội danh lừa chồng dối con

*Nguyên nhân sâu xa:

- Do cuộc hôn nhân không bình đẳng

+ Con nhà kẻ khó được nương tựa nhà giàu

+ Chế độ phong kiến nam quyền

+ Do chiến tranh phong kiến

* Bi kịch cuộc đời

- Hôn nhân tan vỡ

+ Bị đối xử bất công, không có quyền tự bảo vệ

+ Đau đớn trước cảnh trâm gãy bình tan

- Tấm lòng bị hàm oan

+ Không thể bảo vệ hạnh phúc của mình

+Tìm đến cái chết để chứng minh sự trong sạch

* Kết cục

+ Sống sung sướng nhưng nàng không hạnh phúc

+ Chẳng thể trở về trần gian, mất đi quyền làm vợ làm mẹ

+ Âm dương cách trở, hạnh phúc tan vỡ khó hàn gắn

Phân tích: Những duyên cớ khiến cho một người phụ nữ đức hạnh như Vũ Nươngkhông thể sống mà phải chết một cách oan uổng Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến đó

là do lời nói ngây thơ của bé Đản: “ Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biếtnói chứ không như cha tôi trước đây chỉ nín thin thít Đêm đêm, ngồi buồn dưới ngọnđèn khuya, Vũ Nương thường “trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản” Vậy nên Đản mớingộ nhận đó là cha mình, khi người cha thật trở về thì không chịu nhận và còn vô tìnhđưa ra những thông tin khiến mẹ bị oan

Trang 8

+ Do người chồng đa nghi, hay ghen Ngay từ đầu, Trương Sinh đã được giới thiệu là

người “đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức”, lại thêm “không có học” Đó chính là

mầm mống của bi kịch sau này khi có biến cố xảy ra Biến cố đó là việc Trương Sinhphải đi lính xa nhà, khi về mẹ đã mất Mang tâm trạng buồn khổ, chàng bế đứa con lên

ba đi thăm mộ mẹ, đứa trẻ lại quấy khóc không chịu nhận cha Lời nói ngây thơ của đứa

trẻ làm đau lòng chàng: “Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia, chỉ nín thin thít” Trương Sinh gạn hỏi đứa bé lại đưa thêm những thông tin gay cấn, đáng nghi: “Có một người đàn ông đêm nào cũng đến” (hành động lén lút che mắt thiên hạ), “mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đảng ngồi cũng ngồi” (hai

người rất quấn quýt nhau), “chẳng bao giờ bế Đản cả” (người này không muốn sự cómặt của đứa bé) Những lời nói thật thà của con đã làm thổi bùng lên ngọn lửa ghentuông trong lòng Trương Sinh

+ Do hành động thô bạo của Trương Sinh Là kẻ không có học, lại bị ghen tuông làm

cho mờ mắt, Trương Sinh không đủ bình tĩnh, sáng suốt để phân tích những điều phi lýtrong lời nói con trẻ Con người độc đoán ấy đã vội vàng kết luận, “đinh ninh là vợ hư”.Chàng bỏ ngoài tai tất cả những lời biện bạch, thanh minh, thậm chí là van xin của vợ.Khi Vũ Nương hỏi ai nói thì lại giấu không kể lời con Ngay cả những lời bênh vực của

họ hàng, làng xóm cũng không thể cởi bỏ oan khuất cho Vũ Nương Trương Sinh đã bỏqua tất cả những cơ hội để cứu vãn tấn thảm kịch, chỉ biết la lên cho hả giận TrươngSinh lúc ấy không còn nghĩ đến tình nghĩa vợ chồng, cũng chẳng quan tâm đến công lao

to lớn của Vũ Nương đối với gia đình, nhất là gia đình nhà chồng Từ đây có thể thấyTrương Sinh là con đẻ của chế độ nam quyền bất công, thiếu lòng tin và thiếu tìnhthương, ngay cả với người thân yêu nhất

*Nguyên nhân sâu xa:

+ Do cuộc hôn nhân không bình đẳng, Vũ Nương chỉ là “con nhà kẻ khó”, còn

Trương Sinh là “con nhà hào phú” Thái độ tàn tệ, rẻ rúng của Trương Sinh đối với Vũ

Nương đã phần nào thể hiện quyền thế của người giàu đối với người nghèo trong một xãhội mà đồng tiền đã bắt đầu làm đen bạc thói đời

+ Do chế độ phong kiến nam quyền , phụ nữ không có quyền được nói, không có

quyền được tự bảo vệ mình Trong lễ giáo ấy, chữ trinh là chữ quan trọng hàng đầu;người phụ nữ khi đã bị mang tiếng thất tiết với chồng thì sẽ bị cả xã hội hắt hủi, chỉ cònmột con đường chết để tự giải thoát

+ Do chiến tranh phong kiến gây nên cảnh sinh ly và cũng góp phần dẫn đến cảnh tử

biệt Nếu không có chiến tranh, Trương Sinh không phải đi lính thì Vũ Nương đã khôngphải chịu nỗi oan tày trời dẫn đến cái chết thương tâm như vậy

Người phụ nữ của gia đình đã mất đi hạnh phúc gia đình, “thú vui nghi gia nghi thất”.

Tình cảm đơn chiếc thuỷ chung nàng dành cho chồng đã bị phủ nhận không thương tiếc

Giờ đây “bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió, khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồn xa”, cả nỗi nhớ

chờ chồng mà hoá đá trước đây cũng không còn Vậy thì cuộc đời còn gì ý nghĩa nữađối với người vợ trẻ khao khát yêu thương ấy?

Bi kịch cuộc đời

+ Nàng chẳng còn gì cả, chỉ có nỗi thất vọng tột cùng, đau đớn ê chề bởi cuộc hôn nhân

đã không còn cách nào hàn gắn nổi, mà nàng thì phải chịu oan khuất tày trời Bị dồn

Trang 9

đến bước đường cùng, sau mọi cố gắng không thành, Vũ Nương chỉ còn biết mượndòng nước Hoàng Giang để rửa nỗi oan nhục Nàng đã tắm gội chay sạch mong dòngnước mát làm dịu đi tức giận trong lòng, khiến nàng suy nghĩ tỉnh táo hơn để khônghành động bồng bột Nhưng nàng vẫn không thay đổi quyết định ban đầu, bởi chẳng còncon đường nào khác cho người phụ nữ bất hạnh này Lời than của nàng trước trời caosông thẳm là lời nguyện xin thần sông chứng giám cho nỗi oan khuất cũng như đứchạnh của nàng Hành động trẫm mình là hành động quyết liệt cuối cùng, chất chứa nỗituyệt vọng đắng cay nhưng cũng đi theo sự chỉ đạo của lý trí

* Kết cục

+ Được các tiên nữ cứu, nàng sống dưới thuỷ cung và được đối xử tình nghĩa Nàng hếtsức cảm kích ơn cứu mạng của Linh Phi và các tiên nữ cung nước Nhưng nàng vẫnkhông nguôi nỗi nhớ cuộc sống trần thế – cuộc sống nghiệt ngã đã đẩy nàng đến cáichết Vũ Nương vẫn là người vợ yêu chồng, người mẹ thương con, vẫn nặng lòng nhungnhớ quê hương, mộ phần cha mẹ, đồng thời vẫn khao khát được trả lại danh dự Bởi vậy

mà nàng đã hiện về khi Trương Sinh lập đàn giải oan Thế nhưng “cảm ơn đức của LinhPhi, đã thề sống chết cũng không bỏ”, Vũ Nương không quay trở về trần gian nữa

Tóm lại: Bi kịch của Vũ Nương là một lời tố cáo xã hội phong kiến xem trọng quyền uy

của kẻ giàu có và của người đàn ông trong gia đình, đồng thời bày tỏ niềm cảm thươngcủa tác giả đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ Người phụ nữ đức hạnh ở đâykhông những không được bênh vực, trở che mà lại còn bị đối xử một cách bất công, vôlý; chỉ vì lời nói thơ ngây của đứa trẻ và vì sự hồ đồ, vũ phu của anh chồng hay ghentuông mà đến nỗi phải kết liễu cuộc đời mình

IV Giá trị nghệ thuật:

1 Một số nét nghệ thuật đặc sắc của Chuyện người con gái Nam Xương

- Xây dựng tình huống truyện độc đáo, đặc biệt là chi tiết chiếc bóng Đây là sự kháiquát hoá tấm lòng, sự ngộ nhận và sự hiểu lầm của từng nhân vật Hình ảnh này hoànthiện thêm vẻ đẹp nhân cách của Vũ Nương, đồng thời cũng thể hiện rõ nét hơn số phận

bi kịch của Vũ Nương nói riêng và người phụ nữ Việt Nam nói chung

- Nghệ thuật dựng truyện Dẫn dắt tình huống truyện hợp lý Chi tiết chiếc bóng là đầu

mối câu chuyện lại chỉ xuất hiện một lần duy nhất ở cuối truyện, tạo sự bất ngờ, bànghoàng cho người đọc và tăng tính bi kịch cho câu chuyện

- Có nhiều sự sáng tạo so với cốt truyện cổ tích "Vợ chàng Trương" bằng cách sắp xếp

thêm bớt chi tiết một cách độc đáo

- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nhân vật được xây dựng qua lời nói và hành động Các

lời trần thuật và đối thoại của nhân vật sử dụng nhiều hình ảnh ước lệ nhưng vẫn khắchoạ đậm nét và chân thật nội tâm nhân vật

- Sử dụng yếu tố truyền kỳ (kỳ ảo) làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm Yếu tố kỳ

ảo, hoang đường làm câu chuyện vừa thực vừa mơ, vừa có hậu vừa không có hậu, làmhoàn chỉnh vẻ đẹp của Vũ Nương

- Kết hợp các phương thức biểu đạt: Tự sự + biểu cảm (trữ tình) làm nên một áng văn

xuôi tự sự còn sống mãi với thời gian

2 Ý nghĩa của chi tiết kỳ ảo

* Các chi tiết kỳ ảo trong câu chuyện:

- Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa

Trang 10

Lưu ý: đề thi Hà Nội năm 2011 nằm ở phần này.

* Cách đưa các chi tiết kỳ ảo:

- Các yếu tố này được đưa vào xen kẽ với những yếu tố thực về địa danh, về thời điểmlịch sử, những chi tiết thực về trang phục của các mỹ nhân, về tình cảnh nhà Vũ Nươngkhông người chăm sóc sau khi nàng mất… Cách thức này làm cho thế giới kỳ ảo lunglinh, mơ hồ trở nên gần với cuộc đời thực, làm tăng độ tin cậy, khiến người đọc khôngcảm thấy ngỡ ngàng

* Ý nghĩa của các chi tiết kỳ ảo:

- Cách kết thúc này làm nên đặc trưng của thể loại truyện truyền kỳ

- Làm hoàn chỉnh thêm nét đẹp vốn có của Vũ Nương: nặng tình, nặng nghĩa, quan tâmđến chồng con, phần mộ tổ tiên, khao khát được phục hồi danh dự

- Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu cho câu chuyện

- Thể hiện về ước mơ, về lẽ công bằng ở cõi đời của nhân dân ta

- Chi tiết kỳ ảo đồng thời cũng không làm mất đi tính bi kịch của câu chuyện VũNương trở về mà vẫn xa cách ở giữa dòng bởi nàng và chồng con vẫn âm dương chia lìađôi ngả, hạnh phúc đã vĩnh viễn rời xa Tác giả đưa người đọc vào giấc chiêm bao rồilại kéo chúng ta sực tỉnh giấc mơ - giấc mơ về những người phụ nữ đức hạnh vẹn toàn.Sương khói giải oan tan đi, chỉ còn một sự thực cay đắng: nỗi oan của người phụ nữkhông một đàn tràng nào giải nổi Sự ân hận muộn màng của người chồng, đàn cầu siêucủa tôn giáo đều không cứu vãn được người phụ nữ Đây là giấc mơ mà cũng là lời cảnhtỉnh của tác giả Nó để lại dư vị ngậm ngùi trong lòng người đọc và là bài học thấm thía

2 Nhân vật Vũ Nương có phẩm chất cao đẹp.

3 Làm rõ nhận định : chi tiết chiếc bóng là chi tiết nghệ thuật đặc sắc

4 Làm rõ nhận định Vũ Nương có số phận đau thương.

5 Chi tiết truyền kì cuối truyện, cảnh Vũ Nương trở về có ý nghĩa gì?

Trang 11

- Ông sống vào thời buổi đất nước loạn lạc nên muốn ẩn cư Đến thời Minh Mạng nhàNguyễn, vua vời ông ra làm quan, ông đã mấy lần từ chức, rồi lại bị triệu ra.

- Phạm Đình Hổ để lại nhiều công trình biên soạn khảo cứu có giá trị thuộc đủ các lĩnhvực: văn học, triết học, lịch sử, địa lý… tất cả đều bằng chữ Hán

II Tác phẩm:

1 Ý nghĩa nhan đề: Vũ trung tuỳ bút (tuỳ bút viết trong những ngày mưa)

2 Thể loại: Tác phẩm gồm : 88 mẩu chuyện nhỏ, viết theo thể tuỳ bút, hiểu theo nghĩa

là ghi chép tuỳ hứng, tản mạn, không cần hệ thống, kết cấu gì Ông bàn về các thứ lễnghi, phong tục, tập quán… ghi chép những việc xảy ra trong xã hội lúc đó, viết về một

số nhân vật, di tích lịch sử, khảo cứu về địa dư, chủ yếu là vùng Hải Dương quê ông.Tất cả những nội dung ấy đều được trình bày giản dị, sinh động và rất hấp dẫn Tácphẩm chẳng những có giá trị văn chương đặc sắc mà còn cung cấp những tài liệu quý về

sử học, địa lý, xã hội học

3 Hoàn cảnh: Tác phẩm được viết đầu đời Nguyễn (đầu thế kỷ XIX)

4 Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích:

* Giá trị nội dung: "Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh" phản ánh đời sống xa hoa của

vua chúa và sự nhũng nhiễu của bọn quan lại thời Lê - Trịnh

* Giá trị nghệ thuật: Phạm Đình Hổ thành công ở thể loại tuỳ bút, sự ghi chép chân

thực, sinh động, giàu chất trữ tình Các chi tiết miêu tả chọn lọc, đắt giá, giàu sức thuyếtphục, tả cảnh đẹp tỉ mỉ nhưng lại nhuốm màu sắc u ám, mang tính dự báo Giọng điệutác giả gần như khách quan nhưng cũng đã khéo léo thể hiện thái độ lên án bọn vuaquan qua thủ pháp liệt kê

- Chúa cho xây nhiều cung điện, đền đài ở khắp mọi nơi, để thoả ý thích chơi đèn đuốc

“ngắm cảnh đẹp”, ý thích đó biết bao nhiêu cho vừa, vì vậy “việc xây dựng đình đài cứ liên miên”, hao tiền, tốn của.

- Chúa bày ra nhiều cuộc dạo chơi tốn kém ở các li cung (cung điện lâu đài xa kinhthành) Những cuộc dạo chơi của chúa ở Tây hồ được miêu tả tỉ mỉ: Diễn ra thường

xuyên “tháng ba bốn lần”, huy động rất nhiều người hầu hạ “binh lính dàn hầu bốn mặt hồ” – mà Hồ Tây thì rất rộng Không chỉ là dạo chưoi đơn thuần, mà còn là nghi lễ tiếp

đón tưng bừng, độc đáo, những trò chơi lố lăng (tổ chức hội chợ, cho quan nội thần cải

Trang 12

* Tác giả chọn một cảnh điển hình của cuộc cướp đoạt ấy là cảnh lính tráng trở một cây

đa cổ thụ về phủ chúa (đây là một chi tiết tiêu biểu làm rõ chủ đề) Tác giả miêu tả kỹ

lưỡng, công phu bằng những từ ngữ sống động, một giọng văn thật nặng nề: “Cây đa to, cành lá rườm rà, được rước qua sông”… như một cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá,

rễ đến vài trượng, phải một cơ binh mới khiêng nổi, lại có bốn người đi kèm, đều cầm gươm đánh thanh la đốc thúc quân lính khiêng đi cho đều tay” Người viết tuỳ bút, danh

nho Phạm Đình Hổ đã đưa ra những sự việc cụ thể, chân thực và khách quan, khôngbình luận mà các hình ảnh, chi tiết hiện lên đầy ấn tượng

Những chi tiết kể, tả chân thực cho thấy phủ chúa là nơi bày ra những trò chơi tốn kém

và hết sức lố bịch Để phục vụ cho sự ăn chơi ấy thì tiền của, công sức, mồ hôi nướcmắt và thậm chí cả mạng sống của nhân dân phải hao tốn biết bao nhiêu mà kể

b) Ấn tượng nhất là cảnh đêm nơi vườn nhà chúa qua đoạn văn “Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu, vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường”.

Cảnh được miêu tả là cảnh thực nhưng âm thanh lại gợi cảm giác ghê rợn trước một cái

gì tan tác, đau thương như không phải trước cảnh đẹp yên tĩnh, phồn thực “triệu bấttường” tức là điềm gở, điềm chẳng lành Hình ảnh ẩn dụ tả cảnh bất thường của đêmthanh cảnh vắng như báo trước sự suy vong tất yếu của một triều đại chỉ biết chăm lođến chuyện ăn chơi hưởng lạc trên mồ hôi, nước mắt và cả xương máu của dân lành.Cảm xúc chủ quan của tác giả đến đây mới được bộ lộ

2 Sự tham lam nhũng nhiễu của bọn quan lại hầu cận trong phủ chúa

- Thời chúa Trịnh Sâm, bọn quan lại hầu cận trong phủ chúa rất được sủng ái, bởi chúng

có thể giúp chúa đắc lực trong việc bày các trò ăn chơi, hưởng lạc Do thế, chúng cũng ỷthế nhà chúa mà hoành hành, tác oai, tác quái trong nhân dân

- Để phục vụ cho sự hưởng lạc ấy, chúa cũng như các quan đã trở thành những kẻ cướpngày Chúng ra sức hoành hành trấn lột khắp nơi trong thành tìm đồ vật, cây cối đẹp,

con thú cướp về trang trí cho phủ chúa lộng lẫy xa hoa : "bao nhiêu loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, chúa đều sức thu lấy" "trong phủ, tuỳ chỗ điểm xuyết bày vẽ ra hình núi non bộ, trông như bến bể đầu non"

Chúa có những vật quý ấy thì bao người dân bị ăn cướp trắng trơn Bọn quan lại thường

"mượn gió bẻ măng, ngoài dọ dẫm", dò xem nhà nào có vật quý thì biên vào hai chữ

"phụng thủ", đem cho người đến lấy phăng đi Rồi vừa ăn cướp vừa la làng, chúng còndoạ giấu vật của phụng để doạ lấy tiền của dân Người dân vừa bị cướp vật quý vừa bịđòi tiền, có khi lại còn phải tự tay phá huỷ những thứ mình đã chăm sóc, nuôi trồng đểtránh khỏi tai vạ Còn bọn hoạn quan đối với chúa thì được thưởng, được khen, đượcthăng quan tiến chức, bổng lộc ních đầy túi, một công mà lợi cả đôi đường

- Đoạn văn cuối là chi tiết kể rất thật về gia đình của chính tác giả: bà mẹ của tác giả đãphải sai chặt đi một cây lê và hai cây lựu quý, rất đẹp trong vườn nhà mình để tránh tai

vạ Đây không chỉ là điều tác giả mắt thấy tai nghe mà còn là điều ông đã trải qua, nên

Trang 13

- Hiện thực của cuộc sống được thông

qua số phận con người cụ thể, cho nên

thường có cốt truyện và nhân vật

- Cốt truyện được triển khai, nhân vật

được khắc hoạ nhờ một hệ thống chi

tiết nghệ thuật phong phú, đa dạng bao

gồm chi tiết sự kiện, xung đột, chi tiết

nội tâm, ngoại hình của nhân vật, chi

tiết tính cách… thậm chí cả những chi

tiết tượng, hoang đường

- Nhằm ghi chép về những con người,những sự việc cụ thể, có thực, qua đótác giả bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ, nhậnthức, đánh giá của mình về con người

và cuộc sống

- Sự ghi chép ở đây là tuỳ theo cảmhứng chủ quan, có thể tản mạn, khôngcần gò bó theo hệ thống, kết cấu gì,nhưng vẫn tuân theo một tư tưởng cảmxúc chủ đạo (Ví dụ: Thái độ phê phánthói ăn chơi xa xỉ và tệ nhũng nhiễunhân dân dân của bọn vua chúa và lũquan lại hầu cận)

- Lối ghi chép của tùy bút giàu chất trữtình hơn ở các loại ghi chép khác (nhưbút ký, ký sự)

4 Trình bày cảm nhận của em về tình trạng của đất nước ta thời vua Lê - chúa Trịnh?

- Cảnh vật trong phủ chúa là cảnh xa hoa, lộng lẫy, bóng bẩy, điểm xuyết bày đủ thứ

- Đi kèm với cảnh xa hoa như thế thì cuộc sống trong phủ cũng rất bóng bẩy, chúa chơi

đủ các loài “chân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian”.

Đúng là cá trời Nam sang nhất là đây” (Lê Hữu Trác) Cuộc sống ấy vương giả, thâm

nghiêm, đầy quyền uy nhưng "kẻ thức giả biết đó là triệu bất thường", báo trước sự suy

vọng sụp đổ tất yếu của một triều đại chỉ biết ăn chơi, không lo nghĩ gì cho nhân dân

- Con người trong phủ chúa đa dạng, nhưng phần lớn là những kẻ ăn chơi, hoang dâm

vô độ, vô trách nhiệm thậm chí là vô lương tâm, không còn nhân tính Chúng chỉ biết ăncướp của dân để ních cho đầy túi, để thoả cái thú vui chơi đèn đuốc hay chơi chậu hoacây cảnh của mình

-> Từ đây có thể thấy rằng thời đại phong kiến Lê – Trịnh là thời đại thối nát, mụcruỗng Vua và quan đều chỉ lo vui chơi, lo bày trò – những trò lố lăng, kịch cỡm và vôcùng tốn kém, quan thì nịnh hót, cướp của dân về dâng cho chúa ; chúa thì mải hưởngthụ cuộc sống xa hoa, phú quý Còn "nhân dân" họ không chỉ chịu đói chịu khổ mà cònphải chịu ấm ức bởi bị bóc lột, bị ăn cướp trắng trơn tiền bạc và những đồ mà họ yêuquý, nâng niu Triều đại ấy sụp đổ là một lẽ tự nhiên không thể tránh khỏi

Trang 14

HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ

Ngô Gia Văn Phái

A KIẾN THỨC CƠ BẢN

I Tác giả: Ngô Gia Văn Phái: một nhóm tác giả dòng họ Ngô Thì, ở làng Tả Thanh

Oai, nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, trong đó hai tác giả chính là Ngô Thì Chí(1753-1788), làm quan thời Lê Chiêu Thống, và Ngô Thì Du (1772-1840), làm quandưới chiều nhà Nguyễn

II Tác phẩm:

1 Nhan đề: “Hoàng Lê nhất thống chí” viết bằng chữ Hán ghi chép về sự thống nhất

của vương triều nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê Nókhông chỉ dừng lại ở sự thống nhất của vương triều nhà Lê, mà còn được viết tiếp, táihiện một giai đoạn lịch sử đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam vào 30 nămcuối thế kỷ XVIII và mấy năm đầu thế kỷ XIX Cuốn tiểu thuyết có tất cả 17 hồi

2 Thể loại: (chí là một lối văn ghi chép sự vật, sự việc).

Cũng có thể xem Hoàng Lê nhất thống chí là một cuốn tiểu thuyết lịch sử viết theo lốichương hồi

3 Hoàn cảnh: hồi thứ 14, viết về sự kiện Quang Trung đại phá quân Thanh.

4 Khái quát nội dung và nghệ thuật

- Nội dung: Với quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, các tác giả

“Hoàng Lê nhất thống chí” đã tái hiện chân thực hình ảnh người anh hùng dân tộc

Nguyễn Huệ qua chiến công thần tốc đại phá quân Thanh, sự thảm hại của quân tướngnhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống

- Nghệ thuật: Kể chuyện xen kẽ miêu tả một cách sinh động cụ thể, gây được ấn tượng

mạnh

5 Đại ý và bố cục:

* Đại ý: Đoạn trích miêu tả chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung, sự thảm bại

nhục nhã của quân tướng nhà Thanh và số phận lũ vua quan phản nước, hại dân

* Bố cục: 3 đoạn

- Đoạn 1: (từ đầu đến “hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng cháp năm Mậu Thân (1788)”):

Được tin báo quân Thanh chiếm Thăng Long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế và thân chinh cầm quân dẹp giặc.

- Đoạn 2: (“Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh… vua Quang Trung tiến binh

đến Thăng Long, rồi kéo vào thành”): Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung.

- Đoạn 3: (“Lại nói, Tôn Sĩ Nghị và vua Lê… cũng lấy làm xấu hổ”): Sự đại bại của

quân tướng nhà Thanh và tình trạng thảm bại của vua tôi Lê Chiêu Thống.

6 Tóm tắt hồi 14 “Hoàng Lê nhất thống chí”

- Trước thế mạnh của giặc, quân Tây Sơn ở Thăng Long, rút quân về Tam Điệp và chongười vào Phủ Xuân cấp báo với Nguyễn Huệ

- Nhận được tin ngày 24/11, Nguyễn Huệ liền tổ chức lại lực lượng chia quân làm haiđạo thuỷ - bộ

- Ngày 25 tháng Chạp, làm lễ lên ngôi lấy hiệu là Quang Trung, trực tiếp chỉ đạo hai

đạo quân tiến ra Bắc

Trang 15

- Ngày 29 tháng Chạp, quân Tây Sơn ra đến Nghệ An, Quang Trung cho dừng lại một

ngày, tuyển thêm hơn 1 vạn tinh binh, mở một cuộc duyệt binh lớn

- Ngày 30, quân của Quang Trung ra đến Tam Điệp, hội cùng Sở và Lân Quang Trung

đã khẳng định : "Chẳng quá mười ngày có thể đuổi được người Thanh" Cũng trong

ngày 30, giặc giã chưa yên, binh đao hãy còn mà ông đã nghĩ đến kế sách xây dựng đấtnước mười năm sau chiến tranh Ông còn mở tiệc khao quân, ngầm hẹn mùng 7 sẽ cómặt ở thành Thăng Long mở tiệc lớn Ngay đêm đó, nghĩa quân lại tiếp tục lên đường.Khi quân Tây Sơn ra đến sông Thanh Quyết gặp đám do thám của quân Thanh, QuangTrung ra lệnh bắt hết không để sót một tên

- Rạng sáng ngày 3 Tết, nghĩa quân bí mật bao vây đồn Hạ Hồi và dùng mưu để quân

Thanh đầu hàng ngay, hạ đồn dễ dàng

- Rạng sáng ngày mùng 5 Tết, nghĩa quân tấn công đồn Ngọc Hồi Quân giặc chống

trả quyết liệt, dùng ống phun khói lửa ra nhằm làm ta rối loạn, nhưng gió lại đổi chiềuthành ra chúng tự hại mình Cuối cùng, quân Thanh phải chịu đầu hàng, thái thú Điềnchâu Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử

- Trưa mùng 5 Tết, Quang Trung đã dẫn đầu đoàn quân thắng trận tiến vào Thăng

Long Đám tàn quân của giặc tìm về phía đê Yên Duyên gặp phục binh của ta, trốn theođường Vịnh Kiều lại bị quân voi ở Đại áng dồn xuống đầm Mực giày xáo, chết hàngvạn tên Một số chạy lên cầu phao, cầu phao đứt, xác người ngựa chết làm tắc cả khúcsông Nhị Hà Mùng 4 Tết nghe tin quân Tây Sơn tấn công, Tôn Sỹ Nghị và Lê ChiêuThống đã vội vã bỏ lên biên giới phía bắc Khi gặp lại nhau, Nghị có vẻ xấu hổ nhưngvẫn huyênh hoang Cả hai thu nhặt tàn quân, kéo về đất Bắc

B PHÂN TÍCH VĂN BẢN

I Cảm nhận của em về vẻ đẹp của hình tượng người anh hùng áo vải Quang Trung qua hồi thứ 14 của tác phẩm “Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô Gia Văn Phái.

1 Trước hết Quang Trung là một con người hành động mạnh mẽ quyết đoán:

- Từ đầu đến cuối đoạn trích, Nguyễn Huệ luôn luôn là con người hành động một cáchxông xáo, nhanh gọn có chủ đích và rất quả quyết

- Nghe tin giặc đã đánh chiếm đến tận Thăng Long mất cả một vùng đất đai rộng lớn mà

ông không hề nao núng “định thân chinh cầm quân đi ngay”.

- Rồi chỉ trong vòng hơn một tháng, Nguyễn Huệ đã làm được bao nhiêu việc lớn: “tế cáo trời đất”, lên ngôi hoàng đế, dốc xuất đại binh ra Bắc…

2 Đó là một con người có trí tuệ sáng suốt và nhạy bén:

Trang 16

* Ngay khi mấy chục vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị hùng hổ kéo vào nước ta, thế

giặc đang mạnh, tình thế khẩn cấp, vận mệnh đất nước “ngàn cân treo sợi tóc”, Nguyễn

Huệ đã quyết định lên ngôi hoàng đế để chính danh vị, lấy niên hiệu là Quang Trung.Việc lên ngôi đã được tính kỹ với mục đích thống nhất nội bộ, hội tụ anh tài và quan

trọng hơn là “để yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người”, được dân ủng hộ.

* Sáng suốt trong việc nhận định tình hình địch và ta:

- Qua lời dụ tướng sĩ trước lúc lên đường ở Nghệ An, Quang Trung đã chỉ rõ “đất nào sao ấy” người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác” Ông còn vạch rõ tội ác của chúng đối với nhân dân ta: “Từ đời nhà hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại dân ta, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi,

ai cũng muốn đuổi chúng đi”.

- Quang Trung đã khích lệ tướng sĩ dưới quyền bằng những tấm gương chiến đấu dũngcảm chống giặc ngoại xâm giành lại độc lập của cha ông ta từ ngàn xưa như: Trưng nữVương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành…

- Quang Trung đã dự kiến được việc Lê Chiêu Thống về nước có thể làm cho một sốngười Phù Lê “thay lòng đổi dạ” với mình nên ông đã có lời dụ với quân lính chí tình,vừa nghiêm khắc: “các người đều là những người có lương tri, hãy nên cùng ta đồngtâm hiệp lực để dựng lên công lớn Chớ có quen thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việcphát giác ra sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai”

* Sáng suốt trong việc xét đoán bề tôi:

- Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời nói của Quang Trung với Sở và Lân ta thấy

rõ: Ông rất hiểu việc rút quân của hai vị tướng giỏi này Đúng ra thì “quân thua chém tướng” nhưng không hiểu lòng họ, sức mình ít không địch nổi đội quân hùng tướng hổ

nhà Thanh nên đành phải bỏ thành Thăng Long rút về Tam Điệp để tập hợp lực lượng.Vậy Sở và Lân không bị trừng phạt mà còn được ngợi khen

- Đối với Ngô Thì Nhậm, ông đánh giá rất cao và sử dụng như một vị quân sĩ “đa mưu túc trí” việc Sở và Lân rút chạy Quang Trung cũng đoán là do Nhậm chủ mưu, vừa là

để bảo toàn lực lượng, vừa gây cho địch sự chủ quan Ông đã tính đến việc dùng Nhậm

là người biết dùng lời khéo léo để dẹp việc binh đao

3 Quang Trung là người có tầm nhìn xa trông rộng:

- Mới khởi binh đánh giặc, chưa giành được tấc đất nào vậy mà vua Quang Trung đã nói

chắc như đinh đóng cột “phương lược tiến đánh đã có tính sẵn”.

- Đang ngồi trên lưng ngựa, Quang Trung đã nói với Nhậm về quyết sách ngoại giao và

kế hoạch 10 năm tới ta hoà bình Đối với địch, thường thì biết là thắng việc binh đao

không thể dứt ngay được vì xỉ nhục của nước lớn còn đó Nếu “chờ 10 năm nữa ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh thì ta có sợ gì chúng”.

4 Quang Trung là vị tướng có tài thao lược hơn người:

- Cuộc hành quân thần tốc do Quang Trung chỉ huy đến nay vẫn còn làm chúng ta kinhngạc Vừa hành quân, vừa đánh giặc mà vua Quang Trung hoạch định kế hoạch từ 25tháng chạp đến mùng 7 tháng giêng sẽ vào ăn tiết ở Thăng Long, trong thực tế đã vượtmức 2 ngày

- Hành quân xa, liên tục như vậy nhưng đội quân vẫn chỉnh tề cũng là do tài tổ chức củangười cầm quân

5 Hình ảnh vị vua lẫm liệt trong chiến trận:

Trang 17

- Khí thế đội quân làm cho kẻ thù khiếp vía và hình ảnh người anh hùng cũng được

khắc hoạ lẫm liệt: trong cảnh “khói tỏ mù trời, cách gang tấc không thấy gì” nổi bật hình ảnh nhà vua “cưỡi voi đi đốc thúc” với tấm áo bào màu đỏ đã sạm đen khói súng.

- Hình ảnh người anh hùng được khắc hoạ khá đậm nét với tính cách mạnh mẽ, trí tuệsáng suốt, nhạy bén, tài dùng binh như thần; là người tổ chức và là linh hồn của chiếncông vĩ đại

II Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân đã được miêu tả như thế nào? Em có nhận xét gì về lối văn trần thuật ở đây?

1 Đối lập với hình ảnh nghĩa quân Tây Sơn là chân dung của kẻ thù xâm lược.

- Tôn Sỹ Nghị kiêu căng, tự mãn, chủ quan:

+ Kéo quân vào Thăng Long dễ dàng “ngày đi đêm nghỉ” như “đi trên đất bằng”, cho là

vô sự, không đề phòng gì, chỉ lảng vảng ở bên bờ sông, lấy thanh thế suông để doạ dẫm.+ Hơn nữa y còn là một tên tướng bất tài, cầm quân mà không biết tình hình thực hư rasao Dù được vua tôi Lê Chiêu Thống báo trước, y vẫn không chút đề phòng suốt mấy

ngày Tết “chỉ chăm chú vào việc yến tiệc vui mừng, không hề lo chi đến việc bất chắc”,

cho quân lính mặc sắc vui chơi

- Khi quân Tây Sơn đánh đến nơi, tướng thì sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên,

người không kịp mặc giáp… chuồng trước qua cầu phao, quân thì lúc lâm trận “ai nấy đều rụng rời, sợ hãi, xin ra hàng hoặc bỏ chạy toán loạn, giày xéo lên nhau mà chết”,

“quân sĩ các doanh nghe thấy đều hoảng hốt, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều”, “đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa” Cả đội binh hùng, tướng mạnh, chỉ quen diễu võ dương oai bây giờ chỉ còn biết tháo chạy, mạnh ai nấy chạy, “đêm ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi”.

* Nghệ thuật: kể chuyện, xen kẽ với những chi tiết tả thực thật cụ thể, chi tiết, sống

động với nhịp điệu nhanh, dồn dập, gấp gáp gợi sự hoảng hốt của kẻ thù Ngòi bút miêu

tả khách quan nhưng vẫn hàm chứng tâm trạng hả hê, sung sướng của người viết cũngnhư của dân tộc trước thắng lợi của Sơn Tây

2 Số phận thảm hại của bọn vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân

- Lê Chiêu Thống và những bề tôi trung thành của ông ta đã vì lợi ích riêng của dòng họ

mà đem vận mệnh của cả dân tộc đặt vào tay kẻ thù xâm lược, lẽ tất nhiên họ phải chịu

Trang 18

đựng nỗi sỉ nhục của kẻ đi cầu cạnh, van xin, không còn đâu tư cách bậc quân vương, vàkết cục cũng phải chịu chung số phận bi thảm của kẻ vọng quốc

- Khi có biến, quân Thanh tan rã, Lê Chiêu Thống vội vã cùng mấy bề tôi thân tín

“đưa thái hậu ra ngoài”, chạy bán sống bán chết, cướp cả thuyền dân để qua sông,

“luôn mấy ngày không ăn” May gặp người thổ hào thương tình đón về cho ăn và chỉ

đường cho chạy trốn Đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị, vua tôi chỉ còn biết nhìn nhau than thở, oángiận chảy nước mắt, và sau khi sang đến Trung Quốc phải cạo đầu, tết tóc, ăn mặcgiống người Mãn Thanh và cuối cùng gửi nắm xương tàn nơi đất khách quê người

Nghệ thuật: Xen kẽ kể với tả sinh động, cụ thể gây ấn tượng mạnh Ngòi bút đậm chút

xót thương của tác giả bề tôi trung thành của nhà Lê

 So sánh ngòi bút của tác giả khi miêu tả hai cuộc tháo chạy (một của quân tướng

nhà Thanh và một của vua tôi Lê Chiêu Thống) có gì khác biệt? Giải thích vì sao có

sự khác biệt đó?

- Tất cả đều là tả thực, với những chi tiết cụ thể, nhưng âm hưởng lại rất khác nhau:

- Đoạn văn trên nhịp điệu nhanh, mạnh, hối hả “ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp”, “tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau…”,

ngòi bút miêu tả khách quan nhưng vẫn hàm chứa tâm trạng hả hê, sung sướng củangười thắng trận trước sự thảm bại của lũ cướp nước

- Ở đoạn văn dưới, nhịp điệu có chậm hơn, tác giả dừng lại miêu tả tỉ mỉ những giọtnước mắt thương cảm của người thổ hào, nước mắt tủi hổ của vua tôi Lê Chiêu Thống,

cuộc theíet đãi thịnh tình “giết gà, làm cơm” của kẻ bề tôi… âm hưởng có phần ngậm

ngùi, chua xót Là những cựu thần của nhà Lê, các tác giả không thể không mủi lòngtrước sự sụp đổ của một vương triều mà mình từng phụng thờ, tuy vẫn hiểu đó là kếtcục không thể tránh khỏi

III Luyện tập viết đoạn

Câu 1.Vì sao các tác giả là những người thuộc triều đình nhà Lê mà vẫn xây dựng hìnhtượng đẹp về vua Quang Trung

Gợi ý:

- Các tác giả là những người cầm bút có lương tri, có ý thức tôn trọng lịch sử Sống giữanhững biến động thời đại, họ nhận thấy rõ sự thối nát hèn kém của vua Lê chúa Trịnh.Đồng thời cũng không phủ nhận được công lao cũng như tài năng của người anh hùngQuang Trung – Nguyễn Huệ

- Các tác giả là những người tiến bộ, họ đã vượt qua định kiến giai cấp, vượt ra khỏi chỗđứng giai cấp để phản ánh về Quang Trung – Nguyễn Huệ

- Các tác giả là những người yêu nước, họ tự hào về chiến thắng vĩ đại của dân tộc,không thể không nhắc tới Quang Trung, là linh hồn và tổng chỉ huy của cuộc chiến đấu

Câu 2 Đọc đoạn trích “ Quân Thanh sang không nói trước”

a Những lời trên Quang Trung nói ở đâu?

b Đọc đoạn văn trên em thấy giống thể loại gì trong văn học cổ?

c Đọc hai câu cuối , em liên tưởng thấy giống như những lời văn trong bài nào của vănhọc cổ, do ai viết? Mục đích viết?

d Nội dung đoạn văn gồm mấy ý chính? đó là những ý gì?

Gợi ý:

Trang 19

- Đó là lời phủ dụu quân sĩ ở Nghệ An

- Đoạn trên giống thể loại Hịch trong văn học cổ

- Hai câu cuối khiến chúng ta liên tưởng tới những lời văn trong bài “Hịch tướng sĩ” củaTrần Quốc Tuấn Mục đích viết kêu gọi quân sĩ học tập “ Binh thư yếu lược” để đánhgiặc Nguyên Mông

- Nội dung gồm 5 ý lớn:

+ Xác định chủ quyền độc lập của ta

+ Nêu tội ác và âm mưa của người phương Bắc với dân tộc ta

+ Nêu truyền thống đánh giặc ngoại xâm cuả dân tộc ta

+ Âm mưu chiếm nước ta của nhà Thanh

+ Kêu gọi đồng tâm hiệp lực trong chiến đấu và trung thành với vua QuangTrung

Câu 3: trong hồi thứ 14 có đoạn viết: “ vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấmván máu chảy thành suối, quân thanh đại bại”

a Nhận xét nghệ thuật của đoạn trích trên?

b Đoạn trích trên cho em hiểu gì về người anh hùng dân tộc Quang Trung?

Gợi ý:

a Nghệ thuật đặc sắc: trần thuật theo diễn biến sự việc; trần thuật xen lẫn miêu tả: tảviệc làm, tả hình ảnh Quang Trung, tả quân sĩ Quang Trung, tả quân thanh, tả khônggian chung của trận đánh

b Đoạn trích cho ta hiểu:

- Quang Trung là người thao lược, sáng tạo ra phương tiện độc đáo để chiến đấu

- Là vị tướng có tài tổ chức trận đánh: bố trí quân lính lúc thì sử dụng binh khí, lúc thìđánh giáp lá cà

- Quang Trung không những là vị tướng tài mà còn là một người anh hùng trực tiếpxông pha chiến trận từ lúc bắt đầu trận đánh cho đến khi trận đánh kết thúc

Câu 4: sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê ChiêuThống được miêu tả như thế nào? Cùng là miêu tả cuộc tháo chạy nhưng cách miêu tảkhác nhau ra sao? ( Xem II)

Câu 5: viết đoạn văn khoảng 10 câu theo kiểu quy nạp ( diễn dịch) trình bày cảm nhậncủa em về trí tuệ nhạy bén sáng suốt của người anh hùng Quang Trung thể hiện trong

đoạn trích Hồi thứ 14 của “ Hoàng Lê nhất thống chí”

Gợi ý:

Dựa vào phần phân tích ở trên

- Câu chủ đề: Tóm lại, qua đoạn trích hồi thứ 14 của Hoàng Lê nhất thống chí, với

quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, các tác giả đã tái hiện chân thực,sinh động hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ là người có trítuệ nhạy bén, sáng suốt

( tùy theo yêu cầu của đề bài mà chúng ta đặt câu chủ đề ở đầu đoạn hay cuốiđoạn)

Trang 20

NGUYỄN DU VÀ "TRUYỆN KIỀU"

I Tác giả:

- Nguyễn Du (1765-1820), tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên

1 Quê hương và gia đình:

a Quê hương:

- Quê ông ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Đó là một vùng quê

nghèo, thiên nhiên khắc nghiệt nhưng cũng là địa linh, nơi sinh ra những bậc anh tài, hào kiệt

- Nguyễn Du sinh ra và lớn lên ở kinh thành Thăng Long nghìn năm văn hiến, lộng lẫy

và hào hoa

b Gia đình:

- Nguyễn Du xuất thân trong một gia đinh đại quí tộc, nhiều đời làm quan to dưới triều vua Lê, chúa Trịnh và có truyền thống về văn học:

+ Cha ông là Nguyễn Nghiễm, từng ở ngôi Tể tướng mười lăm năm

+ Mẹ ông là Trần Thị Tần, vợ thứ, người Bắc Ninh, có tài hát xướng

+ Anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản, làm chức Tham tụng (ngang Thừa tướng) trong phủ chúa Trịnh

-> Vì thế, mà lúc bấy giờ, trong dân gian người ta thường truyền tụng câu ca:

“Bao giờ Ngàn Hống hết cây

Sông Rum hết nước họ này hết quan”

( “Ngàn Hống”: núi rừng Hồng Lĩnh; “Sông Rum” : sông Lam, ở đây là chữ Nôm cổ ý

cả câu: Khi nào mà núi rừng Hồng Lĩnh không còn cây, dòng sông Lam không còn nước thì lúc đó dòng họ này mới hết người làm quan)

2 Thời đại:

- Nguyễn Du sống vào nửa cuối TK XVIII – nửa đầu TK XIX trong hoàn cảnh xã hội

có nhiều biến động dữ dội:

+ Chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền lực, chém giết lẫn nhau, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, xã hội loạn lạc, tăm tối Nhà thơ Chế Lan Viên đó viết về thời đại Nguyễn Du sống:

“Cha ông ta từng đấm nát tay trước cánh cửa cuộc đời

Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khoá

Những pho tượng chùa Tây Phương không biết cách trả lời

Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ”

+ Bão táp phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi,đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn đánh đổ các tập đoàn phong kiến thống trị, quét sạch hai mươi vạn quân Thanh xâmlược

- Thời đại ấy đó được Nguyễn Du viết trong “Truyện Kiều” bằng hai câu thơ mở đầu: “Trăm năm trong cõi người ta,

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”

Trang 21

3 Cuộc đời:

- Sinh trưởng trong một gia đình quý tộc, bản thân lại có năng khiếu văn chương nhưngthời đại Nguyễn Du do những biến động xã hội nên gia đình cũng như bản thân ôngcũng có những thăng trầm, sa sút

- Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, cuộc đời Nguyễn Du phải trải qua những năm tháng gian truân,trôi dạt, vất vả, long đong ( Trải qua “mười năm gió bụi” Nguyễn Du lang thang hết ởquê vợ, rồi quê mẹ, quê cha trong nghèo túng, hết sức khổ cực và tủi nhục)

- Nguyễn Du có ra làm quan cho triều Nguyễn Gia Long, từng giữ nhiều chức vụ khácnhau: Tham tri bộ Lễ, Cai bạ Quảng Bình, Chánh sứ bộ…Nhưng đó là những nămtháng làm quan bất đắc chí

- Ông mất tại Huế năm 1820, thọ năm mươi lăm tuổi

4 Bản thân:

- Là người có hiểu biết sâu rộng, am hiểu văn hóa dân tộc và văn chương Trung Quốc

- Nhà thơ đó sống nhiều năm lưu lạc, tiếp xúc với nhiều con người, nhiều cảnh đời,nhiều số phận khác nhau, đó tạo cho ông một vốn sống phong phú và niềm cảm thôngsâu sắc với mọi kiếp người bị đày đọa

- Nguyễn Du là người có trái tim giàu lòng nhân ái, nhìn đời với con mắt của một ngườiđứng giữa dông tố cuộc đời và điều đó khiến tác phẩm của ông hàm chứa một chiều sâuchưa từng có trong văn thơ Việt Nam

5 Sự nghiệp sáng tác:

- Nguyễn Du là tác giả có nhiều thành tựu kiệt xuất về văn chương, ở thể loại nào ôngcũng đạt được sự hoàn thiện ở trình độ cổ điển

- Về thơ chữ Hán, ông có ba tập thơ:

+ “Thanh Hiên thi tập” ( 78 bài) được viết trước khi ông ra làm quan cho nhà Nguyễn.+ “Nam trung tạp ngâm”(40 bài) viết trong thời gian ông ở Huế, Quảng Bình

+ “Bắc hành tạp lục” ( 131 bài) viết trong thời gian Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc

- Về chữ Nôm: có bài “Văn chiêu hồn” ( Văn tế thập loại chúng sinh) được viết theo thểthơ song thất lục bát dài 184 câu Đặc biệt là “Truyện Kiều”, với tác phẩm này đó đưaNguyễn Du lên đỉnh cao của nền thi ca dân tộc, xứng đáng được tôn vinh “Thiên cổ vănchương thiên cổ sư”

=> Tiểu kết: Năng khiếu văn chương, vốn sống phong phú kết tinh ở một trái tim yêuthương vĩ đại đối với con người trong một bối cảnh lịch sử cụ thể đó tạo nên thiên tàiNguyễn Du Thiên tài ấy được thể hiện trước hết ở tác phẩm “Truyện Kiều”

II Tác phẩm:

1 Nguồn gốc và sự sáng tạo:

- Nguyễn Du viết “Truyện Kiều” vào đầu thế kỉ XIX( 1805 –1809) Truyện dựa theo cốttruyện “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân ( Trung Quốc) Lúc đầu,Nguyễn Du đặt tên là “Đoạn trường tân thanh” ( Khúc ca mới đứt ruột hay Tiếng kêuđứt ruột) sau này, người ta quen gọi là “Truyện Kiều”

- Một biểu hiện nữa về sự sáng tạo của Nguyễn Du qua “Truyện Kiều” là:

+ “Kim Vân Kiều truyện” viết bằng chữ Hán, thể loại văn xuôi, có kết cấu thành từngchương (hồi) Toàn bộ tác phẩm gồm 20 chương

Trang 22

+ Đến Nguyễn Du đó trở thành tác phẩm trữ tình,viết bằng chữ Nôm, theo thể lục bát có

độ dài 3254 câu Ông đã có những sáng tạo lớn về nhiều mặt nội dung cũng như nghệthuật

- Phơi bày hiện thực xã hội phong kiến bất công

- Phản ánh nỗi khổ đau, bất hạnh của con người, đặc biệt là người phụ nữ

* Giá trị nhân đạo: Giá trị chính của “Truyện Kiều” là giá trị nhân đạo Giá trị này đượcthể hiện ở hai phương diện sau:

- “Truyện Kiều” là tiếng nói đề cao tình yêu tự do, khát vọng công lí và ngợi ca vẻ đẹpphẩm chất của con người:

+ Viết “Truyện Kiều”, Nguyễn Du đó thể hiện ước mơ đẹp đẽ của mình về một tình yêu

tự do, trong sáng, chung thủy trong xã hội mà quan niệm hôn nhân phong kiến còn hếtsức khắc nghiệt Mối tình Kim – Kiều được xem như là bài ca tuyệt đẹp về tình yêu lứađôi trong văn học dân tộc

+ Viết “Truyện Kiều”, Nguyễn Du còn thể hiện khát vọng công lí tự do, dân chủ giữamột xã hội bất công, tự tung đầy ức chế, tàn bạo Nguyễn Du đó xây dựng nhân vật TừHải – người anh hùng hảo hán, một mình dám chống lại cả cái xã hội bạo tàn ấy Từ Hải

là khát vọng của công lí, là biểu tượng cho tự do dân chủ

+ Viết “Truyện Kiều”, Nguyễn Du còn ngợi ca vẻ đẹp phẩm chất của con người: vẻ đẹptài sắc, trí tuệ thông minh,lũng hiếu thảo, trái tim nhân hậu, ý thức vị tha, đức thủychung Thúy Kiều, Từ Hải là hiện thân cho những vẻ đẹp đó!

- “Truyện Kiều” cũn là tiếng núi lên án các thế lực tàn bạo, chà đạp lên quyền sống conngười Thế lực tàn bạo đó, khi là bộ mặt bọn quan lại tham lam, đê tiện, bỉ ổi – đầu mốicủa mọi xấu xa trong xã hội ( Hồ Tôn Hiến, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Tỳ Bà…), cókhi lại là sự tàn phá, hủy diệt hung hiểm của đồng tiền trong xã hội phong kiến lúc bấygiờ, trong tay bọn người bất lương tàn bạo đó phát huy tất cả sức mạnh của nó, đổi trắngthay đen, biến con người thành thứ hàng hóa để mua bán

=> Từ tất cả những giá trị nội dung và nghệ thuật của “Truyện Kiều”, chúng ta có thểkhẳng định:

Trang 23

+ Trong ca dao, người ta thấy có rất nhiều câu có vận dụng những hình ảnh trong

“Truyện Kiều” Ví dụ:

“Sen xa hồ, sen khô hồ cạn,

Liễu xa đào liễu ngả liễu nghiêng

Anh xa em như bến xa thuyền

Như Thúy Kiều xa Kim Trọng, biết mấy niên cho tái hồi!”

+ “Truyện Kiều” đó trở thành sức sống của dõn tộc, là thứ thưởng ngoạn cho tao nhânmặc khách của mọi thời Có câu:

“Làm trai biết đánh tổ tôm

Uống trà mạn hảo, xem Nôm Thúy Kiều”

- “Truyện Kiều” cũn được giới thiệu rộng rói ở nhiều nước trên thế giới Người ta đódịch“Truyện Kiều” ra nhiều thứ tiếng và nhiều người nước ngoài đó nghiên cứu về

- Rất nhiều những nhà văn, nhà thơ đó viết về “Truyện Kiều”:

“Trải qua một cuộc bể dâu

Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình

Nổi chìm kiếp sống lênh đênh

Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều!”

( Tố Hữu )

Đó mấy trăm năm trôi qua rồi, nhưng “Truyện Kiều” vẫn có sức sống mãnh liệt trongdân tộc Việt Nam Nhà thơ Tố Hữu đó thay chúng ta trả lời cho Nguyễn Du câu hỏi màngười nhắn nhủ:

“Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”

CHỊ EM THÚY KIỀU

Câu 1: Chép thuộc "Chị em Thuý Kiều”:

Đầu lòng hai ả tố Nga,Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân

Mai cốt cách, tuyết tinh thần,Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười

Trang 24

So bề tài sắc lại là phần hơn.

Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Một hai nghiêng nước nghiêng thành,Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai

Thông minh vốn sẵn tính trời,Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm

Cung thương lầu bậc ngũ âm,Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương

Khúc nhà tay lựa nên chươngMột thiên bạc mệnh lại càng não nhân

Phong lưu rất mực hồng quần,Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê

Êm đềm trướng rủ màn che,Tường đông ong bướm đi về mặc ai

Câu 2: Vị trí đoạn trích

Vị trí đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”: nằm ở phần mở đầu của phần thứ nhất: gặp gỡ

và đính ước Khi giới thiệu gia đình Thuý Kiều, tác giả tập trung miêu tả tài sắc hai chị

em thuý vân, Thuý Kiều

Câu 3: Kết thúc đoạn trích: 4 phần

+ Bốn câu đầu: giới thiệu khái quát hai chị em Thuý Kiều

+ Bốn câu tiếp: gợi tả vẻ đẹp Thuý Vân

+ Mười hai câu còn lại: gợi tả vẻ đẹp thuý Kiều

+ Bốn câu cuối: nhận xét chung về cuộc sống của hai chị em

Câu 4: Giá trị nội dung và nghệ thuật:

Giá trị nội dung: “Chị em Thuý Kiều” là khắc hoạ rõ nét chân dung tuyệt mĩ của chị

em Thuý Kiều, ca ngợi vẻ đẹp, tài năng và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh củaThuý Kiều là biểu hiện của cảm hứng nhân văn ở Nguyễn Du

Giá trị nghệ thuật: Thuý Kiều, Thuý Vân và nhân vật chính diện, thuộc kiểu nhân vật

lý tưởng trong Truyện Kiều Để khắc hoạ vẻ đẹp của nhân vật lý tưởng, Nguyễn Du đã

sử dụng bút pháp ước lệ - lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm nổi bật vẻ đẹp của con người.Nhà văn không miêu tả chi tiết cụ thể mà chủ yếu là tả để gợi Sử dụng biện pháp đònbẩy làm nổi bật hình ảnh Thuý Kiều

Câu 5: Giải nghĩa từ ngữ:

- Tố Nga: chỉ người con gái đẹp.

- Mai cốt cách: cốt cách của cây mai mảnh dẻ, thanh tao Tuyết tinh thần: tinh thần của

tuyết trắng và trong sạch Câu này ý nói cả hai chị em đều duyên dáng, thanh cao, trongtrắng

Trang 25

- Khuôn trăng đầy đặn: gương mặt đầy đặn như trăng tròn; nét ngài nở nang: ý nói lông

mày hơi đậm, cốt tả đôi mắt đẹp Câu thơ nhằm gợi tả vẻ đẹp phúc hậu của Thúy Vân.Thành ngữ Tiếng Việt có câu “mắt phượng mày ngài”

- Đoan trang: nghiêm trang, đứng đắn (chỉ nói về người phụ nữ)…

- Làn thu thuỷ: làn nước mùa thu; nét xuân sơn: nét núi mùa xuân Cả câu thơ ý nói mắt

đẹp, trong sáng như nước mùa thu, lông mày đẹp thanh thoát như nét núi mùa xuân

- Nghiêng nước nghiêng thành: lấy ý ở một câu chữ Hán, có nghĩa là: ngoảnh lại nhìn

một cái thì thành người ta bị xiêu, ngoảnh lại nhìn cái nữa thì nước người ta bị nghiêngngả Ý nói sắc đẹp tuyệt vời của người phụ nữ có thể làm cho người ta say mê đến nỗimất thành, mất nước

Câu 6:

Nguyễn Du đã miêu tả con người theo lối nghệ thuật mang tính ước lệ rất quen thuộc trong một kết cấu chặt chẽ, với ngòi bút tinh tế:

a Bốn câu đầu: giới thiệu khái quát về nhân vật.

Với bút pháp ước lệ, tác giả đã gợi được vẻ thanh cao, duyên dáng, trong trắng của

người thiếu nữ ở hai chị em Thuý Kiều: “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” cốt cách như

mai, tinh thần như tuyết Đó là vẻ đẹp hoàn hảo mang tính hình thể, tâm hồn cả hai đềuđẹp “mười phân vẹn mười” nhưng mỗi người lại mang vẻ đẹp riêng

b Bốn câu tiếp theo: Miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân.

- Câu thơ mở đầu vừa giới thiệu Thuý Vân vừa khái quát vẻ đẹp của nhân vật Hai chữ

“trang trọng” gợi vẻ cao sang, quý phái

- Với bút pháp nghệ thuật ước lệ, vẻ đẹp của Vân được so sánh với những thứ cao đẹpnhất trên đời, trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc Bằng thủ pháp liệt kê chân dung Thúy Vânđược miêu tả toàn vẹn từ khuôn mặt, nét mày, làn da, mái tóc đến nụ cười, giọng nói,phong thái ứng xử nghiêm trang, đứng đắn Mỗi chi tiết được miêu tả cụ thể hơn nhờ bổngữ, định ngữ, hình ảnh so sánh ẩn dụ

- Tác giả đã vẽ nên bức chân dung Thuý Vân bằng nghệ thuật so sánh ẩn dụ và ngônngữ thơ chọn lọc, chau chuốt: khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu, tươi sáng như mặt trăng;lông mày sắc nét như con ngài; miệng cười tươi thắm như hoa; giọng nói trong trẻo thốt

ra từ hàm răng ngà ngọc; mái tóc đen óng ả hơn mây, làn da trắng mịn màng hơn tuyết

(khuôn trăng… màu da).

- Chân dung Thuý Vân là chân dung mang tính cách, số phận Vân đẹp hơn những gì mĩ

lệ nhất của thiên nhiên nhưng tạo sự hoà hợp êm đềm với xung quanh: mây thua, tuyếtnhường Thuý Vân hẳn có một tính cách ung dung, điềm đạm, một cuộc đời bình yênkhông sóng gió

c 12 câu tiếp theo: Tả vẻ đẹp và tài hoa của Kiều.

- Câu thơ đầu đã khái quát đặc điểm của nhân vật: “Kiều càng sắc sảo mặn mà” Nàng

sắc sảo về trí tuệ và mặn mà về tâm hồn

- Gợi tả vẻ đẹp của Kiều tác giả vẫn dùng những hình tượng ước lệ: thu thuỷ, xuân sơn,hoa, liễu Đặc biệt khi hoạ bức chân dung Kiều, tác giả tập trung gợi tả vẻ đẹp đôi mắt

Hình ảnh “Làn thu thuỷ, nét xuân sơn” là hình ảnh mang tính ước lệ, đồng thời cũng là

hình ảnh ẩn dụ, gợi lên một đôi mắt đẹp trong sáng, long lanh, linh hoạt như làn nướcmùa thu, đôi lông mày thanh tú như nét mùa xuân Đôi mắt đó là cửa sổ tâm hồn, thểhiện phần tinh anh của tâm hồn, trí tuệ Tả Kiều, tác giả không cụ thể như khi tả Vân mà

Trang 26

chỉ đặc tả đôi mắt theo lối điểm nhãn - vẽ hồn cho nhân vật, gợi lên vẻ đẹp chung củamột trang giai nhân tuyệt sắc Vẻ đẹp ấy làm cho hoa ghen, liễu hờn, nước nghiêngthành đổ Nguyễn Du không miêu tả trực tiếp nhân vật mà miêu tả sự ghen ghét, đố kịhay ngưỡng mộ, say mê trước vẻ đẹp đó, cho thấy đây là vẻ đẹp có chiều sâu, có sứcquyến rũ, cuốn hút lạ lùng

- Vẻ đẹp tiềm ẩn phẩm chất bên trong cao quý, cái tài, cái tình đặc biệt của Kiều TảThuý Vân chỉ tả nhan sắc, còn tả Thuý Kiều, tác giả tả sắc một phần thì dành hai phần

để tả tài Kiều rất mực thông minh và đa tài "Thông minh vốn sẵn tính trời" Tài của

Kiều đạt đến mức lý tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến, hội đủ cầm, kỳ, thi, hoạ

“Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm”.

Tác giả đặc tả tài đàn – là sở trường, năng khiếu, nghề riêng của nàng “Cung thương lầu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương” Không chỉ vậy, nàng còn giỏi

sáng tác nhạc Cung đàn Bạc mện của Kiều là tiếng lòng của một trái tim đa sầu đa cảm

“Khúc nhà tay lựa nên chương, Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”.

Tả tài, Nguyễn Du thể hiện được cả cái tình của Kiều

- Chân dung Thuý Kiều là bức chân dung mang tính cách và số phận Vẻ đẹp khi chotạo hoá phải ghen ghét, các vẻ đẹp khác phải đố kị, tài hoa trí tuệ thiên bẩm "lai bậc" đủmùi, cả cái tâm hồn đa sầu đa cảm khiến Kiều không thể tránh khỏi định mệnh nghiệt

ngã, số phận éo le, gian khổ bởi "Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau" "Trời xanh quen thói mà hồng đánh ghen" Cuộc đời Kiều hẳn là cuộc đời hồng nhan bạc mệnh.

* Có thể nói tác giả đã rất tinh tế khi miêu tả nhân vật Thuý Kiều: Tác giả miêu tả chândung Thuý Vân trước để làm nổi bật chân dung Thuý Kiều, ca ngợi cả hai nhưng đậmnhạt khác nhau ở mỗi người: chỉ dành bốn câu thơ để tả Vân, trong đó dành tới 12 câuthơ để tả Kiều, Vân chỉ tả nhan sắc, Kiều cả tài , sắc, tình đều đặc đặc tả Đó chính làthủ pháp đòn bẩy

d 4 câu cuối: nhận xét chung về cuộc sống hai chị em Thuý Kiều.

- Họ sống phong lưu, khuôn phép, đức hạnh, theo đúng khuôn khổ của lễ giáo phong

kiến Tuy cả hai đều đã đến tuổi búi tóc cài trâm nhưng vẫn "trướng rũ màn che, tường đông ong bướm đi về mặc ai".

- Hai câu cuối trong sáng, đằm thắm như chở che, bao bọc cho hai chị em hai bồn hoa

vẫn còn phong nhuỵ trong cảnh "Êm đềm trướng rủ màn che".

Tóm lại, đoạn trích đã thể hiện bút pháp miêu tả nhân vật đặc sắc của Nguyễn Du khắchoạ nét riêng về nhan sắc, tài năng, tính cách, số phận nhân vật bằng bút pháp nghệthuật cổ điển

Câu 7: Trong hai bức chân dung của Thúy Vân và Thúy Kiều, em thấy bức chân dung nào nổi bật hơn, vì sao ?

- Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp ước lệ để ca ngợi cả hai chị em Thúy vân, Thúy Kiều

nhưng đậm nhạt khác nhau ở mỗi người, rõ ràng bức chân dung của Thúy Kiều nổi bật hơn.

- Dùng 4 câu thơ để tả Vân

- Với Vân chỉ tả ngoại hình theo thủ

Trang 27

- Miêu tả chân dung Thuý Vân trước

để làm nổi bật chân dung Thuý Kiều

tài, tâm

Tóm lại:

- Đặc tả vẻ đẹp của Thúy Vân, Nguyễn Du tập trung miêu tả các chi tiết trên khuôn mặtnàng bằng bút pháp ước lệ và nghệ thuật liệt kê -> Thuý Vân xinh đẹp, thùy mị đoantrang, phúc hậu và rất khiêm nhường

- Đặc tả vẻ đẹp của Thuý Kiều, Nguyễn Du tập trung làm nổi bật vẻ đẹp của tài và sắc.+ Tác giả miêu tả khái quát: “Sắc sảo mặn mà”.

Một vừa hai phải ai ơi

+ Tài năng: phong phú đa dạng, đều đạt tới mức lý tưởng

- Cái tài của Nguyễn Du biểu hiện ở chỗ miêu tả ngoại hình nhân vật làm hiện lên vẻđẹp tính cách và tâm hồn Và đằng sau những tín hiệu ngôn ngữ lại là dự báo về số phậnnhân vật

+ "Thua, nhường" -> Thuý Vân có cuộc sống êm đềm, suôn sẻ.

+ "Hờn, ghen" -> Thuý Kiều bị thiên nhiên đố kỵ, ganh ghét -> số phận long đong, bị

vùi dập

Câu 8: Cảm hứng nhân đạo của tác giả Nguyễn Du thể hiện qua đoạn trích:

- Trong truyện Kiều, một trong những biểu hiện của cảm hứng nhân đạo là việc ca ngợi,

đề cao những giá trị, phẩm chất của con người như nhan sắc, tài hoa, nhân phẩm, khátvọng, ý thức về thân phận, nhân phẩm cá nhân

- Một trong những ví dụ điển hình của cảm hứng nhân đạo ấy là đoạn trích "Chị emThuý Kiều" Nguyễn Du sử dụng những hình ảnh đẹp nhất, những ngôn từ hoa mĩ nhất

để miêu tả vẻ đẹp con người, phù hợp với cảm hứng ngưỡng mộ, ngợi ca giá trị conngười Tác giả còn dư cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh của Kiều Đó chính là cảmhứng nhân văn cao cả của Nguyễn Du xuất phát từ lòng đồng cảm sâu sắc với mọingười

Câu 9: So sánh đoạn thơ “Chị em Thuý Kiều” với trích đoạn trong “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân, ta càng thấy được sự sáng tạo tài tình của Nguyễn Du.

- Nếu như Thanh Tâm Tài Nhân kể về hai chị em Thuý Kiều bằng văn xuôi thì Nguyễn

Du miêu tả họ bằng thơ lục bát

- Thanh Tâm Tài Nhân chủ yếu là kể về hai chị em Kiều; còn Nguyễn Du thì thiên vềgợi tả sắc đẹp Thuý Vân, tài sắc Thuý Kiều

- Thanh Tâm Tài Nhân tả Kiều trước, Vân sau: “Thuý Kiều mày nhỏ mà dài, mắt trong

mà sáng, mạo như trăng thu, sắc tựa hoa đào Còn Thúy Vân thì tinh thần tĩnh chính, dung mạo đoan trang, có một phong thái riêng khó mô tả” Đọc lên ta cảm giác như tác

giả tập trung vào Vân hơn, hình ảnh của Vân nổi bật hơn Ngay ở đoạn giới thiệu đầutruyện, hình ảnh Kiều cũng không thật sự nổi bật Còn Nguyễn Du tả Vân trước làm nền

tô đậm thêm vẻ đẹp của Kiều theo thủ pháp nghệ thuật đòn bẩy

Trang 28

- Khi miêu tả, Nguyễn Du đặc biệt chú trọng đến tài năng của Kiều, qua việc miêu tảngoại hình, tài hoa còn thể hiện được tấm lòng, tính cách và dự bảo được số phận nhânvật Thanh Tâm Tài Nhân không làm được điều đó, bút pháp cá thể hoá nhân vật củaông không rõ nét bằng của Nguyễn Du

Nhưng sự khác biệt này đã giải thích vì sao cùng một cốt chuyện mà “Kim Vân Kiều truyện” chỉ là cuốn sách bình thường, vô danh còn “Truyện Kiều” được coi là một kiệt

tác, Thanh Tâm Tài Nhân chỉ là tác giả không có danh tiếng, ít người biết đến trong khiNguyễn Du là một tác giả lớn, một đại thi hào

Đoạn trích “Mã Giám Sinh mua Kiều”

Câu 1 : Chép thuộc đoạn trích “Mã Giám Sinh mua Kiều”:

Gần miền có một mụ nào,Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh

Hỏi tên, rằng: “Mã Giám Sinh”

Hỏi quê, rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần”

Quá niên trạc ngoại tứ tuần

Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao

Trước thầy sau tớ lao xao,Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang

Ghế trên ngồi tót sỗ sàng,Buồng trong mới đã giục nàng kíp ra

Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng

Ngại ngùng dợn gió e sương,Ngừng hoa bóng thẹn trông gương mặt dày

Mối càng vén tóc bắt tay,Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai

Đắn đo cân sắc cân tài,

Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ

Mặn nồng một vẻ một dưa,Bằng long khách mới tuỳ cơ dặt dìu

Rằng: “Mua ngọc đến Lam Kiều,Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?”

Mối rằng : "Giá đáng nghìn vàng,Dớp nhà nhờ lượng người thương dám nài”

Cò kè bớt một them hai,Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm

Câu 2: Vị trí đoạn trích: Đoạn thơ nằm ở đầu phần thứ hai Gia biến và lưu lạc trong

kết cấu Truyện Kiều, mở đầu kiếp đoạn trường của người con gái họ Vương

Sau khi gia đình Kiều bị tên bán tơ vu oan, Vương Ông và Vương Quan bị bắt giữ, bịđánh đập dã man, nhà cửa bị sai nha lục soát, vơ vét hết của cải Thuý Kiều quyết địnhbán mình để lấy tiền cứu cha và gia đình khỏi tai hoạ Đoạn này nói về việc Mã GiámSinh đến mua Kiều qua mai mối mách bảo

Câu 3: Giá trị nội dung và nghệ thuật.

Trang 29

 Giá trị nội dung: Đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều là một bức tranh hiện thực về

xã hội đồng thời thể hiện tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du trên cả hai phương diện:vừa lên án các thế lực xấu xa, tàn bạo vừa thương cảm, xót xa trước sắc đẹp, tài năng,nhân phẩm của người phụ nữ bị trà đạp

 Giá trị nghệ thuật: Đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều còn cho thấy tài năng nghệthuật của Nguyễn Du: miêu tả nhân vật phản diện bằng ngòi bút hiện thực, khắc hoạtính cách nhân vật qua diện mạo, cử chỉ (khác với nhân vật chính diện bằng bút phápước lệ lý tưởng hoá nhân vật)

Câu 4: Giải nghĩa từ:

- Viễn khách: khách ở xa đến.

- Mã Giám Sinh: Giám Sinh họ Mã Giám Sinh là tên học trò ở Quốc Tử Giám, trường

lớn ở kinh đô thời xưa Giám Sinh cũng có khi chỉ chức giám sinh người ta mua củatriều đình

- Nét buồn như cúc điệu gầy như mai: hai hình ảnh so sánh dùng để tả người con gái

đẹp lúc buồn rầu

- Ép cung cầm nguyệt: ép gảy đàn.

- Thử bài quạt thơ: thử tài làm thơ của Kiều khi yêu cầu nàng đề thơ trên quạt.

Câu 5:

Bút pháp hiện thực miêu tả nhân vật phản diện Mã Giám Sinh hoàn chỉnh cả về diện mạo và tính cách:

a Về diện mạo, cử chỉ:

- Lời nói cộc lốc, vô văn hoá “Hỏi tên rằng… - Hỏi quê rằng…” câu trả lời nhát gừng

không có chủ ngữ, không thèm thưa gửi

- Diện mạo: dù đã ngoài bốn mươi cái tuổi “Quá niên trạc ngoại tứ tuần” mà ngày ấy đã phải lên chức ông - nhưng Mã Giám Sinh vẫn cố tỏ ra trẻ trung để đi cưới vợ “Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” với diện mạo của một gã trai râu cạo “nhẵn nhụi” (từ

“nhẵn nhụi” thường được dùng cho đồ vật hơn là cho người), ăn mặc “bảnh bao”, đỏmdáng, chải chuốt thái quá, có thể nói là diêm dúa, thành lố bịch, giả dối, không có dángcủa một bậc quân tử

- Cảnh thầy tớ nhặng xị, nhâng nháo: “trước thầy sau tớ lao xao” Có lẽ đây đều cùng

một phường buôn người nên thầy tớ không phân minh

- Khi vào nhà, cử chỉ của hắn thật thô lỗ, quen thói “thị của khinh người”: “ghế trên ngồi tót sỗ sàng” Ghế trên là ghế dành cho bậc cao niên, trưởng bối, Mã Giám Sinh đi

hỏi vợ là hàng con cháu mà lại ngồi vào đó, còn với cử chỉ rất nhanh và sỗ sàng “ngồitót” là một từ ngữ rất tượng hình miêu tả hành động vô văn hoá ấy Chi tiết này đã tốcáo Mã Giám Sinh đích thực là một kẻ vô học

b Về bản chất, Mã Giám Sinh là điển hình của bản chất con buôn lưu manh với đặc tính giả dối, bất nhân và vì tiền.

- Giả dối từ lai lịch xuất thân mù mờ Mã Giám Sinh xuất hiện trong vai người có học đimua tì thiếp, tên họ và quê quán đều chẳng mấy rõ ràng: Mã Giám Sinh có thể hiểu làhọc sinh trường Quốc Tử Giám, cũng có thể là chức giám sinh mua được của triều đình,

không rõ hắn thuộc loại nào; quê ở xa “viễn khách” mà lại nói “cũng gần” Như vậy rõ

ràng hắn đã hai lần nói dối để che giấu tung tích và dễ bề lừa gạt Đến tướng mạo, tính

Trang 30

- Sau khi đã đắn đo cân sắc cân tài, ép tài đàn “ép cung cầm nguyệt”, thử tài thơ “thử bài quạt thơ”, bằng lòng vừa ý, hắn mới “tuỳ cơ dắt dìu” Bất nhân trong tâm lý lạnh lùng, vô cảm trước gia cảnh của Kiều và tâm lý mãn nguyện, hợm hĩnh: “Tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong” Lời nói lúc đầu nghe có vẻ văn hoa, lịch sự, biết người biết của: “Rằng mua ngọc đến Lam Kiều – Sinh nghe xin dạy bao nhiêu cho tường?”, nhưng

cũng chỉ được có một câu và sự mua bán vẫn lộ liễu Với con buôn, tiền nong là chuyệnsinh tử nên đến lúc này hắn buộc phải nói nhiều để mặc cả, dìm giá, tìm cách mua hàng

với giá “hời nhất”: “cò kè bớt một thêm hai” đến “giờ lâu” mới “ngã giá” Câu thơ gợi

cảnh kẻ mua, người bán đưa đẩy món hàng, túi tiền được cởi ra, thát vào, nâng lên, đặtxuống Chi tiết mặc cả một cách ti tiện và trắng trợn vừa thể hiện thực chất màn kịch “lễvấn danh” chỉ là cảnh buôn thịt bán người trắng trợn, vừa tố cáo Mã Giám Sinh đích thị

là kẻ buôn người lọc lõi đáng ghê tởm, cái mặt nạ hỏi vợ của hắn lúc đầu đã rơi tuột từlúc nào

 Nhân vật phản diện Mã Giám Sinh được miêu tả bằng ngôn ngữ trực diện, bút pháphiện thực Nguyễn Du kết hợp nghệ thuật kể chuyện với miêu tả ngoại hình, cử chỉ,ngôn ngữ đối thoại để khắc hoạ tính cách nhân vật hoàn hảo cả về diện mạo và tínhcách, rất cụ thể sinh động, mang ý nghĩa khái quát về một hạng người giả dối, vô học,bất nhân trong xã hội

Tất cả làm nổi bật bản chất con buôn lọc lõi của hắn Vì tiền, y sẵn sàng chà đạp lênnhân phẩm con người lương thiện

Câu 6: Hình ảnh đáng tội nghiệp của Thuý Kiều.

- Chỉ với 6 câu thơ, Nguyễn Du đã miêu tả được hình ảnh xót xa, tội nghiệp của Kiều.Đang từ một tiểu thư khuê các, sống yên vui trong cảnh “êm đềm trướng rủ màn che”,lại đang say đắm một tai hoạ ập xuống bất ngờ, tàn khốc, nàng phải bán mình cứu cha,cứu gia đình, bị biến thành một món hàng cho người ta mua bán

- Là người thông minh, nhạy cảm, Kiều cảm nhận được cảnh ngộ éo le tủi nhục và nỗi

đau đớn ê chề của mình: “Nỗi mình thêm tức nỗi nhà - Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng” “Nỗi mình” là nỗi đau phải bán thân, phải lìa bỏ gia đình, phải lìa bỏ tình yêu

với chàng Kim - mối tình tuyệt đẹp hứa hẹn bao hạnh phúc lứa đôi, phải lìa bỏ tuổi

thanh xuân mà không biết sẽ bị tung vào cuộc đời mưa gió ra sao Lại cộng thêm “nỗi nhà” là nỗi tức cho cha mẹ, em út bị vu oan, đánh đập không biết sống chết ra sao, tài

sản bị cướp phá, nhà tan cửa nát Câu thơ đã khái quát được nỗi thương tâm của Kiều.Nàng đau đớn tới mức mỗi bước đi là chân như muốn khuỵu xuống, mấy hàng nước

mắt lã chã tuôn rơi: “thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng” Nàng thấm thía nỗi nhục, nỗi thẹn của mình nên “ngừng hao bóng thẹn trông gương mặt dày” Nàng thấm thía nỗi

nhục, nỗi thẹn của mình nên “ngừng hoa bóng thẹn trông gương mặt này” Con ngườicàng ý thức về phẩm giá bản thân thì càng đau đớn, nhục nhã khi nhân phẩm bị vùi dập,xúc phạm Vừa lo sợ cho tương lai, Kiều vừa thấy mình “dơ dáng dại hình” Tất cả

Trang 31

những nỗi đau ấy khiến Kiều như người mất hồn, trở nên tê dại, thẫn thờ, câm lặng suốtbuổi mua bán

- Hình ảnh Kiều thật tiều tuỵ, hao gầy “Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai” Kiều

giống như cành mai, bông cúc bị sóng gió dập vùi, gầy yếu xác xơ Đằng sau dáng vẻ ấymột tâm trạng tê tái, đau đớn, không nói nên lời

Câu 7: Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du thể hiện qua đoạn trích:

- Tác giả đã tỏ thái độ khinh bỉ, căm phẫn sâu sắc đối với bọn buôn người; tố cáo thựctrạng xã hội xấu xa, lên án thế lực đồng tiền chà đạp lên nhân phẩm, tài sắc con người,làm khuynh đảo cả trật tự xã hội, làm thoái hoá đạo đức con người qua cách tác giảmiêu tả nhân vật Mã Giám Sinh

- Thái độ ấy được bộ lộ qua cách miêu tả nhân vật phản diện bằng ngôn ngữ tả thực,cách dùng từ ngữ mỉa mai, châm biếm, lên án: bộ mặt mày râu nhẵn nhụi cho thấy sựthiếu tự nhiên, râu cạo nhẵn, lông mày tỉa tót rất trai lơ Hai chữ “nhẵn nhụi” gợi cảmgiác về một sự trơ, phẳng lì, bất cận nhân tình Áo quần bảnh bao là áo quần trưng diệncũng thiếu tự nhiên Hai chữ “bảnh bao” thường dùng để khen áo quần trẻ em chứ ítdùng cho người lớn Sự đả kích ngầm càng sâu cay hơn khi một người đã chạc ngoại tứtuần lại tỉa tót công phu, cố tô vẽ cho mình ra dáng trẻ Hành động gật gù tán thưởngmón hàng: “Mặn nồng một vẻ một ưa” chẳng khác gì cử chỉ đê tiện “lẩm nhẩm gật đầu”của Sở Khanh sau này

- Thái độ của Nguyễn Du tố cáo thế lực đồng tiền chà đạp lên con người thể hiện qua lời

nhận xét: “Tiền lưng đã có, việc gì chẳng xong” Lời nhận xét có vẻ khách quan nhưng

chứa đựng trong đó cả sự chua xót lẫn căm phẫn Đồng tiền biến nhan sắc thành mónhàng tủi nhục, biến kẻ táng tận lương thâm thành kẻ mãn nguyện, tự đắc Thế lực đồngtiền cùng với thế lực lưu manh hùa với nhau tàn phá gia đình Kiêu, tàn phá cuộc đờiKiều

- Nguyễn Du còn thể hiện niềm cảm thương sâu sắc trước thực trạng tài sắc con người

bị hạ thấp, bị chà đạp, bị biến thành hàng hoá; cảm thông với nỗi đau của những conngười phải chịu bao nhiêu nghịch cảnh trong xã hội phong kiến bất nhân ngang trái Tácgiả bộc lộ thái độ ấy qua ngòi bút miêu tả ước lệ, nhà thơ như hoá thân vào nhân vật đểnói lên nỗi đau đớn, tủi hổ của Kiều

Đoạn trích"Cảnh ngày xuân"

Câu 1: Chép thuộc "Cảnh ngày xuân":

Ngày xuân con én đưa thoi,Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Cỏ non xanh tận chân trời,Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Thanh minh trong tiết tháng ba,

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh

Gần xa nô nức yến anh,Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

Dập dìu tài tử giai nhânNgựa xe như nước, áo quần như nêm

Ngổn ngang gò đống kéo lên,

Trang 32

Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay

Tà tà bóng ngả về tây,Chị em thơ thẩn dan tay ra về

Bước dần theo ngọn tiểu khê,Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh

Nao nao dòng nước uốn quanh,Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang

Câu 2:

Vị trí: “Cảnh ngày xuân” là đoạn thơ tả cảnh ngày mùa xuân trong tiết Thanh minh và

cảnh du xuân của chị em Kiều, nằm sau đoạn tả tài sắc hai chị em Kiều, trước đoạnKiều gặp nấm mộ Đạm Tiên và gặp Kim Trọng Đoạn trích là bức tranh thiên nhiên, lễhội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng, náo nhiệt

Câu 3: Kết cấu đoạn trích: theo trình tự thời gian của cuộc du xuân.

+ Bốn câu đầu: Khung cảnh ngày xuân

+ Tám câu tiếp: khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh

+ Sáu câu cuối: cảnh chị em Kiều du xuân trở vể

Câu 4: Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật.

Giá trị nội dung của “Cảnh ngày xuân”: là bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp,

trong sáng và lễ hội mùa xuân tưng bừng, náo nhiệt

Giá trị nghệ thuật: sử dụng nhiều hình ảnh đắt giá, sáng tạo; nhiều từ láy miêu tả cảnh

vật và cũng là tâm trạng con người; bút pháp miêu tả giàu chất tạo hình

Câu 5: Giải nghĩa từ ngữ:

- Thanh minh: tiết vào đầu tháng ba, mùa xuân khí trời mát mẻ, trong trẻo, người ta đi

tảo mộ, tức là đi viếng và sửa sang lại phần mộ người thân

- Đạp thanh: dẫm lên cỏ xanh.

- Tài tử giai nhân: trai tài, gái sắc.

- Áo quần như nêm: nói người đi lại đông đúc, chật như nêm.

Câu 6: Thành công trong nghệ thuật miêu tả thiên nhiên:

a Bốn câu thơ đầu: Tác giả miêu tả cảnh vật với vẻ đẹp riêng của mùa xuân.

- Hai câu đầu là hình ảnh khái quát về một ngày xuân tươi đẹp với hình ảnh cánh énchao liệng trên bầu trời thanh bình tràn ngập ánh xuân tươi tắn trong sáng Đồng thời,

nhà thơ cũng ngỏ ý ngày xuân qua nhanh quá nhưng “con én đưa thoi”, chín mươi ngày xuân mà nay “đã ngoài sáu mươi”.

Hai câu thơ tiếp theo mới thực là bức tranh tuyệt mĩ: “Cỏ non xanh tận chân trời

-Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” Đây chỉ là chân dung của cảnh ngày xuân, chỉ

giản đơn có cỏ xanh, hoa trắng mà đủ cảnh, đủ màu, làm hiện lên cả một không gian

mùa xuân kháng đạt Ở đây, Nguyễn Du học tập hai câu thơ cổ Trung Quốc: “Phương thảo liên thiên bích - Lê chi sổ điểm hoa”, nhưng khi đưa vào bài thơ của mình, tác giả

đã rất sáng tạo Câu thơ Trung Quốc dùng hình ảnh “cỏ thơm” (phương thảo) thiên vềmùi vị thì Nguyễn Du thay bằng “cỏ xanh” thiên về màu sắc Đó là màu xanh nhạt phavới vàng chanh tươi tắn hợp với màu lam trong snág của nền trời buổi chiều xuân làmthành gam nền cho bức tranh, trên đó điểm xuyết những đốm trắng hoa lê Bức tranhdung hoà những sắc độ lạnh mà bên trong vẫn rạo rực sức sống tươi mới của mùa xuân.Chữ “trắng” đảo lên trước tạo bất ngờ sự mới mẻ, tinh khôi, thanh khiết như kết tinh

Trang 33

những tinh hoa của trời đất Chữ “điểm” gợi bàn tay người hoạ sĩ vẽ nên thơ nên hoa,bàn tay tạo hoá tô điểm cho cảnh xuân tươi, làm bức tranh trở nên có hồn, sống động

- Hai câu thơ tả cảnh thiên nhiên của Nguyễn Du quả là tuyệt bút! Ngòi bút của Nguyễn

Du tài hoa, giàu chất tạo hình ngôn ngữ biểu cảm, gợi tả Tác giả đã rất thành côngtrong bút pháp nghệ thuật kết hợp giữa tả và gợi Qua đó, ta thấy tâm hồn con ngườitươi vui, phấn chấn qua cái nhìn thiên nhiên trong trẻo, tươi tắn, hồn nhiên, nhạy cảmtha thiết với vẻ đẹp thiên nhiên

b Sáu câu thơ cuối: gợi tả khung cảnh chị em Thuý Kiều du xuân trở về.

- Cảnh vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân: nắng nhạt, khe nước nhỏ, một nhịpcầu bắc ngang nhưng đã nhuốm màu tâm trạng

- Bóng tịch dương đã chênh chếch xế chiều: “Tà tà bóng ngả về đây”, dòng nước uốn

quanh Nhưng đây không chỉ là hoàng hôn của cảnh vật mà dường như con người cũngchìm trong một cảm giác bâng khuâng khó tả Cuộc du ngoạn xuân cảnh đã tàn, lễ hộitưng bừng, náo nhiệt đã chấm dứt, tâm hồn con người như cũng chuyển điệu cùng cảnhvật, bước chân người thơ thẩn Cảnh như nhạt dần, lặng dần, mọi chuyển động đều nhẹnhàng, không gian mang dáng dấp nhỏ nhoi, bé hẹp, phảng phất buồn Tâm trạng conngười có cái bâng khuâng xao xuyến về cuộc du xuân đã tàn, có cả linh cảm về việc gặp

gỡ nấm mộ Đạm Tiên và chàng thư sinh Kim Trọng “phong tư tài mạo tót vời”

- Nghệ thuật: sử dụng nhiều từ láy như nao nao, tà tà, thanh thanh không chỉ biểu đạt

sức thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người, đặc biệt hai chữ “nao nao” thoánggợi nên một nét buồn khó hiểu Hai chữ “thơ thẩn” có sức gợi rất lớn, chị em Kiều ra về

trong sự bần thần, nuối tiếc, lặng buồn “Dan tay” tưởng là vui nhưng thực ra là chia sẻ

cái buồn không nói hết Cảm giá bâng khuâng xao xuyến về một ngày vui xuân đã hé

mở một vẻ đẹp tâm hồn thiếu nữ tha thiết với niềm vui cuộc sống, nhạy cảm và sâulắng Chính các từ này đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật

Đoạn thơ còn hay bởi đã sử dụng bút pháp cổ điển: tả cảnh gắn với tả tình, tả cảnh ngụtình, tình và cảnh tương hợp

Tóm lại:

- Đoạn 4 câu đầu và 6 câu cuối bài “Cảnh ngày xuân”, Nguyễn Du đã vẽ nên bức tranh

thiên nhiên mùa xuân thật đẹp Nhà thơ điểm vài chi tiết, tả cảnh để gợi là chính

- Từ ngữ hình ảnh giàu chất tạo hình

- Thiên nhiên được miêu tả trong những thời gian, thời điểm khác nhau

Câu 7: Cảm nhận về khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh (8 câu giữa)

- Nguyễn Du đã rất tài tình khi tách hai từ Lễ hội ra làm đôi để gợi tả hai hoạt động diễn

ra cùng một lúc: Lễ tảo mộ, Hội đạp thanh

- Không khí lễ hội được gợi tả từ một hệ thống từ ngữ giàu sắc thái biểu cảm:

+ Đoạn thơ sử dụng nhiều tính từ (nô nức, gần xa, ngổn ngang) làm rõ hơn tâm trạngngười đi hội

+ Nhiều danh từ ghép (yến anh, tài tử, giai nhân, chị em, ngựa xe, áo quần) gợi tả sựđông vui tấp nập

+ Và nhiều động từ (sắm sửa, dập dìu) gợi được sự rộn ràng của ngày hội.

- Thông qua buổi du xuân của chị em Thuý Kiều, tác giả khắc học hình ảnh một truyền

thống văn hoá lễ hội xa xưa Cụm từ “nô nức yến anh” là một ẩn dụ gợi lên hình ảnh

từng đoàn nam thanh, nữ tú nô nức đi chơi xuân như những đàn chim én, chim oanh bay

Trang 34

ríu rít Trong lễ hội mùa xuân náo nhiệt nổi bật nghững nam thanh nữ tú, những “tài tửgiai nhân” tay trong tay dạo chơi, niềm vui lễ hội như bao trùm cả nhân gian Những so

sánh rất giản dị “ngựa xe như nước, áo quần như nêm” gợi tả sự đông vui.

- “Lễ là tảo mộ” - lễ thăm viếng, sửa sang, quét tước phần mộ người thân; đốt vàng vó,

sắc tiền giá để tưởng nhớ những người đã khuất “Hội là đạp thanh” – vui chơi chốn

đồng quê, đạp lên những thảm cỏ xanh, là một cuộc sống hiện tại và có thể tìm đếnnhững sợi ta hồng của mai sau “Lễ” là hồi ức và tưởng niệm quá khứ theo truyền thống

“uống nước nhớ nguồn”, “hội” là khát khao và hoài vọng nhìn về phía trước của cuộcđời Lễ và hội trong tiết Thanh minh là một sự giao hoà độc đáo Chứng tỏ nhà thơ rấtyêu quý, trân trọng vẻ đẹp và giá trị truyền thống văn hoá dân tộc

Luyện tập viết đoạn

Bài tập 1: cho 4 câu thơ sau:

Ngày xuân con én đưa thoi,Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Cỏ non xanh tận chân trời,Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

a hình ảnh én đưa thoi trong đoạn trích được hiểu như thế nào?

b Trong 1 bài thơ lớp 9 hình anh thoi cũng được dùng để tả loại vật Em hãy chéplại câu thơ có hình ảnh đó

c Viết 1 đoạn văn khoảng 8-10 câu trình bày cảm nhận của em về bức tranh mùaxuân trong đoạn thơ trên

Gợi ý:

a hình ảnh con én đưa thoi có thể hiểu là:

- hình ảnh những con én chao liệng trên bầu trời Đó là tín hiệu rất quen thuộc củamùa xuân

- Con én chao đi chao lại rất nhanh như chiếc thoi trên khung cửi -> hình ảnh ẩn dụchỉ thời gian của mùa xuân trôi đi rất nhanh

b Trong một bài thơ đã học trong chương trình ngữ văn 9, hình ảnh thoi dùng để tả

loại vật đó là câu: Cá thu biển Đông như đoàn thoi ( Đoàn thuyền đánh cá _ Huy

Trang 35

Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân,

Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung

Bốn bề bát ngát xa trông,Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,Tin sương luống những rày trông mai chờ

Bên trời góc bể bơ vơ,Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

Xót người tựa cửa hôm mai,Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ ?Sân Lai cách mấy nắng mưa,

Có khi gốc tử đã vừa người ôm

Buồn trông cửa bể chiều hôm,Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Buồn trông ngọn nước mới ra

Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông ngọn cỏ rầu rầu,Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

Câu 2 : Vị trí đoạn trích:

Đoạn trích nằm ở phần thứ hai Gia biến và lưu lạc Sau khi bị Mã Giám Sinh lừa gạt,

làm nhục, bị Tú bà mắng nhiếc, Kiều nhất quyết không chịu tiếp khách làng chơi, khôngchịu chấp nhận cuộc sống lầu xanh Đau đớn, phẫn uất, tủi nhục nàng định tự vẫn Tú bà

sợ mất vốn bèn lựa lời khuyên giải, dụ dỗ Kiều Mụ vờ chăm sóc thuốc thang, hứa hẹnkhi nàng bình phục sẽ gả nàng cho người tử tế Tú bà đưa Kiều ra sống riêng ở lầuNgưng Bích, thực chất là giam lỏng nàng để thực hiện âm mưu mới đê tiện hơn, tàn bạohơn

Câu 3 : Kết cấu đoạn trích : 3 phần

+ Sáu câu đầu : hoàn cảnh cô đơn, tội nghiệp của Kiều

+ Tám câu tiếp : nỗi thương nhớ Kim Trọng và thương nhớ cha mẹ của nàng

+ Tám câu cuối : tâm trạng đau buồn, âu lo của Kiều thể hiện qua cách nhìn cảnh vật

Câu 4 : Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích :

Trang 36

Giá trị nội dung "Kiều ở lầu Ngưng Bích": miêu tả chân thực cảnh ngộ cô đơn, buồn tủiđáng thương, nỗi nhớ người thân da diết và tấm lòng thuỷ chung, hiếu thảo vị tha củaThuý Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích

Giá trị nghệ thuật: nghệ thuật miêu tả nội tâm đặc sắc, bút pháp tả cảnh ngụ tình haynhất trong "Truyện Kiều"

Câu 5 : Giải nghĩa từ ngữ:

- Khoá xuân: khoá kín tuổi xuân, ý nói cấm cung (con gái nhà quyền quý ngày xưakhông được ra khỏi phòng); ở đây nói việc Kiều bị giam lỏng

- Tấm son: tấm lòng son, chỉ tấm lòng thuỷ chung gắn bó

- Duyềnh (cũng gọi là doành): vụng (vũng) sông hoặc vụng biển

Câu 6: Hoàn cảnh và tâm trạng của Kiều thể hiện qua 6 câu thơ đầu:

- Kiều ở lầu Ngưng Bích thực chất là bị giam lỏng (khoá xuân).

- Nàng trơ trợi giữa một không gian mênh mông, hoang vắng: “bốn bề bát ngát xa

trông” Cảnh “non xa”, “trăng gần” gợi hình ảnh lầu Ngưng Bích đơn độc, chơi vơi

giữa mênh mông trời nước Từ trên lầu cao nhìn ra chỉ thấy những dãy núi mờ xa,những cồn cát bụi bay mù mịt Cái lầu trơ trọi ấy giam một thân phận trơ trọi, khôngmột bóng hình thân thuộc bầu bạn, không cả bóng người

Hình ảnh “non xa” “trăng gần”, “cát vàng”, “bụi hồng” có thể là cảnh thực mà cũng

có thể là hình ảnh mang tính ước lệ để gợi sự mênh mông, rợn ngợp của không gian,qua đó diễn tả tâm trạng cô đơn của Kiều

- Cụm từ “mây sớm đèn khuya” gợi thời gian tuần hoàn, khép kín Tất cả như giam hãm

con người, như khắc sâu thêm nỗi cô đơn khiến Kiều càng bẽ bàng, chán ngán, buồn tủi

“bẽ bàng mây sớm đèn khuya” sớm và khuya, ngày và đêm, Kiều “thui thủi quê người

một thân” và dồn tới lớp lớp những nỗi niềm chua xót đau thương khiến tấm lòng Kiều như bị chia xẻ: “Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng” Vì vậy, dù cảnh có đẹp đến

mấy, tâm trạng Kiều cũng không thể vui được

Câu 7: Tâm trạng nhớ thương Kim Trọng và thương nhớ cha mẹ của Kiều qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm:

* Kiều nhớ Kim Trọng trước nhớ cha mẹ sau Theo nhiều nhà hủ nho thì như vậy làkhông đúng với truyền thống dân tộc, nhưng thật ra lại là rất hợp lý Kiều bán mình cứucha và em là đã đền đáp được một phần công lao cha mẹ, nên nàng cắn rứt khôn nguôi

* Cùng là nỗi nhớ nhưng cách nhớ khác nhau với những lý do khác nhau nên cách thểhiện cũng khác nhau:

+ Nhớ Kim Trọng: Kiều “tưởng” như thấy lại kỷ niệm thiêng liêng đêm thề nguyện,

đính ước “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng” Cái đêm ấy hình như mới ngày hôm qua Một lần khác nàng nhớ về Kim Trọng cũng là “Nhớ lời nguyện ước ba sinh” Kiều

xót xa hình dung người yêu vẫn chưa biết tin nàng bán mình, vẫn ngày đêm mòn mỏi

chờ trông chốn Liêu Dương xa xôi Nàng nhớ người yêu với tâm trạng đau đớn: “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai” Có lẽ “tấm son” ấy là tấm lòng Kiều son sắt, thuỷ chung,

không nguôi nhớ thương Kim Trọng Cũng có thể là Kiều đang tủi nhục khi tấm lòngson sắt đã bị dập vùi, hoen ố, không biết bao giờ mới gột rửa cho được Trong nỗi nhớchàng Kim có cả nỗi đau đớn vò xé tâm can

+ Nhớ cha mẹ: nàng thấy “xót” khi tưởng tượng, ở chốn quê nhà, cha mẹ nàng vẫn tựa

cửa ngóng chờ tin tức người con gái yêu Nàng xót thương da diết và day dứt khôn

Trang 37

nguôi vì không thể “quạt nồng ấp lạnh”, phụng dưỡng song thân, băn khoăn không biết

hai em có chăm sóc cha mẹ chu đáo hay không Nàng tưởng tượng nơi quê nhà tất cả đã

đổi thay, gốc tử đã vừa người ôm, cha mẹ ngày thêm già yếu Cụm từ “cách mấy nắng mưa” vừa cho thấy sự xa cách bao mùa mưa nắng, vừa gợi được sự tàn phá của thời

gian, của thiên nhiên lên con người và cảnh vật Lần nào nhớ về cha mẹ, Kiều cũng

“nhớ ơn chín chữ cao sâu” và luôn ân hận mình đã phụ công sinh thành, phụ công nuôi

dạy của cha mẹ

* Nỗi nhớ thương của Kiều đã nói lên nhân cách đáng trân trọng của nàng Hoàn cảnhcủa nàng lúc này thật xót xa, đau đớn Nhưng quên đi cảnh ngộ bản thân, nàng đãhướng yêu thương vào những người thân yêu nhất Trái tim nàng thật giàu yêu thươnggiàu đức hi sinh Nàng thật sự là một người tình thuỷ chung, một người con hiếu thảo,một người có tấm lòng vị tha cao cả đáng quý

Câu 8: Bút pháp tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du trong 8 câu cuối “Kiều ở lầu Ngưng Bích”: Nghệ thuật tử cảnh ngụ tình:

- Đoạn thơ này được xem là kiểu mẫu của lối thơ tả cảnh ngụ tình trong văn chương cổđiển Để diễn tả tâm trạng Kiều – Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình

“tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này” để khắc hoạ tâm trọng của Kiều lúc bị giamlỏng ở lầu Ngưng Bích

- Đây là 8 câu thơ thực cảnh mà cũng là tâm cảnh Mỗi biểu hiện của cảnh đồng thời làmột ẩn dụ về tâm trạng của người – mỗi một cảnh lại khơi gợi ở Kiều những nỗi buồnkhác nhau, với những lý do buồn khác nhau trong khi nỗi buồn đã đầy ắp tâm trạng đểrồi tình buồn lại tác động vào cảnh, khiến cảnh mỗi lúc lại buồn hơn, nỗi buồn mỗi lúcmột ghê gớm, mãnh liệt hơn

- Cách sử dụng ngôn ngữ độc thoại, điệp ngữ Bốn bức tranh, bốn nỗi buồn đều được tác

giả khắc hoạ qua điệp từ “buồn trông” đứng đầu mỗi câu có nghĩa là buồn mà trông ra

bốn phía, trông ngóng một cái gì mơ hồ sẽ đến làm thay đổi hiện tại, nhưng trông mà vôvọng “Buồn trông” có cái thảng thốt lo âu, có cái xa lạ bút tầm nhìn, có cả dự cảm hãihùng của người con gái ngây thơ lần đầu lại bước giữa cuộc đời ngang ngược Điệp ngữ

“buồn trông” kết hợp với các hình ảnh đứng sau đã diễn tả nỗi buồn với nhiều sắc độkhác nhau Điệp ngữ lại được kết hợp với các từ láy chủ yếu là những từ láy tượng hình,dồn dập, chỉ có một từ láy tượng thanh ở câu cuối tạo nên nhịp điệu, diễn tả nỗi buồnngày một tăng, dâng lên lớp lớp, nỗi buồn vô vọng, vô tận Điệp ngữ tạo âm hưởng trầmbuồn, trở thành điệp khúc của đoạn thơ cũng là điệp khúc của tâm trạng

Cảch 1: Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.

Một cánh buồm thấp thoáng nơi cửa biển là một hình ảnh rất đắt để thể hiện nội tâmnàng Kiều Một cánh buồm nhỏ nhoi, đơn độc giữa biển nước mênh mông trong ánhsáng le lói cuối cùng của mặt trời sắp tắt; cũng như Kiều trong không gian vắng lặngcủa hiện tại nhìn về phương xa với nỗi buồn nhớ da diết về gia đình, quê hương Conthuyền gần như mất hút, vẫn còn lênh đênh giữa dòng đời, biết bao giờ mới được trở vềsum họp, đoàn tụ với những người thân yêu

Cảnh 2: Buồn trông ngọn nước mới ra,

Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Trang 38

Những cánh hoa tàn lụi trôi man mác trên ngọn nước mới xa khi Kiều càng buồn hơnbởi nàng như nhìn thấy trong đó thân phận mình lênh đênh, vô định, ba chìm bảy nổigiữa sóng nước cuộc đời, không biết rồi sẽ trôi dạt đi đâu, sẽ bị dập vùi ra sao

Cảnh 3: Buồn trông ngọn cỏ rầu rầu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Nội cỏ "rầu rầu", "xanh xanh" - sắc xanh héo úa, mù mịt, nhạt nhoà trải dài từ chân mâyđến mặt đất, còn đâu cái "xanh tận chân trời" như sác cỏ trong tiết Thanh minh khi Kiềucòn trong cảnh đầm ấm Màu xanh này gợi cho Kiều một nỗi chán ngán, vô vọng vìcuộc sống cô quạnh và những chuỗi ngày vô vị, tẻ nhạt không biết kéo dài đến bao giờ

Cảnh 4: Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Dường như nỗi buồn càng lúc càng tăng, càng dồn dập Một cơn "gió cuốn mặt duềnh"làm cho tiếng sóng bỗng nổi lên ầm ầm như vây quanh ghế Kiều ngồi Cái âm thanh

"ầm ầm tiếng sóng" ấy chính là âm thanh dữ dội của cuộc đời phong ba bão táp đã, đang

ập đổ xuống đời nàng và còn tiếp tục đè nặng lên kiếp người nhỏ bé ấy trong xã hộiphong kiến cổ hủ, bất công Tất cả là đợt sóng đang gầm thét, rì rào trong lòng nàng.Lúc này Kiều không chỉ buồn mà còn lo sợ, kinh hãi như rơi dần vào vực thẳm mộtcách bất lực Nỗi buồn ấy đã dâng đến tột đỉnh, khiến Kiều thực sự tuyệt vọng Thiênnhiên chân thực, sinh động nhưng cũng rất ảo Đó là cảnh được nhìn qua tâm trạng theo

quy luật "Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu - Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ".

- Cảnh được miêu tả từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động

để diễn đạt nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ, dồn đến bão táp nội tâmcực điểm của cảm xúc trong lòng Kiều Tờt cả là hình ảnh về sự vô định, mong manh,

sự dạt trôi bế tắc, sự chao đảo, nghiêng đổ dữ dội Lúc này Kiều trở nên tuyệt vọng, yếuđuối nhất Cũng vì thế mà nàng đã mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào cuộc đời

"thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần".

Tóm lại:

Cảnh thiên nhiên là cái cớ để tác giả bộc lộ cảm xúc của mình

Trang 39

TRUYỆN LỤC VÂN TIÊN

Nguyễn Đình Chiểu

A KIẾN THỨC CƠ BẢN:

I Giới thiệu tác giả: Nguyễn Đình Chiểu

- Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) sinh tại Tân Thới - Gia Định

- Có một cuộc đời đầy bất hạnh: mù loà, công danh không thành, tình duyên trắc trở,gặp buổi loạn li

- Vẫn ngẩng cao đầu mà sống, sống có ích cho đến hơi thở cuối cùng

- Là một thầy giáo danh tiếng vang khắp miền Lục Tỉnh

- Là một thầy thuốc không tiếc sức cứu nhân độ thế

- Là một nhà thơ để lại bao trang thơ bất hủ: Lục Vân Tiên, Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩCần Giuộc

- Luôn nêu cao lòng yêu nước, tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm

=> Một nhân cách lớn khiến “kẻ thù cũng phải kính nể”

II Tìm hiểu về thể loại và kết cấu đoạn trích

1 Hoàn cảnh sáng tác: khoảng đầu thập kỷ 50 của thế kỷ 19 (1850)

2 Thể loại: Truyện thơ Nôm – 2082 câu thơ lục bát.

Mang tính chất để kể nhiều hơn để đọc, để xem nên chú trọng đến hành động của nhânvật hơn là miêu tả nội tâm, tính cách nhân vật cũng được bộc lộ chủ yếu qua việc làm,lời nói, cử chỉ

3 Kết cấu: theo kiểu truyền thống của loại truyện phương Đông, nghĩa là theo từng

chương hồi, xoay quanh cuộc đời các nhân vật chính

Kiểu kết cấu ước lệ: Người tốt thường gặp nhiều gian truân, trắc trở trên đường đời, bị

kẻ xấu hãm hại nhưng vẫn được phù trợ, cưu mang để rồi cuối cùng tai qua nạn khỏi,được đền trả xứng đáng Kẻ xấu bị trừng trị

Với mục đích truyện truyền đạo đức thì kiểu kết cấu đó vừa phản ánh chân thực cuộcđời đầy rẫy bất công, vừa nói lên khát vọng ngàn đời của nhân dân ta: ở hiền gặp lành,cái thiện bao giờ cũng chiến thắng cái ác, chính nghĩa thắng gian tà

4 Mục đích:

* Truyện được viết ra nhằm mục đích trực tiếp là truyền dạy đạo lý làm người

* Tác phẩm đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, cho nên ngay từ khi mới ra đời đãđược nhân dân nam bộ tiếp nhận nồng nhiệt, được lưu truyền rộng rãi, có sức sốngmạnh mẽ, lâu bền trong lòng dân

5 Tóm tắt: SGK/113

6 Giá trị của tác phẩm:

a Giá trị nội dung:

* Giá trị hiện thực: Vạch trần cái ác, cái xấu trong xã hội Chửi thói gian ác, bất công,chửi những kẻ tráo trở, bội bạc, phản phúc như cha con Võ Công, chửi những kẻ bấtnghĩa, bất nhân như Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, chửi bọn người làm ăn bất lương chuyênnghề lừa bịp, bóp nặn nhân dân (bọn thầy bói, thầy pháp, bọn lang băm)

* Giá trị nhân đạo: Đề cao đạo lý làm người:

- Xem trọng tình nghĩa giữa con người với con người trong xã hội: tình cha con, mẹcon, nghĩa vợ chồng, tình bè bạn, tình yêu thương cưu mang những người gặp cơn hoạnnạn

Trang 40

- Đề cao tinh thần nghĩa hiệp, sẵn sàng cứu khổ phò nguy

- Thể hiện khát vọng của nhân dân hướng tới lẽ công bằng và những điều tốt đẹp trongcuộc đời (kết thúc có hậu của truyện; thiện thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà)

“Lục Vân Tiên là một tiếng chửi, một lời ca, một ước mơ” – Hoài Thanh.

b Giá trị nghệ thuật:

- Lục Vân Tiên là một truyện thơ Nôm mang tính chất là một truyện kể dân gian: chú ýđến cốt truyện, còn nhân vật chủ yếu thể hiện bằng hành động hơn là miêu tả nội tâm.Nhân vật của Nguyễn Đình Chiểu còn là hoá thân cho lý tưởng hoặc thái độ yêu ghétcủa ông

- Truyện mang màu sắc Nam Bộ cả về tính cách con người, cả về ngôn ngữ địa phương

Ngày đăng: 29/03/2021, 07:51

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w