1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ẩn dụ tri nhận trong ca từ trịnh công sơn tóm tắt

26 414 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 462,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngôn ngữ học tri nhận cho rằng ẩn dụ là một công cụ tri nhận hữu hiệu để con người ý niệm hoá các khái niệm trừu tượng, là hình thái tư duy của con người về thế giới.. Các nghiên cứu tro

Trang 1

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI VIỆT

NAM ười ướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Việt Hùng

Vào hồi giờ ngày tháng năm 201

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thƣ viện Quốc gia Việt Nam

- Thƣ viện Học viện Khoa học xã hội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Ẩn dụ được tu từ học xem là cách thức chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có sự tương đồng hay giống nhau

Cơ chế của ẩn dụ tạo ra sự chuyển đổi nghĩa phổ biến nhất trong tất cả các ngôn ngữ So sánh ngầm là quy trình cơ bản để hiểu ẩn dụ

1.2 Ngôn ngữ học tri nhận cho rằng ẩn dụ là một công cụ tri nhận hữu hiệu để con người ý niệm hoá các khái niệm trừu tượng, là hình thái tư duy của con người về thế giới Tư duy ẩn dụ dựa trên cơ sở các ý niệm Ẩn dụ

là một cơ chế tri nhận mà nhờ đó, những tri giác liên tục, tương tự đã trải qua quá trình phạm trù hóa được đánh giá lại trong những bối cảnh ý niệm mới Ẩn dụ tri nhận hướng tới khả năng tác động vào lĩnh vực trí tuệ của con người Tiếp cận ngôn ngữ theo hướng ngôn ngữ học tri nhận đang là một hướng đi mới được nhiều nhà ngôn ngữ học hiện nay quan tâm ủng hộ 1.3 Trịnh Công Sơn là một hiện tượng đặc biệt trong đời sống m nhạc Việt Nam Việc tìm hiểu giá trị ca từ Trịnh Công Sơn đang là vấn

đề được nhiều nhà nghiên cứu quan t m, đặc biệt là soi chiếu ca từ dưới góc độ ngôn ngữ Đã có rất nhiều sách báo viết về người nhạc sĩ tài hoa này, song rất t công trình nghiên cứu nhạc Trịnh dưới góc độ ngôn ngữ Tiếp cận ca từ nhạc Trịnh dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận là hoảng trống v n c n bỏ ngỏ

Lựa chọn đề tài luận án " r r r

Sơ ", tác giả mong muốn khỏa lấp “ hoảng trống” đó

2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Nghiên cứu về ẩn d t góc nhìn của ngôn ngữ học tri nh n

2.1.1 Các nghiên cứu ở ngoài nước

Nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận đã bắt đầu từ những thập kỷ

80 của thế kỷ XX, với những tên tuổi của G Lakoff, M Johnson, G Fauconnier, Ch Fillmore, R Jackendoff, R Langacker, E Rosch, L Talmy, M Turner, A Wierzbicka, Yu Stepanov, Yu Apresian, W Chafe, M Minsky,…

Từ cuối những năm 70 (thế kỉ XX), Lakoff bắt đầu phát triển lý thuyết về ẩn dụ tri nhận Trong những năm qua, lý thuyết của phép ẩn dụ

đã phát triển đáng ể Ban đầu, xu hướng của các nghiên cứu đều cho rằng phép ẩn dụ ý niệm chủ yếu được căn cứ vào kinh nghiệm thân thể Năm

1980, La off và Kovecses đã cho thấy những ẩn dụ cảm xúc xuất hiện trong ngôn ngữ và đều xuất phát từ cơ sở văn hóa, cơ sở sinh lý học của con người (La off 1987; Kovecses năm 1986, 1990) Đến đầu những năm 1990,

ẩn dụ ý niệm được chứng minh không chỉ nằm ở lĩnh vực thời gian, mà còn

Trang 4

ở trong các lĩnh vực như sự kiện, nhân quả, đạo đức Đến năm 1997, nghiên cứu ẩn dụ ý niệm được gắn với các lý thuyết thần kinh (Joseph Grady (1997), Christopher Johnson (1997) Năm 2002, Gilles Fauconnier

và Mar Turner đã phát triển một lý thuyết về không gian pha trộn, là một kiểu không gian tinh thần tưởng tượng kết hợp với lý thuyết thần kinh của ngôn ngữ, trong đó, các ánh xạ ẩn dụ được thực hiện trên cơ sở vật lý giống như một bản đồ thần inh, như thế, chúng tạo thành các cơ chế thần kinh tự nhiên trong các suy luận ẩn dụ

2.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Ở trong nước, nghiên cứu được xem là sớm nhất về huynh hướng tri nhận có thể ể đến Nguyễn Lai (1990) về quá trình phát triển ngữ nghĩa của các từ chỉ hướng RA VÀO, LÊN XUỐNG, ĐẾN TỚI, LẠI

QUA, SANG VỀ; Nguyễn Đức Tồn trong (2002) đã dùng thuật ngữ tri

giác hi bàn đến ẩn dụ với cách tiếp cận và hiểu về bản chất của ẩn dụ

như là một kiểu “tư duy phạm trù”, trong đó, qua đặc điểm dân tộc của việc định danh trong ngôn ngữ, tác giả đã bước đầu khẳng định mỗi dân tộc có cách tri giác, định danh riêng của mình về bức tranh ngôn ngữ thế giới khách quan

Người đầu tiên giới thiệu ngôn ngữ học tri nhận vào Việt Nam một cách có hệ thống với khung lý thuyết cụ thể là tác giả Lý Toàn Thắng (2005), tác giả chủ yếu nghiên cứu về cách thức tri nhận không gian và thời gian trong ngôn ngữ Năm 2007, Phan Thế Hưng đã trình bày quan niệm mới của mình về ẩn dụ trên cơ sở phủ nhận d ng quan điểm so sánh trong ẩn dụ Trần Văn Cơ (2009) giới thiệu hái luận về ẩn dụ tri nhận; Nguyễn Đức Dân (2001), (2009), Nguyễn Văn Hiệp (2012) tiếp nối nghiên cứu về các từ chỉ hướng hông gian trong ngôn ngữ dưới góc độ tri nhận; Nguyễn Hòa (2007), Nguyễn Văn Hán (2011) nghiên cứu về các ẩn dụ thời gian và cách thức ý niệm hóa thời gian trong ngôn ngữ; các tác giả Phan Thế Hưng (2009), Ly Lan (2012), Trần Bá Tiến (2012), Vi Trường

Ph c (2013) nghiên cứu về các ẩn dụ ý niệm cảm xúc, các ẩn dụ chỉ tình

cảm của con người; Trần Thị Phương Lý (2012), Lý Toàn Thắng (2012)

nghiên cứu về ẩn dụ thực vật; Võ Kim Hà (2011), Trịnh Thị Thanh Huệ

(2012) nghiên cứu ẩn dụ tri nhận các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể con người; Lê Thị Ánh Hiền (2009), Nguyễn Thị Thanh Huyền (2009), Võ Thị Dung (2012), Nguyễn Thị Thùy (2013), Nguyễn Thị Kim Thoa (2013) nghiên cứu vai trò của ẩn dụ tri nhận trong sự hành chức cụ thể qua các tác phẩm văn;

Lê Thị Kiều Vân (2011) nghiên cứu ẩn dụ ý niệm thông qua các từ khóa với tư cách như một mã văn hóa trong ngôn ngữ của dân tộc; Hà Thanh Hải (2011) tiếp cận ẩn dụ tri nhận trên các diễn ngôn kinh tế, …

Tóm lại, cũng giống như các bộ môn có tính chất liên ngành ở Việt

Trang 5

Nam, những vấn đề về ngôn ngữ học tri nhận nói chung và lý thuyết ẩn

dụ ý niệm nói riêng trong mấy năm qua đã thu h t sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tuy nhiên, ẩn dụ ý niệm xét trong sự hành chức trong các tác phẩm âm nhạc, đặc biệt là thể hiện trong các văn bản ca từ là lĩnh vực

v n còn bỏ ngỏ, cần được quan tâm khai thác, nghiên cứu

2.2 Các nghiên cứu về Tr Sơ

Hiện trong và ngoài nước đã có gần 20 cuốn sách viết về cuộc đời và

sự nghiệp âm nhạc của Trịnh Công Sơn, rất ít trong số đó nghiên cứu ca từ dưới góc độ ngôn ngữ, càng hiếm có những bài viết nghiên cứu về ẩn dụ tri nhận dù chỉ là đề cập đến một cách đơn lẻ: Bửu Ý (2003) đã đưa ra những đặc điểm của ngôn ngữ nhạc Trịnh; Lê Hữu (2004) nhận xét về cái mới và các kết hợp độc đáo trong ngôn ngữ Trịnh; Cao Huy Thuần (2004) phân tích các cặp đối nghịch - nét riêng biệt độc đáo trong tư duy ngôn ngữ nhạc Trịnh; Trần Hữu Thục phân tích về giá trị của những từ ngữ được lặp đi lặp lại nhiều lần với tư cách là hình tượng trong ca từ nhạc Trịnh; Bùi Vĩnh Ph c (2008) đưa ra những ám ảnh nghệ thuật chi phối thế giới vô thức, làm nên “huyền thoại cá nh n” của tác giả và phân tích một

số không gian nghệ thuật trong ca từ Trịnh Công Sơn, trong đó tác giả có lưu ý đến một số thủ pháp tu từ như ẩn dụ, nhân hoá, hoán dụ, và các kết hợp từ lạ Nguyễn Thị Bích Hạnh (2009), (2011) nghiên cứu về hệ thống các biểu tượng ngôn ngữ trong ca từ nhạc Trịnh, khai thác các cấp độ phái sinh của biểu tượng, trên cơ sở ý nghĩa bản thể của các m u gốc, tìm ra các lớp nghĩa biểu trưng cho các biểu tượng gốc và biểu tượng phái sinh trong ca từ Trịnh Công Sơn

Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu mang tính chất chuyên

đề về ca từ nhạc Trịnh như của Nguyễn Thị Thanh Thúy (2006), Lê Thị Thu Hiền (2007), Nguyễn Thị Huyền (2008), Nguyễn Thị Loan (2009), Nguyễn Thị Hồng Sanh (2009), Lê Si Na (2009), Nguyễn Thùy Dung (2011),… Luận văn đầu tiên nghiên cứu ca từ Trịnh Công Sơn dưới góc

độ Ngôn ngữ học tri nhận là của Nguyễn Thị Thanh Huyền (2009) với đề

tài “Ẩn dụ tri nhận - Mô hình ẩn dụ cấu trúc trên cứ liệu ca từ Trịnh Công

Sơn” Trong luận văn này, tác giả tập trung khai thác 2 mô hình ẩn dụ cấu

tr c cơ sở: “Cuộc đời là đoá hoa vô thường” và “Cuộc đời là một cõi đi

về”, tuy nhiên, tác giả chủ yếu dừng lại ở việc liệt kê ngữ liệu, phần lý

giải quy luật ánh xạ còn hết sức sơ sài, mờ nhạt

Cần tiếp tục nghiên cứu s u hơn dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu ca từ Trịnh Công Sơn để góp phần làm sáng tỏ thế giới tinh thần của nhạc sĩ, hám phá các vỉa tầng sâu kín trong thế giới vô thức và làm sáng tỏ tính khác biệt về văn hoá trong ngôn từ của nhạc sĩ

Trang 6

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đố ượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các mô hình ẩn dụ tri nhận

trong ca từ Trịnh Công Sơn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Do dung lượng luận án có hạn, luận án chỉ dừng lại ở việc khảo sát

ẩn dụ cấu trúc và ẩn dụ định hướng trong ca từ Trịnh Công Sơn Việc

phân tích và lý giải các mô hình ẩn dụ bản thể trong khối liệu ca từ này sẽ được dành riêng trong một nghiên cứu khác

4 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

4.1 M c đí ê ứu

Luận án dùng lý thuyết về ngôn ngữ học tri nhận để lý giải những

mô hình ẩn dụ tri nhận trên cứ liệu ca từ Trịnh Công Sơn Dưới góc nhìn

của ngôn ngữ học tri nhận, các mô hình ẩn dụ được khai thác, giải mã dựa trên kinh nghiệm thân thể, trải nghiệm sinh học, các cơ chế thần inh và phản xạ hành vi, các mô hình văn hóa và các tri thức nền mang đặc trưng

t m lý, tư duy tộc người; bên cạnh đó những ước định về văn hoá, tôn giáo và những định chế về tư duy t m linh con người cũng được vận dụng

để suy nghiệm các ẩn dụ Trên cơ sở phân tích các mô hình ẩn dụ, so sánh,

đối chiếu trong các miền văn hoá hác nhau, từ đó có thể làm sáng tỏ tính

khác biệt về văn hoá trong ngôn từ của nhạc sĩ, đặt trong tương quan giữa cái mang tính phổ quát toàn nhân loại với cái đặc thù mang tính dị biệt

của từng dân tộc

4.2 Nhiệm v nghiên cứu

(1) Lý giải các ẩn dụ tri nhận cơ sở và các ẩn dụ phái sinh trong ca từ Trịnh Công Sơn;

(2) Phân tích mối quan hệ tương hợp giữa các lược đồ ẩn dụ tri nhận dựa trên các mô hình văn hoá, mối tương quan giữa các sơ đồ hình ảnh dựa trên lý

thuyết hình và nền; t nh tương hoà văn hoá trong cách tri nhận thế giới phản

chiếu vào trong ngôn ngữ;

(3) Làm rõ các cơ chế ánh xạ giữa miền nguồn và đ ch, các quan hệ gán ghép giữa các thuộc t nh đặc trưng của hai miền này

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thống kê, ph n loại; phương pháp miêu tả; phương pháp ph n t ch ngữ nghĩa; phương pháp liên văn bản; phương pháp xếp chồng văn bản; luận

án ết hợp sử dụng thủ pháp so sánh văn hóa

6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

1 Về lí thuyết

Trang 7

Luận án sẽ góp phần th c đẩy việc nghiên cứu khuynh hướng lý thuyết về ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam, góp phần chứng minh ẩn dụ tri nhận không chỉ là hình thái tu từ của thi ca mà còn là vấn đề của tư duy,

là một cơ chế cực kỳ quan trọng để con người nhận thức thế giới

2 Về thực tiễn

Thông qua những phương pháp và thao tác cụ thể, luận án đã dùng các mô hình ý niệm của ngôn ngữ học tri nhận để lý giải các thao tác tư duy, các lược đồ tư duy trong ca từ Trịnh Công Sơn – điều tạo nên tính khác biệt trong kết hợp và sử dụng ngôn ngữ, làm nên phong cách cá nhân của nhạc sĩ

Luận án nỗ lực gắn phân tâm học và đưa các triết đề của triết Hiện sinh phương T y vào lý giải các mô hình ý niệm để nghiên cứu những mạng lưới liên tưởng trong ngôn ngữ và hình ảnh được thể hiện trong thế giới nhạc ngữ của Trịnh Công Sơn Điều đó sẽ giúp ta khám phá ra những

ám ảnh mà nhạc sĩ luôn ôm ấp trong đời sống cũng như trong những giấc

mơ giữa đời thường của mình Tất cả những ám ảnh này làm nên con người

vô thức của tác giả, làm nên “huyền thoại cá nh n” của nghệ sĩ

Kết quả nghiên cứu của luận án ngoài ý nghĩa gi p người đọc, người nghe hiểu sâu sắc hơn về m nhạc và con người của Trịnh Công Sơn, c n

có thể ứng dụng vào việc giảng dạy trong lĩnh vực phong cách học, phong cách sáng tác ca từ

7 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

Luận án được chia thành ba chương (ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục những công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục): Chương 1: Cơ sở lí luận; Chương 2: Ẩn dụ cấu tr c trong ca từ Trịnh Công Sơn; Chương 3: Ẩn dụ định hướng trong ca từ Trịnh Công Sơn

ươ 1

SỞ LÍ LU N 1.1 n dụ

1.1.1 n d e qu đ ểm truyền thống

Trong các nghiên cứu về ẩn dụ ở trong và ngoài nước, cho đến nay,

ẩn dụ thường được coi là phép hay cách thức chuyển đổi tên gọi dựa trên

sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có sự tương đồng hay giống nhau Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đều cho rằng, cơ sở tạo thành ẩn dụ là dựa vào sự tương đồng giữa hai sự vật (Đỗ Hữu Châu, 1962; Nguyễn Thiện Giáp, 1998; Nguyễn Đức Tồn, 2007)

1.1 e qu đ ể ủ ữ ọ r

Khác với quan điểm truyền thống, Lakoff và Johnson (1980, 1999)

Trang 8

lại nhìn nhận và nghiên cứu ẩn dụ thông qua các lĩnh vực kinh nghiệm và cho rằng ẩn dụ là hiện tượng tri nhận hơn là một hiện tượng ngôn ngữ Ẩn

dụ là một cơ chế nhận thức mà thông qua nó, logic của những khái niệm

có tính trừu tượng được thay bằng logic của những khái niệm có tính cụ thể hơn Nó là cơ chế quan trọng mà thông qua đó, chúng ta có thể thực hiện những lập luận phức tạp Cơ chế tri nhận của ẩn dụ bao gồm hai miền nguồn và đ ch tồn tại tiền giả định trong ý thức của con người, trong

đó những thuộc tính của miền nguồn được ánh xạ, phóng chiếu lên miền

đ ch, cả hai miền nguồn và đ ch đều là những ý niệm, được cấu trúc hoá theo mô hình trường-chức năng: trung t m-ngoại vi, trong đó hạt nhân là

khái niệm nằm ở trung tâm, mang tính phổ quát toàn nhân loại, và ngoại

vi là những yếu tố ngôn ngữ, văn hoá d n tộc, nằm trong một “ hung”

hay “nền” văn hoá nhất định mang t nh đặc thù Ẩn dụ gắn liền với đặc trưng văn hóa tinh thần của người bản ngữ

1 i iệ v t u t i qu ụ iệ

1.2.1 Mô hình tri nh và ì vă ó

Trong quá trình tri nhận, các lược đồ ý niệm tổ chức kiến thức của chúng ta, chúng tạo ra những mô hình tri nhận về một lĩnh vực nào đó của thế giới Các mô hình tri nhận không phải là những mô hình của ý thức, chúng thuộc về tiềm thức và được sử dụng một cách máy móc và dễ dàng, được vận dụng một cách vô thức và tự động, được suy ra từ những ánh xạ

ẩn dụ, được hiểu bằng chính những trải nghiệm trực tiếp của chúng ta về thế giới thực hữu và thông qua nền văn hóa của ch nh mình Con người tích lũy mô hình tri nhận bằng hai con đường cơ bản: bằng kinh nghiệm trực tiếp và thông qua tri thức văn hóa

1.2.2 Ý niệm và sự ý niệm hóa

Các mô hình tri nhận được cấu thành bởi các ý niệm Các ý niệm nảy sinh trong quá trình cấu trúc hóa thông tin về một sự tình khách quan trong thế giới, nó có cấu trúc nội tại bao gồm một mặt là nội dung thông tin về thế giới hiện thực và thế giới tưởng tượng, mang những nét phổ quát; mặt khác, bao gồm tất cả những gì làm cho nó trở thành sự kiện của văn hóa, chứa đựng những nét đặc trưng văn hóa - dân tộc Các quá trình tinh thần có trong

sự ý niệm hóa/ngôn giải còn được gọi là các “thao tác tinh thần”

Sự phân cắt thế giới thành từng mảnh (ý niệm) từ cách nhìn thế giới

khác nhau của con người được gọi là sự ý niệm hóa thế giới, từ đó hình thành nên bức tranh ý niệm về thế giới, được thể hiện ra trong ngôn ngữ tạo nên bức tranh ngôn ngữ về thế giới

1.2.3 Tính nghiệm thân

Trải nghiệm của con người với thế giới xung quanh tạo nên ý nghĩa và

Trang 9

quyết định phương thức con người hiểu biết thế giới, quá trình phạm trù, ý niệm, suy lý và t m tr của con người ch nh là được hình thành trên cơ sở trải nghiệm mang t nh tương tác giữa các cá thể với môi trường vật lý và xã hội Con người thông qua trải nghiệm tương tác với thế giới hiện thực mà hình thành những lược đồ hình ảnh cơ bản, tức hình thành những mô hình tri nhận, và dựa vào đó để tiến hành phạm trù hóa, x y dựng nên các ý niệm Trải nghiệm của thân thể vừa kích hoạt, vừa đặt cơ sở tạo thành ẩn dụ

1.2.4 Lượ đồ hình ảnh

Lược đồ hình ảnh ch nh là những mô thức xuất hiện lặp đi lặp lại trong hoạt động inh nghiệm của con người, là mô thức tổ chức inh nghiệm của con người Việc hình thành các lược đồ hông phải là dựa trên

sự tương tự mà có cơ sở từ các tương quan inh nghiệm Ẩn dụ chỉ phản ánh một phần, nghĩa là chỉ một số bình diện của miền nguồn được chiếu

xạ sang miền đ ch chứ hông chiếu xạ toàn bộ thuộc t nh sang miền đ ch

Ẩn dụ ý niệm có t nh đơn tuyến, tức là ánh xạ được cấu trúc từ miền nguồn sang miền đ ch nhưng hông có chiều ngược lại

1.2.5 ề r ẩ ệ

Trong ẩn dụ ý niệm, những miền nguồn thông dụng thường xuất hiện như: cơ thể con người; sức khỏe và bệnh tật; động vật; thực vật; nhà cửa và xây dựng; máy móc và công cụ; tr chơi và thể thao; tiền bạc và giao dịch kinh tế; nấu ăn và thực phẩm; nóng và lạnh; ánh sáng và bóng tối; lực và sức mạnh; chuyển động và chiều hướng,… Các miền đ ch thông dụng thường được nhắc đến như: cảm xúc; ham muốn; đạo đức; tư duy; xã hội; quốc gia; chính trị; kinh tế; quan hệ con người; giao tiếp; sự sống và cái chết; sự kiện và hành động,… sự chiếu xạ giữa hai miền không gian này luôn tuân theo nguyên tắc bất biến

1.2.6 Cấp độ của ẩn d

Ẩn dụ gồm hai cấp độ: ẩn dụ cơ sở (primarymetaphor) và ẩn dụ phức hợp (complex metaphor) Ẩn dụ cơ sở xuất phát từ những trải nghiệm mang tính chủ quan của con người, phần lớn là vô thức và mang tính phổ quát Mỗi ẩn dụ cơ sở có một cấu trúc tối thiểu, xuất hiện tự nhiên thông qua kinh nghiệm hàng ngày theo nguyên lý đồng nhất Ẩn dụ phức hợp được hình thành bởi sự kết hợp ý niệm

1.2.7 Sự ươ ợp trong ẩn d

Đôi hi các ẩn dụ liên kết với nhau không chỉ bởi vì chúng là những trường hợp đặc biệt của một ẩn dụ hái quát hơn nào đó, hay bởi vì chúng ánh xạ thành một cấu tr c đ ch, mà c n do ch ng có cùng một cơ sở nền trong những trải nghiệm hàng ngày hay cùng một kiến thức thông thường chung như nhau Lakoff (1994) cho rằng các ẩn dụ ý niệm cũng liên quan với nhau theo một hệ thống để tạo thành một cấu trúc tôn ti trật tự các ý

Trang 10

niệm, các sơ đồ ánh xạ ẩn dụ không diễn ra biệt lập với nhau, đôi lúc chúng tổ chức thành các cấu tr c tôn ti trong đó sơ đồ ánh xạ “thấp hơn” lại được thừa hưởng các cấu trúc thuộc sơ đồ ánh xạ “cao hơn”

1.3 Phân loại n dụ iệ

1.3.1 n d cấu trúc

Ẩn dụ cấu trúc là loại ẩn dụ hi nghĩa (hoặc giá trị) của một từ (hay một biểu thức) này được hiểu (được đánh giá) thông qua cấu trúc của một

từ (hoặc một biểu thức khác) Sự hiểu biết này diễn ra thông qua các ánh

xạ lược đồ ý niệm giữa các yếu tố của miền nguồn và đ ch

1.3.2 n d bản thể

Ẩn dụ bản thể quy những trải nghiệm vốn không thể phác họa rõ ràng, hoặc có t nh mơ hồ, trừu tượng của chúng ta về những trạng thái cơ bản dưới dạng thức sự vật, chất liệu,… phục vụ cho những mục đ ch rất đa dạng Điều đó cho phép ch ng ta nói về những hiện tượng trừu tượng như

là những vật thể cụ thể nhờ vào năng lực vật thể hóa của tri giác chúng ta

1.3.3 n d đ ướng

Ẩn dụ định hướng không cấu trúc ý niệm thông qua một ý niệm khác

mà tổ chức cả một hệ thống ý niệm trong mối tương quan với nhau Hầu hết ẩn dụ định hướng liên quan đến định vị hông gian với những iểu đối lập như: lên-xuống, trong-ngoài, trước-sau, hoạt động-nghỉ, sâu-cạn, trung tâm-ngoại biên,… Ẩn dụ định hướng hông mang t nh võ đoán mà

có cơ sở kinh nghiệm lý t nh và văn hóa

Tiểu k t ươ 1

Ẩn dụ tri nhận được tư duy trên cơ sở các ý niệm Ý niệm có tính nghiệm thân và chịu tác động của hiệu ứng điển dạng và các mô hình văn hóa Ý niệm không chỉ mang tính phổ quát mà c n mang t nh đặc thù văn hóa-dân tộc Cơ chế của ẩn dụ ý niệm tu n theo cơ chế ánh xạ kiểu lược đồ giữa hai miền không gian Ánh xạ ẩn dụ có tính chất bộ phận vô thức và đơn tuyến Các mô hình tri nhận nhấn mạnh vào bản chất tinh thần, kinh nghiệm tri giác và nhận thức khoa học của con người Trải nghiệm của thân thể vừa kích hoạt, vừa đặt cơ sở tạo thành ẩn dụ

ươ

Ừ 2.1 n dụ tri nhân Ờ Ỏ

Ẩn dụ này phản ánh cơ chế quan trọng của nhạc sĩ hi nhận thức về thế giới con người dựa trên ý niệm về các loài cây cỏ Cơ chế của ý niệm gồm miền nguồn là “c y cỏ” ánh xạ lên miền đ ch là “con người” Các thuộc tính và tri thức về “c y cỏ” được ánh xạ, sao phỏng, gán ghép cho

Trang 11

(cây cỏ) đến miền đ ch (con người) (xem hình 2.1).

Hình 2.1 Khung tri nh ỜI LÀ CÂY CỎ

Trong ca từ Trịnh Công Sơn, hi chiếu xạ các thuộc tính của cây cỏ lên con người, nhạc sĩ đã lựa chọn những thuộc tính từ miền nguồn để ánh xạ lên miền đ ch như: chu ỳ v ng đời của cây ánh xạ thành chu kỳ v ng đời người; các giai đoạn sinh trưởng của đời cây ánh xạ thành các giai đoạn sinh trưởng của đời người; màu sắc của hoa, lá ánh xạ thành màu của tóc, của mắt, của làn da, thậm chí của tâm hồn, của tư tưởng con người; hương thơm của hoa ánh xạ thành hương thơm của da thịt; hương vị của trái quả ánh xạ

Đ ( ỜI)

Thuộc tính vòng đời người

Giai đoạn bào thai Giai đoạn hạt, mầm

Thuộc t nh v ng đời cây

Chiếu xạ

xạxạx

Giai đoạn nhi đồng, thiếu

niên Giai đoạn cây non

Giai đoạn dậy thì (hoàn thiện các chức năng sinh

lý của cơ thể)

Hoàn thành giai đoạn dậy thì (trưởng thành về tâm, sinh lý)

Giai đoạn già cỗi (thời

gian cuối của v ng đời

cho đến khi khô, héo,

chết)

Giai đoạn phát triển mạnh

(bắt đầu có khả năng sinh

sản)

Trang 12

thành hương vị của đôi môi, Tỷ lệ ánh xạ giữa các thuộc tính của miền nguồn “c y cỏ” lên miền đ ch “con người” trong ca từ Trịnh Công Sơn được thể hiện qua bảng 2.1

Bả 1 tươ ồng ánh xạ trong n dụ ý niệm

ỜI LÀ CÂY CỎ trong ca từ Trị ơ

Stt Các tương đồng giữa hai

miền không gian nguồn –

đ ch

Các thuộc tính ở miền nguồn được kích hoạt, chiếu xạ

Số ca khúc xuất hiện/228 ca khúc

Trang 13

Tác giả đã lựa chọn một số đặc trưng vật lý của ch i p nụ để chuyển

thành đặc tính của vẻ đ p và niềm hạnh phúc của con người; hương thơm và màu sắc, đặc t nh ngọt ngào của hoa trái trở thành hương thơm và màu sắc của con người; cội rễ và hạt mầm của c y được nhìn như cội nguồn của đời người; tiến trình tàn lụi của lá, quá trình biến đổi chất trong lá, quá trình tàn lụi của hoa cũng tương đồng với quá trình lão hóa của đời người; những giai đoạn mang t nh bước ngoặt của con người cũng được đánh dấu như giai

đoạn sinh trưởng của cây (trổ nhánh, mọc cành); các bộ phận của c y là bộ phận của người (Tay măng, tay xanh, tay kết nụ, tay thơm); c y và người tương đồng về phương cách tạo sinh (cấy niềm tin); tương đồng về trạng thái (tàn, rụng, rã cánh h o thu ng hư hao phai)

n dụ tri nh n ĐỜ Ờ Ộ

Mô hình ẩn dụ này cho thấy cách tri nhận của Trịnh Công Sơn về đời người dựa trên ý niệm về các đơn vị thời gian Cơ chế của ý niệm bao gồm miền nguồn là đơn vị thời gian “một ngày”, ánh xạ lên miền đ ch là “đời người” Các thuộc tính và tri thức về khoảng thời gian trong “một ngày” với những đặc trưng về điểm phân chia thời đoạn, dấu hiệu nhận biết bởi thuộc t nh của ánh sáng được ánh xạ, sao phỏng, gán ghép cho các giai đoạn của “đời người” Do đó, ý niệm “đời người” với các chu kỳ v ng đời, các giai đoạn của đời sống cũng mang những nét thuộc t nh tương ứng với các thời đoạn của “một ngày”, trong đó, cường độ của ánh sáng và sức nóng

là tiêu chí chính yếu để làm căn cứ ph n chia các giai đoạn tương ứng giữa thời gian vật lý và thời gian đời người

Trong ẩn dụ ĐỜI NGƯỜI LÀ MỘT NGÀY, dễ nhận thấy một sơ đồ quy ước như sau: thời điểm sinh ra tương ứng với bình minh, tuổi trưởng thành tương ứng với buổi trưa, tuổi già tương ứng với hoàng hôn, và tình trạng chết tương ứng với bóng đêm Cấu tr c cơ bản của nó là một lược đồ hình ảnh bao gồm một thời điểm bắt đầu sinh ra, trưởng thành, kết thúc, và trở về bên kia thế

giới Có thể hiểu mô hình này qua lược đồ quy ước (xem hình 2.2)

Trong ca từ Trịnh Công Sơn, thời gian đời người được ông dùng với

các biến thể từ vựng hác nhau như: trăm năm ngàn năm nghìn thu thiên

Ngày đăng: 15/09/2014, 11:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Khung tri nh          ỜI LÀ CÂY CỎ - Ẩn dụ tri nhận trong ca từ trịnh công sơn tóm tắt
Hình 2.1. Khung tri nh ỜI LÀ CÂY CỎ (Trang 11)
Hình 2.2. Sự tươ   ứng hai không gian nguồn –  í   tro    ượ   ồ - Ẩn dụ tri nhận trong ca từ trịnh công sơn tóm tắt
Hình 2.2. Sự tươ ứng hai không gian nguồn – í tro ượ ồ (Trang 14)
Hình 2.3. Sự suy k t từ  n dụ ý niệ  ĐỜ     ỜI LÀ MỘT NGÀY - Ẩn dụ tri nhận trong ca từ trịnh công sơn tóm tắt
Hình 2.3. Sự suy k t từ n dụ ý niệ ĐỜ ỜI LÀ MỘT NGÀY (Trang 15)
Bảng 2.4. Sự tương ứng giữa hai miền nguồn -  đích trong ẩn dụ ý niệm                                  trong c  từ Trịnh  ông Sơn - Ẩn dụ tri nhận trong ca từ trịnh công sơn tóm tắt
Bảng 2.4. Sự tương ứng giữa hai miền nguồn - đích trong ẩn dụ ý niệm trong c từ Trịnh ông Sơn (Trang 17)
Bảng 3.1. Các cấp  ộ của   n dụ ý niệ  V        ỚNG LÊN - Ẩn dụ tri nhận trong ca từ trịnh công sơn tóm tắt
Bảng 3.1. Các cấp ộ của n dụ ý niệ V ỚNG LÊN (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w