Các kết quả nghiên cứu dựa trên các giả định chỉ đúng với điều kiện đó. Nếu thêm điều kiện nữa thì kết quả nghiên cứu trên không còn đúng nữa. Gọi là trạng thái dài hạn của nền kinh tế[r]
Trang 1Chương 1
TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC VĨ MÔ
I Những vấn đề chung của kinh tế học
1 Kinh tế học và phân nhánh kinh tế học
a) Khái niệm kinh tế học
Trong một thời lỳ nào đó với bất cứ nền kinh tế nào cũng luôn có một số lượng nhất định các nguồn lực
Kinh tế học nói rằng:
Nguồn lực của đất nước là khan hiếm
Nhu cầu xã hội luôn vượt xa so với khả năng đáp ứng của xã hội từ số nguồn lực hiện có (và nhu cầu này ngày một tăng cả về số lượng và chất lượng)
Khan hiếm là vấn đề mà cả người giàu và nghèo đều phải đối mặt
Mâu thuẩn giữa sự hạn chế về nguồn lực và nhu cầu không ngừng tăng về của cải vật chất của con người Tất cả những lý thuyết kinh tế đi theo mục đích tìm ra những phương
án khác nhau trong việc sử dụng nguồn lực có hạn để tạo ra nhiều của cải vật chất khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của con người được gọi chung là kinh tế học
Kinh tế học là môn khoa học về sự lựa chọn – nó giải thích tại sao các cá nhân,
doanh nghiệp, hoặc chính phủ lại đưa ra lựa chọn như vậy khi họ phải đối mặt với sự
khan hiếm Hay nói cách khác kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu các thức con
người sử dụng các nguồn lực khan hiếm để tạo ra của cải vật chất nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của con người
b) Phân nhánh kinh tế học
Các nhà kinh tế nhìn nhận và phân tích nền kinh tế để lý giải cơ chế hoạt động của nó từ
hai góc độ vi mô và vĩ mô
Kinh tế Vi mô - Kinh tế Vĩ mô Microeconomics - Macroeconomics
Kinh tế Vi mô là một bộ phận của kinh tế học nói chung, nghiên cứu hành vi của các cá nhân và các doanh nghiệp và cách thức tương tác giữa các tác nhân này trên thị trường Kinh tế học vi mô rất cụ thể chi tiết
VD:
– hộ gia đình mua bao nhiêu hàng hóa, cung cấp bao nhiêu giờ lao động
– DN thuê bao nhiêu lao động và bán bao nhiêu hàng hóa
– Giá cả được hình thành như thế nào
Trang 2Macroeconomics - Chap 1: Economic overview
Kinh tế Vĩ mô là một bộ phận của kinh tế học nói chung nhưng lại đi nghiên cứu những vấn đề mang tính chất tổng thể bao trùm chung cho cả nền kinh tế quốc dân hoặc nền kinh tế toàn cầu
VD:
– Nghiên cứu tăng trưởng kinh tế, thất nghiệp, lạm phát
– Nghiên cứu cán cân thương mại, cán cân vốn, tỷ giá
– Nghiên cứu chính sách tài khóa, tiền tệ
2 Nguồn gốc ra đời của kinh tế vĩ mô và tầm quan trọng của kinh tế vĩ mô
a) Nguồn gốc ra đời của kinh tế vĩ mô
Cuối thế kỷ XVIII, hầu như các trường phái kinh tế chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề kinh tế trên tầm vi mô Nổi bật là trường phái cổ điển với quan điểm là nền kinh tế thị trường tự do được điều tiết bằng một bàn tay vô hình; chính phủ không cần can thiệp vào các quá trình kinh tế mà nên để cho thị trường tự điều chỉnh Chính phủ chỉ can thiệp vào các vấn đề: an ninh quốc phòng, luật pháp, dịch vụ công cộng Trong thời gian dài kinh tế của các nước Tư bản diễn ra theo hình thức trên
Đầu thế kỷ XX, kinh tế thế giới, đặc biệt là nền kinh tế của các nước TBCN lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng Kinh tế các nước rơi vào đại suy thoái kinh tế ( 1929 – 1932), sản lượng giảm sút nghiêm trọng, nạn thất nghiệp gia tăng và kéo dài Lý thuyết của kinh tế vi mô ủng hộ thị trường tự do đã không giải thích và chữa trị được cuộc đại khủng hoảng
John Maynard Keynes đã xuất bản cuốn “Lý thuyết tổng quát về Việc làm, Lãi suất, và Tiền tệ” năm 1936, ông đã lý giải được nguyên nhân kinh tế các nước rơi vào suy thoái vì do chính phủ các nước không can thiệp vào quá trình kinh tế để khắc phục được khủng hoảng thì chính phủ các nước phải can thiệp vào bằng các công cụ chính sách Các nước đã áp dụng lý thuyết của ông và đã thoát khỏi khủng hoảng Từ đó kinh tế học vĩ mô
đã ra đời và ngày càng được coi trọng
b) Tầm quan trọng của kinh tế vĩ mô
Hàng ngày chúng ta đứng trước những câu hỏi: Tại sao mức thu nhập hiện nay lại cao hơn năm 2000, tại sao vào năm 2000 lại cao hơn 1995? Tại sao một số nước có tỷ lệ lạm phát cao trong khi các nước khác duy trì được giá cả ổn định? Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng suy thoái và đình đốn - tức những thời kỳ thu nhập giảm, thất nghiệp tăng
và Nhà nước có thể vận dụng những chính sách nào để giảm bớt tần suất và tính chất nghiêm trọng của chúng? Và còn nhiều câu hỏi vĩ mô nữa
Ví dụ: Hiện nay báo đài thường hay nói đến vấn đề lạm phát và khủng hoảng tài chính
trên thế giới ( ví dụ như ở Mỹ) Tại sao vấn đề đó lại ảnh hưởng đến Việt Nam
Mặt hàng cafe là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của nước ta, nếu nền kinh tế Mỹ sụt giảm sẽ làm cho người tiêu dùng Mỹ giảm lượng tiêu dùng cafe làm cho xuất khẩu cafe của nước ta giảm và từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến những người trồng cafe của Việt Nam
Trang 3Những hiểu biết về kinh tế học vĩ mô không chỉ giúp ta giải đáp những câu hỏi về
sự vận hành của nền kinh tế mà điều quan trọng cho phép người ta điều chỉnh cách ứng sử
như thế nào với tình trạng hiện tại
3 Các yếu tố sản xuất, giới hạn khả năng sản xuất của xã hội và chi phí sản xuất a) Các yếu tố sản xuất
Để thực hiện quá trình sản xuất cần sử dụng các yếu tố đầu vào như: đất đai, lao động, tư bản, công nghệ…, những yếu tố đo được gọi là các yếu tố sản xuất
Ví dụ: Để làm bánh cần: bột, đường, trứng, máy móc…
Vậy yếu tố sản xuất là các yếu tố được sử dụng để làm đầu vào cho quá trình sản xuất hàng hoá
b) Giới hạn khả năng sản xuất của xã hội
Đường giới hạn khả năng sản xuất( PPF: production possibilities frontier)
Sự khan hiếm tài nguyên làm cho việc sản xuất bị hạn chế về mặt sản lượng Đây chính là sự hạn chế về năng lực sản xuất của một đất nước
Ví dụ: Giả sử một đất nước có một số lượng nhất định các nguồn lực và đất nước này chỉ
sử dụng nguồn lực đó để sản xuất ra hai loại sản phẩm: Thực phẩm và vải Đất nước này
sẽ có nhiều phương án khác nhau trong việc sản xuất hai loại sản phẩm này
Bảng 1.1 Khả năng sản xuất
Phương án Thực phẩm Vải sản xuất Số đơn vị
lao động
Sản lượng
Số đơn vị lao động
Sản lượng
Trang 4Macroeconomics - Chap 1: Economic overview
0
D C
Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPR)
B A
24 30
17 9
Hình 1.1: Đường giới hạn khả năng sản xuất
Dọc theo các điểm A, B, C, D nền kinh tế ngày càng có ít thực phẩm và có nhiều vải hơn Dọc theo các điểm đó nguồn lực dùng sản xuất thực phẩm đã chuyển dần sang sản xuất vải Đường giới hạn khả năng sản xuất là đường cong, vì không phải mọi nguồn lực đều có hiệu quả như nhau trong việc sản xuất hai loại hàng hoá
Đường giới hạn khả năng sản xuất cho biết sản lượng tối đa của hai (hay nhiều) sản phẩm có thể sản xuất được với một số lượng tài nguyên nhất định Hay nói cách khác,
đường giới hạn khả năng sản xuất là tập hợp tất cả các cách phối hợp khác nhau về sản xuất hai( hay nhiều loại hàng hoá) mà một đất nước có thể lựa chọn từ một số lượng nhất định nguồn tài nguyên Đường giới hạn khả năng sản xuất minh họa cho sự khan hiếm
của nguồn tài nguyên
Ý nghĩa đường giới hạn khả năng sản xuất: Cho ta biết đất nước chỉ có thể chọn
những phương án sản xuất nằm từ đường giới hạn trở vào phía trong mà không thể chọn những phương án nằm ở phía ngoài đường giới hạn Trong đó:
- Chỉ những phương án nằm ngay trên đường giới hạn mới là những phương án có hiệu quả vì chúng sử dụng hết nguồn lực
- Những phương án nằm ở phía trong là những phương án hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả vì chúng không sử dụng hết nguồn lực
- Những phương án nằm ngoài đường giới hạn là những phương án không thực hiện được vì không đủ nguồn lực
Do đó để đưa ra những phương án có hiệu quả thì phải nắm chắc được nguồn lực hiện có
c) Chi phí cơ h ội
Nếu ta di chuyển dọc theo đường giới hạn khả năng sản xuất, chẳng hạn từ điểm A đến điểm B của hình 1.1, ta sẽ thấy việc sản xuất thêm vải sẽ làm cho số lương thực giảm
đi Từ nhận xét này, các nhà kinh tế giới thiệu khái niệm chi phí cơ hội của việc sản xuất
thêm một loại hàng hóa nào đó
Trang 5Khái niệm chi phí cơ hội được minh hoạ qua đường giới hạn khả năng sản xuất Nhìn vào hình 1 ta giả sử nền kinh tế quyết định sản xuất thêm vải từ 9 đơn vị ở điểm B lên 17 đơn vị ở điểm C thì chi phí cơ hội của quyết định này là bao nhiêu? Đó là một lượng thực phẩm bị mất đi để sản xuất thêm vải Trong trường hợp này chi phí cơ hội của
8 đơn vị vải được sản xuất thêm là 5 đơn vị thực phẩm
Chi phí cơ hội của một quyết định là giá trị hàng hoá dịch vụ bị bỏ qua khi chúng
ta lựa chọn quyết định đó mà bỏ qua các quyết định khác trong điều kiện khan hiếm các yếu tố thực hiện quyết định Trong trường hợp có nhiều hơn 2 lựa chọn thì chi phí cơ hội
là sự lựa chọn tốt nhất trong các sự lựa chọn mà chúng ta bỏ qua
II Ba vấn đề kinh tế cơ bản và cách giải quyết ba vấn đề đó trong những nền kinh tế khác nhau
1 Ba vấn đề kinh tế cơ bản
Bất kỳ một nền kinh tế nào cũng phải quan tâm giải quyết ba vấn đề cơ bản sau:
Vấn đề 1: Nên sử dụng các nguồn lực hiện có để sản xuất ra những sản phẩm gì?
Với số lượng mỗi thứ là bao nhiêu? (Sản xuất cái gì?)
Vấn đề 2: Nên tổ chức sản xuất ra những sản phẩm đó như thế nào?, hay bằng cách
nào, dùng công nghệ nào để sản xuất ra sản phẩm? (Sản xuất như thế nào?)
Vấn đề 3: Sản phẩm làm ra được phân phối cho ai? Hay những ai được hưởng bao
nhiêu kết quả xã hội làm ra?
2 Cách giải quyết 3 vấn đề cơ bản trong các nền kinh tế khác nhau
Nền kinh tế chỉ huy: Thực chất là một nền kinh tế tập trung bao cấp, nền kinh tế này đã
từng tồn tại nhiều năm trước đây trong các nước xã hội chủ nghĩa cũ, trong đó có Việt Nam Ba vấn đề kinh tế cơ bản đều do chính phủ quyết định bằng cách giao chỉ tiêu từ trên xuống và cấp dưới thực hiện đúng chỉ thị của cấp trên
Nền kinh tế thị trường tự do: đó là nền kinh tế không có sự can thiệp của chính phủ vào
các quá trình kinh tế mà mọi quá trình kinh tế đều được điều tiết bằng bàn tay vô hình của thị trường Nền kinh tế thị trường tự do đã từng tồn tại nhiều năm trước đây trong các nước TBCN Ba vấn đề kinh tế cơ bản đều do thị trường quyết định thông qua quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và các quy luật khác
Nền kinh tế thị trường hỗn hợp: là nền kinh tế có sự pha trộn giữa hai nền kinh tế chỉ
huy và kinh tế thị trường tự do Ba vấn đề cơ bản được giải quyết bằng cách cả thị trường
và chính phủ cùng nhau giải quyết Trong đó những vấn đề kinh tế thông thường là do thị trường giải quyết
Hiện nay trên thế giới hầu như là kinh tế hỗn hợp
III MỘT SỐ NGUYÊN LÝ NỀN TẢNG LÀM ĐỊNH HƯỚNG KHI NGHIÊN CỨU KINH TẾ HỌC
Nguyên lý nền tảng định hướng chúng ta cách đưa ra câu hỏi và tìm lời giải cho những vấn đề kinh tế
Nguyên lý 1
Trang 6Macroeconomics - Chap 1: Economic overview
- Chúng ta phải đối mặt với sự đánh đổi: do khan hiếm và phải lựa chọn nên chúng ta phải chấp nhận từ bỏ một thứ để nhận được một thứ khác
- Giá trị của thứ mà ta từ bỏ được gọi là chi phí cơ hội
- Ví dụ: đến trường học và ở nhà ngủ, công bằng và tăng trưởng, thất nghiệp và lạm phát…
Nguyên lý 2
- Chúng ta đưa ra lựa chọn dựa trên các giá trị cận biên
+ Lợi ích cận biên (quy luật lợi ích cận biên giảm dần) + Chi phí cận biên (quy luật chi phí cận biên tăng dần)
- VD: Bát phở 10.000VND; chúng ta sẵn sàng trả tiền để ăn bát 1 nhưng không chấp nhận trả tiếp để ăn bát 2 do lợi ích của bát 2 đã giảm và thấp hơn 10.000
Nguyên lý 3
- Trao đổi hàng hóa tự nguyện sẽ làm cả hai bên mua và bán được lợi
- Thị trường là một cách tổ chức trao đổi hiệu quả do nó đảm bảo nguồn lực được chuyển tới nơi được định giá trị cao nhất
- Trong một số trường hợp, thị trường gặp phải những khuyết tật hoặc do xã hội không chỉ theo đuổi duy nhất mục tiêu hiệu quả (mà còn có mục tiêu công bằng) nên đôi khi chính phủ có thể tham gia nhằm cải thiện tính hiệu quả hoặc tính công bằng
Nền kinh tế với tư cách là một tổng thể vận hành như thế nào?
- Mức sống của một nước phụ thuộc vào năng lực sản xuất hàng hoá và dịch vụ của chính nước đó
- Giá cả tăng khi chính phủ in quá nhiều tiền
- Xã hội đối mặt với sự đánh đổi ngắn hạn giữa lạm phát và thất nghiệp
IV Nghiên cứu kinh tế học như thế nào
Trang 7 Mô hình vòng chu chuyển kinh tế vĩ mô
Các nhà kinh tế có thể nhìn nhận và phân tích nền kinh tế từ hai góc độ thực chứng và chuẩn tắc
Kinh tế học thực chứng - Kinh tế học chuẩn tắc Positive Economics - Normative Economics
Kinh tế học thực chứng giải thích sự hoạt động của nền kinh tế một cách khách quan hoặc một cách khoa học Mục tiêu của kinh tế học thực chứng là giải thích xã hội
quyết định như thế nào về tiêu thụ, sản xuất và trao đổi hàng hóa Sự khảo sát như vậy nhằm hai mục đích:
- (1) để thỏa mãn tính tò mò của chúng ta về nguyên nhân tại sao nền kinh tế lại hoạt động như nó đang hoạt động,
- (2) để có cơ sở cho việc dự đoán xem nền kinh tế sẽ phản ứng như thế nào với những thay đổi của hoàn cảnh
Trong kinh tế học thực chứng, các hành vi kinh tế được kỳ vọng sẽ được thực hiện với những quyết định mang tính khoa học, hợp lô-gíc và không thiên vị Quan tâm về kết cục của hành vi kinh tế có khác nhau, nhưng trước tiên, các tác nhân kinh tế đều cùng chung một quan tâm: đời sống kinh tế thực hoạt động ra sao? Ở đây, không có chỗ đứng cho các ý kiến đánh giá theo tiêu chuẩn cá nhân
Các giả thiết được quan tâm trong kinh tế học thực chứng có dạng: Nếu cái này bị thay đổi thì điều gì sẽ xảy ra? Về khía cạnh này, kinh tế học thực chứng tương tự các môn khoa học tự nhiên như vật lý, địa chất hay thiên văn
Kinh tế học chuẩn tắc đưa ra các chỉ dẫn hoặc các khuyến nghị dựa trên những đánh giá theo tiêu chuẩn của cá nhân
Chính vì vậy, trong kinh tế học không có cách nào để chứng minh một ý kiến chuẩn tắc là đúng hay sai Tất cả đều phụ thuộc và ý thích hoặc mức độ ưu tiên của cá nhân hoặc của xã hội khi phải thực hiện sự lựa chọn đó Đây là điểm khác biệt rõ nhất với
Hãng SX
thị trường các yếu tố sản xuất
Lưong, lãi suất, tiền
thuê, lợi nhuận
Đầu vào SX
Thu nhập Vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ
Trang 8Macroeconomics - Chap 1: Economic overview
kinh tế học thực chứng Một luận điểm thực chứng có thể được chứng minh là đúng hay
là sai
Như vậy kinh tế học thực chứng trả lời cho câu hỏi “bao nhiêu”, “là gì”, “như thế nào”; còn kinh tế học chuẩn tắc trả lời cho câu hỏi “nên làm cái gì” Nghiên cứư kinh tế thường đi từ kinh tế học thực chứng rồi chuyển sang kinh tế học chuẩn tắc
3 Cách thức nghiên cứu kinh tế vĩ mô
Mục tiêu của nhà kinh tế là đưa ra các nhận định thực chứng phù hợp với thực tế
và giúp chúng ta hiểu nền kinh tế vận hành ra sao, từ đó có thể làm định hướng cho các nhận định chuẩn tắc của chúng ta
Các bước phân tích:
a) Quan sát và thu thập số liệu
Trong thực tế các biến số vĩ mô luôn trong quá trình vận động và biến đổi Để nhận xét được chúng các nhà kinh tế phải quan sát và để phản ánh chúng thì cần phải ghi chép lại
dữ liệu
Việc thu thập số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu rất khó khăn và tốn kém, do đặc thù của các biến số vĩ mô là khách quan và diễn ra trên phạm vi rộng với khoàng thời gian dài và số liệu thường chỉ có sau khi biến số đó đã xảy ra
Tầm quan trọng của số liệu trong nghiên cứu vĩ mô:
- Giúp lượng hoá các quan hệ mà mô hình lý thuyết đang xem xét
Ví dụ: Đầu tư thêm vào máy móc công nghệ để sản xuất cafe có làm lợi nhuận tăng lên không
- Giúp kiểm định mô hình Ví dụ: Việc sản xuất cafe thì đầu tư vào máy móc thiết bị hay tăng nguồn lao động có hiệu quả hơn
Trang 9Mô hình là lý thuyết tổng kết, thường được thể hiện dưới dạng các phương trinh toán học nhằm mô phỏng những mối liên hệ giữa các biến số kinh tế
Đường cung và đường cầu hàng hoá:
- Cầu về hàng hoá tỷ lệ nghịch với giá cả, đường cầu có thể được biểu diễn như sau:
QD = a - b.PD
- Cung về hàng hoá tỷ lệ thuận với giá cả, đường cầu có thể được biểu diễn như sau:
QS = a + b.PS
Cân bằng được xác lập tại QD = QS
Ví dụ: Thị trường hàng hoá A cho bởi phương trình QD = 40 – 2P (1)
QS = 10 + P (2) Cân bằng thị trường QD = QS, ta có giá và sản lượng cân bằng là: Q = 20, P = 10
Giả định thu nhập tăng lên, cầu về hàng hoá A tăng lên và , cung về hàng hoá không đổi, lúc này giá và sản lượng cân bằng mới là P
2P55
P25
c) Các giả định đơn giản hoá
Giả định đơn giản hoá là các điều kiện mà các nhà kinh tế đặt ra để nghiên cứu một hiện tượng
Tại sao phải có các giả định? Vì các vấn đề nghiên cứu của vĩ mô quá phức tạp do
đó trong qua trình nghiên cứu các nhà kinh tế đã sử dụng các giả định đơn giản hoá để cho phéo người ta tập trung vào các quan hệ chủ yếu
Các kết quả nghiên cứu dựa trên các giả định chỉ đúng với điều kiện đó Nếu thêm điều kiện nữa thì kết quả nghiên cứu trên không còn đúng nữa
V Giá cả trong ngắn hạn và dài hạn
- Giá cả thay đổi linh hoạt: Nếu thời gian đủ dài thì giá cả trong nền kinh tế sẽ thay đổi để
điều chỉnh cân bằng Gọi là trạng thái dài hạn của nền kinh tế
- Giá cả cố định: Trong ngắn hạn giá cả hàng hoá mà các doanh nghiệp cung ứng thường
ở mức xác định cho dù giá trên thị trường có thể thay đổi nhưng doanh nghiệp khó có thể thay đổi mức giá cung ứng vì các hợp đồng đã ràng buộc họ Ngoài ra tiền lương của lao động chỉ được điều chỉnh khi hết hợp đồng Giả định rằng trong ngắn hạn giá cả và tiền lương là cứng nhắc
VI Cung cầu thị trường và cân bằng trên thị trường
1 Cung về hàng hoá
Trang 10Macroeconomics - Chap 1: Economic overview
Y 1 Y 2
S B
a) Định nghĩa: Cung về hàng hoá nào đó là khối lượng hàng hoá mà các doanh nghiệp có
khả năng sản xuất và cung cấp ra thị trường trong một thời kỳ nào đó tuỳ theo mỗi mức giá và mỗi mức chi phí cho trước
b) Các nhân tố tác động đến cung hàng hoá: 2 nhân tố
Giá cả của hàng hoá dịch vụ
- Giá bán trên thị trường tăng lên doanh nghiệp có lợi khi bán sản phẩm doanh nghiệp có xu hướng sản xuất tăng lên cung về hàng hoá tăng
- Giá bán trên thị trường giảm doanh nghiệp giảm sản xuất cung về hàng hoá giảm
Chi phí sản xuất: là các khoảng chi phí đầu vào mà các doanh nghiệp phải bỏ ra trong các quá trình sản xuất sản phẩm Gồm:
Chi phí nguyên vật liệu
Chi phí nhân công
Chi phí về máy móc thiết bị
c) Đồ thị và sự dịch chuyển cuả cung
Đồ thị là đường biểu diễn mối quan hệ giữa lượng cung về hàng hoá và giá
Trang 11 Nếu chúng tác động theo hướng làm tăng lượng cung Ví dụ: giá nguyên liệu đầu vào giảm chi phí sản xuất giảm S tăng S dịch sang phải
Ngược lại nếu chúng tác động làm giảm lượng cung S giảm S dịch sang trái
2 Cầu về hàng hoá
a) Định nghĩa: Cầu về một hàng hoá nào đó là lượng hàng hoá mà các chủ thể kinh tế
muốn mua và có khả năng mua trong một thời kỳ nào đó tuỳ theo mỗi mức giá và mỗi mức thu nhập cho trước
Chủ thể kinh tế (tác nhân kinh tế): là những lực lượng tham gia giao dịch trên thị trường và tuỳ theo mỗi mô hình kinh tế có số lượng chủ thể kinh tế tham gia khác nhau
3 mô hình kinh tế
- Kinh tế giản đơn: là nền kinh tế không có chính phủ tham gia vào nền kinh tế, không có
quan hệ với nước ngoài Chỉ có 2 chủ thể tham gia giao dịch đó là các hộ gia đình và doanh nghiệp
- Kinh tế đóng: là nền kinh tế có chính phủ tham gia nhưng vẫn không có quan hệ với
nước ngoài Có 3 chủ thể tham gia giao dịch: hộ gia đình, chính phủ và doanh nghiệp
- Kinh tế mở: là nền kinh tế có chính phủ tham gia, được mở cửa quan hệ với nước ngoài
Có 4 chủ thể tham gia: hộ gia đình, chính phủ, doanh nghiệp, nước ngoài (cá nhân, doanh nghiệp, chính phủ nước ngoài)
Kinh tế ngày nay của các nước trên thế giới là kinh tế mở
b) Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu về hàng hoá
- Giá cả hàng hoá dịch vụ: Giá cả hàng hoá dịch vụ tăng mua sắm ít lượng cầu D giảm và ngược lại
- Thu nhập: khi thu nhập tăng người ta sẽ mua sắm nhiều làm cho lượng cầu D tăng, và ngược lại
c) Đồ thị và sự dịch chuyển của cầu
- Đồ thị là đường biểu diễn mối quan hệ giữa lượng cầu về hàng hoá và giá
Khi giá giảm P2 mua sắm ở mức sản lượng Y2, phối hợp
ta được điểm B
Tương tự có các điểm khác Nối các điểm đó lại ta được đường cầu D
(Y)
P2
Trang 12Macroeconomics - Chap 1: Economic overview
Sự dịch chuyển của đường cầu
- Khi mức giá chung thay đổi lượng cầu hàng hoá dịch chuyển dọc theo đường cầu D
- Khi có các yếu tố khác tác động (trừ yếu tố giá) thì đường cầu dịch chuyển theo nguyên tắc sau
Nếu tác động làm tăng lượng cầu thì đường cầu D dịch sang trái
Nếu tác động làm giảm lượng cầu thì đường cầu D dịch sang phải
3 Quan hệ cung cầu về hàng hoá
E0: giao hai đường cung và cầu: điểm cân bằng cung cầu về hàng hoá
Khi lượng D = lượng S giá ổn định
Khi lượng D > lượng S giá tăng
Khi lượng D < lượng S giá giảm
- Giá cân bằng và ý nghĩa của nó: giá cân bằng là mức giá hình thành tại điểm đường cung và đường cầu cắt nhau Chỉ duy nhất tại giá cân bằng thì cung và cầu về hàng hoá bằng nhau, với mọi mức giá khác với mức giá cân bằng thì cung, cầu mất cân bằng, và lúc
đó thị trường phải điều chỉnh giá
Trang 13P1< P0 S = Y3
D = Y4 S < D: dư cầu, xuất hiện hiện tượng khan hiếm hàng hoá,
ân bằng đều không tồn tại được mà có khuynh hướng được
ó xu hướng ổn định cho tới khi có các yếu tố tác động làm dịch chuyển đường cung, cầu
và giá thị trường tăng lên so với giá cân bằng
Mọi mức giá khác với giá c
điều chỉnh về giá cân bằng
- Giá cân bằng được hình thành và c
Trang 14Macroeconomics - Chap 2: Measurement economics indicators
Chương 2
ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN SỐ VĨ MÔ
I Đo lường kết quả hoạt động kinh tế - Tổng sản lượng quốc nội ( GDP)
1 Hai hệ thống đo lường sản lượng quốc gia
a) Hệ thống MPS
Hệ thống hoạch toán sản lượng quốc gia theo khu vực sản xuất vật chất, được sử
dụng rộng rãi ở các nước XHCN cũ trong đó có Việt Nam Việt Nam sử dụng hệ thống
này cho đến trước 1989
Đặc điểm: chia tất cả các ngành của nền kinh tế thành hai khu vực: khu vực sản xuất vật
chất, khu vực phi sản xuất vật chất
Khu vực sản xuất vật chất bao gồm những ngành tạo ra của cải, sản phẩm vật
chất mang tính hữu hình (có thể cầm, nắm, mang, nhìn thấy được) gồm các ngành công
nghiệp, nông nghiệp, xây dựng
Khu vực phi sản xuất vật chất: gồm những ngành không tạo ra sản phẩm vật chất
mà tạo ra các dịch vụ có ích mang tính vô hình: giáo dục, y tế, ngân hàng, bảo hiểm…
b) Hệ thống SNA:
Hệ thống tại khoản quốc gia đựoc sử dụng rộng rãi trong các nước có nền kinh tế
thị trường Nó tính cả sản phẩm vật chất và phi vật chất Được liên hiệp quốc thừa nhận
và trở thành hệ thống hoạch toán quốc tế, được sử dụng rộng rãi trên thế giới
c) Các chỉ tiêu chủ yếu của hệ thống SNA
- Chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc dân (GNP)- Gross National Product
- Chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP)-Gross Domestic Product
- Chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc dân ròng (NNP)- Net National Product
- Thu nhập quốc dân (NI) – National Income
- Thu nhập cá nhân (PI)
- Thu nhập khả dụng ( thu nhập có thể sử dụng) (DI)- Disposable Income
2 Khái niệm và cách tính GDP
a) Khái niệm: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): là chỉ tiêu phản ánh tổng giá trị thị trường
của tất cả các hàng hoá dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trên phạm vi một lãnh thổ của
một nước trong một thời kỳ nhất định (bất kể do người trong nước hay người nước ngoài
tạo ra) Gồm 2 bộ phận:
Hàng hoá dịch vụ do công dân của một nước sản xuất ra trong nước mình
Hàng hoá dịch vụ do công dân nước ngoài sản xuất ra trên lãnh thổ nước sở tại
(nước ngoài đầu tư, tổ chức văn phòng đại diện đóng trên nước sở tại đó tạo ra…)
Trang 15 Giá trị thị trường: Sử dụng tiền tệ (giá cả) để tính toán
Ví dụ: 80.000VND*1 gà trống + 60.000VND*1 vịt mái = 140.000 (VND)
Hàng hóa và dịch vụ:
– Chỉ tính những sản phẩm được đem ra trao đổi
– Không tính những sản phẩm tự cung tự cấp
VD: nhà nuôi gà vịt rồi tự mổ ăn
– Có một số sản phẩm không được đem ra trao đổi nhưng vấn được ước tính theo giá thị trường
VD: ở nhà riêng nhưng vẫn được tính là đang thuê nhà và trả tiền nhà cho chính bản thân
…Hàng hóa và dịch vụ cuối cùng…
– Tính các sản phẩm tới tay người tiêu dùng cuối cùng
– Không tính các sản phẩm trung gian được dùng làm đầu vào để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng một cách độc lập
– Mục đích là tránh việc tính trùng
VD: công ty máy tính mua ổ cứng $100, mainboard $200, màn hình $150, phụ kiện khác
$50 về lắp ráp và bán máy tính tới tay người tiêu dùng với giá $600
– Sản phẩm trung gian là các bộ phận kể trên, sản phẩm cuối cùng là chiếc máy tính hoàn chỉnh tới tay người tiêu dùng
– Chúng ta chỉ tính giá trị chiếc máy tính cuối cùng $600 và không cần phải tính lại các bộ phận một cách độc lập vào GDP
Trang 16Macroeconomics - Chap 2: Measurement economics indicators
b) Cách tính:
Tính theo phương pháp chi tiêu:
Theo phương pháp này GDP được tính bằng tổng các khoản chi tiêu để mua các hàng hoá cuối cùng của các chủ thể kinh tế
Các thành tố của GDP:
C – Consumption: chi tiêu bởi hộ gia đình
I - Investment: chi tiêu bởi hãng kinh doanh
G – Government’s Expenditure: chi tiêu bởi chính phủ
NX = EX – IM :Net Export = Export- Import: Xuất khẩu ròng
Ví dụ GDP mỹ năm 1998
Hình 1: GDP của Mỹ năm 1998
Chú ý:
- Sản phẩm các hộ tự sản xuất, tự tiêu dùng, không mua bán thì không tính
- Tổng I bao gồm cả khấu khao
- Khoản đầu tư làm tăng TSCĐ (máy móc), đầu tư cổ phiếu, cho vay: không tính
- Trợ cấp xã hội không tính, kim ngạch xuất nhập khẩu không phải hàng hoá dịch
vụ cuối cùng thì không tính
Phương pháp thu nhập
Xuất khẩu ròng -2 %
Tiêu dùng của HGĐ
68 %
Chi tiêu đầu tư
Chi tiêu của chính phủ
18%
GDP = C + I + G + NX
16%
Trang 17GDP = Thu nhập của hộ gia đình + thu nhập của doanh nghiệp + thu nhập của chính phủ
= W + i +KH + Л + T i
Thu nhập của
hộ gia đình gồm tiền lương nhận được từ các doanh nghiệp và các khoản tiền lãi
Thu nhập của doanh nghiệp là lợi nhuận của doanh nghiệp và các khoản khấu khao
Thu nhập của chính phủ là thuế gián thu
W: tiền lương, tiền công (Wage)
i: tiền lãi (Interest rate)
KH: khấu hao tài sản cố định (Depreciation)
Л: lợi nhuận của doanh nghiệp (Profit for Company)
Ti: thuế gián thu ( Indirect Taxes)
Phương pháp sản xuất ( tính theo giá trị gia tăng)
VAi: giá trị gia tăng của ngành i ( i = 1;2;3…;n)
Giá trị gia tăng VA: tổng giá trị tăng thêm trong quá trình sản xuất
VA = Doanh thu – giá trị sản phẩm trung gian
Ví dụ: Có 3 công đoạn sau:
Nông dân thu hoạch tơ tằm: 200 triệu đồng nhà máy sợi
Nhà máy sợi vải trị giá 250 triệu đồng cho xưởng may
Xưởng may dùng toàn bộ vải quần áo bán cho người tiêu dùng được trị giá 300 triệu đồng Hãy dùng phương pháp giá trị gia tăng để tính GDP
bán
Đơn vị Doanh thu Giá trị trung
gian
Giá trị gia tăng
Trang 18Macroeconomics - Chap 2: Measurement economics indicators
GDP là tổng hàng hoá dịch vụ cuối cùng mà nền kinh tế này tạo ra nên
GDP = VA i = triệu đồng
Chú ý:
+ Về nguyên tắc thì 3 phương pháp này phải cho kết quả giống nhau
+ Trên thực tế không giống nhau:
- Nếu các kết quả lệch nhau < 5% thì dùng trung bình cộng để tính
- Nếu chênh lệch 5% thì cần phải thu thập lại số liệu, tính toán lại sao cho mức chênh lệch < 5%
3 Một số chỉ tiêu khác
a) GNP và phân biệt GDP và GNP
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP): là chỉ tiêu phản ánh tổng giá trị của các hàng hoá
và dịch vụ cuối cùng do công dân của một đất nước tạo ra trong một năm ( bất kể họ sống trong lãnh thổ hay ngoài lãnh thổ của một đất nước Gồm hai bộ phận hợp thành:
Hàng hoá dịch vụ cuối cùng do công dân của một nước tạo ra trong lãnh thổ nước mình
Hàng hoá dịch vụ cuối cùng do công dân của một nước ở nước ngoài tạo ra – do doanh nhân đầu tư ở nước ngoài hoặc do lao động
So sánh hai chỉ tiêu trên
Giống nhau:
- Đều được dùng để đo lường sản lượng quốc gia hàng năm
- Đều chỉ tính cho những hàng hoá dịch vụ cuối cùng được tạo ra trong năm chứ không
tính tất cả hàng hoá dịch vụ được tạo ra
Hàng hoá dịch vụ có hai loại: hàng hoá trung gian và hàng hoá cuối cùng
+ Hàng hoá trung gian là những hàng hoá được tạo ra để dùng làm đầu vào cho
quá trình sản xuất khác và sử dụng hết một lần trong quá trình sản xuất đó
Ví dụ: để tạo ra bánh thì cần đường, trứng, bột, lò nướng Đường, trứng, bột sử dụng hết một lần đường, trứng, bột là hàng hoá trung gian
Qua đó có thể nhân xét: hàng hoá trung gian là nguyên liêu, nhiên liệu, vật liệu được sử dụng trong sản xuất
+ Hàng hoá cuối cùng: là những hàng hoá được tạo ra để thoả mãn nhu cầu sử
dụng cuối cùng của nền kinh tế gồm: hàng tiêu dùng, máy móc thiết bị, hàng dùng để xuất khẩu ra nước ngoài (hàng tiêu dùng, máy móc thiết bị, nguyên liệu sản suất)
Sự khác nhau: mỗi chỉ tiêu trên được tính ở góc độ khác nhau
- Tổng sản phẩm quốc dân: được tính trên chỉ tiêu góc độ công dân tạo ra
- Tổng san phẩm quốc nội: được tính trên chỉ tiêu góc độ trong một lãnh thổ
Trang 19Mối quan hệ giữa GNP và GDP
A: hàng hoá dịch vụ cuối cùng do công dân nước tạo ra trên lãnh thổ nước mình
B: hàng hoá dịch vụ cuối cùng do người nước ngoài tạo ra trên lãnh thổ của nước sở tại
C: hàng hoá dịch vụ cuối cùng do công dân một nước tạo ra ở nước ngoài ( lao động xuất khẩu tạo ra, doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài
Thu nhập từ xuất khẩu yếu tố sản xuất
(C – B) = thu nhập từ xuất khẩu các yếu tố sản xuất - thu nhập từ nhập từ nhập khẩu các
yếu tố sản xuất: gọi là thu nhập ròng từ nước ngoài (NIA)
GNP = GDP (NIA = 0): chưa có kết luận
b) Sản phẩm quốc dân ròng (NNP:Net national Product): là phần giá trị tổng sản phẩm
quốc dân còn lại sau khi đã trừ đi khấu hao
NNP = GNP – KH
c) Thu nhập quốc dân( NI: National Income): tổng sản phẩm quốc dân ròng còn lại sau
khi đã trừ đi thuế gián thu
NI = NNP – Ti
Trang 20Macroeconomics - Chap 2: Measurement economics indicators d) Thu nhập cá nhân (PI: Personal Income): phần thu nhập được dùng cho các cá nhân
trong một xã hội
PI = NI – (Những yếu tố 1 ) + (những yếu tố 2)
- Những yếu tố 1: - lợi nhuận của công ty
- Tiền đóng bảo hiểm xã hội
- lãi suất ròng
- Những yếu tố 2: - Cổ tức
- Chuyển giao thu nhập cho cá nhân
- Thu nhập về lãi suất của cá nhân
e) Thu nhập khả dụng ( Y d:Disposabe Income ): là phần thu nhập cá nhân còn lại sau
khi các hộ gia đình đã nộp xong các khoản thuế cá nhân Phản ánh phần thu nhập mà các
hộ gia đình được toàn quyền sử dụng để chi tiêu
Yd = PI - T
T: các khoản thuế cá nhân: - thuế thu nhập cá nhân
- Thuế lao động công ích…
Trang 21Gọi t: lượng hàng hoá - dịch vụ cuối cùng i được sản xuất ở năm t
i
Q
t
i
P : giá hàng hoá - dịch vụ ở năm t
GDP thay đổi có thể do giá hay sản lượng thay đổi hoặc cả hai thay đổi Nghĩa là giá trị GDP phụ thuộc vào giá cả và lượng hàng hoá Chỉ tiêu tốt hơn để phản ánh phúc lợi kinh tế là chỉ tiêu có thể tính đúng sản lượng hàng hoá và hàng hoá của nền kinh tế và không bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của giá cả Chỉ tiêu đó được gọi là GDP thực tế
t i
o i
c) Mối quan hệ giữa hai chỉ tiêu trên
Từ GDP danh nghĩa và GDP thực tế tính được chỉ số điều chỉnh GDP
II Đo lường chi phí sinh hoạt: Chỉ số CPI
1 Định nghĩa và phương pháp tính
CPI: cho biết giá cả của hàng hoá mà người tiêu dùng mua để thoả mãn nhu cầu cá nhân
đã tăng lên bao nhiêu so với năm gốc
Các bước tính CPI:
Trang 22Macroeconomics - Chap 2: Measurement economics indicators
- Bước 1: Cố định giỏ hàng hoá: ước lượng giỏ hàng hoá mà người tiêu dùng điển hình mua
- Bước 2: Xác định giá cả của mỗi hàng hoá dịch vụ ở giỏ hàng tại thời điểm cần tính
- Bước 3: Tính chi phí: Lựa chọn năm cơ sở và tính chỉ số ( Lựa chọn năm gốc để so sánh)
Gọi : lượng hàng hoá dịch vụ i mà người tiêu dùng mua để tiêu dùng cá nhân (Lượng hàng hoá này được người ta xác định chuẩn là một con số đại diện cho mỗi vùng lãnh thổ hay một quốc gia)
0
i
Q
Pi: giá cả của hàng hoá i tại thời điểm cần tính
: giá cả của hàng hoá dịch vụ i của năm cơ sở
ixQP
1 i
o
i xQP
0 i
0 i
m 1 i
0 i ixQP
xQPCPI
Tỷ lệ lạm phát: là tỷ lệ thay đổi của chỉ số CPI giữa các thời kỳ
Tỷ lệ lạm phát của năm t so với năm t-1: x100%
CPI
CPICPT
1 t t
Trong đó: CPIt, CPIt-1 tương ứng là chỉ số giá tiêu dùng thời kỳ t và thời kỳ trước đó
Ví dụ: Giả sử một nền kinh tế có 2 loại hàng hoá có giả và sản lượng như sau:
Hàng hoá
Sản lượng(đơn vị) Giá (đơn vị) Sản lượng (đơn vị) Giá (đơn vị)
A 2 2 2 3
B 4 1 4 2
0 i
Trang 23CPIt-1= 1,75
1.42.2
2.43.2xQP
xQP
m
1
i
0 i
2 Sự khác nhau giữa chỉ số CPI và chỉ số điều chỉnh GDP
- Giỏ hàng hoá dùng để tính hai chỉ số này khác nhau:
+ Chỉ số điều chỉnh GDP: sử dụng giỏ hàng hoá của tất cả các hàng hoá trong nền kinh tế
+ Chỉ số CPI: sử dụng giỏ hàng hoá cố định mà các hàng hoá đó có thể sản xuất trong nước, cũng có thể được nhập khẩu từ nước ngoài
- Chỉ số điều chỉnh GDP sử dụng giỏ hàng hoá - dịch vụ được sản xuất trong kỳ nghiên cứu nên có thể thay đổi hàng năm Còn CPI sử dụng một giỏ hàng hoá cố định và giỏ hàng này chỉ thay đổi khi các nhà thống kê có sự điều chỉnh
III Đo lường thất nghiệp
1 Một số khái niệm- Tập hợp những người trong độ tuổi lao động hình thành nên nguồn
lao động hay nguồn nhân lực Gồm: nam 16- 60 tuổi, nữ 16- 55 tuổi
Lực lượng lao động
Số đã có việc làm Chưa có việc làm (thất nghiệp)
Trang 24Macroeconomics - Chap 2: Measurement economics indicators
Trên thực tế thấy rằng đa số những người đang làm việc nằm trong độ tuổi lao động, nhưng có một số khác có thể nằm ngoài độ tuổi này Đó là những người đã quá độ tuổi lao động ( trên 55 đối với nữ và trên 60 đối với nam) nhưng có việc làm thưởng xuyên
Ví dụ: Một số thầy cô đã đến tuổi về hưu nhưng được mời ở lại giảng
Do đó ta có sơ đồ sau:
- đang đi học
- không có khả năng lao động
- không tìm kiếm việc ( không thích làm)
Hình 3 Thành phần của lực lượng lao động
Lực lượng lao động = Số người đã có việc làm + số người thất nghiệp
L = E + U
Tỷ lệ thất nghiệp phản ánh % số người thất nghiệp chiếm trong lực lượng lao động
Tỷ lệ thất nghiệp = x100%
LU
2 Mối quan hệ giữa thất nghiệp và GDP
Khi tỷ lệ thất nghiệp cao chứng tỏ các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả , sản lượng hàng hoá dịch vụ được tạo ra cũng sẽ thấp hơn GDP giảm Mối quan hệ tỷ lệ nghịch
giữa tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ tăng trưởng gọi là định luật Okun ( 1929 – 1979): sự thay
đổi 1% của tỷ lệ thất nghiệp gây ra sự thay đổi 2% của GDP
Lực lượng lao động
Đang làm việc
thất nghiệp
Trong độ tuổi lao động
Ngoài độ tuổi lao động Đang làm việc
Trong độ tuổi lao động Không thuộc lực
lượng lao động
Dưới độ tuổi lao động
Trang 25PHẦN 1: NỀN KINH TẾ TRONG DÀI HẠN Chương 3
SẢN XUẤT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Mục tiêu của chương
Học xong chương này, bạn sẽ biết được:
Tăng trưởng là gì, đo lường tăng trưởng?
Tầm quan trọng và chi phí của tăng trưởng như thế nào?
Những nhân tố nào quyết định sự tăng trưởng?
Những chính sách khuyến khích tăng trưởng?
Sau đây chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu từng mục tiêu cơ bản của chương
I Thế nào là tăng trưởng kinh tế
1 Khái niệm và đo lường tăng trưởng
Qua chương trước ta thấy GDP của nền kinh tế cùng lúc đo lường cả tổng thu nhập tạo ra trong nền kinh tế và tổng chi tiêu về hàng hoá dịch vụ của nền kinh tế ấy GDP thực
tế là một chỉ tiêu tốt phản ánh sự thịnh vượng của nền kinh tế và sự tăng trưởng của GDP thực tế là một thước đo tốt đối với sự tiến bộ của kinh tế
Tăng trưởng được hiểu là sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, nó được phản ánh qua mức tăng trưởng và tỷ lệ tăng trưởng Mức tăng trưởng phản ánh khối lượng hàng hoá dịch vụ tăng thêm trong mỗi thời kỳ (sự gia tăng quy mô của nền kinh tế)
1 t
1 t t
Khi nền kinh tế tăng trưởng, quy mô của nó lớn hơn Nhưng nếu quy mô dân số lớn, tốc
độ tăng dân số nhanh thì cuộc sống của người dân không khấm khá hơn Do đó tính GDP trên đầu người sẽ phản ánh được chất lượng tăng trưởng kinh tế
GDP bình quân đầu người = GDP
Dân số trung bình
2 Tầm quan trọng của tăng trưởng
a) Đối với quốc gia
Trang 26Macroeconomics - Chap 3: Economic Growth
- Tăng trưởng cho phép phát triển nhanh nền kinh tế Tăng trưởng nhanh có nghĩa quy mô GDP tăng và thu nhập bình quân đầu người cũng tăng
Ví dụ: Tăng trưởng 120 tỷ đồng và dân số lúc này là 400.000 người thì phần thu nhập tăng thêm của mỗi người là 120 tỷ /400.000 = 300.000 nghìn đồng Nếu tăng trưởng hơn thì phần thu nhập tăng thêm sẽ tăng Từ đó cho phép cải thiện mức sống và điều kiện sống cho mỗi người
- Tăng trưởng cho phép giải quyết các vấn đề xã hội Với việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, sự gia tăng GDP hay GNP tạo cơ sở vật chất để chính phủ đề ra và thực hiện các chính sách và chương trình xã hội hướng tới mục tiêu cải thiện đời sống cho nhân dân, xoá đói giảm nghèo, phát triển y tế, giáo dục, nông nghiệp nông thôn, hạn chế tệ nạn
xã hội
- Tăng trưởng cho phép bảo vệ môi trường tốt hơn Khi tăng trưởng kinh tế nhanh tạo tiền
đề vật chất để bảo vệ môi trường tốt hơn, cung cấp các nguồn tài chính để đầu tư tìm ra công nghệ mới, công nghệ sạch, tái sinh…
Ví dụ: khi đời sống của người dân được nâng cao hơn thì họ hạn chế chặt phá rừng Hoặc
ví dụ ở Kon Tum có dự án khai thác quặng sắt, nếu dự án này được triển khai thì sẽ thải ra một lượng bùn đỏ làm ô nhiễm nguồn nước, chất thải ra rất nguy hiểm, ảnh hưởng tới môi trường và sức khoẻ của người dân quanh vùng Nhưng nếu nền kinh tế của tỉnh tăng trưởng thì sẽ không thiếu vốn do đó không cần khai thác quặng đó nữa
- Tăng trưởng là cơ sở để phát triển giáo dục và khoa học công nghệ
b) Đối với doanh nghiệp
Tăng trưởng kinh tế là dấu hiệu cho biết sức mua đang tăng, triển vọng kinh doanh
sẽ tốt hơn
Suy thoái là khi GDP tăng trưởng âm, thu nhập giảm
Cụ thể: Khi nền kinh tế chủ đạo của thế giới (cụ thể là nền kinh tế Mỹ) bị suy thoái có ảnh hưởng tới Việt Nam không? Câu trả lời ở đây là có Kinh tế Mỹ tiêu thụ 25 % hàng hoá sản xuất của Việt Nam Nếu kinh tế Mỹ sụt giảm thì tiêu dùng của họ giảm, bất lợi cho kinh tế Việt Nam
3 Chi phí của tăng trưởng
- Trả chi phí cơ hội cho tăng trưởng Giới hạn nguồn lực là vấn đề mà bất cứ quốc gia nào cũng phải đối mặt Để tăng trưởng hay tăng quy mô GDP và duy trì sự tăng trưởng đó theo thời gian các quốc gia phải đầu tư nhiều hơn nguồn lực và tư bản trong hiện tại, vì vậy sẽ phải tiêu dùng ít hơn
- Trả chi phí xã hội: quá trình tăng trưởng kéo theo sự thay đổi lớn trong xã hội, phân hoá giàu nghèo ngày càng lớn do chênh lệch thu nhập ngày càng lớn Tăng trưởng đòi hỏi lao động có chất lượng cao, những người lao động không đáp ứng được yêu cầu bị đào thải, thất nghiệp gia tăng Ngoài ra quá trình tăng trưởng cũng dẫn đến phát sinh những vấn đề
xã hội gia tăng như: ma tuý, dịch bệnh…
- Trả chi phí môi trường: cùng với việc gia tăng sản lượng người ta đã khai thác kạn kiệt các nguồn tài nguyên, tàn phá môi trường Những việc đó đã dẫn tới sự trả giá là thời tiết
Trang 27ngày càng thay đổi, thiên tai xảy ra nhiều hơn, nhiều hiện tượng như: hiệu ứng nhà kính, lanina, ennino…
II Các nhân tố quyết định tăng trưởng
Trong phần này ta nghiên cứu nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế để giải thích tại sao tại sao có sự khác biệt về mức thu nhập bình quân đầu người cũng như mức sống của người dân ở các quốc dân khác nhau
Hàm sản xuất có dạng:
Y = F (K, L)
Trong đó K, L tương ứng là khối lượng tư bản và lao động Hàm sản xuất chỉ ra rằng khi các yếu tố này thay đổi thì sản lượng cũng thay đổi Tuy nhiên sự thay đổi này phụ thuộc vào công nghệ hiện có
Ví dụ: nếu người ta phát minh ra cách sản xuất hàng hoá nhanh hơn, với một phương pháp tốt hơn thì với một khối lượng tư bản và lao động như trước đây người ta có thể sản xuất ra mức sản lượng cao hơn
Tính quy mô trong kinh tế của hàm sản xuất:
- Hàm sản xuất có lợi suất không đổi theo quy mô khi: nếu tăng các yếu tố đầu vào một
tỷ lệ a > 0 thì sản lượng đầu ra cũng tăng lên là a Có nghĩa là:
aY = F(aK, aL)
- Nếu ta tăng tất cả các nhân tố đầu vào lên một lượng a > 0 và đầu ra sản lượng Y tăng nhiều hơn a thì gọi là hàm sản xuất có lợi suất tăng dần theo quy mô (đối với các ngành công nghệ cao mới được)
- Và nếu ta tăng tất cả các yếu tố đầu vào lên một lượng a > 0 và đầu ra sản lượng Y tăng
ít hơn a thì gọi là hàm sản xuất có lợi suất giảm dần theo quy mô (trong nông nghiệp là rõ nhất)
Trang 28Macroeconomics - Chap 3: Economic Growth
Ví dụ với hàm sản xuất có dạng là hàm cobb- douglas: Y = A.Kα Lβ với α + β = 1
Y = K 2L 2 (KL) 2 có phải là hàm sản xuất có lợi suất không đổi theo quy mô không? Để trả lời câu hỏi này ta tăng các nhân tố đầu vào lên một lượng a > 0 Thì với a >
0 ta có:
aYa(KL)
(aK.aL) 2 2 khi tăng các nhân tố đầu vào lên một lượng a > 0 thì sản lượng đầu ra Y cũng tăng lên một lượng a Chứng tỏ hàm này có lợi suất không đổi theo quy mô
2 Năng xuất
Để thấy được sự chênh lệch GDP giữa các nước người ta sử dụng chỉ tiêu GDP bình quân trên đầu người hay sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người Sản lượng tính trên đầu người hay sản lượng tính trên đầu lao động được gọi là năng suất, những yếu
tố ảnh hưởng tới năng suất thì cũng ảnh hưởng tới sản lượng, ảnh hưởng đến tăng trưởng
Hàm sản xuất: Y = F ( K, L): chỉ ra mối quan hệ phụ thuộc của sản lượng vào khối lượng tư bản và lực lượng lao động Hay, sự gia tăng quy mô của sản lượng Y sẽ đạt được
từ sự gia tăng các yếu tố sản xuất và tiến bộ công nghệ
Giả định hàm sản xuất có lợi suất không đổi theo quy mô và cũng giả định lao động và tư bản sẽ thay đổi theo thời gian Ta có:
z.Y = F(zK,zL) với z > 0
Để đơn giản ta biểu thị tất cả các đại lượng dưới dạng số tương đối tính trên quy
mô đầu lao động
K : khối lượng tư bản/ mỗi lao động y = f(k)
Trong đó: f(k) = F(k,1) Phân tích vai trò của năng suất dễ hơn khi sử dụng hàm sản xuất
bình quân đầu lao động
3 Các nhân tố ảnh hưởng ngoài năng suất
a) Sự thay đổi của tư bản hữu hình ( K)
Tư bản hữu hình là gì? Là các nhân tố được dùng để sản xuất ra hàng hoá và dịch
vụ Ví dụ: sản xuất cafe thì cần có công cụ lao động như cuốc, xẻng…, hay máy rang cafe…những thứ đó gọi là tư bản
Trang 29Khi các yếu tố khác không đổi, L không đổi nếu tư bản K tăng lên thì
Hình 3.1: Đường biểu diễn hàm sản xuất
Độ dốc của đường biểu diễn hàm sản xuất giảm dần cho biết sự thay đổi của năng xuất hay sản lượng / một đơn vị lao động khi lượng tư bản/mỗi lao động được tăng thêm một đơn vị Lượng tăng thêm này đựoc gọi là sản phẩm cận biên của tư bản (MPK) Ở đây có nghĩa là MPK giảm dần
ΔkΔy
Để giải thích vì sao MPK giảm dần ta thử xem ví dụ sau: Cho hàm sản xuất cobb-
α 1
αLA
Douglas Y K có lợi suất không đổi theo quy mô Chia hai vế cho L ta có:
α α
1 α
L
KAL
LL
1k
2
1 2 dương, do vậy khi k tăng thì y tăng nhưng MPK giảm dần
Kết luận: muốn tăng y phải tăng k; nhưng k sẽ tăng đến đâu
Ta biết k thay đổi do hai nhân tố:
- Đầu tư làm tăng k (vì đầu tư là một hoạt động mua sắm thêm máy móc, trang bị nhà xưởng)
y: năng suất hay thu nhập trên người
Gọi i: là đầu tư/ người
Ta có i = s.y = s.f(k) với s: tỷ lệ thu nhập/ người dành để đầu tư; 1-s: tỷ lệ thu nhập dành
k (khối lượng tư bản/ một lao động)
Trang 30Macroeconomics - Chap 3: Economic Growth
Nền kinh tế có đủ tư bản để trang bị cho số lao động tăng thêm nhằm
k: sự thay đổi của k
Chỉ nên đầu tư đến k*
Nếu s tăng thì k* tăng hay giảm? s tăng k tăng k* tăng
Nếu s tăng thì cho phép mở rộng kh
phải tăng s hay tăng tỷ
b) Khi lao động tăng
Giả sử: Lao động tăng
1KK
Y1 1
Y1 = Y (1+n)
Do vậy khi L tăng nền kinh tế có đủ tư bản thì quy mô GDP tăng nhưng thu nhập bình uân đ
đầu người sẽ không tăng (Đây là lý do thực hiện kiểm soát
ếu tố đầu vào để với một khối lượng K và L
hệ đượ phản ánh bằng sự thay đổi của dạng hàm sản xuất
q ầu người không tăng
Đối với những nước như Việt Nam: khi dân số tăng nhanh do hạn chế về vốn dẫn đến mức thu nhập bình quân
gia tăng kinh tế)
c) Tiến bộ công nghệ
Là sự thay đổi cách thức kết hợp các y
cho trước nhưng sản lượng tạo ra nhiều hơn
Thường tiến bộ công ng c
Trang 31Ví dụ: Ban đầu hàm sản xuất: y k
Áp dụng tiến bộ công nghệ : y11,2 k
III Chính sách khuyến khích tăng trưởng
1 Chính sách khuyến khích đầu tư và tiết kiệm
Đầu tư và tiết kiệm đều hư
quân đầ người Tất cả các quốc giaớng đến tăng tư bản hữu hình do đó làm tăng GDP bình đều hướng đến
đường xá, cầu
ho vay vốn, giảm lãi suất
i nền kinh tế
- Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, c
- Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoà
- Tăng tỷ lệ tiết kiệm trong
2 Kiểm soát sự gia tăng dân số
- Hạn chế tỷ lệ tăng dân số tự nhiên
- Thực hiện tốt công tác truyền
3 yến khích tiến bộ công nghệ
- Phát triển giáo dục đào tạo
- Đầu tư nhiều hơn cho nghiên cứu và phát triển
Ví dụ: máy tính bàn phát triển thành máy tính xách tay…
Trang 32Macoroeconomic - Chap 4: Finacial system
Chương 4
TIẾT KIỆM, ĐẦU TƯ, HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
Tiết kiệm và đầu tư có liên quan mật thiết với nhau, trong đó tiết kiệm là cơ sở của đầu tư vì tiết kiệm là nguồn cung về vốn cho đầu tư, còn đầu tư là cầu về vốn vay để tài trợ cho các dự án đầu tư Mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư được thể hiện trên thị trường tài chính với sự tham gia của các định chế tài chính
Sau khi nghiên cứu chương này ta biết được:
- Phương thức hoạt động của thị trường tài chính thông qua nghiên cứu các định chế tài chính
- Phân biệt được tiết kiệm và đầu tư, mối quan hệ giữa chúng
- Chính sách tài chính là gì? Ảnh hưởng của nó như thế nào?
- Mối quan hệ giữa cung cầu trên thị trường hàng hoá và vốn vay có liên quan tới lãi suất ra sao
I Các định chế tài chính trong nền kinh tế (Hệ thống tài chính)
Hệ thống tài chính gồm các định chế tài chính giúp khớp nối tiết kiệm của người này với đầu tư của người khác Nó giúp chuyển nguồn lực nhàn rỗi từ những người tiết kiệm tới những người đi vay có khả năng sử dụng hiệu quả nguồn lực
Ví dụ: Người ta vay tiền vì muốn mở rộng quy mô về cơ sở hạ tầng của công ty họ trong khi chưa đủ tiền Còn những người tiết kiệm sẽ ít tiêu dùng mà gửi tiết kiệm để chuẩn bị cho việc ổn định đời sống ban đầu cho con cái lúc con họ lập gia đình…
Người tiết kiệm cung ứng tiền của họ cho hệ thống tài chính với hy vọng nhận lại khoản tiền gốc cùng với tiền lãi vào một ngày trong tương lai Còn người đi vay có nhu cầu về tiền từ hệ thống tài chính với nhận thức họ sẽ phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi vào một ngày trong tương lai
Hệ thống tài chính được chia thành hai bộ phận:
- Thị trường tài chính
- Trung gian tài chính
1 Thị trường tài chính
Thị trường tài chính là các định chế mà qua đó người tiết kiệm có thể TRỰC TIẾP cung
cấp vốn cho người muốn vay (doanh nghiệp) Các thị trường tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế gồm:
- Thị trường trái phiếu
- Thị trường cổ phiếu
Thị trường trái phiếu: là nơi người ta mua bán trái phiếu
Trang 33Trái phiếu là chứng chỉ nợ, nó ghi nhận nghĩa vụ nợ của tổ chức phát hành trái
phiếu đối với người nắm giữ trái phiếu Có nghĩa là chứng từ xác nhận rằng: “tôi nợ anh”
Nội dung của trái phiếu:
+ Mệnh giá của trái phiếu (số tiền vay)
+ Ngày mà người đi vay phải hoàn trả khoản nợ, gọi là ngày đáo hạn
+ Mức lãi suất mà người đi vay phải trả thường kỳ cho đến khi đáo hạn
Ai có quyền phát hành trái phiếu? Chính phủ và chính quyền địa phương, các công
ty có đủ điều kiện (có kết quả kinh doanh tốt – thông qua kết quả kiểm toán, quy mô công
ty đủ lớn) được phát hành trái phiếu
Người nắm giữ trái phiếu có thể nắm giữ nó đến ngày đáo hạn hoặc bán cho người khác trước khi nó hết hạn Có nhiều loại trái phiếu khác nhau được lưu hành trên thị
trường nhưng chúng đều có ba đặc điểm chung quan trọng là:
+ Thứ nhất, kỳ hạn của trái phiếu: tuỳ theo kỳ hạn ngắn hay dài mà lãi suất khác nhau Kỳ hạn càng dài thì mức lãi suất càng cao vì trài phiếu dài hạn thường rủi ro hơn trái phiếu ngắn hạn do người nắm giữ trái phiếu dài hạn phải đợi lâu mới nhận lại vốn gốc
+ Thứ hai, mức rủi ro tín dụng: là xác suất người đi vay không thể trả một phần lãi suất hay vốn gốc của trái phiếu nếu bị vỡ nợ Người đi vay có thể tuyên bố vỡ nợ đối với các khoản tiền vay của họ bằng cách tuyên bố phá sản Khi người mua trái phiếu nhận thấy xác suất vỡ nợ cao, họ yêu cầu mức lãi suất cao để bù lại rủi ro Trái phiếu chỉnh phủ được coi là không có rủi ro tín dụng, nên lãi suất thường thấp Trái lại, các công ty không
đáng tín cậy về mặt tài chính thường phát hành trái phiếu mạo hiểm, có lãi suất rất cao
+ Thứ ba, phụ thuộc vào chính sách thuế đánh vào lãi suất trái phiếu Người sử dụng trái phiếu phải trả một phần lãi dưới dạng thuế thu nhập
Thị trường cổ phiếu: là nơi người ta mua bán cổ phiếu có thể là trên sàn giao dịch
chính thức hay không chính thức
Cổ phiếu là chứng chỉ góp vốn, nó ghi nhận quyền sở hữu của người nắm giữ cổ phiếu với tài sản và lợi nhuận của công ty phát hành cổ phiếu
Ví dụ: Một công ty X muốn nâng cấp dây chuyền sản xuất thì cần số tiền là 100 tỷ đồng
Công ty này thay vì đi vay họ sẽ kêu gọi mọi người tham gia góp vốn bằng cách phát hành cố phiếu Ví dụ: một cố phiếu có mệnh giá là 10.000 đồng thì họ cần phát hành 10.000.000 cổ phiếu và đem ra mua bán trên thị trường Công ty X sẽ thu được tiền để nâng cấp dây chuyền sản xuất đó, người nắm giữ cổ phiếu là cổ đông Tờ cổ phiếu đó xác nhận người nắm giữ là chủ sở hữu một phần tài sản của công ty phát hành đúng bằng giá trị mệnh giá Một cổ đông có thể nắm giữ nhiều cổ phiếu
Sự khác biệt giữa cổ phiếu và trái phiếu:
Trang 34Macoroeconomic - Chap 4: Finacial system
Người sở hữu Là chủ nợ của công ty Là một trong số các chủ sở
hữu của công ty
Tổ chức phát hành có nghĩa
vụ trả lãi và gốc theo mức lãi suất và thời hạn đã ghi trên trái phiếu
Công ty sẽ chia cổ tức theo tình hình lợi nhuận Người nắm giữ cổ phiếu còn kiếm lợi tức từ chênh lệch giá
Khi kinh doanh thuận lợi chỉ nhận được lãi từ trái
2 Trung gian tài chính: gồm các thể chế mà qua đó người tiết kiệm có thể GIÁN TIẾP
cung cấp vốn cho người đi vay Có hai loại trung gian tài chính quan trọng nhất là: ngân hàng và quỹ tương hỗ
a) Ngân hàng: Người ta chỉ muốn mua chứng khoán của những công ty lớn có tên tuổi
Vậy những công ty nhỏ muốn đầu tư gì đó khi họ không có vốn thì họ phải làm như thế nào? Công ty đó mở rộng kinh doanh bằng cách vay vốn của ngân hàng
Ngân hàng là trung gian tài chính quan trọng nhất và quen thuộc nhất đối với mọi người Ngân hàng có vai trò:
– Nhận tiền gửi từ những người tiết kiệm và trả lãi cho họ
– Cho vay những người cần vay vốn với một mức lãi cao hơn mức lãi huy động – Tạo ra một phương tiện trao đổi là séc hay tài khoản tiền gửi không kỳ hạn
Thu nhập của ngân hàng là phần chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động
b) Quỹ tương hỗ: Là định chế phát hành cổ phiếu ra công chúng và sử dụng số tiền thu về
để mua các danh mục cổ phiếu, trái phiếu của các công ty khác trên thị trường
– Cho phép những người tiết kiệm nhỏ lẻ có thể đa dạng hóa đầu tư Các loại cổ phiếu, trái phiếu luôn gắn liền với vận mệnh của một công ty, việc giữ một loại cổ phiếu hay trái phiếu duy nhất hết sức mạo hiểm, các quỹ tương hỗ cho phép người tiết kiệm nhỏ
lẻ có thể đa dạng hoá đầu tư Họ có thể mua cổ phiếu hay trái phiếu của quỹ tương hỗ và gián tiếp trở thành người tham gia sở hữu hay chủ nợ của hàng trăm công ty lớn và trả cho công ty kinh doanh quỹ tương hỗ một khoản lệ phí từ 0,5 % đến 2% giá trị tài sản
Trang 35– Tận dụng ưu thế về kỹ năng kinh doanh chứng khoán của nhà quản lý các quỹ tương hỗ
II Tiết kiệm và đầu tư
Tiết kiệm và đầu tư có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế (như đã nghiên cứu ở chương 3) Qua phần này ta sẽ làm rõ hơn về tiết kiệm và đầu tư và các mối quan hệ xung quanh chúng
1 Định nghĩa
Tiết kiệm (S): là phần còn lại của thu nhập sau khi đã trừ đi tiêu dùng Nếu một cá nhân có một khoản thu nhập và cá nhân đó chi tiêu ít hơn và có thể gửi khoản tiền nhàn rỗi vào ngân hàng để nhận lãi hay mua cổ phiếu hoặc trái phiếu Cá nhân đó đã làm tăng tiết kiệm quốc dân
● Tiết kiệm của khu vực tư nhân là phần còn lại của thu nhập khả dụng sau khi tiêu dùng (Sp = Yd – C = Y – T - C)
● Tiết kiệm chính phủ là ngân sách chính phủ (Sg = T - G)
● Tiết kiệm quốc gia Sn = Sp + Sg
Đầu tư ( I): là hoạt động mua sắm trang bị thêm tư bản hữu hình…hay phát hành
cổ phiếu lấy tiền xây dựng nhà máy…kết quả của các hoạt động đó làm tăng đầu tư của nền kinh tế
● Đầu tư cố định vào SXKD là việc các hãng kinh doanh dùng tiền (vay được trên thị trường) mở rộng sản xuất bằng việc mua máy móc thiết bị và nhà xưởng
● Đầu tư vào nhà ở của các hộ gia đình: bao gồm giá trị nhà ở mới xây dựng
● Đầu tư vào hàng tồn kho bao gồm chênh lệch tồn kho cuối kỳ và đầu kỳ
2 Quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư
Tiết
Đầu tư
3 Mối quan hệ giữa tiết kiệm, đầu tư và hoạt động của thị trường tài chính
- Mua dây chuyền sản xuất Thu nhập – tiêu dùng
- Máy móc, thiết bị
- Nhà xưởng
a) Phương trình tài khoản thu nhập quốc dân cơ bản
Như trước đây đã nghiên cứu thì GDP gồm những thành tố: C, I, G, NX Giả sử ở đây là nền kinh tế đóng, tức là nền kinh tế không có quan hệ với các nền kinh tế khác (NX
= 0)
Trang 36Macoroeconomic - Chap 4: Finacial system
Lúc này Y = C + I + G
Hộ gia đình tiều dùng một phần sản lượng của nền kinh tế, doanh nghiệp và hộ gia đình
sử dụng một phần sản lượng để đầu tư, chính phủ mua một phần sản lượng để phục vụ mục tiêu của mình Sau đây sẽ đi vào phân tích từng thành tố
Tiêu dùng
Tiêu dùng là quá trình hộ gia đình sử dụng hàng hoá hay tiêu dùng một phần sản lượng của nền kinh tế Hộ gia đình có được thu nhập từ lao động và sở hữu tư bản, sau khi đã nộp thuế thu nhập hộ gia đình phân phối thu nhập của mình để tiêu dùng và tiết kiệm Mức thu nhập khả dụng là Yd = Y – T Giả định thu nhập của hộ gia đình chỉ phụ thuộc trực tiếp vào thu nhập khả dụng, khi thu nhập khả dụng càng cao mức tiêu dùng càng lớn
Ta có hàm tiêu dùng:
C = C ( Y – T )
Vì tiêu dùng và tiết kiệm là hai bộ phận trong thu nhập khả dụng của người tiêu dùng nên các nhà kinh tế quan tâm đến việc nếu thu nhập khả dụng tăng thêm một đồng thì các hộ gia đình tăng tiêu dùng thêm bao nhiêu Mức thay đổi của tiêu dùng thì thu nhập khả dụng tăng thêm một đồng gọi là khuynh hướng tiêu dùng cận biên ( MPC) Lúc này:
T)MPC(Y
MPC
Y - TC
MPC = 0: khi thu nhập khả dụng tăng lên một đồng thì để tiết kiệm hết
MPC = 1: khi thu nhập khả dụng tăng lên một đồng thì tiêu dùng hết
Trang 37bán hết nên chưa lấy lại được số tiền đó Do vậy khoảng tiền đó được xem như khoảng đầu tư ứng trước
Đầu tư phụ thuộc vào lãi suất Các nhà kinh tế phân biệt giữa lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa vì trong thời kỳ lạm phát hay giảm phát thì lãi suất mà các ngân hàng trả cho các khoản tiền gửi là lãi suất danh nghĩa, nhưng lãi suất thực tế mới phản ánh được chi phí thực sự của tiền vay nên đầu tư phụ thuộc vào lãi suất thực tế chứ không phải lãi suất danh nghĩa Mối quan hệ giữa đầu tư và lãi suất danh nghĩa được thể hiện như sau:
I = I (r )
Hình 2: Đồ thị hàm đầu tư
Đường I (r) dốc xuống vì đầu tư có quan hệ tỷ lệ nghịch với lãi suất, lãi suất tăng thì cầu
về đầu tư giảm
r
I (r )
I
Mua hàng của chính phủ ( G)
Ngân sách của chính phủ gồm hai phần: thu và chi
- Thu ngân sách: thu từ các loại thuế Tx
- Chi ngân sách: Mua hàng của chính phủ: G
Các khoản chuyển giao thu nhập: Tr Mua hàng của chính phủ: ví dụ như chính phủ hay chính quyền địa phương xây dựng trường học, công trình giao thông…thể hiện sự chi tiêu của chính phủ
Hình thức chi tiêu khác là chuyển giao thu nhập cho các hộ gia đình như trợ cấp xã hội cho người nghèo, trả tiền bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi Khác với mua hàng của chính phủ, chuyển giao thu nhập không trực tiếp sử dụng hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế nên không được tính vào G
Chuyển giao thu nhập tác động gián tiếp đến nhu cầu về hàng hoá dịch vụ, nó ngược với thuế: làm tăng thu nhập khả dụng, trong khi thuế làm giảm thu nhập khả dụng (Yd = Y – T ) Sự gia tăng chuyển giao thu nhập được tài trợ bằng sự tăng tương ứng của thuế làm thu nhập khả dụng không thay đổi
T = Tx - Tr
T : thuế ròng ( gọi tắt là thuế)
Thu nhập khả dụng: Yd = Y - T đã bao hàm tác động âm của thuế và tác động dương của chuyển giao thu nhập
Trang 38Macoroeconomic - Chap 4: Finacial system
Cán cân ngân sách ( B): phản ánh mối quan hệ giữa thu và chi ngân sách hàng năm
Y: sản lượng hay thu nhập của nền kinh tế
T: thuế suất: phản ảnh tỷ lệ % thếu thay đổi so với Y Ví dụ: đánh thuế 20% có nghĩa là t= 0,2
Y = C( Y – T) + I(r) + G (1): phương trình thu nhập quốc dân cơ bản
b) Phương trình cơ bản trên thị trường hàng hoá
Phương trình này thể hiện mối quan hệ giữa tổng cung và tổng cầu về hàng hoá dịch vụ của nền kinh tế
Kết hợp các phương trình trên để mô tả cung cầu về sản lượng hàng hoá dịch vụ
Từ (1) ta có: YC(YT)I(r)G (2): phương trình cơ bản trên thị trường hàng hoá
Trang 39Qua phương trinh (2) thấy rằng Y, C, G là cố định nên sự cân bằng của phương trình này được điều chỉnh thông qua lãi suất Hay có thể nói lãi suất giữ vai trò điều chỉnh cân bằng cung cầu trên thị trường hàng hoá Điều này được thể hiện:
Khi lãi suất cao I(r ) thấp cầu về sản lượng < cung về sản
lượng lãi suất r giảm I tăng, điều chỉnh đến khi thiết lập được quan hệ cân bằng trên thị trường hàng hoá Đối với lãi suất thấp thì ngược lại
điều chỉnh
làm cho
c) Phương trình cơ bản trên thị trường tài chính
Mục đích thiết lập đồng nhất thức phản ánh mối quan hệ về cung cầu vốn vay của nền kinh tế trên thị trường tài chính Vì lãi suất là chi phí đi vay và lợi tức cho vay trên thị trường tài chính, nên qua đây ta sẽ đi vào nghiên cứu vai trò của lãi suất khi nghiên cứu thị trường tài chính
Y = C + I + G
Y – C – G = I
Tổng thu nhập hay tổng sản lượng còn lại sau khi đã thanh toán các khoản tiêu
dùng của hộ gia đình và chính phủ Phần này được gọi là tiết kiệm quốc dân (S)
Cho G vả T cố định bởi chính sách tài chính của chính phủ không thay đổi,
Y)
Hay: S = I (r ) (3) : phưong trình cơ bản trên thị trường vốn vay
Cung về vốn vay cầu về vốn vay
Hình 3: Quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư
Trang 40Macoroeconomic - Chap 4: Finacial system
Ở đây tiết kiệm là một đường thẳng đứng vì trong mô hình này không phụ thuộc vào lãi suất, còn đường đầu tư thì tỷ lệ nghịch với lãi suất nên có dạng dốc xuống
Lãi suất giữ vai trò điều chỉnh cân bằng thị trường vốn Điều này được thể hiện:
● Khi cung về vốn < cầu về vốn: nền kinh tế thiếu vốn Các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn để đầu tư rất lớn trong khi các ngân hàng không đủ vốn để cung cấp Do đó các ngân hàng sẽ phải tăng lãi suất để:
huy động thêm vốn
giảm bớt áp lực vay vốn của các doanh nghiệp lãi suất dần tăng lên
I giảm đến khi thiết lập được cân bằng
● Khi cung về vồn > cầu về vốn: các ngân hàng thừa vốn trong khi các doanh nghiệp vay ít vốn Khi đó các ngân hàng phản ứng bằng cách giảm dần lãi suất để:
hạn chế người ta gửi tiền vào ngân hàng
khuyến khích các doanh nghiệp vay tiền lãi suất giảm dần
I tăng cho đến khi thiết lập được cân bằng
Tại mức lãi suất cân bằng thì tiết kiệm bằng đầu tư và cung về vốn vay bằng cầu về vốn vay
Tách tiết kiệm quốc dân thành hai phần để phân biệt tiết kiệm tư nhân và tiết kiệm công cộng
Tiết kiệm tư nhân + tiết kiệm công cộng = tiết kiệm quốc dân
III Chính sách tài chính và các ảnh hưởng của chính sách tài chính
1 Chính sách tài chính
Là một trong các công cụ của hệ thống các chính sách kinh tế được sử dụng để tác động vào mức sản lượng của nền kinh tế thông qua biện pháp thay đổi chi tiêu của chính phủ và thuế
Hai công cụ được sử dụng trong chính sách này là G và T
2 Tác động của chính sách tài chính
Qua nghiên cứu ở trên ta đã thấy được phương trình cơ bản trên thị trường hàng hoá và thị trường vốn vay Trong phần này ta sẽ nghiên cứu tác động của chính sách tài chính đối với từng thị trường như thế nào