1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài giảng Quản trị sản xuất

20 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 757,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là quyết đinh nhu cầu về nguồn nhân lực cần thiết để có thể sản xuất đủ số lượng sản phẩm đã dự báo hoặc đơn hàng trong từng giai đoạn được xác định thông qua xây[r]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG

KHOA KINH TẾ

BÀI GIẢNG MÔN: QUẢN TRỊ SẢN XUẤT

(Dùng cho đào tạo tín chỉ)

Lưu hành nội bộ - Năm 2017

Người biên soạn: Th.S Cao Anh Thảo

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ QUẢN TRỊ SẢN XUẤT 1

1.1 Một số khái niệm 1

1.1.1.Khái niệm về sản xuất 1

1.1.2 Khái niệm về quản trị sản xuất và dịch vụ 2

1.1.3 Doanh nghiệp xét theo quan điểm hệ thống 3

1.2 Lịch sử phát triển của lý thuyết quản trị sản xuất và dịch vụ 3

1.3 Vấn đề năng suất trong quản trị sản xuất và dịch vụ 6

1.3.1 Khái niệm và ý nghĩa của năng suất 6

1.3.2 Những nhân tố tác động đến năng suất 7

1.4 Vấn đề lựa chọn chiến lược trong quản trị sản xuất và dịch vụ 8

1.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chiến lược 8

1.4.3 Kỹ thuật phân tích SWOT 10

1.4.4 Trình tự lựa chọn chiến lược 11

1.5 Nội dung quản trị sản xuất và dịch vụ 12

1.5.1 Quyết định về dự báo 12

1.5.2 Quyết định về sản phẩm và công nghệ 12

1.5.3 Quyết định vị trí xí nghiệp 13

1.5.4 Quyết định bố trí mặt bằng 13

1.5.5 Quyết định sử dụng các nguồn lực 13

1.5.6 Quyết định về nhu cầu vật tư 13

1.5.7 Quyết định về tồn kho 13

1.5.8 Quyết định về điều độ sản xuất 13

1.5.9 Quyết định về nguồn nhân lực 13

1.5.10 Quyết định về trình độ dịch vụ 14

CHƯƠNG 2: DỰ BÁO 15

2.1 Các loại dự báo 15

2.1.1 Căn cứ vào thời đoạn dự báo 15

2.1.2 Căn cứ vào nội dung công việc cần dự báo 15

2.2 Các nhân tố tác động đến dự báo nhu cầu 16

2.2.1 Các nhân tố chủ quan 16

2.2.2 Các nhân tố khách quan 16

2.3 Tác động của chu kỳ sống sản phẩm đối với dự báo 16

2.4 Các phương pháp dự báo nhu cầu 17

2.4.1 Các phương pháp định tính 17

2.4.2 Các phương pháp định lượng 18

2.5 Giám sát và kiểm soát dự báo 24

Trang 3

2.5.1 Tín hiệu theo dõi 24

2.5.2 Giới hạn kiểm tra 25

3.1 Quyết định về sản phẩm, dịch vụ 26

3.1.1 Lựa chọn sản phẩm, dịch vụ 26

3.1.2 Phát triển sản phẩm mới 27

3.1.3 Thiết kế sản phẩm mới 27

3.2 Quyết định về công nghệ 29

3.2.1 Các loại quá trình công nghệ 29

3.2.2 Phân tích so sánh 3 loại công nghệ 30

3.2.3 So sánh các chiến lược về công nghệ 31

3.3 Quyết định về công suất 31

3.3.1 Các loại công suất 32

3.3.2 Lựa chọn công suất 33

3.4 Quyết định về thiết bị 34

3.4.1 Nguyên tắc lựa chọn thiết bị 34

3.4.2 Bài toán chọn máy 34

3.4.3 Bài toán chọn phương thức mua máy 38

CHƯƠNG 4: XÁC ĐỊNH ĐỊA ĐIỂM DOANH NGHIỆP VÀ BỐ TRÍ SẢN XUẤT 39 4.1 Xác định địa điểm doanh nghiệp 39

4.1.1 Các bước tiến hành chọn địa điểm 39

4.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc chọn địa điểm 39

4.1.3 Các phương pháp xác định địa điểm 40

4.2 Bố trí sản xuất 43

4.2.1 Khái niệm và vai trò của bố trí sản xuất 43

4.2.2 Các loại hình bố trí sản xuất chủ yếu 44

4.2.3 Thiết kế bố trí sản xuất trong doanh nghiệp 46

CHƯƠNG 5: NHỮNG CHIẾN LƯỢC HOACH ĐỊNH TỔNG HỢP 51

5.1 Quá trình hoạch định tổng hợp 51

5.1.1 Khái niệm 51

5.1.2 Mối quan hệ của hoạch định tổng hợp 51

5.1.3 Những chiến lược trong việc hoạch định tổng hợp 51

5.1.4 Lịch trình sản xuất chính 55

5.2 Các phương pháp hoạch định tổng hợp 56

5.2.1 Phương pháp trực quan 56

5.2.2 Phương pháp biểu đồ và đồ thị 56

5.2.3 Phương pháp cân bằng tối ưu 57

CHƯƠNG 6: LẬP LỊCH TRÌNH SẢN XUẤT 58

Trang 4

6.1 Sắp xếp thứ tự tối ưu trong sản xuất dịch vụ 58

6.1.1 Các nguyên tắc ưu tiên đối với những công việc cần làm trước 58

6.1.2 Đánh giá mức độ hợp lý của việc bố trí các công việc 58

6.1.3 Nguyên tắc Johnson 59

6.1.4 Sắp xếp lịch trình cho N công việc trên M máy 60

6.2 Phương pháp phân công công việc cho các máy 61

6.3 Phương pháp sơ đồ Gantt 63

6.4 Phương pháp sơ đồ Pert 64

CHƯƠNG 7: QUẢN TRỊ HÀNG TỒN KHO 67

7.1 Những khái niệm 67

7.1.1 Chức năng quản trị hàng tồn kho 67

7.1.2 Sử dụng kỹ thuật phân tích ABC để phân loại hàng tồn kho 67

7.1.3 Yêu cầu ghi chép chính xác trong ghi chép báo cáo tồn kho 69

7.1.4 Tồn kho đúng thời điểm 69

7.1.5 Các loại chi phí tồn kho 71

7.2 Những mô hình tồn kho 72

7.2.1 Mô hình lượng đặt hàng kinh tế cơ bản (EOQ − Economic Order Quantity) 72

7.2.2 Mô hình lượng đặt hàng theo sản xuất (POQ - Production Order Quantity model) 75

7.2.3 Mô hình khấu trừ theo số lượng 76

7.2.4 Mô hình xác suất với thời gian cung ứng không đổi 77

7.3 Đo lường, đánh giá hiệu quả hàng tồn kho 78

7.3.1 Ứng dụng kỹ thuật phân tích biên tế để xác định lượng dự trữ tồn kho tối ưu 78 7.3.2 Các chỉ tiêu xác định hiệu quả tồn kho 79

CHƯƠNG 8: HOẠCH ĐỊNH NHU CẦU VẬT TƯ 81

8.1 Các yêu cầu của mô hình tồn kho đối với các mặt hàng phụ thuộc trong lĩnh vực sản xuất 81

8.2 Hệ thống hoạch định nhu cầu vật tư 82

8.2.1 Lợi ích của việc hoạch định nhu cầu vật tư 82

8.2.2 Cấu trúc của hệ thống hoạch định nhu cầu vật tư 82

8.2.3 Sự đổi mới và sự thay đổi thực trong hệ thống hoạch định nhu cầu vật tư 86

8.3 Kỹ thuật xác định kích thước lô hàng 87

8.3.1 Mô hình đưa hàng theo lô ứng với nhu cầu 87

8.3.2 Mô hình sản lượng kinh tế của đơn hàng 87

8.3.3 Mô hình kỹ thuật cân đối các thời kỳ bộ phận 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 5

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ QUẢN TRỊ SẢN XUẤT 1.1 Một số khái niệm

1.1.1.Khái niệm về sản xuất

Theo quan niệm phổ biến trên thế giới thì sản xuất được hiểu là quá trình tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ

Ở nước ta lâu nay có một số người thường cho rằng chỉ có những doanh nghiệp chế tạo, sản xuất các sản phẩm vật chất có hình thái cụ thể như tủ lạnh, tivi, bàn, ghế, mới gọi là các đơn vị sản xuất Những đơn vị khác không sản xuất các sản phẩm vật chất đều xếp vào loại các đơn vị phi sản xuất Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, quan niệm như vậy không còn phù hợp nữa

Một hệ thống sản xuất sử dụng các yếu tố đầu vào là nguyên vật liệu, con người, máy móc, nhà xưởng, kỹ thuật công nghệ, tiền mặt và các nguồn tài nguyên khác để chuyển đổi nó thành đầu ra gồm sản phẩm hoặc dịch vụ Sự chuyển đổi này là hoạt động trọng tâm và phổ biến của hệ thống sản xuất Mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị

hệ thống sản xuất, là các hoạt động chuyển hóa của sản xuất

Hình 1.1: Sơ đồ quá trình sản xuất

Như vậy, về thực chất sản xuất chính là quá trình chuyển hóa các yếu tố đầu vào biến chúng thành các sản phẩm hoặc dịch vụ ở đầu ra Chúng ta có thể hình dung quá trình này như trong hình 1.1 Sự khác biệt giữa quá trình sản xuất sản phẩm hữu hình (sản phẩm) và sản phẩm vô hình (dịch vụ) được thể hiện cụ thể sau

Sản xuất sản phẩm hữu hình Sản xuất sản phẩm vô hình (Dịch vụ)

1 Tạo ra sản phẩm vật chất

2 Có thể dự trữ (tồn kho)

3 Ít tiếp xúc với khách hàng trong

quá trình sản xuất

4 Cần nhiều máy móc thiết bị

5 Thông thường cần vốn lớn

1 Không tạo ra sản phẩm vật chất

2 Không lưu trữ được

3 Thường xuyên tiếp xúc với khách hàng

4 Cần nhiều nhân viên

5 Thông thường cần số vốn ít

- Nguồn nhân lực

- Nguyên liệu

- Công nghệ

- Máy móc, thiết bị

-Tiền vốn

- Khoa học và nghệ thuật

quản trị

Đầu vào

- Làm biến đổi

- Tăng thêm giá trị

Chuyển hóa

- Hàng hóa

- Dịch vụ

Đầu ra

Trang 6

6 Chất lượng sản phẩm dễ đánh

giá

7 Sản phẩm được phân phối

không giới hạn địa lý

6 Chất lượng sản phẩm dịch vụ khó đánh giá

7 Việc phân phối dịch vụ có giới hạn

về địa lý

Theo nghĩa rộng, sản xuất bao hàm bất kỳ hoạt động nào nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người Nó có thể phân thành: sản xuất bậc 1; sản xuất bậc 2 và sản xuất bậc 3

 Sản xuất bậc 1 (sản xuất sơ chế): là hình thức sản xuất dựa vào khai thác tài

nguyên thiên nhiên hoặc là những hoạt động sử dụng các nguồn tài nguyên có sẵn, còn ở dạng tự nhiên như khai thác quặng mỏ, khai thác lâm sản, đánh bắt hải sản, trồng trọt,

 Sản xuất bậc 2 (công nghiệp chế biến): là hình thức sản xuất, chế tạo, chế biến

các loại nguyên liệu thô hay tài nguyên thiên nhiên biến thành hàng hóa như: gỗ chế biến thành bàn ghế, quặng mỏ biến thành sắt thép Sản xuất bậc 2 bao gồm cả việc chế tạo các bộ phận cấu thành được dùng để lắp ráp thành sản phẩm tiêu dùng và sản phẩm công nghiệp

 Sản xuất bậc 3 (công nghiệp dịch vụ): Cung cấp hệ thống các dịch vụ nhằm thỏa

mãn nhu cầu đa dạng của con người Trong nền sản xuất bậc 3, dịch vụ được sản xuất ra nhiều hơn các hàng hóa hữu hình Các nhà sản xuất công nghiệp được cung cấp những điều kiện thuận lợi và dịch vụ trong phạm vi rộng lớn Các công ty vận tải chuyên chở sản phẩm của các nhà sản xuất từ nhà máy đến các nhà bán lẻ Các nhà bán buôn và nhà bán lẻ cung cấp các dịch vụ đến người tiêu dùng cuối cùng Ngoài ra còn nhiều loại dịch

vụ khác như: bốc dỡ hàng hóa, bưu điện, viễn thông, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, y tế, giáo dục, nhà hàng, khách sạn

1.1.2 Khái niệm về quản trị sản xuất và dịch vụ

Quản trị sản xuất bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến việc quản trị các yếu

tố đầu vào, tổ chức, phối hợp các yếu tố đó nhằm chuyển hóa chúng thành các sản phẩm vật chất hoặc dịch vụ với hiệu quả cao nhất

Để tạo ra sản phẩm và dịch vụ các doanh nghiệp đều phải thực hiện 3 chức năng cơ bản: Marketing, sản xuất và tài chính Các nhà quản trị Marketing chịu trách nhiệm tạo

ra nhu cầu cho sản phẩm và dịch vụ của tổ chức Các nhà quản trị tài chính chịu trách nhiệm về việc đạt được mục tiêu tài chính của doanh nghiệp Các doanh nghiệp không thể thành công khi không thực hiện đồng bộ các chức năng tài chính, Marketing và sản xuất Không quản trị sản xuất tốt thì không có sản phẩm hoặc dịch vụ tốt; không có Marketing thì sản phẩm hoặc dịch vụ cung ứng không nhiều; không có quản trị tài chính thì các thất bại về tài chính sẽ diễn ra Mỗi chức năng hoạt động một cách độc lập để đạt được mục tiêu riêng của mình đồng thời cũng phải làm việc cùng nhau để đạt được mục

Trang 7

tiêu chung cho tổ chức về lợi ích, sự tồn tại và tăng trưởng trong một điều kiện kinh doanh năng động

Do đó có thể nói rằng quản trị sản xuất và dịch vụ có tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt động của doanh nghiệp Nếu quản trị tốt, ứng dụng các phương pháp quản trị khoa học thì sẽ tạo khả năng sinh lợi lớn cho doanh nghiệp Ngược lại nếu quản trị xấu sẽ làm cho doanh nghiệp thua lỗ, thậm chí có thể bị phá sản

1.1.3 Doanh nghiệp xét theo quan điểm hệ thống

Một doanh nghiệp dù hoạt động trong một ngành kinh tế nào cũng có tính độc lập tương đối, lập thành một hệ thống (system), có các mối quan hệ bên trong và bên ngoài cũng như các hệ thống thông thường khác Thực chất doanh nghiệp là một hệ thống chuyển hóa các đầu vào thành đầu ra dưới dạng sản phẩm dịch vụ

Vì một doanh nghiệp có 3 chức năng chính là marketing, sản xuất dịch vụ và tài chính kế toán nên thường được tổ chức thành những bộ phận riêng, lập thành 3 hệ thống

bộ phận, có tác động qua lại với nhau, tạo thành các mối quan hệ chủ yếu bên trong của doanh nghiệp

Các nhân tố bên ngoài có tác động đến doanh nghiệp bao gồm chủ yếu là hệ thống kinh tế quốc gia, hệ thống mậu dịch quốc tế, hệ thống chính trị quốc gia và quốc tế

Những nhà quản trị nào thông hiểu được sự vận hành của những hệ thống bên trong

và bên ngoài sẽ có cơ hội trở thành các nhà quản trị giỏi, có khả năng phối hợp những mối liên hệ giữa con người với các nguồn tiềm năng vật chất, tài chính, thông tin…để làm cho hoạt động của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao

Với quan điểm nhìn nhận doanh nghiệp như là một hệ thống sẽ giúp chúng ta có được tầm nhìn bao quát, toàn diện về doanh nghiệp trong mối quan hệ với môi trường hoạt động Điều này giúp chúng ta xây dựng được những nhiệm vụ quản trị có hiệu quả,

có tính khả thi để thực hiện tốt mục tiêu chiến lược chung của doanh nghiệp

1.2 Lịch sử phát triển của lý thuyết quản trị sản xuất và dịch vụ

Quản trị sản xuất trong thực tế đã xuất hiện từ thời cổ đại nhưng chúng chỉ được coi

là "các dự án sản xuất công cộng" chứ chưa phải là quản trị sản xuất trong nền kinh tế thị trường

Quản trị sản xuất trong các doanh nghiệp với tư cách là đơn vị sản xuất hàng hoá tham gia kinh doanh trên thị trường mới chỉ xuất hiện gần đây Bắt đầu từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất vào những năm 1770 ở Anh Thời kỳ đầu trình độ phát triển sản xuất còn thấp, công cụ sản xuất đơn giản, chủ yếu lao động thủ công và nửa cơ khí Hàng hoá được sản xuất trong những xưởng nhỏ Các chi tiết bộ phận chưa tiêu chuẩn hoá, không lắp lẫn được Sản xuất diễn ra chậm, chu kỳ sản xuất kéo dài, năng suất rất thấp Khối lượng hàng hoá sản xuất được còn ít Khả năng cung cấp hàng hoá nhỏ hơn nhu cầu trên thị trường

Trang 8

Từ sau những năm 70 của thế kỷ XVIII, những phát minh khoa học mới liên tục ra đời, trong giai đoạn này đã tạo ra những thay đổi có tính cách mạng trong phương pháp sản xuất và công cụ lao động tạo điều kiện chuyển từ lao động thủ công sang lao động cơ khí Những phát minh cơ bản là phát minh máy hơi nước của James Watt năm 1764; cuộc cách mạng kỹ thuật trong ngành dệt năm 1885; sau đó là hàng loạt những phát hiện và khai thác than, sắt cung cấp nguồn nguyên liệu, năng lượng, máy móc mới cho sản xuất của các doanh nghiệp

Cùng với những phát minh khoa học kỹ thuật là những khám phá mới trong khoa học quản lý, tạo điều kiện hoàn thiện tổ chức sản xuất trong các doanh nghiệp, đẩy nhanh quá trình ứng dụng, khai thác kỹ thuật mới một cách có hiệu quả hơn Năm 1776, Adam Smith trong cuốn "Của cải của các quốc gia" lần đầu tiên nhắc đến lợi ích của phân công lao động Quá trình chuyên môn hoá dần dần được tổ chức, ứng dụng trong hoạt động sản xuất, đưa năng suất lao động tăng lên đáng kể Quá trình sản xuất được phân chia thành các khâu khác nhau giao cho các bộ phận riêng lẻ đảm nhận

Lý thuyết về sự trao đổi lắp lẫn giữa các chi tiết bộ phận của Eli Whitney năm 1790

ra đời đã tạo điều kiện và khả năng lắp lẫn giữa các chi tiết bộ phận được làm ở những nơi khác nhau góp phần to lớn trong nâng cao năng lực sản xuất của xã hội, hình thành sự phân công hiệp tác giữa các doanh nghiệp Các hình thức tổ chức doanh nghiệp mới xuất hiện Những đặc điểm đó đã tác động đến hình thành quan niệm quản trị sản xuất chủ yếu

là tổ chức điều hành các hoạt động tác nghiệp trong doanh nghiệp Nhiệm vụ cơ bản của

tổ chức sản xuất trong giai đoạn này là tổ chức, điều hành sản xuất sao cho sản xuất ra càng nhiều sản phẩm càng tốt vì cung còn thấp hơn cầu rất nhiều Vì vậy, trong giai đoạn này các doanh nghiệp có quy mô tăng lên nhanh chóng

Tiếp đó, một bước ngoặt cơ bản trong tổ chức hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp là sự ra đời của học thuyết "Quản lý lao động khoa học" của Taylor công bố năm

1911 Quá trình lao động được hợp lý hoá thông qua việc quan sát, ghi chép, đánh giá, phân tích và cải tiến các phương pháp làm việc Công việc được phân chia nhỏ thành những bước đơn giản giao cho một cá nhân thực hiện Để tổ chức sản xuất không chỉ còn đơn thuần là tổ chức điều hành công việc mà trước tiên phải hoạch định, hướng dẫn và phân giao công việc một cách hợp lý nhất Nhờ phân công chuyên môn hoá và quá trình chuyển đổi trong quản trị sản xuất đã đưa năng suất lao động trong giai đoạn này tăng lên nhanh chóng Khối lượng sản phẩm do các doanh nghiệp sản xuất ngày càng lớn, thị trường lúc này cung đã dần dần đến điểm cân bằng với cầu về nhiều loại sản phẩm, buộc các doanh nghiệp phải tính toán cân nhắc thận trọng hơn trong quản trị sản xuất Đặc trưng cơ bản của quản trị sản xuất trong thời kỳ này là sản xuất tối đa, dự trữ hợp lý bán thành phẩm tại nơi làm việc và quản lý thủ công

Trang 9

Những năm đầu thế kỷ XX học thuyết quản lý khoa học của Taylor được áp dụng triệt để và rộng rãi trong các doanh nghiệp Con người và hoạt động của họ trong công việc được xem xét dưới "kính hiển vi" nhằm loại bỏ những thao tác thừa, lãng phí thời gian và sức lực Người lao động được đào tạo, hướng dẫn công việc một cách cặn kẽ để

có thể thực hiện tốt nhất các công việc của mình

Việc khai thác triệt để những mặt tích cực của lý thuyết Taylor làm cho năng suất tăng lên rất nhanh Nhiều sản phẩm công nghiệp có xu hướng: khả năng cung vượt cầu Hàng hoá ngày càng nhiều trên thị trường, tính chất cạnh tranh trở nên gay gắt hơn Các doanh nghiệp có khả năng sản xuất khối lượng sản phẩm lớn và bắt đầu phải quan tâm nhiều hơn tới hoạt động bán hàng

Quản trị sản xuất lúc này có nội dung rộng hơn bao gồm các chức năng hoạch định, lựa chọn và đào tạo hướng dẫn, tổ chức và kiểm tra toàn bộ quá trình sản xuất của doanh nghiệp với mục tiêu chủ yếu là tăng khối lượng sản phẩm sản xuất một cách hợp lý, đồng thời với nâng cao hiệu quả của quá trình sản xuất trong các doanh nghiệp

Vào những năm 30 của thế kỷ XX, lý luận của Taylor đã bộc lộ những nhược điểm, mức phát huy tác dụng đã ở giới hạn tối đa Để nâng cao năng suất lao động, tăng sản lượng sản xuất, chất lượng sản phẩm, giảm chi phí, bắt đầu xuất hiện những lý luận mới được áp dụng trong quản trị sản xuất Con người không còn chỉ được xem xét ở khía cạnh kỹ thuật đơn thuần như một bộ phận kéo dài của máy móc thiết bị như trong học thuyết quản lý lao động khoa học của Taylor đã đề cập mà bắt đầu nhận thấy con người là một thực thể sáng tạo có nhu cầu tâm lý, tình cảm và cần phải thoả mãn những nhu cầu

đó Những khía cạnh xã hội, tâm sinh lý, hành vi của người lao động được đề cập nghiên cứu và đáp ứng ngày càng nhiều nhằm khai thác khả năng vô tận của con người trong nâng cao năng suất Lý luận của Maslow về các bậc thang nhu cầu của con người, học thuyết của Elton Mayo 1930 về động viên khuyến khích người lao động cùng với hàng loạt các lý thuyết về hành vi và các mô hình toán học xuất hiện đưa quản trị sản xuất chuyển sang một giai đoạn mới phát triển cao hơn, với những nội dung cần quan tâm rộng lớn hơn

Sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, tính cạnh tranh ngày càng tăng buộc các doanh nghiệp tăng cường hoàn thiện quản trị sản xuất Quản trị sản xuất tập trung vào phấn đấu giảm chi phí về tài chính, vật chất và thời gian, tăng chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng, Nhiệm vụ, chức năng của quản trị sản xuất được mở rộng ra bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau từ nghiên cứu nhu cầu thị trường, thiết kế sản phẩm, thiết kế hệ thống sản xuất tới hoạch định, tổ chức thực hiện và kiểm tra kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất của doanh nghiệp

Trang 10

1.3 Vấn đề năng suất trong quản trị sản xuất và dịch vụ

1.3.1 Khái niệm và ý nghĩa của năng suất

Khái niệm: Năng suất là tỷ số giữa đầu ra và những yếu tố đầu vào được sử dụng để

tạo ra đầu ra đó

Đầu ra có thể là tổng giá trị sản xuất hoặc giá trị gia tăng, hoặc khối lượng hàng hóa tính bằng đơn vị hiện vật Đầu vào được tính theo các yếu tố tham gia để sản xuất ra đầu

ra, đó là lao động, nguyên liệu, thiết bị máy móc,… Việc chọn đầu vào và đầu ra khác nhau sẽ tạo ra các mô hình đánh giá năng suất khác nhau Có thể biểu diễn công thức tính năng suất chung cho tất cả các yếu tố như sau

PL =

Trong đó:

PL: Năng suất chung

Ql: Tổng đầu ra L: Yếu tố lao động C: Yếu tố vốn R: Nguyên liệu thô Q: Những hàng hóa và dịch vụ trung gian khác Như vậy, năng suất được đánh giá chung cho tất cả các yếu tố và cho từng yếu tố đầu vào Nó được lượng hóa thông qua những con số cụ thể, phản ánh mức hiệu quả của việc khai thác sử dụng các yếu tố đầu vào Tuy nhiên, ngoài những yếu tố có thể lượng hóa được năng suất cần được đánh giá đầy đủ về mặt định tính như tính hữu ích của đầu

ra, mức độ thỏa mãn người tiêu dùng, mức độ đảm bảo những yêu cầu về xã hội gồm bảo

vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên, ít gây ô nhiễm,…

Để đánh giá sự đóng góp của từng nhân tố riêng biệt người ta còn dùng các chỉ tiêu năng suất bộ phận Năng suất bộ phận gồm hai loại cơ bản nhất là năng suất lao động và năng suất vốn

 Năng suất lao động: Năng suất lao động phản ảnh tính hiệu quả quả việc sử

dụng lao động Thực chất nó đo giá trị đầu ra do một công nhân tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định (ngày, tháng, năm, giờ) hoặc là số thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

WL = hoặc WL =

Trong đó:

WL: Năng suất lao động

Ngày đăng: 09/03/2021, 06:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm