ViÖc nghiªn cøu th¬ NguyÔn BÝnh mµ ®Æc biÖt lµ th¬ t×nh NguyÔn BÝnh b»ng sù ®i s©u chi tiÕt vµo ng«n ng÷ t×nh yªu lµ mét ®ãng gãp hoµn toµn míi gióp chóng ta cã mét h×nh dung chung nhÊt,[r]
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
có vai trò “là phơng tiện thứ nhất của văn học”, nên chắc chắn việc khảo sát kỹ lỡng
hệ thống ngôn ngữ trong thơ tình Nguyễn Bính sẽ góp phần xác định những điểm độc
đáo, đặc sắc về hình thức biểu hiện, nhất là về cấu trúc, âm điệu, các lớp từ giàu giá
Trang 2trị biểu nghĩa và các biện pháp tu từ nổi bật Đề tài luận văn “Ngôn ngữ thơ tìnhNguyễn Bính” chúng tôi đi theo hớng tiếp cận thơ Nguyễn Bính dựa trên quan hệ hữucơ giữa nội dung và hình thức cũng nh quan hệ giữa cá tính của nhà thơ và thi phẩmcủa ông Mặt khác, kết quả khảo sát “Ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính” có thể gópphần lý giải tại sao mảng thơ này lại có sức cuốn hút nhiều thế hệ ngời Việt đến vậy.
1.2 Là một trong những nhà thơ lớn của phong trào Thơ Mới (1932 - 1945) nóiriêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung, nên khá nhiều bài thơ của Nguyễn Bính
đợc đa vào giảng dạy ở trờng phổ thông Trong chơng trình đào tạo cử nhân Ngữ văn ởcác trờng đại học và cao đẳng, Nguyễn Bính luôn có vị trí một tác giả lớn Tuy vậy, ph-
ơng diện ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính nói chung, ngôn ngữ trong những bài thơ củaNguyễn Bính đợc giảng dạy ở nhà trờng nói riêng cha đợc đề cập, phân tích Đề tài luậnvăn “Ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính” chúng tôi lựa chọn và thực hiện với mong muốntiếp cận mảng thơ tình của Nguyễn Bính từ góc độ ngôn ngữ, qua đó góp phần nhỏ vàoviệc dạy học tác giả và tác phẩm Nguyễn Bính trong nhà trờng hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
Nhìn chung qua các thời kỳ khác nhau, thơ Nguyễn Bính có những thăng trầm,nhng việc cảm thụ, đánh giá thơ Nguyễn Bính ít có những khác biệt hoặc những mâuthuẫn gay gắt Về căn bản, những nhận xét đánh giá của giới phê bình về NguyễnBính khá thống nhất Dù ở giai đoạn nào, Nguyễn Bính vẫn đợc xem là nhà thơ của
“Chân quê”, “Hồn quê”, “Tình quê”
Trong thời gian dài, thơ Nguyễn Bính đã đợc nghiên cứu xem xét ở nhiều góc
độ từ nội dung đến nghệ thuật, từ t tởng đến phong cách, từ giọng điệu đến kết cấu.Cha có một tác giả nào trực tiếp nghiên cứu ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính một cách tậptrung có hệ thống
* Lịch sử nghiên cứu thơ tình Nguyễn Bính
Có thể thấy các nhận định đánh giá của các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ thơ tìnhNguyễn Bính đều gặp nhau ở điểm: ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính vừa truyền thốngvừa hiện đại nhng nghiêng về truyền thống, gần gũi với ca dao hơn là sự cách tân, đâycũng là chỗ đặc sắc hơn ngời của Nguyễn Bính
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích của đề tài
Qua khảo sát bộ phận thơ tình Nguyễn Bính từ góc độ ngôn ngữ, đề tài cómục đích góp phần nhỏ vào quá trình nghiên cứu thơ Nguyễn Bính, một phong cáchthơ có sự nối kết hiệu quả giữa truyền thống và cách tân trong nền thơ Việt Namgiữa thế kỉ XX
3.2 Nhiệm vụ và đối tợng nghiên cứu
a Nhiệm vụ
Trang 3Luận văn đi vào giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Khảo sát và miêu tả về cấu trúc và âm điệu trong thơ tình Nguyễn Bính
- Khảo sát và miêu tả các lớp từ và các biện pháp tu từ nổi bật trong thơ tìnhNguyễn Bính
b Đối tợng nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát 106 bài thơ tình (đợc sáng tác trớc cách mạng
tháng tám năm 1945) có trong tập thơ: Thơ tình Nguyễn Bính (Nxb Đồng Nai, 1996)
và Tuyển tập Nguyễn Bính (Nxb văn học, Hà Nội 1986).
- Phơng pháp so sánh - đối chiếu: Đợc dùng khi so sánh đối chiếu với nhà thơcùng thời về sử dụng ngôn ngữ để làm rõ những đặc điểm riêng về phong cách ngônngữ thơ tình Nguyễn Bính
5 Cái mới của đề tài
Chúng tôi hy vọng đây là một trong những luận văn đầu tiên cố gắng đi vào tìmhiểu ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính một cách toàn diện về phơng tiện nội dung vàhình thức góp phần vào việc giảng dạy thơ Nguyễn Bính trong nhà trờng một cách tốthơn
Trang 4Chơng 1 Một số giới thUYếT liên quan đến đề tài 1.1 Thơ và ngôn ngữ thơ
1.1.1 Sự khác biệt giữa thơ và văn xuôi
Thơ và văn xuôi là hai kiểu tổ chức ngôn từ nghệ thuật mà sự khác nhau thuầntuý bề ngoài trớc hết là ở cơ cấu nhịp điệu
Trong khi văn xuôi thể hiện t tởng, tình cảm của tác giả bằng con đờng tái hiệnmột cách khách quan các hiện tợng đời sống thì thơ lại phản ánh đời sống bằng cáchbộc lộ trực tiếp ý thức của con ngời, nghĩa là con ngời tự cảm thấy mình qua những ấntợng, ý nghĩa cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh
Tác phẩm văn xuôi thờng có cốt truyện và hành động Gắn liền với cốt truyện
là một hệ thống nhân vật đợc khắc hoạ đầy đủ Thơ thờng không có cốt truyện, mỗibài thơ thể hiện một tâm trạng nên dung lợng của nó thờng ngắn (vì một trạng tháitâm trạng không thể kéo dài)
Trong thơ, cái tôi trữ tình giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, thờng xuất hiện dớidạng nhân vật trữ tình Còn ở văn xuôi thì nguyên tắc phản ánh hiện thực trong tínhkhách quan đã đặt trần thuật vào vị trí là nhân tố tổ chức ra thế giới nghệ thuật của tácphẩm, nó đòi hỏi nhà văn phải sáng tạo ra hình tợng ngời trần thuật
Thơ là tiếng nói bộc bạch làm việc trên trục dọc (trục lựa chọn, thay thế, tơng
đồng, quy chiếu, trục của các ẩn dụ) còn văn xuôi là tiếng nói đối thoại làm việc trêntrục ngang (trục kết hợp, trục tuyến tính)
Không gian trên trang giấy in thơ có nhiều khoảng trắng hơn trang in văn xuôi.Trong văn xuôi, ngôn từ mang tính miêu tả (tạo hình), nó ít tập trung vào chính
nó, trong khi đó thơ thì không thể tách rời ngôn từ
Có những hình thức trung gian giữa thơ và văn xuôi: thơ văn xuôi, văn xuôinhịp điệu Đôi khi thơ và văn xuôi xuyên thấm lẫn nhau (ví dụ văn xuôi trữ tình) hoặcchứa đựng trong nhau những mảng văn bản “dị loại” (tác phẩm thơ có những mảngvăn xuôi hoặc tác phẩm văn xuôi có những đoạn thơ xen kẽ của các nhân vật hoặc củatác giả)
c Về ngữ pháp
Trang 5Cấu trúc câu trong ngôn ngữ thơ thờng không tuân theo quy tắc bắt buộc và chặtchẽ nh câu trong văn xuôi và trong ngữ pháp thông dụng Nhà thơ có thể sử dụng cáckiểu câu khác nhau nh câu đảo ngữ, câu vắt dòng, câu trùng điệp mà không làm ảnhhởng đến việc tiếp nhận văn bản của ngời đọc Ngợc lại những kết hợp tổ chức ngônngữ “bất quy tắc” lại mở ra những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca
1.1.3 Các lớp từ giàu mầu sắc biểu cảm trong thơ ca Việt Nam
Tình thái là “những từ biểu thị sắc thái tình cảm, cảm xúc của ngời nói”
1.1.4 Các biện pháp tu từ thờng dùng trong thơ ca
1.1.4.3 Đối (đối ngẫu)
Đối là “một phơng thức tổ chức lời văn bằng cách điệp ngữ pháp nhằm tạo rahai vế, mỗi vế là một câu tơng đối hoàn chỉnh đợc viết thành hai dòng cân xứng, sóng
đôi với nhau”
1.1.4.4 Điệp ngữ
Điệp ngữ là “một hình thức tu từ có đặc điểm: một từ, cụm từ, câu hoặc
đoạn thơ văn đợc lặp lại với dụng ý nhấn mạnh hoặc gây ấn t ợng cho ngời đọc,ngời nghe”
1.2 Nguyễn Bính - cuộc đời và thơ
1.2.1 Cuộc đời và tác phẩm
Nguyễn Bính tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính Nhà thơ sinh vào cuối xuân
đầu hạ năm Mậu Ngọ (1918) trong một gia đình nhà nho nghèo tại xóm Trạm, thônThiện Vịnh, xã Đồng Đội, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
Thuở bé Nguyễn Bính không đợc đi học ở trờng mà mà chỉ học ở nhà với cha là
ông đồ Nguyễn Đạo Bình, sau đợc cậu ruột là ông Bùi Trình Khiêm nuôi dạy Năm
1932 Nguyễn Bính rời quê ra Hà Nội và từ đây bắt đầu nổi tiếng trong sự nghiệp sáng
tác văn học Ông đợc giải khuyến khích của tự lực văn đoàn với tập thơ Tâm hồn tôi
Trang 6(1940) Năm 1943 Nguyễn Bính đợc giải nhất văn học Nam Xuyên ở Sài Gòn với
truyện thơ Cây đàn tỳ bà.
Năm 1947 Nguyễn Bính tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ Nhà thơhăng hái tham gia mọi công tác và đợc giữ những trách nhiệm trọng yếu Thời giannày Nguyễn Bính sáng tác khá kịp thời và đều đặn, cổ động tinh thần yêu nớc quyếtchiến quyết thắng giết giặc lập công
Tháng 11-1954 Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, ông công tác ở hội nhà văn ViệtNam Năm 1956, ông làm chủ bút tuần báo “Trăm hoa”
Năm 1958 Nguyễn Bính về c trú tại Nam Định, ông công tác tại ty văn hoáthông tin Nam Định
Mùa thu năm 1965, ông theo cơ quan văn hoá Nam Định sơ tán vào huyện LýNhân
Nguyễn Bính mất đột ngột vào sáng 30 tết năm ất Tỵ (20-1-1966) lúc đến thămmột ngời bạn ỏ xã Hoà Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Nam Định, khi ông cha kịp sang tuổi
49
Trong hơn 30 năm sáng tác với nhiều thế loại khác nhau (Thơ, truyện thơ, kịchthơ, kịch bản chèo, lý luận sáng tác) Hoạt động văn nghệ của ông phong phú đa dạngsong thành tựu xuất sắc nhất đợc độc giả a chuộng là thơ bởi thơ là mảng sáng tác kết
tụ tài năng và tâm huyết của cuộc đời ông Riêng về thơ có thể nói rằng ông là cây bútsung sức nhất của phong trào Thơ Mới Chỉ trong một thời gian ngắn (1940-1945)
Nguyễn Bính đã cho ra đời những tập thơ có giá trị: Tâm hồn tôi (1940); Lỡ bớc sang ngang (1940); Hơng cố nhân (1941); Một nghìn cửa sổ (1941); ngời con gái ở lầu hoa (1942); Mời hai bến nớc (1942); Mây tần (1942); Bóng giai nhân (Kịch thơ - 1942); Truyện tỳ bà (truyện thơ - 1944).
Sau cách mạng Nguyễn Bính lại cho ra mắt các tập thơ: Ông lão mài gơm (1947); Đồng tháp mời (1955); Trả ta về (1955); Gửi ngời vợ miền Nam (1955); Trông bóng cờ bay (1957); Tiếng trống đêm xuân (1958); Tình nghĩa đôi ta (1960);
Đêm sao sáng (1962).
Với lối viết giầu chất trữ tình dân gian Nguyễn Bính đã tạo đợc một gơng mặtriêng trong nền văn học hiện đại Việt Nam Năm 2000 Nguyễn Bính đã đợc truy tặnggiải thởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
1.2.2 Thơ tình trong thơ Nguyễn Bính
Trong phong trào Thơ Mới (1932 - 1945), Nguyễn Bính là nhà thơ tình cóphong cách riêng Ông tự xem mình là “Thi sĩ của thơng yêu” Đơng thời, d luậnbáo chí nhận xét đọc “Hơng cố nhân ta thấy thi sĩ Nguyễn Bính là ngời đa cảm,mảnh hồn trong trẻo của tuổi thanh niên đã sớm theo luồng gió ái ân mà nên câutuyệt diệu”
Con tằm đã luỵ ba sinh
Trang 7Mà em đã luỵ của anh muôn đời.
Lạ quá ! làm sao tôi cứ buồn?
Làm sao tôi cứ khổ luôn luôn?
Làm sao tôi cứ tơng t mãi Ngời đã cùng tôi phụ rất tròn?
Tôi rờn rợn lắm giai nhân ạ
Đành phụ nhau thôi kẻo đến ngày
Thơ tình Nguyễn Bính luôn khao khát một mái ấm gia đình đơn sơ giản dị
Nhà gianh thì sẵn đấy
Vợ xấu có làm sao Quốc kêu ngoài bãi sậy Hoa súng nở đầy ao
(Hoa với rợu)
Thơ tình Nguyễn Bính toát lên tình yêu thơng mãnh liệt “Nguyễn Bính đã
đi sâu vào thế giới tâm tình của những mảnh đời ngang trái, dở dang, phân cách,
bẽ bàng Với ngòi bút của thi nhân, Nguyễn Bính tả chân thực đ ợc nỗi u buồn,trầm lặng, giải toả đợc những tiếng kêu bi thơng của những tâm hồn mộc mạc”
Trang 8Chính điều đó đã làm cho hồn thơ Nguyễn Bính đi vào tâm hồn ngời đọc mộtcách nhẹ nhàng.
Trang 9Chơng 2 Cấu trúc và âm điệu thơ tình nguyễn bính
Hình thức nghệ thuật trong tác phẩm văn học bao gồm các phơng tiện biểu hiện
nghệ thuật kết hợp hài hoà với hình tợng nghệ thuật nhằm hớng đến phạm trù thẩm
mỹ của tác phẩm, đồng thời nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của nhà văn
Là một nhà Thơ Mới, Nguyễn Bính vừa kế thừa nhiều hình thức của thơ ca dântộc nhng lại là một nhà cách tân, sáng tạo trên cấu trúc và mô hình truyền thống cósẵn Đi vào tìm hiểu cấu trúc và âm điệu trong thơ tình Nguyễn Bính cũng chính làtìm hiểu những cách tân về hình thức nghệ thuật trong thơ tình Nguyễn Bính
2.1 Các thể thơ tiêu biểu trong thơ tình Nguyễn Bính
để góp phần làm tăng sự phong phú cho thể loại thơ tình, Nguyễn Bính còn sáng tácmột số bài thơ 5 chữ và thơ Đờng luật trong đó thơ Đờng luật chiếm số lợng ít nhất 3bài (2,83%) trong tổng số 106 bài thơ tình Nguyễn Bính
2.1.1.1 Thể thơ lục bát
Thơ tình lục bát của Nguyễn Bính là những bài thơ tình hoàn chỉnh, mỗi bài làmột câu chuyện về một cuộc đời, một thân phận, có cảnh ngộ và tâm trạng riêng nh
trong các bài Lỡ bớc sang ngang, Lòng mẹ, Ngời hàng xóm Bởi vậy mà dung lợng
bài thơ tình lục bát của Nguyễn Bính phần lớn là những bài thơ dài
Qua khảo sát 50 bài thơ tình lục bát của Nguyễn Bính chúng tôi thấy có 22 bài
thơ lục bát dới 10 dòng trong số đó có một bài ngắn nhất là 2 dòng (Hoa cỏ may) và
28 bài thơ lục bát dài trên 10 dòng trở lên
Trong thơ Nguyễn Bính, âm hởng của thơ ca dân gian còn vang vọng ở thể thơlục bát (thể loại điển hình nhất của ca dao dân ca) Nguyễn Bính đã biết cách làm giàu
Trang 10cho sáng tác của mình trên mảnh đất văn hoá dân gian, từ đó khai thác và khơi nguồncảm hứng để tạo nên những thi phẩm mới
Nguyễn Bính hay vận dụng cách ngắt nhịp đều đặn, hài hoà nh ca dao truyềnthống Đó là nhịp 2/2/2;3/3 (câu lục) và 2/2/2/2; 4/4 (câu bát) thờng thấy của ca dao
Ngôn ngữ thơ lục bát của Nguyễn Bính gần gũi với ngôn ngữ thơ ca dân giancòn bởi nó giàu hình ảnh, màu sắc, nhạc điệu Nhà thơ đã chọn cho mình cách biểuhiện thế giới tình cảm trừu tợng thông qua những sự vật hiện tợng cụ thể xung quanh,những cảnh quan bình dị nơi thôn dã gần gũi thân quen, đó là thế giới của giàn đỗván, ao rau cần, dậu mồng tơi, hoa chanh hoa bởi, gió cả, giời cao
Một điều đáng chú ý là những từ có vùng mờ nghĩa hết sức đặc sắc của thơ cadân gian đã hoà hợp vào thơ Nguyễn Bính một cách rất tự nhiên Những đại từ phiếmchỉ ‘‘ngời’’, ‘‘ai’’, ‘‘ta’’, ‘‘mình’’ hoặc những cụm từ phím chỉ ‘‘ngời ấy’’, ‘‘bên ấy’’,
‘‘bên này’’rất tế nhị,
Nguyễn Bính còn làm tăng sắc thái biểu hiện của ngôn ngữ thơ bằng việc sửdụng thành thạo các biện pháp tu từ mà ca dao hay dùng Những hình ảnh ẩn dụ, sosánh thờng xuyên đi về trong thơ Nguyễn Bính Nói tình yêu đôi lứa, tác giả thờng
dùng hình ảnh hoa -bớm, trầu -cau,bến-đò, nói về thân phận ngời con gái đi lấy chồng mà không có hạnh phúc, tác giả gọi là lỡ bớc sang ngang, mời hai bến nớc, nói tới thân phận tha hơng nhà thơ viết thân nhạn, số long đong
Nguyễn Bính sử dụng rất thuần thục lối đan chữ thờng thấy trong thơ ca dân
gian kiểu: chín nhớ mời mong, bảy nổi ba chìm,
Về mặt cấu tứ bài thơ, khảo sát thơ tình Nguyễn Bính nói chung và thơ tình lụcbát Nguyễn Bính nói riêng trớc cách mạng, ta có thể nhận thấy trong thơ ông cũng cócác cách cấu tứ bài thơ theo thể phú, thể tỷ và thể hứng Đây là ba thể chính trong kếtcấu bài ca dao
Lục bát trong thơ tình Nguyễn Bính vừa có những đặc điểm gần gũi về nghệthuật thể hiện nh trong thơ ca dân gian mà chúng tôi đã trình bày ở trên nhng lục báttrong thơ tình Nguyễn Bính có những sáng tạo mới mẻ về hình ảnh, nhịp điệu trongcách thức và ý nghĩa sử dụng so với ca dao
Thơ lục bát của Nguyễn Bính là sự trở về với những hình ảnh gần gũi quenthuộc trog ca dao, với những bờ tre, gốc lúa, mảnh vờn, con đò, bến nớc, nơng dâu.Nhng điều đáng chú ý là Nguyễn Bính sử dụng hình ảnh chất liệu dân dã của ca daonhng ông đã thổi vào đó cái hồn của Thơ Mới
Hình ảnh dòng sông, con thuyền đi vào thơ Nguyễn Bính cũng có sự khác biệt
so với ca dao Cánh buồm h ảo xuất hiện trong thơ ông nh một sự mở rộng đến cao
độ Một cánh buồm mở rộng cả không gian, thời gian và chất chứa tâm trạng của sựchia xa
Anh đi đấy, anh về đâu ? Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm
Trang 11(Cánh buồm nâu)
Cũng là hình ảnh ngọn mồng tơi quen thuộc nhng nếu trong ca dao, ngọn mồngtơi cũng nh giải yếm, cành hồng là những nhịp cầu thể hiện khát vọng gắn kết đôi lứalại với nhau
ở gần sao chẳng sang chơi
Để anh cắt ngọn mùng tơi bắc cầu Cô kia cắt cỏ bên sông Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang
(Ca dao)
Trong thơ Nguyễn Bính những hình ảnh trên lại trở thành biểu tợng cho sự ngăncách về tâm hồn, là khoảng cách tâm lí mà con ngời không dễ gì vợt qua đợc Chàngtrai và cô gái trong thơ lục bát Nguyễn Bính chỉ cách nhau bởi giậu mồng tơi mà đànhthu hẹp mình trong nỗi buồn, nỗi cô đơn ngập tràn
Giá đừng có giậu mồng tơi
Thể nào tôi cũng sang chơi thăm nàng
Lục bát của Nguyễn Bính mang bản sắc,diện mạo trong thơ tình NguyễnBính nói riêng và thơ Nguyễn Bính nói chung trong phong trào thơ mới (1932-1945).Lục bát trong thơ tình Nguyễn Bính thể hiên tâm trạng cái tôi Thơ Mới, mang
đủ mọi cung bậc, cảm xúc buồn vui, ngậm ngùi, cay đắng vừa nh kể chuyện lại vừa
nh trữ tình
2.1.1.2 Thể thơ bảy chữ
Sau sự thành công của thể lục bát, thể thơ bảy chữ cũng đợc Nguyễn Bính thể hiệnkhá thành công trong đề tài viết về mùa xuân Thơ bảy chữ của Nguyễn Bính có số l -ợng 48 bài (45%) trong tổng số 106 bài thơ tình Nguyễn Bính
Cùng với Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, Thế Lữ đều viết
về mùa xuân và đã có nhiều bài thơ hay đợc khơi nguồn từ cảm hứng xuân Songtrong mạch cảm hứng về thơ xuân ấy, thơ xuân Nguyễn Bính vẫn có một vẻ riêng
2.1.1.3 Thể thơ 5 chữ
Thơ 5 chữ là thể thơ truyền thống xuất hiện trong sáng tác dân gian qua thể loại
vè và đồng dao
Trang 12Số lợng bài thơ 5 chữ tuy ít hơn rất nhiều so với lục bát và thơ 7 chữ củaNguyễn Bính Thơ 5 chữ của Nguyễn Bính có 5/106 bài (4,7%) Những bài thơ nàytuy câu chữ có vẻ hạn hẹp nhng không vì thế mà nội dung tình cảm lại khô khan,nghèo nàn Ngợc lại trong khuôn khổ hình thức ấy Nguyễn Bính đã biết lựa chọn và tổchức ngôn ngữ để tạo nên cho thơ 5 chữ của mình một thế giới cảnh vật đầy ắp màusắc hình khối đặc biệt là thế giới tình cảm phong phú, tinh tế của lòng ngời.
Thơ tình 5 chữ của Nguyễn Bính là những bài thơ tình tác giả viết về tình yêulứa đôi, tình cảm vợ chồng, mỗi khổ gồm 4 câu, bài dài nhất là 7 khổ Cách ngắt nhịp
và gieo vần cũng khác với thể hát giặm Nếu thể hát giặm chỉ ngắt 1 nhịp 3/2 cố định
nh khổ thơ trên thì thơ 5 chữ của Nguyễn Bính nhịp thơ đợc ngắt linh hoạt theo dòngtâm trạng và cảm xúc và tâm trạng nhân vật trữ tình, nhịp xen kẽ 2/3 và 3/2 trong mộtkhổ thơ, tác giả gieo vần chân gián cách ở cuối câu thơ
Thể thơ 5 chữ trong thơ tình Nguyễn Bính dù rất ít nhng đã góp phần làm giàu
thêm trong sự đa dạng, đa giọng của thể loại thơ tình Nguyễn Bính.
2.1.2 Tổ chức của các bài thơ tình Nguyễn Bính
2.1.2.1 Khái niệm tiêu đề trong văn bản thơ
Tiêu đề là tên gọi cuả một văn bản thơ, thờng ở đầu văn bản, đợc trình bày bằngnhững con chữ riêng cho phép phân biệt nó với toàn bộ phần còn lại của văn bản
2.1.2.2 Tiêu đề các bài thơ tình của Nguyễn Bính
Bảng 2: Độ dài tiêu đề các bài thơ tình của Nguyễn Bính
độ dài tiêu đề Số bài tỉ lệ % ví dụ
1 âm tiết 5 4,7% Nhớ, ghen…
2 âm tiết 43 40,5% Chờ nhau, Chân quê…
3 âm tiết 30 28,3% Ngời hàng xóm, Mùa xuân xanh…
4 âm tiết 20 18,8% Một trời quan tái…
5 âm tiết 1 0,9% Giấc mơ anh lái đò…
6 âm tiết 4 3,7% Ngời con gái ở lầu hoa…
7 âm tiết 3 2,8% Hà Nội ba mơi sáu phố phờng
Qua khảo sát độ dài tiêu đề các bài thơ tình Nguyễn Bính chúng tôi thấy rằng:Tiêu đề các bài thơ tình Nguyễn Bính có độ dài ngắn nhất là 1 âm tiết và dài nhất là
7 âm tiết Tiêu đề đợc Nguyễn Bính dùng nhiều nhất là 2 âm tiết và 3 âm tiết(68,8%), tiêu đề dùng ít nhất là 5 âm tiết (0,9%) Điều này chứng tỏ đồ dài tiêu đềNguyễn Bính rất ngắn gọn nhng vẫn thể hiện đầy đủ nội dung chủ đề các bài thơtình Nguyễn Bính