- Hệ điều hành iOs của hãng Apple - Hệ điều hành RIM được dùng cho điện thoại BlackBerry của hãng Research In Motion - Hệ điều hành Window Phone của hãng Microsoft Và cũng do có nhiều hệ
Trang 1Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học kỹ thuật 1
TP Hồ Chí Minh, Tháng 12 năm 2013
Trang 2Hiện nay, như chúng ta đã biết thì điện thoại di động ngày càng gắng bó mật thiết với cuộc sống của con người Cùng với đó thì công nghệ dành cho điện thoại ngày càng đi
Bây giờ mọi người có thể làm mọi thứ với chiếc điện thoại của mình như kiểm tra EMAIL, nghe nhạc trực tuyến, xem phim,
Những bạn học sinh, sinh viên thì có thể dùng điện thoại như máy tính, có thể kiểm tra lịch thi, lịch học, thời khóa biểu
Và ý tưởng ở đây là các bạn có thể có nguyên một “Thƣ Viện Điện Tử Bỏ Túi”
dành cho các bạn trong ngành điện tử nói riêng và các bạn học sinh sinh viên, ngay cả những người muốn tìm hiểu chúng nói chung đều có thể cài đặt ứng dụng này lên điện thoại và đưa ra tìm kiếm thông tin trên đó về một loại linh kiện điện tử nào khi cần
Làm như vậy hiệu suất công việc cũng như kiến thức của bạn sẽ linh động, đi đến đâu, làm việc gì nhưng mỗi khi cần bạn đều có thể lấy được thông tin ngay lập tức
Trang 31 Lý do chọn đề tài:
Hiện nay, trên thế giới chúng ta ngày càng đông dân do sự bùng nổ dân số, cùng với đó thì số lượng người sử dụng điện thoại thông minh (smartphone) ngày càng tăng cao Điện thoại thông minh hiện nay ta có các phân loại theo hệ điều hành chính như sau:
- Hệ điều hành Android của hãng Google
- Hệ điều hành iOs của hãng Apple
- Hệ điều hành RIM được dùng cho điện thoại BlackBerry của hãng Research In Motion
- Hệ điều hành Window Phone của hãng Microsoft
Và cũng do có nhiều hệ điều hành cho điện thoại thông minh nên các hệ điều hành đó cũng cần có một kho tài nguyên không nhỏ về ưng dụng dành cho thiết bị đang chạy hệ điều hành của mình
Xu hướng tất yếu này cũng đã được ứng dụng rộng rãi ở các nước tiên tiến trên thế giới như Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Anh,… Và hiện tại các thiết bị chạy hệ điều hành về Android và iOs đang chiếm đa phần thị phần điện thoại thông minh
Vấn đề đặt ở đây là chúng ta nên xây dựng ứng dụng về gì cho điện thoại thông minh đó, đầu tiên là cho chính ta sử dụng và sau đó là ứng dụng sẽ rộng khắp Thứ 2 là ta nên chọn hệ điều hành nào để viết ứng dụng đó
Để giải quyết vấn đề trên thì đề tài: “Ứng dụng cho Smartphone – Thư Viện Điện
Tử Bỏ Túi Cho Android” được chọn thực hiện và nghiên cứu nhằm đáp ứng về nhu cầu
tìm kiếm thông tin điện tử cho những người đang hoạt động trong và ngoài ngành điện tử,
giúp mọi người dễ tiếp cận hơn với nguồn thông tin về các linh kiện và thiết bị điện tử
2 Mục tiêu đề tài:
Nguyên nhân chọn thiết bị Android là vì đó là hệ điều hành phổ biến nhất Các thiết bị có giá từ rất rẻ đến đắt đều có mặt của Android Từ một chiếc điện thoại có giá
Trang 4giá thành khá cao so với mặt bằng chung của Việt Nam Vậy nên chọn Android là một hướng đúng đắn
Việt nam được xem là một quốc gia có tiềm năng rất lớn về thị trường Smartphone Một trong những quốc gia tiêu thụ Smartphone lớn trong khu vực Vậy nên đưa ứng dụng này vào thực tiễn càng dễ dàng hơn
Và hướng phát triển ứng dụng về sau là cập nhật luôn cả thời giá và các modul mô phỏng mạch đơn giản Cùng với đó là tăng cường thêm dữ liệu cho thư viện để ứng dụng
có một thư viện phong phú và tiện lợi
Vậy đề tài được chọn nghiên cứu nhằm mục tiêu xây dựng thư viện bỏ túi chủ yếu là dành cho học sinh, sinh viên để ứng dụng vào việc học của mình Ngoài ra cũng giúp cho những người có đam mê về điện tử tìm hiểu thêm về các linh kiện điện tử đó giao diện phần mềm dễ sử dụng với ngôn ngữ bằng tiếng việt
3 Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu các tài liệu liên quan về Android, thống kê số liệu của các linh kiện điện tử Sau đó xây dựng ứng dụng và đưa lên Play Store của Google
Qui trình thực hiện đề tài như sau:
- Tìm hiểu về tình hình phát triển của hệ điều hành Android và điện thoại SmartPhone tại Việt Nam cũng như trên thế giới
- Tính toán liệt kê ra các loại linh kiện điện tử thông dụng và thường được sử dụng cũng như các linh kiện hiếm gặp
- Đưa ra mô hình của ứng dụng, các liên kết giữa Database với Giao Diện Ứng Dụng, các truy xuất dữ liệu
- Thiết kế chính về giao diện và hoàn thành các công đoạn ở các mục trên
- “Viết ứng dụng cho SmartPhone về Thư Viện Điện Tử Bỏ Túi”
Trang 5Ý nghĩa khoa học:
Đề tài nhằm mục đích giúp cho mọi người đặc biết là học sinh, sinh viên nói riêng
và những người đam mê điện tử nói chung dễ dàng tiếp cận gần hơn với kiến thức về các linh kiện cũng như ứng dụng của nó trong cuộc sống
Khi sử dụng ứng dụng có thể liệt kê ra tên, các nhận diện, ứng dụng hay dùng Từ
đó mang lại một lượng kiến thức tuy không lớn nhưng cũng không hề nhỏ cho người sử
dụng cũng như tiết kiệm được thời gian cho người sử dụng
Ý nghĩa thực tiễn:
Biết được nhiều linh kiện điện tử hơn, ứng dụng dễ dàng hơn và tiện lợi hơn Không mất nhiều thời gian cho một vài linh kiện cần thiết ngay thời điểm hiện tại
sử dụng
Ứng dụng được cho nhiều thành phần, nhiều nhóm ngành nghề khác nhau Và đặc
biệt là dành cho những người chuyên về mảng điện, điện tử
Trang 6CHƯƠNG I 1
A Android là gì ? 1
B Khái quát về Android 3
1.1 Lịch sử 3
1.2 Mô tả 3
1.2.1 Giao diện 3
1.2.2 Ứng dụng 3
1.3 Phát triển 4
1.3.1 Linux 4
1.3.2 Quản lý bộ nhớ 5
1.3.3 Lịch cập nhật 6
1.3.4 Cộng đồng mã nguồn mở 6
1.4 Tính bảo mật và riêng tư 6
1.5 Giấy phép ban hành 7
1.6 Thị phần và tỷ lệ sử dụng 7
CHƯƠNG II 10
2.1 Điểm khởi đầu của Android (22/10/2008) 10
2.2 Android 1.1 11
2.3 Android 1.5 Cupcake (30/04/2009) 11
2.4 Android 1.6 Donut (15/09/2009) 12
2.5 Android 2.0 và Android 2.1 Eclair (26/10/2009) 14
2.6 Android 2.2 FroYo (25/05/2010) 16
2.7 Android 2.3 GingerBread (06/12/2010) 17
2.8 Android 3.x HoneyComb (24/02/2011) 19
2.9 Android 4.0 Ice Cream Sandwich (19/10/2011) 20
2.10 Android 4.1 Jelly Bean (09/07/2013) 21
2.11 Android 4.4 Kikat (28/10/2013) 23
CHƯƠNG III 26
3.1 Android trên thế giới 26
3.1.1 Android chiếm 80% thị phần Smartphone 26
3.1.2 Android – Sản phẩm công nghệ tăng trường mạnh nhất 29
3.1.3 Android – Nền tảng lý tưởng nhất cho lập trình viên 31
3.1.4 Hơn 1 tỷ smartphone xuất xưởng năm 2013 33
Trang 73.2 Thị trường smartphone VN phát triển nhanh nhất Đông Nam Á 34
CHƯƠNG IV 36
4.1 Khởi tạo Database (DB) 36
4.2 Viết ứng dụng bằng Eclipse 38
4.2.1 Phần xây dựng MainActivity 39
4.2.2 Phần xây dựng Adapter 41
4.2.3 Phần xây dựng ReadDB 42
4.2.4 Phần xây dựng DetailActivity 44
4.2.5 Phần xây dựng SONG 44
4.3 Kiểm tra và test ứng dụng trên mô phỏng 45
4.3.1 Kiểm tra 45
4.3.2 Test Mô Phỏng 45
KẾT LUẬN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 8Hình 2.1 – Các Phiên Bản Hệ Điều Hành Android 10
Hình 2.2 – T-Mobile G1 10
Hình 2.3 – Hình ảnh tượng trưng cho Android Cupcake 11
Hình 2.4 – Chế độ soạn EMAIL trong Android 1.5 12
Hình 2.5 – Hình ảnh tượng trưng cho Android 1.6 Donut 12
Hình 2.6 – Màn hình chính của Android 1.6 13
Hình 2.7 – Hình ảnh nói về Android 2.3 Gingerbread 14
Hình 2.8 – Motorala Mikestone 14
Hình 2.9 – So sánh khóa màn hình giữa 1.6 – 2.0 – 2.1 15
Hình 2.10- Google Nexus One do HTC sản xuất 16
Hình 2.11- Hình ảnh tượng trưng cho Android 2.2 FroYo 16
Hình 2.12- Màn hình chính của FroYo 17
Hình 2.13- Chế độ soạn văn bản và chọn từ thông minh 18
Hình 2.14- Màn hình chính Android 2.3 18
Hình 2.15- Màn hình chính của Android 3.x HoneyComb 19
Hình 2.16- Màn hình chính của Android 4.0 20
Hình 2.17- Hình ảnh tượng trưng cho Android 4.0 21
Hình 2.18- Màn hình khóa và màn hình chính của Android 4.1 22
Hình 2.19- Màn hình khóa, chính, gọi của Android 4.4 23
Hình 2.20- Màn hình chính Android 4.4 23
Hình 2.21- Màn hình tìm kiếm Android 4.4 24
Hình 3.1 – iOS vs Android 27
Hình 3.2 – Xếp hạng các hệ điều hành của Android 29
Hình 3.3 – Mobile Makeover 30
Hình 3.4 – Hình biếm họa khi Android vượt iOS 31
Hình 3.5 – Sơ đồ bán Smartphone trên thế giới 32
Hình 3.6 – Ứng dụng trên Play Store của Google ngày càng tăng 32
Hình 3.7 – Iphone 5 – LG – Nokia 33
Hình 3.8 – Người dùng Smartphone 34
Hình 4.1 – Phần mềm Sqlite Expert 36
Hình 4.2 – Khai báo tên DB 36
Hình 4.3 – Khai báo trên trường cho DB 37
Hình 4.4 – Nhập dữ liệu cho DB 38
Hình 4.5 – Phần mềm soạn thảo ứng dụng Android Developer Tools 38 Hình 4.6 – Thông báo sau khi đã nhấn DEBUG DEMO 45
Hình 4.7 – Chi tiết linh kiện hiển thị trên Android mô phỏng 46
Hình 4.8 – Hiển thị Listview trên màn hình chính của Ứng dụng 47
Hình 4.9 – Tính năng tìm kiếm của ứng dụng 48
Trang 9Bảng 1.1 – Tỷ lệ sử dụng các phiên bản 8
Bảng 3.1 – Thị phần các Smartphone 26
Bảng 3.2 – Chỉ số đáp ứng người dùng 28
Bảng 3.2 – Chỉ số đáp ứng người dùng 42
Trang 10CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ANDROID
A Android là gì?:
Android 4.2 Jelly Bean trên Nexus 4
Công ty /Nhà phát triển Google
Liên minh thiết bị cầm tay mở
Trang 11Initial release 21 tháng 10, 2008
Phiên bản ổn định Android 4.4 KitKat / 11 tháng 2, 2013; 9
tháng trước
Available language(s) Đa ngôn ngữ
Quản lý gói cài đặt Google Play, APK
Nền tảng hỗ trợ ARM, MIPS, Kiến trúc Power,x86
Giao diện người dùng Đồ họa
Android là một hệ điều hành dựa trên nền tảng Linux được thiết kế dành cho các
thiết bị di động có màn hình cảm ứng như điện thoại thông minh và máy tính bảng Ban đầu, Android được phát triển bởi Tổng công ty Android, với sự hỗ trợ tài chính
từ Google và sau này được chính Google mua lại vào năm 2005 Android ra mắt vào năm 2007 cùng với tuyên bố thành lập Liên minh thiết bị cầm tay mở: một hiệp hội gồm các công ty phần cứng, phần mềm, và viễn thông với mục tiêu đẩy mạnh các tiêu chuẩn mở cho các thiết bị di động Chiếc điện thoại đầu tiên chạy Android được bán vào tháng 10 năm 2008
Android có mã nguồn mở và Google phát hành mã nguồn theo Giấy phép Apache Chính mã nguồn mở cùng với một giấy phép không có nhiều ràng buộc đã cho phép các nhà phát triển thiết bị, mạng di động và các lập trình viên nhiệt huyết được điều chỉnh và phân phối Android một cách tự do Ngoài ra, Android còn có một cộng đồng lập trình viên đông đảo chuyên viết các ứng dụng để mở rộng chức năng của thiết bị, bằng một loại ngôn ngữ lập trình Java có sửa đổi Vào tháng 10 năm 2012, có khoảng 700.000 ứng dụng trên Android, và số lượt tải ứng dụng
từ Google Play, cửa hàng ứng dụng chính của Android, ước tính khoảng 25 tỷ lượt
Android chiếm 75% thị phần điện thoại thông minh trên toàn thế giới vào thời điểm quý 3 năm 2012, với tổng cộng 500 triệu thiết bị đã được kích hoạt và 1,3 triệu lượt
Trang 12kích hoạt mỗi ngày Sự thành công của hệ điều hành cũng khiến nó trở thành mục tiêu trong các vụ kiện liên quan đến bằng phát minh, góp mặt trong cái gọi là "cuộc
chiến điện thoại thông minh" giữa các công ty công nghệ
B Khái quát về Android
1.1 Lịch sử:
Tổng công ty Android (Android, Inc.) được thành lập tại Palo Alto, California vào tháng 10 năm 2003 bởi Andy Rubin (đồng sáng lập công ty Danger), Rich Miner (đồng sáng lập Tổng công ty Viễn thông Wildfire), Nick Sears (từng là Phó giám đốc T-Mobile), và Chris White (trưởng thiết kế và giao diện tại WebTV) để phát triển, theo lời của Rubin, "các thiết bị di động thông minh hơn có thể biết được
vị trí và sở thích của người dùng" Dù những người thành lập và nhân viên đều là những người có tiếng tăm, Tổng công ty Android hoạt động một cách âm thầm, chỉ tiết lộ rằng họ đang làm phần mềm dành cho điện thoại di động Trong năm đó, Rubin hết kinh phí Steve Perlman, một người bạn thân của Rubin, mang cho ông 10.000 USD tiền mặt nhưng từ chối tham gia vào công ty
Google mua lại Tổng công ty Android vào ngày 17 tháng 8 năm 2005, biến nó thành một bộ phận trực thuộc Google
Tháng 9 năm 2007, InformationWeek đăng tải một nghiên cứu của Evalueserve cho
biết Google đã nộp một số đơn xin cấp bằng sáng chế trong lĩnh vực điện thoại di động
Từ năm 2008, Android đã trải qua nhiều lần cập nhật để dần dần cải tiến hệ điều hành, bổ sung các tính năng mới và sửa các lỗi trong những lần phát hành trước Vào năm 2010, Google ra mắt loạt thiết bị Nexus—một dòng sản phẩm bao gồm điện thoại thông minh và máy tính bảng chạy hệ điều hành Android, do các đối tác phần cứng sản xuất HTC đã hợp tác với Google trong chiếc điện thoại thông minh Nexus đầu tiên, Nexus One Kể từ đó nhiều thiết bị mới hơn đã gia nhập vào dòng sản phẩm này, như điện thoại Nexus 4 và máy tính bảng Nexus 10, lần lượt
do LG và Samsung sản xuất Google xem điện thoại và máy tính bảng Nexus là những thiết bị Android chủ lực của mình, với những tính năng phần cứng và phần
mềm mới nhất của Android
1.2 Mô tả:
1.2.1 Giao diện:
Giao diện người dùng của Android dựa trên nguyên tắc tác động trực tiếp, sử dụng cảm ứng chạm tương tự như những động tác ngoài đời thực như vuốt, chạm, kéo dãn và thu lại để xử lý các đối tượng trên màn hình Sự phản ứng với tác động của
Trang 13người dùng diễn ra gần như ngay lập tức, nhằm tạo ra giao diện cảm ứng mượt mà, thường dùng tính năng rung của thiết bị để tạo phản hồi rung cho người dùng Những thiết bị phần cứng bên trong như gia tốc kế, con quay hồi chuyển và cảm biến khoảng cách được một số ứng dụng sử dụng để phản hồi một số hành động khác của người dùng Và nhiều tính năng tiện ích được hiển thị với giao diện đẹp,
bắt mắt
1.2.2 Ứng dụng
Android có lượng ứng dụng của bên thứ ba ngày càng nhiều, được chọn lọc và đặt trên một cửa hàng ứng dụng như Google Play hay Amazon Appstore để người dùng lấy về, hoặc bằng cách tải xuống rồi cài đặt tập tin APK từ trang web khác Đến tháng 9 năm 2012, có hơn 675.000 ứng dụng dành cho Android, và số lượng ứng
dụng tải về từ Cửa hàng Play (CH Play) ước tính đạt 25 tỷ
Các ứng dụng cho Android được phát triển bằng ngôn ngữ Java sử dụng Bộ phát triển phần mềm Android (SDK) SDK bao gồm một bộ đầy đủ các công cụ dùng để phát triển, gồm có công cụ gỡ lỗi, thư viện phần mềm, bộ giả lập điện thoại dựa trên QEMU, tài liệu hướng dẫn, mã nguồn mẫu, và hướng dẫn từng bước Môi trường phát triển tích hợp (IDE) được hỗ trợ chính thức là Eclipse sử dụng phần bổ sung Android Development Tools (ADT) Các công cụ phát triển khác cũng có sẵn, gồm có Bộ phát triển gốc dành cho các ứng dụng hoặc phần mở rộng viết bằng C hoặc C++, Google App Inventor, một môi trường đồ họa cho những nhà lập trình
mới bắt đầu, và nhiều nền tảng ứng dụng web di động đa nền tảng phong phú
1.3 Phát triển
Android được Google tự phát triển riêng cho đến khi những thay đổi và cập nhật đã hoàn thiện, khi đó mã nguồn mới được công khai Mã nguồn này, nếu không sửa đổi, chỉ chạy trên một số thiết bị, thường là thiết bị thuộc dòng Nexus Có nhiều thiết bị có chứa những thành phần được giữ bản
quyền do nhà sản xuất đặt vào thiết bị Android của họ
1.3.1 Linux
Trang 14Hình 1.1 - Sơ đồ kiến trúc
Android có một hạt nhân dựa trên nhân Linux phiên bản 2.6, kể từ Android 4.0 Ice
Cream Sandwich (bánh ngọt kẹp kem) trở về sau, là phiên bản 3.x,
với middleware, thư viện và API viết bằng C, còn phần mềm ứng dụng chạy trên một nền tảng ứng dụng gồm các thư viện tương thích với Java dựa trên Apache Harmony Android sử dụng máy ảo Dalvik với một trình biên dịch động để chạy 'mã dex' (Dalvik Executable) của Dalvik, thường được biên dịch sang Java bytecode Nền tảng phần cứng chính của Android là kiến trúc ARM Người ta cũng
hỗ trợ x86 thông qua dự án Android x86, vàGoogle TV cũng sử dụng một phiên bản
x86 đặc biệt của Android
1.3.2 Quản lý bộ nhớ
Vì các thiết bị Android chủ yếu chạy bằng pin, nên Android được thiết kế để quản
lý bộ nhớ (RAM) để giảm tối đa tiêu thị điện năng, trái với hệ điều hành máy tính
để bàn luôn cho rằng máy tính sẽ có nguồn điện không giới hạn Khi một ứng dụng Android không còn được sử dụng, hệ thống sẽ tự động ngưng nó trong bộ nhớ - trong khi ứng dụng về mặt kỹ thuật vẫn "mở", những ứng dụng này sẽ không tiêu thụ bất cứ tài nguyên nào (như năng lượng pin hay năng lượng xử lý) và nằm đó cho đến khi nó được cần đến
Android quản lý các ứng dụng trong bộ nhớ một cách tự động: khi bộ nhớ thấp, hệ thống sẽ bắt đầu diệt ứng dụng và tiến trình không hoạt động được một thời gian,
Trang 15sắp theo thời điểm cuối mà chúng được sử dụng (tức là cũ nhất sẽ bị tắt trước) Tiến trình này được thiết kế ẩn đi với người dùng, để người dùng không cần phải quản lý
bộ nhớ hoặc tự tay tắt các ứng dụng
1.3.3 Lịch cập nhật
Google đưa ra các bản cập nhật lớn cho Android theo chu kỳ từ 6 đến 9 tháng, mà phần lớn thiết bị đều có thể nhận được qua sóng không dây Bản
cập nhật lớn mới nhất là Android 4.4 KitKat
Việc thiếu các hỗ trợ hậu mãi của nhà sản xuất và nhà mạng đã bị những nhóm người dùng và các trang tin công nghệ chỉ trích rất nhiều Một số người viết còn nói
rằng giới công nghiệp do cái lợi về tài chính đã cố tình không cập nhật thiết bị, vì
nếu thiết bị hiện tại không cập nhật sẽ thúc đẩy việc mua thiết bị mới, một thái độ được coi là "xúc phạm".The Guardian đã than phiền rằng phương cách phân phối bản cập nhật trở nên phức tạp chính vì những nhà sản xuất và nhà mạng đã cố tình làm nó như thế Vào năm 2011, Google đã hợp tác cùng một số hãng công nghiệp
và ra mắt "Liên minh Câp nhật Android", với lời hứa sẽ cập nhật thường xuyên cho các thiết bị trong vòng 18 tháng sau khi ra mắt Tính đến năm 2012, người ta không
còn nghe nhắc đến liên minh này nữa
1.3.4 Cộng đồng mã nguồn mở
Android có một cộng đồng các lập trình viên và những người đam mê rất năng động Họ sử dụng mã nguồn Android để phát triển và phân phối những phiên bản chỉnh sửa của hệ điều hành Các bản Android do cộng đồng phát triển thường đem những tính năng và cập nhật mới vào nhanh hơn các kênh chính thức của nhà sản xuất/nhà mạng, tuy không được kiểm thử kỹ lưỡng cũng như không có đảm bảo chất lượng; cung cấp sự hỗ trợ liên tục cho các thiết bị cũ không còn nhận được bản cập nhật chính thức; hoặc mang Android vào những thiết bị ban đầu chạy một hệ điều hành khác, như HP Touchpad Các bản Android của cộng đồng thường được root sẵn và có những điều chỉnh không phù hợp với những người dùng không rành rẽ, như khả năng ép xung hoặc tăng/giảm áp bộ xử lý của thiết
bị CyanogenMod là firmware của cộng đồng được sử dụng phổ biến nhất
1.4 Tính bảo mật và riêng tư
Các ứng dụng Android chạy trong một "hộp cát", là một khu vực riêng rẽ với hệ thống và không được tiếp cận đến phần còn lại của tài nguyên hệ thống, trừ khi nó được người dùng trao quyền truy cập một cách công khai khi cài đặt Trước khi cài
đặt ứng dụng, Cửa hàng Play sẽ hiển thị tất cả các quyền mà ứng dụng đòi hỏi
Trang 161.5 Giấy phép phát hành
Mã nguồn của Android được cấp phép theo các giấy phép phần mềm mã nguồn mở
tự do Google đưa phần lớn mã nguồn (bao gồm cả các lớp mạng và điện thoại) theo Giấy phép Apachephiên bản 2.0, và phần còn lại, các thay đổi đối với nhân Linux, theo Giấy phép Công cộng GNU phiên bản 2 Liên minh Thiết bị cầm tay mở đã thực hiện các thay đổi trên nhân Linux, với mã nguồn lúc nào cũng công khai Phần còn lại của Android được Google phát triển một mình, và mã nguồn chỉ được công bố khi phát hành một phiên bản mới Thông thường Google cộng tác với một nhà sản xuất phần cứng để cung cấp một thiết bị 'chủ lực' (thuộc dòng Google Nexus) với phiên bản mới nhất của Android, sau đó phát hành mã nguồn sau khi thiết bị này được bán ra
Vào đầu năm 2011, Google quyết định tạm ngưng phát hành mã nguồn Android
phiên bản 3.0 Honeycomb dành riêng cho máy tính bảng Lý do, theo Andy
Rubin trong một bài blog Android chính thức, là vì Honeycomb đã được làm gấp gáp để phục vụ cho Motorola Xoom, và họ không muốn các bên thứ ba tạo ra một
"trải nghiệm người dùng cực kỳ tồi tệ" bằng cách cố gắng đưa vào điện thoại thông minh một phiên bản dành riêng cho máy tính bảng Mã nguồn một lần nữa được xuất bản công khai vào tháng 11 năm 2011 với sự ra mắt của Android 4.0
Mặc dù phần mềm là mã nguồn mở, các nhà sản xuất thiết bị không thể sử dụng thương hiệu Android của Google trừ khi Google chứng nhận rằng thiết bị của họ
phù hợp với Tài liệu Định nghĩa Tương thích (Compatibility Definition Document -
CDD) Các thiết bị cũng phải thỏa mãn định nghĩa này thì mới được cấp phép để cài các ứng dụng mã nguồn đóng của Google, gồm cả Google Play Vì Android không
hoàn toàn được phát hành theo giấy phép tương thích GPL
1.6 Thị phần và tỷ lệ sử dụng
Công ty nghiên cứu thị trường Canalys đã ước tính trong quý 2 năm 2009 rằng Android có 2,8% thị phần điện thoại thông minh được bán ra toàn cầu Đến quý 4 năm 2010 con số này tăng lên 33% thị phần, trở thành nền tảng điện thoại thông minh bán chạy hàng đầu Đến quý 3 năm 2011 Gartner ước tính rằng hơn một nửa (52,5%) thị trường điện thoại thông minh thuộc về Android Đến quý 3 năm 2012 Android đã có 75% thị phần điện thoại thông minh toàn cầu theo nghiên cứu của hãng IDC
Vào tháng 7 năm 2011, Google nói rằng có 550.000 thiết bị Android mới được kích hoạt mỗi ngày, đỉnh điểm là 400.000 máy một ngày vào tháng 5, và có hơn 100 triệu thiết bị đã được kích hoạt với mức tăng 4,4% mỗi tuần Vào tháng 9 năm
2012, 500 triệu thiết bị đã được kích hoạt với 1,3 triệu lượt kích hoạt mỗi ngày
Trang 17Thị phần của Android có khác nhau theo khu vực Vào tháng 7 năm 2012, thị phần Android tại Mỹ là 52%,nhưng lên tới 90% tại Trung Quốc
Tỷ lệ sử dụng các phiên bản khác nhau tính đến ngày 4 tháng 3 năm 2013 Phần lớn các thiết bị Android cho tới nay vẫn chạy hệ điều hành phiên bản cũ
2.3 Gingerbread (bánh gừng) được phát hành ngày 6 tháng 12 năm 2010, do nhiều
2.3–2.3.2 Gingerbread 6 tháng 12
Trang 18Phiên bản Tên mã Ngày phát
Trang 19CHƯƠNG II: CÁC THẾ HỆ CỦA ANDROID
Để có thể hiểu thêm về hệ điều hành dành cho di động phổ biến nhất hiện nay, tôi xin giới thiệu quá trình mà hệ điều hành này phát triên từ lúc sơ khai cho đến khi chiếm thị phần lớn nhất trên thị trường hiện nay với phiên bản sắp tới Android 4.4 KitKat
đã tạo ra đượ20c những dấu ấn gì trên thị trường smartphone toàn cầu
Trang 20thoại T-Mobile G1 chính thức được bán ra ở Mỹ Ở giai đoạn này, rất nhiều những tính năng cơ bản cho một smartphone bị thiếu sót, chẳng hạn như bàn phím ảo, cảm ứng đa điểm hay khả năng mua ứng dụng Tuy nhiên, vai trò của phiên bản đầu tiên này vô cùng quan trọng Nó đã đặt nền móng cho các tính năng có thể xem là đặc điểm nhận dạng của Android ngày nay
Thanh thông báo kéo từ trên xuống
Màn hình chính và widget
Tích hợp chặt chẽ với Gmail
Mặt giao diện: Thiết kế quen thuộc của TAT (The Astonishing Tribe) và từ
từ thay bằng giao diện do chính của Google thiết kế
2.2 Android 1.1
Tháng 2/2009, bản nâng cấp đầu tiên của Android được trình làng, khoảng ba tháng sau khi G1 được bán ra Phiên bản 1.1 không phải là một cuộc cách mạng gì to lớn bởi tính năng chính của nó là sửa một danh sách lỗi khá dài Tuy nhiên, nó đã cho thấy khả năng nâng cấp thiết bị di động qua phương pháp Over-The-Air (tức tải về
và cài đặt bản cập nhật ngay trên thiết bị, không cần kết nối với máy tính) Ở thời điểm đó, rất ít hệ điều hành di động có thể làm được việc này, hầu hết đều phải nhờ đến một phần mềm chuyên dùng nào đó trên PC Trước đó, ở Mỹ có dòng máy Danger Hiptop (được biết nhiều hơn với tên Sidekick) đã có cập nhật dạng gần giống over the air theo từng giai đoạn, và chính Andy Rubin, người sáng lập công ty Android Inc (sau đó Google mua lại) cũng chính là nhà đồng sáng lập hãng Danger
2.3 Android 1.5 Cupcake (30/4/2009)
Hình 2.3 – Hình ảnh tượng trưng cho Android Cupcake
Android 1.5 có lẽ có vai trò cực kì quan trọng trong quá trình trưởng thành của Android khi nó bổ sung cho hệ điều hành này những tính năng nổi bật giúp nó cạnh tranh với các nền tảng đối thủ khác
Về mặt giao diện, Android 1.5 không có nhiều điểm thay đổi so với người tiền nhiệm của mình Google chỉ điểm thêm vài điểm để làm giao diện trông bóng bẩy, mượt mà hơn một tí, chẳng hạn như widget tìm kiếm có độ trong suốt nhẹ, biểu
Trang 21tượng app drawer có một số hoa văn nhỏ mới, v.v Nói chung, giao diện không phải
là một điểm nhấn của Android 1.5 mà người ta quan tâm nhiều hơn đến các tính năng mới mà nó mang lại, chẳng hạn như:
Bàn phím ảo
Hình 2.4 – Chế độ soạn EMAIL trong Android 1.5
Mở rộng khả năng cho widget
Cải tiến clipboard
Khả năng quay phim
2.4 Android 1.6 Donut (15/09/2009)
Hình 2.5 –Hình ảnh tượng trưng cho Android 1.6 Donut
Phiên bản bánh Donut này, mặc dù chỉ thêm có 0.1 vào mã số của Android 1.5 nhưng nó cũng mang lại nhiều cải tiến đáng giá Một vài điểm trong giao diện được cải thiện, vài tính năng nhỏ được thêm vào, cuối cùng là hỗ trợ cho mạng CDMA
Trang 22Android có thêm một số lượng lớn người dùng ở Mỹ và ở cả Châu Á Nhưng có lẽ điểm thú vị nhất của Donut đó là hỗ trợ các thành phần đồ họa độc lập với độ phân giải Lần đầu tiên, Android có thể chạy trên nhiều độ phân giải và tỉ lệ màn hình khá nhau, cho phép những thiết bị có nhiều độ phân giải hơn là 320 x 480 Hiện nay, có những chiếc smartphone Android chạy ở độ phân giải QVGA, HVGA, WVGA, FWVGA, qHD, và 720p Và còn có máy tính bảng còn đạt mức 1920 x 1080 nữa
Hình 2.6 –Màn hình chính của Android 1.6
Tính năng Quick Search Box, được biết nhiều hơn trong thế giới điện thoại với cái tên Universal Search, cũng là một điểm mà Android nhận được nhiều lời khen Người sử dụng có thể tìm kiếm danh bạ, ứng dụng, nhạc, tin nhắn,…, tất cả đều chỉ thao tác trong một hộp tìm kiếm mà thôi Trước Donut, khi nhấn nút Search trên máy Android thì người sử dụng chỉ có thể tìm kiếm thông qua google.com mà thôi Google cũng cho phép những lập trình viên tích hợp tính năng tìm kiếm mới này vào ứng dụng của mình để mở rộng thêm khả năng của Quick Search Box
Android 1.6 còn có gì mới? Đó là một Android Market với thiết kế mang tông màu xanh trắng đặc trưng của Android, có thể hiển thị các ứng dụng free và trả phí hàng đầu Những ứng dụng bên thứ ba cũng bắt đầu xuất hiện nhiều hơn Giao diện camera mới, tíhc hợp với trình xem ảnh tốt hơn, giảm thời gian chờ giữa hai lần chụp ảnh Nhưng cũng thường thì các nhà sản xuất cũng thay thế bằng ứng dụng của riêng mình
Trang 23Hình 2.7 –Hình ảnh nói về Android 2.3 Gingerbread
"lớn" được ra mắt và phân phối bởi các nhà mạng lớn Eclair, tên gọi của Android 2.0, lúc mới ra mắt chỉ được dùng độc nhất cho chiếc Motorola Droid của nhà mạng Verizon, một trong những chiếc điện thoại đã kích hoạt cho một kỉ nguyên Android lớn mạnh như ngày hôm nay Motorola Droid còn được biết đến với tên gọi Motorola Milestone khi nó xuất hiện ở Việt Nam Đây là một sản phẩm rất thành công của Motorola và cả Google khi mang đến cho người dùng những trải nghiệm cực kì tốt với Android
Hình 2.8 –Motorola Mikestone
Trang 24Vậy những gì làm cho Eclair quan trọng? Nó là bản nâng cấp và làm mới lớn nhất
mà Android từng có kể từ khi hệ điều hành này được giới thiệu, cả về ngoại hình lẫn kiến trúc bên trong Vào thời điểm Motorola Milestone ra mắt, độ phân giải cao
và lạ 854 x 480 cùng nhiều yếu tố phần cứng khác đã làm cho sản phẩm này đứng đầu thế giới Android về cấu hình, nhưng quan trọng hơn là Android 2.0 có những tính năng khiến cho nó dễ bán hơn, chẳng hạn như:
Giao diện mới
Video chính thức quảng cáo cho Android 2.0
http://www.youtube.com/watch?v=opZ69P-0Jbc
Về phần Android 2.1: Mặc dù không "lớn" như Android 2.0 vì nó chủ yếu
ra mắt để sửa lỗi và thêm hàm API để lập trình viên can thiệp sâu hơn vào hệ thống nhưng nó đã hỗ trợ thêm vài tính năng lý thú như Live Wallpaper, chuyển giọng nói thành văn bản và một màn hình khóa mới
Hình 2.9 – So sánh khóa màn hình giữa 1.6 – 2.0 – 2.1
Android 2.1 cũng có rất nhiều ý nghĩa về việc thay đổi chiến lược của
Google Nhận thấy rằng các hãng phần cứng thường thay đổi giao diện gốc của Android theo ý họ, Google đã chọn HTC để làm việc trực tiếp và tạo ra Nexus One, chiếc điện thoại đầu tiên của hãng Nexus One mang trong mình một bản Android 2.1 thuần khiết nhất và không hề bị chỉnh sửa gì cả Không chỉ nổi bật về mặt phần mềm, Nexus One còn có phần cứng mạnh mẽ thời bấy giờ Nó là một trong những smartphone đầu tiên chạy trên CPU Snapdragon 1GHZ của Qualcomm, đồng thời
sở hữu màn hình AMOLED độ phân giải WVGA Thực ra, Google đã tiến hành việc này kể từ chiếc Droid với Android 2.0 Google và Motorola đã làm việc chặt
Trang 25chẽ để cùng phát triển một mẫu điện thoại tốt, nhưng Eclair trong Droid vẫn có vài
sự tinh chỉnh Và tất nhiên là Google chưa bao giờ trực tiếp bán Droid cả
Hình 2.10 – Google Nexus One do HTC sản xuất
2.6 Android 2.2 Froyo (25/05/2010)
Hình 2.11 – Hỉnh ảnh tượng trưng cho Android 2.2 Froyo
Android 2.2 được ra mắt trong năm 2010 và mục tiêu của chương trình Nexus đã xuất hiện rõ hơn bao giờ hết: Nexus One là chiếc điện thoại đầu tiên được nâng cấp lên Android 2.2, sớm hơn nhiều so với tất cả các hãng khác Giao diện màn hình chính đã được thay đổi, từ 3 màn hình chính tăng lên thành 5 màn hình Dãy nút kích hoạt nhanh chế độ gọi điện, web và App Drawer cũng đã xuất hiện Những chấm nhỏ ở góc trái, phải bên dưới của màn hình giúp người dùng biết mình đang xem đến màn hình nào Google đã có nhiều cố gắng để giao diện Android được vui
và đẹp hơn, dễ dùng hơn, bắt kịp phần nào với giao diện của bên thứ ba như HTC Sense chẳng hạn
Trang 26
Hình 2.12 –Màn hình chính của FroYo
FroYo còn có một trình xem ảnh mới với khả năng hiển thị hình ảnh 3D: nghiêng máy thì dãy ảnh sẽ nghiên theo, đồng thời nó mang trong mình nhiều hiệu ứng chuyển động đẹp mắt khác Đây cũng là dấu mốc về việc Google đã đi thuê ngoài nhằm phát triển Android mà Gallery trên FroYo là một ví dụ Tính năng trạm phát Wifi cũng xuất hiện, cách copy, paste mới tốt hơn Nhiều tính năng bảo mật mới cũng xuất hiện Tuy nhiên, với người dùng thông thường thì việc Android 2.2 FroYo có hỗ trợ duyệt web với Flash là điểm đáng quan tâm nhất Hầu như người ta muốn lên FroYo là để tận hưởng được cảm giác duyệt web với Flash đầy đủ trên thiết bị di động Android 2.2 bổ sung thêm tính năng di chuyển một phần ứng dụng
từ bộ nhớ máy sang thẻ nhớ, giúp tiết kiệm dung lượng cho các điện thoại thời bấy giờ
Trang 27
Android 2.3 thật ra không phải là một bản nâng cấp lớn nhưng những ảnh hướng mà
nó mang lại thì không nhỏ chút nào Lần đầu tiên Android khoác lên mình một giao diện đen, trông ngầu và chuyên nghiệp hơn Các thành phần trên màn hình chính có thêm tông màu xanh lá đậm Bên cạnh đó, việc sử dụng màu đen còn là ý định của Google để giúp các máy dùng màn hình AMOLED tiết kiệm pin hơn Vài tính năng mới trên Android 2.3:
Hai thanh chặn khi chọn văn bản
Hình 2.13 –Chế độ soạn văn bản và chọn từ thông minh
Bàn phím được cải tiến
Công cụ quản lí pin và ứng dụng
Hỗ trợ máy ảnh trước
Hình 2.14 –Màn hình chính Android 2.3
Trang 28Nhiều tính năng mới của Gingerbread chủ yếu nhắm đến lập trình viên hơn là người dùng cuối, ví dụ như NFC chẳng hạn Nhiều tháng trôi qua, NFC không có nhiều ứng dụng thực tế ngoài việc đến một vài thành phố ở nước ngoài và dùng NFC để lấy thông tin về địa điểm Khi Nexus S dành cho nhà mạng Sprint, Mỹ, ra đời, Google giới thiệu Google Wallet, dịch vụ thanh toán di động sử dụng NFC của mình Đến bây giờ, nhiều thứ hơn đã hỗ trợ NFC, NFC tag cũng xuất hiện ở nhiều nơi hơn Thậm chí người ta còn dự đoán rằng NFC sẽ thay thế được mã QR trong tương lai và Android 2.3 đã góp một phần quan trọng nhằm thúc đẩy việc sử dụng phổ biến kết nối tầm ngắn này
Với Gingerbread, Google muốn xâm nhập vào thị trường game di động vốn đang bị chiếm lĩnh bởi iOS bằng việc cung cấp cho lập trình viên quyền truy cập cấp thấp nhất, tức là gần sát nhất, đến các phần cứng về âm thanh, đồ họa, lưu trữ,… Nhờ đó, nhiều game/ứng dụng native ra đời với tốc độ hoạt động n hanh hơn, hình ảnh, âm thanh phong phú, chân thật và đẹp hơn nhiều
Honeycomb là phiên bản Android dành riêng cho máy tính bảng, và sản phẩm
đầu tiên dùng hệ điều hành này Motorola Xoom Xoom mang trong mình một giao diện thuần Android 3.0 và không bị chỉnh sửa gì Mặc dù Android 3.0 không có nhiều dấu ấn đặc biệt trên thị trường nhưng nó là nền tảng cho Android 4.0 sau này với các tính năng như:
Trang 29
Sử dụng tông màu đen và xanh dương làm tông màu chủ đạo : hệ thống icon
và biểu tượng mới
Homescreen và widget cũng được thiết kế lại: Việc đặt widget lên màn hình cũng tiện dụng hơn nhờ có hình ảnh thu nhỏ của các homescreen trong mục widget nên người dùng có thể chọn lựa theo ý muốn