Phần I: Từ những nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo, anh chị hãy phân tích những đặc điểm của Triết học Phật giáo Việt Nam. 1. Những nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo 2. Phân tích những đặc điểm của Triết học Phật giáo Việt Nam. Phần II : Phân tích nội dung quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Liên hệ với công tác của các anh chị hiện nay.
Trang 1Tháng 10/2020
HỌC VIỆN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
oo0oo
-BÁO CÁO BÀI TẬP MÔN TRIẾT
BÁO CÁO BÀI TẬP MÔN TRIẾT
GVHD: TS ĐÀO MẠNH NINH
HỌC VIÊN: ĐOÀN DUY THANH
MÃ LỚP: M20CQTE01-B
Trang 2Mục lục
Phần I: Từ những nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo, anh chị hãy
phân tích những đặc điểm của Triết học Phật giáo Việt Nam.
3
1 Những nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo 3
2 Phân tích những đặc điểm của Triết học Phật giáo Việt Nam. 5
Phần II : Phân tích nội dung quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Liên hệ với công tác của các
anh chị hiện nay.
15
1 Khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản
2 Nội dung quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất
15
3 Liên hệ quy luật này trong công tác 17
Trang 3Phần I: Từ những nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo, anh chị hãy phân tích những đặc điểm của Triết học Phật giáo Việt Nam.
1 Những nội dung cơ bản của Triết học Phật giáo
1.1 Kinh điển của Phật giáo
- Kinh: ghi lại lời Phật thuyết pháp
- Luật: giới luật, chuẩn mực cuộc sống của các tín đồ Phật giáo và các giáo đoàn Phật giáo
- Luận: các tác phẩm luận giải các vấn đề của Phật giáo do các học giả, cao tăng soạn
1.2 Về bản thể luận:
- Vô tạo giả: Mọi sự vật trong vũ trị gọi là “vạn pháp” không do bất kỳ một thần linh nào tạo ra bằng những phép màu mà là do những “bản thể” hay ‘thực tướng” tạo nên Đây được xem như là nội dung cơ bản nhất và khác tất cả các tôn giáo khác
- Tam giới duy thức: Ba thế giới sắc giới, dục giới và vô sắc giới đều do ý thức quyết định đạo Phật đưa ra mối quan hệ “sắc – không” để chỉ những sự vật có hình tướng mà con người có thể nhận thức được (sắc) và những sự vật không có hình tướng con người không thể nhận biết được
- Không gian và thời gian: thời gian là vô cùng và không gian là vô tận Khi xem xét từng sự vật hiện tượng, phải tìm hiểu sự vật hiện tượng từ điểm khởi đầu và kết thúc của nó
- Vô thường: Đạo Phật cho rằng mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ bao la không đứng yên, không bất biến mà nó luôn luôn trong trạng thái biến đổi không ngừng là: thành – trụ – hoại – không đối với vạn vật trong vũ trụ, và: sinh – trụ – dị – diệt đối với các sinh vật
- Vô ngã: Mọi sự vật, kể cả con người không có tự tính, trường sinh mãi mãi
- Thuyết Nhân – Duyên: Phật giáo cho rằng: tất cả mọi sự vật hiện tượng chuyển động không ngừng, biến đổi không ngừng và chịu sự chi phối bởi quy luật nhân duyên Trong đó, nhân là một tạo quả còn duyên là phương tiện tạo ra tạo quả đó Khi nhân duyên hoà hợp thì sự vật sinh Khi nhân duyên tan rã thì sự vật diệt Các nhân duyên trong sự vật hiện tượng tác động chi phối lẫn nhau
1.3 Quan niệm nhân sinh:
- Con người không phải do một thượng đế hay bất kỳ một đấng thần linh siêu nhiên nào tạo ra mà là do một “pháp” đặc biệt của thế giới tạo ra
- Pháp bao gồm hai phần là:
+ Phần sinh lý (còn gọi là “sắc uẩn”): là hình tướng được giới hạn trong xương, thịt, da Những vật chất này được tạo ra từ bốn yếu tố: địa (đất) – thuỷ (nước) – hoả (lửa) – phong (gió)
+ Phần tâm lý (tinh thần ý thức): được tạo bởi tứ uẩn: Thụ – tưởng – hành – thức
và được biểu hiện bởi “thất tình”, cụ thể như sau: ái – ố – hỉ – nộ – ai – lạc – dục
- Luân hồi nghiệp báo: Sự tái sinh luân hồi không dứt: thiên, nhân, atula, súc sinh, quỷ, địa ngục
- Tứ diệu đế: Bốn chân lí kì diệu:
+ Khổ đế (Sự khổ ở đời): Là chân lý bàn về các nỗi khổ của con người Đạo
Phật
cho rằng cuộc sống con người là khổ ải Khổ đau là tuyệt đối, là bản chất của sự tồn tại của cuộc sống Cuộc sống của chúng sinh là bể khổ
Khổ đế bao gồm: Sinh, Lão, Bệnh, Tử, Thụ biệt ly, Oán tăng hội, Sở cầu bất đắc
và Thụ ngũ uẩn
Trang 4+ Tập đế (Nguyên nhân của sự khổ): Là sự tập hợp chứa đựng những chân tướng
những sự khổ não, là nguyên nhân về các nỗi khổ đau Đạo phật cho rằng nguyên nhân của khổ đau là do dục vọng – tham muốn của con người gây nên và đến khi chết vẫn phải chịu khổ đau Tất cả những nỗi khổ đau mà chúng sinh phải gánh chịu là do “nhị thập nhân duyên” tạo ra mà khởi đầu là “vô minh”
+ Diệt đế (Sự khổ bị tiêu diệt): Là chân lý khẳng định có thể giải thoát con người
khỏi nỗi khổ đau Đạo Phật cho rằng chúng sinh muốn thoát khỏi mọi sự khổ đau thì phải từ bỏ mọi ham muốn, dục vọng, sự giận giữ và mê muội Chúng sinh muốn diệt trừ nỗi khổ thì đầu tiên phải diệt trừ “vô minh’ Vì “vô minh” bị diệt thì trí tuệ mới sáng và hiểu rõ được bản chất sự tồn tại không còn dục vọng, không còn hành động sai lầm, thoát khỏi nghiệp chướng, luân hồi, đạt tới cảnh trí Niết bàn
+ Đạo đế (Con đường diệt trừ sự khổ): Là chân lý về các con đường đúng đắn
để giải thoát con người Đây chính là xuất phát từ sự đúc kết quá trình tu hành đắc đạo của đức Phật.
1.4 Đạo Phật đưa ra lý luận về “tam học” là: giới - định – tuệ Đây chính là quá trình
tu hành để đạt đến giác ngộ.
1.5 Bát chính đạo, còn được coi là Trung đạo, bao gồm:
Chính kiến (hiểu biết chân chính)
Chính tư duy (suy nghĩ chân chính)
Chính ngữ (lời nói chân chính)
Chính nghiệp (hành động chân chính)
Chính mệnh (đời sống chân chính)
Chính tinh tiến (siêng năng, chuyên cần)
Chính niệm (ghi nhớ chân chính)
Chính định (thiền định chân chính)
1.6 Những phẩm chất cao thượng:
Từ có nghĩa là “lòng nhân ái” với tất cả: Mong muốn tất cả chúng sinh, không trừ một ai, không có ngoại lệ, đều được hạnh phúc tốt lành
Bi có nghĩa là “sự thương xót cảm thông”: Với mong muốn mọi đau khổ của con người sẽ hết, “mong muốn tất cả chúng sinh sẽ thoát khỏi đau khổ”
Hỉ có nghĩa là “sự hoan hỉ, vui sướng”: Tự mình vui và mừng cho người khác, cùng chia vui với người khác khi họ hạnh phúc hay thành công; niềm vui trọn vẹn cùng với hạnh phúc và phẩm hạnh của tất cả chúng sinh
Xả có nghĩa là “lòng buông bỏ, không câu chấp vào bất cứ điều gì”: Nó là một trạng thái tâm trí tĩnh lặng sáng suốt, không bị chế ngự bởi những ảo tưởng, tinh thần
bị kích động hoặc trì trệ
1.7 Giá trị tích cực:
*Thứ nhất, đạo Phật chủ trương giải thoát con người khỏi những nỗi khổ đau; thực
hiện bình đẳng giữa các chúng sinh chống lại quan điểm phân biệt đẳng cấp, khuyên con người phải thương yêu lẫn nhau Và trên thực tế, đạo Phật góp phần làm loãng rất nhiều quan niệm khắt khe của đạo Bàlamôn
“Không thể có đẳng cấp trong những dòng máu cùng đỏ như nhau Không thể có đẳng cấp trong những giọt nước mắt cùng mặn như nhau”.
* Thứ hai, trong hoàn cảnh xã hội Ấn Độ thời cổ đại, đạo Phật đã đề ra được lý
thuyết về con đường giải thoát về mặt ý thức Điều này làm cho quần chúng nhân dân tin tưởng vì tìm thấy ở đạo này một sự an ủi, một niềm tin vào tương lai
Trang 5* Thứ ba, nghi lễ đạo Phật rất đơn giản, điều này phù hợp với hoàn cảnh của
người dân lao động nghèo khổ thuộc các đẳng cấp dưới cho nên nó được hưởng ứng nhiệt tình
1.8 Hạn chế của triết học Phật giáo
+ Xu hướng xuất thế, lảng tránh cuộc sống
+ Không chú ý đến việc cải tạo xã hội
+ Chưa phản ánh một cách thực tế về nguồn gốc của những nỗi khổ và mâu thuẫn xã hội
2 Phân tích những đặc điểm của Triết học Phật giáo Việt Nam.
2.1 Sự phát triển và du nhập của Phật giáo việt nam
Phật giáo vào Việt Nam bằng con đường dân giã và mang tính tự phát thông qua các thương nhân Ấn Độ và các nhà truyền giáo Trung Quốc Công lao đầu tiên của việc Phật giáo du nhập vào Việt Nam phải kể đến vai trò của các thương nhân Ấn Độ
Từ những năm đầu công nguyên người Ấn Độ đã đi buôn bán với nhiều với nhiều nước trong vùng Địa Trung Hải, Trung Đông, Đế quốc La Mã Họ đi nhiều nơi để tìm nguyên liệu hàng hóa Chính trong qúa trình đó, họ đã tới Đông Nam Á trong đó có Giao Chỉ Như vậy các thương nhân Ấn Độ đã tham gia một cách tự phát vào quá trình truyền bá phật giáo vào các xứ phương đông, trong đó có Việt Nam Hay nói cách khác, họ đã đem Phật giáo đến Việt Nam một cách tự phát, không chủ đích Tuy nhiên, Phật giáo ở Giao Chỉ thời kỳ này mới chỉ là những sinh hoạt tín ngưỡng đơn sơ giới hạn trong sự đọc Tam quy, cúng dường Phật pháp, bố thí chứ chưa có kinh điển
Tiếp sau các tăng sĩ Ấn Độ là các nhà sư người Trung Quốc Lúc này nước Việt Nam đang chịu sự đô hộ của Trung Hoa Các nhà sư Trung Quốc đến Việt Nam truyền đạo lúc này chưa phải do người Việt Nam mời, thỉnh mà cũng hoàn toàn mang tính tự phát Chỉ đến khi nước Việt Nam bước vào thời kỳ tự chủ, vua Lê Đại Hành cho người sang Trung Hoa mời sư về thỉnh kinh
Phật giáo vào Việt Nam chủ yếu bằng con đường hòa bình, ít gây ra xung đột văn hóa bản địa Phật giáo đến với dân tộc việt nam một cách rất tự nhiên Ngay từ buổi đầu du nhập, Phật giáo đã nhanh chóng được người Việt đón nhận mà hầu như không gặp bất kỳ trở ngại nào Thậm chí , nó còn được tiếp nhận một cách nhanh chóng vì bản thân nó có nhiều điểm phù hợp với hệ thống tín ngưỡng của người Việt cổ Người Việt thời kỳ này tin tưởng có ông trời ở trên cao, nhìn thấu mọi việc dưới đất, trừng phạt kẻ ác, giúp đỡ người thiện Linh hồn con không người chết đi cùng thể xác mà nó vẫn tồn tại xung quanh người thân để che chở, bảo vệ, phù hộ họ Bên cạnh đó họ còn tin có con ma xó, tin vào thầy mo, thầy cúng…Trong bối cảnh như vậy, Phật giáo với thuyết nhân quả nghiệp báo, luân hồi, với những quan niệm về công đức, tam bảo… không những không đi ngược với tín ngưỡng của con người việt mà còn rất phù hợp nên nó đã được tiếp nhận nhanh chóng Đồng thời, trong hoàn cảnh bị đô hộ bởi thế lực ngoại bang, người Việt đã tìm thấy ở Phật giáo một nền tảng tư tưởng để củng cố bản sắc dân tộc
2.2 Những quan điểm về giá trị triết học của Phật giáo
2.2.1 Phật giáo góp phần kiến tạo một xã hội bình đẳng, bác ái
Đức Phật dạy rằng hạnh phúc tối thượng là an lạc, và không thể có hạnh phúc chân thật nếu không có an lạc
Đức phật không hề chia cấp bậc mà có cái nhìn ngang bằng với tất cả chúng sinh Đạo Phật chủ trương bình đẳng, Phật là Đức Phật đã thành, chúng sinh là Đức Phật sẽ
Trang 6thành, chúng sinh đề có Phật tính, đều bình đẳng trước Phật Với Phật, không ai tiểu nhân, không ai quan tử, cũng không có quan, không có dân, chia cắt với nhau bằng các hàng rào cấp bậc, giai cấp; chỉ có một niềm từ bi bác ái, không có hằn học, oán ghét, phục thù Đó cũng là điều phù hợp với bản chất dân tộc Việt Nam Tiếp đó Phật kêu gọi sự tự giác, vị tha không những để giải quyết nỗi khổ của mình mà còn phải cứu nhân độ thế Người ta chỉ thấy ở đây một chủ nghĩa nhân đạo lớn lao có phần tích cực
Có thực hiện được hay không là vấn đề khác mà chúng ta cần xem xét, để phê phán giá trị của học thuyết này nhưng ở đây rõ ràng đó là những điểm chính yếu làm cho đạo Phật gắm bó được với quần chúng, nhân dân
Phật giáo khuyến khích mọi người sống chan hòa, cảm thông và thân ái dù khác nhau sắc tộc, tôn giáo, màu da … Có tôn giáo truyền bá bằng gươm đao và chiếm đoạt
So với điều này, Phật giáo là một tôn giáo không có lực lượng vũ trang, cũng không có thánh chiến trong việc truyền bá giáo lý Đạo Phật đã lan truyền một cách từ từ nhưng vững vàng, chắc chắn đến nhiều nước, nhiều vùng đất: Tây Tạng, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Cam pu chia, Việt Nam …
2.2.2 Phật giáo góp phần tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Phật giáo có ảnh hưởng sâu đậm và lâu dài Trong quá trình phát triển, Phật giáo với tư cách làm một tôn giáo đã có nhiều đóng góp cho văn hóa Việt Nam Ở Bắc bộ trước đây hầu như làng nào cũng có chùa Ngoài thờ Phật, chùa còn thêm tín ngưỡng dân gian thờ thần tiên, thờ các vị tướng có công với nước Ngôi chùa trở thành một trung tâm văn hóa ở nông thôn Có thể nói Phật giáo góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc
2.2.3 Phật giáo khuyên mọi người sống lương thiện, tu tâm dưỡng tính
Đức Phật dạy các điều thiết yếu không chỉ để cho tu tập nội tâm của từng cá nhân
vì hạnh phúc của nhân loại mà còn cho sự cải thiện đời sống xã hội Lối sống mà Đức Phật đã dạy rất đơn giản, đối với người tại gia chỉ áp dụng năm nguyên tắc sống: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu, đây là một bảng nguyên tắc thật sự đơn giản Nhưng lối sống của Phật giáo, con đường
mà Đức Phật đã mô tả không ngừng lại ở nguyên tắc này Lời dạy đó được đơn giản hóa theo một cách mà ai cũng có thể hiểu được và làm được đó là Bố thí (dàna), trì giới (sila), và thiền định (bhàvana)
Giáo lý nghiệp báo hay nghiệp nhân quả của đạo Phật đã trở thành nếp sống tín ngưỡng hết sức sáng tỏ đối với con người Việt Nam có hiểu biết, có suy nghĩ Người ta biết lựa chọn ăn ở hiền lành, dù tối thiểu thì đó cũng là kết quả tự nhiên âm thầm của
lý nghiệp báo, nó chẳng những thích hợp với giới bình dân mà còn ảnh hưởng đến giới tri thức Có thể nói mọi người dân Việt đều ảnh hưởng ít nhiều qua giáo lý này Vì thế,
lý nghiệp báo luân hồi đã in dấu đậm nét trong văn chương dân, trong văn học chữ nôm, chữ Hán, từ xưa cho đến nay để dẫn dắt từng thế hệ con người biết soi sáng tâm trí mình vào giáo lý quả nghiệp báo mà hành động sao cho tốt đẹp đem lại hòa bình an vui cho con người
Tâm lý dân gian Việt Nam ta thiên về sự cân bằng, sự bù đắp Nỗi khổ hôm nay phải được đền bù bằng sự sung sướng ngày mai Phật giáo cũng hứa hẹn với con người sự đền bù không do quyền phép nào, chỗ dựa nào của Nho giáo, cũng không do cán cân phúc tội của Đạo gia, Pháp gia mà do nỗ lực của chính bản thân mình
Hơn lúc nào hết, trong mấy chục năm trở lại đây người Phật tử Việt Nam rất chăm
lo đến việc thực hiện các nghi lễ của đạo mình Họ hay lên chùa trong những ngày sóc, vọng, họ trân trọng thành kính trong khi thi hành lễ, họ siêng năng trong việc thiền định, giữ giới, làm việc thiện Việc ăn chay hàng tháng chở thành thói quen
Trang 7không thể thiếu của người theo đạo Phật Mặt khác nhà chùa sẵn sàng thực hiện các yêu cầu của họ như cầu siêu, giải oan… Tất cả những điều này củng cố niềm tin vào giáo lý, vừa qui định tư duy và hành động của họ, tạo cơ sở để hình thành những nhân cách riêng biệt
2.2.4 Giáo lý Đạo Phật góp phần giáo dục đạo đức con người
Đạo lý ảnh hưởng nhất là giáo lý từ bi, tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh của Phật giáo
đã ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn của người Việt Như vậy, có thể nói rằng Phật giáo là một trong những tôn giáo của thế giới bao hàm nhiều phương pháp tốt đẹp có thể cải thiện và giáo dục tâm tính cho con người Nó đánh thức nơi con người đức tình tự trọng và tinh thần trách nhiệm bản thân, phổ biến trong nhân loại đức tính khoan dung, từ bi, tình huynh đệ, cùng dứt trừ được nơi con người lòng sân hận và bạo tàn Cho nên, tự trọng, tự tín, khoan dung, từ bi, trí tuệ là những đức tính tốt đẹp có thể tạo được cho nhân loại nhờ ảnh hưởng của Phật giáo
Có thể thấy rằng những tư tưởng của Phật giáo cũng có ảnh hưởng ít nhiều đến đời sống của thanh thiếu niên hiện nay Như ở các trường phổ thông, các tổ chức đoàn, đội luôn phát động các phong trào nhân đạo như La lành đùm lá rách, quỹ Giúp bạn nghèo vượt khó,… Chính vì vậy ngay từ nhỏ các em học sinh đã được giáo dục tư tưởng nhân đạo, bác ái, giúp đỡ người khác mà cơ sở của nền tảng ấy là tư tưởng giáo lý nhà Phật đã hòa tan với giá trị truyền thống của con người Việt Nam Sự đồng cảm với những con người gặp khó khăn, những số phận bất hạnh, cô đơn, cộng với truyền thống từ bi, bác ái đã giúp chúng ta, những học sinh, sinh viên còn ngồi trên ghế nhà trường có đủ nghị lực và tâm huyết để lập ra những kế hoạch, tham gia vào những hoạt động thiết thực như hội chữ thập đỏ, hội tình thương, các chương trình phổ cập văn hóa cho trẻ em nghèo, chăm nom các cụ già neo đơn… Hình ảnh đoàn thanh niên, sinh viên hàng ngày vẫn lặn lội trên mọi nẻo đường tổ quốc góp phần xây dựng đất nước, tổ quốc ngày càng giàu mạnh thật đáng xúc động và tự hào Tất cả những điều đó chứng
tỏ thanh niên, sinh viên ngày nay không chỉ năng động, sáng tạo đầy tham vọng trong cuộc sống mà còn thừa hưởng những giá trị đạo đức tốt đẹp của ông cha, đó là sự thương yêu, đùm bọc lẫn nhau giữa mọi người, lòng thương yêu giúp đỡ mọi người qua cơn hoạn nạn mà không chút nghĩ suy, tính toán Và ta không thể phủ nhận Phật giáo đã góp phần tạo nên những giá trị tốt đẹp ấy Và ta càng phải nhắc đến giá trị đó trong khi cuộc sống ngày nay ngày càng xuất hiện những hiện tượng tiêu cực Trong khi có những sinh viên còn khó khăn đã dồn hết sức mình để cống hiến cho đất nước thì vẫn còn một số bộ phận thanh niên ăn chơi, đua đòi làm tiêu tốn tiền bạc của cha
mẹ và đất nước Tối đến, người ta bắt gặp ở những quán Bar, sàn nhảy những cô chiêu, cậu ấm đang đốt tiền của bố mẹ vào những thú vui vô bổ Rồi những học sinh, sinh viên lầm đường lỡ bước vào ma túy, khiến cho bao gia đình tan nát, biết bao ông bố,
bà mẹ cay đắng nhìn những đứa con của mình bị chịu hình phạt trước pháp luật Thế
hệ trẻ ngày nay nhiều người chỉ biết chạy theo vật chất, bị cuốn hút bởi những thứ ăn chơi sa đọa làm hại đến gia đình và cộng đồng Hơn bao giờ hết việc giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ trở nên hết sức quan trọng và trong những phương pháp hữu ích là nêu cao truyền bá tinh thần cũng như tư tưởng nhà Phật trong thế hệ trẻ Đó thực sự là công việc cần thiết để giáo dục lớp trẻ hiện nay
2.2.5 Phật giáo có ảnh hưởng tích cực đến các mối quan hệ gia đình, xã hội
Những mối quan hệ trong gia đình và xã hội như cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái, bạn bè, họ hàng, láng giềng,…Phật giáo xem là thiêng liêng, đáng được tôn kính
và lễ lạy, tôn thờ Nhưng người ta phải lễ lạy, tôn thờ những mối quan hệ ấy như thế
Trang 8nào? Đức Phật dạy rằng người ta có thể lễ lạy và tôn thờ những điều ấy chỉ thông qua việc thực thi trách nhiệm và bổn phận của anh ta đối với những điều ấy
Trước tiên, cha mẹ là thiêng liêng đối với con cái, nhắc đến công lao dưỡng dục của cha mẹ, Phật dạy: “ muôn việc ở thế gian, không gì hơn công ơn nuôi dưỡng lớn lao của cha mẹ” (Kinh Thai Cốt), hay kinh Nhẫn nhục dạy: “cùng tốt điều thiện không
gì hơn hiếu, cùng tốt điều ác không gì hơn bất hiếu” Bởi Phật giáo đặc biệt chú trọng chữ hiếu như thế nên thích hợp với nếp sống đạo lý truyền thống của dân tộc Việt Đức Phật dạy: phải quan tâm chăm sóc bố mẹ của mình ở độ tuổi xế chiều, phải làm bất cứ những gì mình làm vì nhu vì cầu bố mẹ, phải duy chì danh danh dự của gia đình và tiếp tục phát huytruyền thống của gia đình, phải bảo vệ tài sản của cải của bố mẹ kiếm được và tổ chức tang đám khi bố mẹ qua đời Bố mẹ ngược lại, phải có một số trách nhiệm đối với con cái của mình: phải giáo dục con cái trách xa một số việc làm xấu xa, tội lỗi; hướng chúng vào những việc làm lành mạnh và có lợi lạc; cho con cái ăn học đến nơi ,đến chốn; dựng vợ, gả chồng cho chúng ở những gia đình tốt và giao của cải tài sản cho chúng đúng lúc
Thứ hai, mối quan hệ giữa thầy và trò: học trò phải cung kính và nghe lời thầy, phải hỗ trợ thầy lúc cần thiết, phải xiêng năng học tập Và ngược lại thầy đối với trò: phải rèn luyện và dậy dỗ trò nên người tốt; giới thiệu học trò cho bạn bè của chúng, và
cố gắng tạo việc làm đảm bảo sau khi học trò học xong
Thứ ba mối tương quan giữa vợ và chồng: tình yêu giữa vợ và chồng được xem như là rất tôn giáo và thiêng liêng Vợ và chồng phải chân thành tin tưởng lẫn nhau, phải tôn trọng và hết mình vì nhau và họ có một trách nhiệm với nhau: người chồng phải tôn trọng vợ và không bao giờ thiếu sự tôn trọng đối với vợ; phải yêu thương, chân thành
và chung thủy với vợ; đảm bảo vị trí và tiện nghi của vợ và làm cho vợ vui lòng bằng cách hay mua áo quần và nữ trang cho cô ta Ngược lại người vợ nên giám sát và chăm
lo công việc nội chợ nhà cửa; đón tiếp khách khứa, bạn bè, bà con, họ hàng và những người làm thuê; thương yêu và trung thành với chồng mình, bảo vệ của cải do chồng kiếm được, phải sáng suốt và nhiệt tâm trong tất cả các công việc
2.3 Những quan điểm về hạn chế của triết học Phật giáo
Bên cạnh những mặt tích cực thì Phật giáo cũng có những mặt hạn chế trong tiến trình chung của sự phát triển xã hội Nhưng cần phải nhận thức một điều là những ảnh hưởng tiêu cực này khổng phải xuất phát từ bản chất, lý luận của đạo phật mà do những người thừa hành Có thể kinh Phật qua nhiều nước nhiều xã hội với nền văn hóa khác nhau khiến có nhiều cách giải thích và cách hiểu khác nhau về đạo Phật Hơn nữa từng cá nhân tiếp thu đạo phật cũng theo nhiều cách và theo những trình độ khác nhau
có thể làm thay đổi ý nghĩa tốt đẹp của đạo phật
Thời đại toàn cầu hóa ngày nay Nước ta vừa phải trải qua mấy chục năm chiến tranh và hàng chục năm sống dưới chế độ bao cấp, đời sống còn nghèo nàn , lạc hậu rất cần đến sự phát triển đột phá Phát triển có nghĩa là sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế , đời sống vật chất và văn hóa Đảng và nhà nước đã chỉ ra nhiệm vụ trước mắt
Trang 9là làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Để đạt mục tiêu đó nước ta cần phải có những người có tham vọng lớn, năng động, lạc quan, tin tưởng, mở rộng sáng tạo Những phẩm chất này thường trái với đạo lý nhà Phật vì tham vọng trái với cấm dục,vô lục, ly dục của nhà Phật Theo giáo lý nhà Phật con người trở nên không có tham vọng tiến thân bằng lòng với những gì đã có, sống nhẫn nhục, không đấu tranh, sống với cuộc sống “an bần lạc đạo’’ hướng tới cõi niết bàn khi cuộc sống trần gian đã chấm dứt Như vậy đạo đức Phật giáo đã tách con người ra khỏi điều kiện thực tiễn của con người xã hội, làm cho con người có thái độ chấp nhận, chạy trốn nhu cầu bản năng chứ không phải là cải tạo thế giới, chế ngự thiên nhiên bắt
nó phục vụ cho mình Các chương trình của Phật giáo không phải cải tạo lại điều kiện sống mà chỉ để cố san bằng xã hội bằng đạo đức, trong xã hội đó ai cũng từ bi, bác ái,
hỷ xả, nhẫn nhục Điều này ảnh hưởng rất lớn trong việc thực thi pháp luật, quản lý xã hội, vì vậy việc cần làm hiện nay là phải hiểu rõ Phật giáo có ảnh hưởng đến hệ tư tưởng của người Việt Nam như thế nào để từ đó đưa ra những chính sách phát triển phù hợp vời lòng dân, làm cho xã hội ngày càng phát triển tiến bộ và phát triển hơn
Sự giác ngộ lý luận Mac-lênin, Chủ nghĩa Cộng Sản của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động đã tạo tiền đề xây dựng hệ thống tư tưởng, nguyên tắc hành động cho phong trào cách mạng của nhân dân việt nam lấy đó làm vũ khí chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang Điều này giúp ta nhận thức được về cơ bản mô hình
lý tưởng nhân đạo của Phật giáo và Chủ nghĩa Cộng Sản là: một bên là duy tâm, một bên là duy vật, từ đây thấy rõ những hạn chế của Phật giáo Một bên diệt dục triệt để bằng ý chí và coi dục là căn nguyên của mọi tội lỗi bên kia thì cố gắng thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người bằng lao động với chất lượng và năng suất cao nhằm cải thiện thế giới, coi đó là tiêu chuẩn đánh giá tính nhân đạo thực sự tiến bộ của
xã hội, một bên hứa hẹn, một bên niết bàn bình đẳng tự do cho tất cả mọi người, từ bi bác ái như nhau, không còn bị ràng buộc bởi các nhu cầu trần tục, còn bên kia khẳng định mô hình lý tưởng cho mọi người lao động, coi lao động là nhu cầu sống chứ không phải là phương tiện sống, lao động không còn là nguồn gốc của khổ đau, qua lao động con người hoàn thiện cả bản thân và hoàn thiện cả xã hội
Chúng ta cũng nhận thấy rằng ngày ngày những người đi chùa hầu hết những người đi chùa không có đủ tri thức giáo lý nhà Phật cho nên khó có thể giáo dục đạo lý nhà Phật một cách tự giác, tích cực trong xã hội và gia đình Nhiều người quá lạm dụng yếu tố mê tín gây tốn tiền của cúng bái, lễ lạt Nhiều người còn quá cả tin dẫn đến bị lợi dụng mất tiền mất của Nhiều người thì thụ động cho rằng con người có số mạng định trước thì còn phấn đấu làm gì cho mệt Như thế chẳng khác nào Phật giáo
đã làm cho con người ta mất đi động lực sinh tồn, xã hội không thể tiến lên được với những người như thế
Phật giáo bác học cũng bị mai một nhiều, không còn phát huy vai trò hướng đạọ Các cao tăng chưa ý thức hết được vai trò của họ trong việc xây dựng hoàn thiện nhân cách của con người Việt Nam Chẳng hạn các buổi giảng kinh đàm đạo các buổi lễ trên
Trang 10Chùa chưa được tổ chức theo tinh thần khai thác những tinh túy của đạo lý Phật giáo,
mà phần nhiều theo thị hiếu: cầu an, giải hạn, cầu lộc…của giới bình dân Phật giáo bình dân cũng sa sút Người dân lên chùa thường quá chú trọng vào những lễ vật, đến các ham muốn tầm thường Do không được giáo dục đầy đủ, đúng đắn giáo lý nhà Phật, số đông thanh thiêu niên đã đua theo thị hiếu của mọi người Họ coi đến Chùa chỉ là hình thức đi chơi, gải trí với bạn bè kèm theo đó là sự thiếu nghiêm túc trong ăn mặc, đi đứng, nói năng Có rất ít người tìm đến Chùa để tìm sự thanh thản trong tâm hồn, tu dưỡng nghiền ngẫm đạo lý làm người, về thiện - ác Như vậy mục đích đến Chùa của người dân đã là sai lầm, tầm thường hóa so với giáo điều mà giáo lý nhà Phật muốn hướng con người ta vào
2.4 Những giải pháp cơ bản
Ảnh hưởng của phật giáo đối với lối sống của con người Việt Nam bao giờ cũng mang tính hai mặt cả tích cực lẫn tiêu cực Yêu cầu của đất nước ta trong bối cảnh mới
là phải tạo ra sự đồng thuận, phát huy tối đa nguồn lực con người phục vụ cho sự phát triển của đất nước Vì vậy ứng sử với tôn giáo nói chung, với Phật giáo nói riêng phải hướng đến mục tiêu gia tăng nguồn lực cho sự nghiệp đổi mới đất nước Phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo trong quá trình xây dựng nối sống mới ở Việt Nam hiện nay cần quán triệt những quan điểm mang tính phương pháp luận cho những nhận thức và hoạt động thực tiễn như sau:
Thứ nhất, khuyến khích Phật giáo tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Phật giáo Việt Nam là tôn giáo có truyền thống nhập thể Giải thoát không phải trốn chạy, quay lưng với thực tại mà đi tìm ý nghĩa đích thực của cuộc sống, là ước vọng xây dựng xã hội hài hòa và cân bằng
Tinh thần nhập thế của Phật giáo trong sự đồng hành cùng dân tộc bảo vệ và xây dựng đất nước qua mọi thời kỳ cần được phát huy Ngay từ thời du nhập, một mặt Phật giáo, mà đại biểu là các nhà sư cùng phật tử đã tham gia tích cực cùng toàn dân chóng lại ách đô hộ của phương bắc, đồng thời chống lại sự đồng hóa văn hóa Không phải ngẫu nhiên mô hình kiến lập quốc gia được thiết lập theo kết cấu “ Đất vua- chùa làng-phong cảnh Bụt” được giới lãnh đạo quốc gia và Phật giáo luôn nỗ lực xây dựng nhằm bảo vệ chủ quyền đất nước, cũng là bảo vệ đạo pháp, bảo vệ văn hóa nước nhà
Khi đất nước độc lập kể từ sau chiến thắng Bạch Đằng lịch sử, tiếp đến các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Phật giáo đứng trước một vận hội mới đầy thách thức khi nhà nước bước sang kỷ nguyên độc lập, tự chủ Đường hướng hoạt động của Phật giáo phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu lịch sử dân tộc đang đặt ra Các thiền sư đã sát cánh cùng các vị vua và quan lại triều đình để hoạch định chính sách quốc gia với hai nhiệm
vụ chiến lược: tái thiết đất nước và đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược Phật giáo đã chủ động đứng trên vũ đài chính trị, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam