1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Vệ tinh tự nhiên của Sao Thiên Vương

11 417 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vệ tinh tự nhiên của Sao Thiên Vương
Chuyên ngành Thiên văn học
Thể loại Bài viết
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 918 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vệ tinh tự nhiên của Sao Thiên VươngSao Thiên Vương, hành tinh thứ bảy trong Hệ Mặt Trời, hiện tại có 27 vệ tinh,[1] tất cả được đặt tên theo các nhân vật từ các tác phẩm của William Sha

Trang 1

Vệ tinh tự nhiên của Sao Thiên Vương

Sao Thiên Vương, hành tinh thứ bảy trong Hệ Mặt Trời, hiện tại có 27 vệ tinh,[1] tất cả được đặt tên theo các nhân vật từ các tác phẩm của William Shakespeare và Alexander Pope.[2] William Herschel đã khám phá hai vệ tinh đầu tiên, Titania và Oberon, vào năm 1787, và các vệ tinh hình cầu đã được phát hiện năm 1851 bởi William Lassell (Ariel và Umbriel) và năm 1948 bởi Gerard Kuiper (Miranda).[2] Các vệ tinh còn lại được phát hiện sau năm 1985,

trong sứ mệnh bay ngang qua của Voyager 2 với sự hỗ trợ của kính thiên văn đặt trên Trái Đất.[1] [3]

Vệ tinh Sao Thiên vương được chia thành ba nhóm: mười ba vệ tinh vòng trong, năm vệ tinh lớn, và chín vệ tinh dị hình Vệ tinh vòng trong là những thiên thể nhỏ và tối chia sẻ chung nguồn gốc và tính chất với vành đai hành tinh Năm vệ tinh lớn có khối lượng đủ để đạt được trạng thái cân bằng thuỷ tĩnh, và bốn trong số đó có dấu hiệu quá trình dịch chuyển nội lực để hình thành các hẻm núi và núi lửa trên bề mặt.[3] Vệ tinh lớn nhất trong năm vệ tinh, Titania,

có đường kính 1,578 km và là vệ tinh lớn thứ tám trong Hệ Mặt Trời, và khối lượng nhỏ hơn 20 lần Mặt Trăng Các

vệ tinh dị hình của Sao Thiên Vương nằm ở xa hành tinh có quỹ đạo elip và độ nghiêng quỹ đạo của chúng lớn, đồng thời chuyển động ngược chiều với chiều tự quay của hành tinh.[1]

Sao Thiên Vương và sáu vệ tinh lớn nhất của nó Từ trái sáng phải: Puck, Miranda,

Ariel, Umbriel, Titania và Oberon.

Khám phá

Hai vệ tinh đầu tiên được phát hiện, Titania

và Oberon, được phát hiện bởi Ngài William

Herschel vào 11 tháng 1, 1787, sáu năm sau

khi ông phát hiện hành tinh chủ Sau đó,

Herschel nghĩ ông đã phát hiện thêm sáu vệ

tinh (xem phía dưới) và có lẽ là cả một vành

đai Trong gần 50 năm, dụng cụ của

Herschel là thứ duy nhất nhìn thấy nhìn thấy

các vệ tinh này.[4] Trong những năm 1840,

các công cụ tốt hơn và vị trí thuận lợi hơn

của Sao Thiên Vương trên bầu trời đã dẫn

đến các chỉ dẫn rời rạc về các vệ tinh khác

ngoài Titania và Oberon Cuối cùng, hai vệ

tinh tiếp theo, Ariel và Umbriel, đã được

phát hiện bởi William Lassell vào năm 1851.[5] Đề án đánh số La Mã cho các vệ tinh Sao Thiên Vương ở trong tình trạng thay đổi liên tục trong một thời gian đáng kể và trong các ấn phẩm vì sự không thống nhất giữa cách đặt tên của Herschel và của William Lassell.[6] Với sự xác nhận về Ariel và Umbriel, Lassell đánh số các vệ tinh từ I đến IV

từ Sao Thiên Vương trở ra, và đây là gút mắc cuối cùng.[7] Năm 1852, con trai Herschel John Herschel đã đề xuất tên cho bốn vệ tinh này và vẫn còn được sử dụng đến ngày nay.[8]

Không có thêm một khám phá nào khác trong suốt gần một thế kỉ Năm 1948, Gerard Kuiper ở Đài thiên văn McDonald đã khám phá ra vệ tinh nhỏ nhất trong số năm vệ tinh lớn hình cầu, Miranda.[8] [9] Nhiều thập kỉ sau,

chuyến bay ngang qua của tàu thăm dò không gian Voyager 2 vào tháng 1 năm 1986 dẫn đến sự khám phá thêm 10

vệ tinh vòng trong.[3] Một vệ tinh khác, Perdita, được khám phá năm 1999[10] sau khi nghiên cứu các bức ảnh cũ của

Sao Thiên Vương là hành tinh khổng lồ cuối cùng không còn vệ tinh dị hình nào được biết, nhưng từ năm 1997 chín

vệ tinh dị hình vòng ngoài đã được xác định bằng kính thiên văn đặt trên mặt đất.[1] Hai vệ tinh vòng trong khác, Cupid và Mab, đã được khám phá bởi Kính thiên văn không gian Hubble năm 2003.[12] Margaret là vệ tinh cuối cùng của Sao Thiên Vương được khám phá cho đến năm 2008, các kết quả tìm kiếm của nó được công bố vào tháng Mười 2003.[13]

Trang 2

Vệ tinh giả

Sau khi Herschel phát hiện Titania và Oberon vào 11 tháng 1, 1787, ông tin rằng ông đã tìm thấy thêm bốn vệ tinh khác; hai vệ tinh vào ngày 18 tháng 1 và 9 tháng 2, 1790, và hai vệ tinh khác vào ngày 28 tháng 2 và 25 tháng 3,

1794 Do đó trong nhiều thập kỉ, người ta tin rằng Sao Thiên Vương là có một hệ thống với sáu vệ tinh, dù bốn vệ tinh sau chưa bao giờ được xác nhận bởi các nhà thiên văn khác Tuy nhiên, nhờ vào các quan sát của Lassell năm

1851, khi ông phát hiện Ariel và Umbriel, đã thất bại trong việc hỗ trợ xác nhận các quan sát của Herschel; các vệ tinh Ariel và Umbriel, Herschel nhất định phải quan sát thấy chúng nếu ông tìm thấy bất kì vệ tinh nào khác bên cạnh Titania và Oberon, không tương ứng với bất kì đặc điểm quỹ đạo nào trong bốn vệ tinh của Herschel Bốn vệ tinh giả của Herschel được cho là có chu kỳ quỹ đạo trong 5.89 ngày (nằm phía trong Titania), 10.96 ngày (nằm giữa Titania và Oberon), 38.08 và 107.69 ngày (nằm phía ngoài Oberon).[14] Do đó bốn vệ tinh của Herschel được kết luận là giả mạo, có lẽ chúng phát sinh từ sai lầm nhận dạng các ngôi sao nhỏ nằm trong vùng lân cận Sao Thiên Vương như là các vệ tinh, và Lassell được công nhận là người phát hiện ra Ariel và Umbriel.[15]

Tên gọi

Hai vệ tinh đầu tiên của Sao Thiên Vương, phát hiện năm 1787, không được đặt tên cho đến năn 1852, một năm sau khi hai vệ tinh khác được phát hiện Trách nhiệm đặt tên được trao cho John Herschel, con trai của nhà thiên văn khám phá ra Uranus John Herschel, thay vì phân loại tên theo thần thoại Hy Lạp, lại đặt tên theo các tinh linh trong

văn học Anh: các cô tiên Oberon và Titania trong A Midsummer Night's Dream của William Shakespeare, và nữ thần Ariel và Umbriel từ The Rape of the Lock của Alexander Pope (Ariel cũng là tên một yêu tinh trong The Tempest của

Shakespeare) Lý do có lẽ nằm ở tên Sao Thiên Vương (Uranus), vị thần của bầu trời và không trung, được phục vụ bởi các tinh linh không trung.[16]

Các tên gọi tiếp theo, thay vì tiếp tục chủ đề tinh linh không trung (chỉ có Puck và Mab tiếp tục xu hướng đó), lại tập trung dựa vào các tài liệu gốc của Herschel Năm 1949, vệ tinh thứ năm, Miranda, được đặt tên bởi chính người

khám phá ra nó, Gerard Kuiper, dựa theo một nhân vật trong vở kịch của Shakespeare: The Tempest Hiện tại IAU thực hiện đặt tên cho các vệ tinh theo các nhân vật của các vở kịch của Shakespeare và từ The Rape of the Lock (dù

cho đến nay chỉ có Ariel, Umbriel, và Belinda có tên được rút ra từ tác phẩm thứ hai; tất cả phần còn lại đều lấy từ

Shakespeare) Đầu tiên, tất cả các vệ tinh vòng ngoài được đặt tên theo các nhân vật trong một vở kịch, The Tempest; nhưng xu hướng đó đã kết thúc với Margaret được đặt tên theo vở hài kịch Much Ado About Nothing.[8]

Khối lượng tương đối của các vệ tinh Sao Thiên Vương Năm vệ tinh hình cầu từ Miranda chiếm 0.7% tới Titania chiếm gần 40% tổng khối lượng Các vệ tinh khác tổng cộng chiếm khoảng 0.1%,

và hầu như không thể thấy trong sơ đồ này.

• The Rape of the Lock (một bài thơ của Alexander Pope):

• Ariel, Umbriel, Belinda

• Kịch của William Shakespeare:

• A Midsummer Night's Dream: Titania, Oberon, Puck

• The Tempest: (Ariel), Miranda, Caliban, Sycorax, Prospero,

Setebos, Stephano, Trinculo, Francisco, Ferdinand

• King Lear: Cordelia

• Hamlet: Ophelia

• The Taming of the Shrew: Bianca

• Troilus và Cressida: Cressida

• Othello: Desdemona

• Romeo và Juliet: Juliet, Mab

• The Merchant of Venice: Portia

• As You Like It: Rosalind

• Much Ado About Nothing: Margaret

• The Winter's Tale: Perdita

• Timon of Athens: Cupid

Trang 3

Một số tiểu hành tinh chia sẻ chung tên với các vệ tinh Sao Thiên Vương: 171 Ophelia, 218 Bianca, 593 Titania, 666 Desdemona, 763 Cupido và 2758 Cordelia

Đặc điểm và các nhóm

Hệ thống vệ tinh Sao Thiên Vương có khối lượng nhỏ nhất trong số các hành tinh khí khổng lồ; thực vậy, tổng khối lượng của năm vệ tinh chính ít hơn một nửa khối lượng của một mình Triton (vệ tinh lớn thứ bảy trong Hệ Mặt Trời).[17] Vệ tinh lớn nhất trong hệ, Titania, có bán kính khoảng 788.9 km,[18] hay nhỏ hơn một nửa Mặt Trăng, nhưng nặng gấp rưỡi Rhea, vệ tinh lớn thứ hai của Sao Thổ, khiến Titania trở thành vệ tinh lớn thứ tám trong Hệ Mặt Trời Sao Thiên Vương nặng gấp 10,000 lần khối lượng các vệ tinh của nó.[19]

Vệ tinh vòng trong

Lược đồ hệ thống vệ tinh - vành đai Sao Thiên

Vuơng

Tính đến năm 2008, Sao Thiên Vuơng được biết có 13 vệ tinh vòng

trong.[12] Quỹ đạo của chúng nằm bên trong Miranda Tất cả vệ tinh

vòng trong đều có liên hệ mật thiết với vành đai sao Thiên Vương, có

lẽ là kết quả của sự tan vỡ của một hay nhiều vệ tinh vòng trong.[20]

Hai vệ tinh trong cùng (Cordelia và Ophelia) có vai trò vệ tinh dẫn đầu

của vành đai ε, trong khi vệ tinh nhỏ Mab là gốc giới hạn ngoài của

vành đai μ.[12]

Vệ tinh Puck, với đường kính 162 km, là vệ tinh vòng trong lớn nhất

của sao Thiên Vương Puck và Mab là 2 vệ tinh vòng trong xa nhất

Tất cả các vệ tinh vòng trong đều khá tối; suất phản chiếu hình học của

chúng không vượt quá 10%.[21] Chúng được cấu tạo từ băng lẫn với

một loại tạp chất màu đen - có thể là chất hữu cơ dưới tác dụng của bức

xạ.[22]

Các vệ tinh nhỏ vòng trong làm xáo trộn lẫn nhau Đây là một hệ thống

hỗn loạn và không ổn định Các mô phỏng cho thấy các vệ tinh có thể

làm xáo trộn quỹ đạo của nhau, mà kết quả có thể dẫn đến sự va chạm

giữa các vệ tinh.[12] Desdemona có thể va chạm với Cressida hay Juliet trong 100 triệu năm tới.[23]

Vệ tinh lớn

Sao Thiên Vương có năm vệ tinh lớn: Miranda, Ariel, Umbriel, Titania và Oberon Phạm vi đường kính của chúng từ

472 km như Miranda tới 1578 km như Titania.[18] Tất cả các vệ tinh lớn đếu là các thiên thể tương đối tối: suất phản chiếu hình học của chúng thay đổi trong phạm vị 30–50%, trong khi suất phản chiếu liên kết nằm trong khoảng 10–23%.[21] Umbriel là vệ tinh tối nhất và Ariel là vệ tinh sáng nhất Khối lượng các vệ tinh nằm trong khoảng 6.7 × 1019 kg (Miranda) tới 3.5 × 1021 kg (Titania)—nếu so sánh, Mặt Trăng của Trái Đất có khối lượng là 7.5 × 1022 kg.[24] Các vệ tinh chính của Sao Thiên Vương được tin là được hình thành trong một đĩa bồi tụ, tồn tại xung quanh Sao Thiên Vương trong thời kì đầu.[25] [26]

Trang 4

Năm vệ tinh lớn nhất của Sao Thiên Vương được so sánh bằng kích thước tương đối và độ

sáng Tứ trái sang phải (theo thứ tự từ Sao Thiên Vương trở ra): Miranda, Ariel, Umbriel,

Titania và Oberon.

Tất cả các vệ tinh chính bao gồm đá và băng, trừ Miranda, được cấu tạo phần lớn từ băng.[27] Thành phần của băng

có thể bao gồm amoniac và carbon dioxide.[28] Bề mặt của chúng là các miệng hố lớn, dù tất cả chúng (trừ Umbriel) cho thấy dấu hiệu nội sinh tái tạo bề mặt trong hình dạng các đường nét (hẻm núi) và, trong trường hợp của Miranda, là các cấu trúc được gọi là coronae.[3] Sự mở rộng tiến trình liên kết với các nếp uốn diapir hướng lên có thể chịu trách nhiệm về nguồn gốc của coronae.[29] Bề mặt của vệ tinh Ariel là trẻ nhất với rất ít hố va chạm, trong khi đó bề mặt của Umbriel lại hiện lên là già nhất [3] Các nhà thiên văn cho rằng có một quỹ đạo cộng hưởng 3:1 trong quá khứ giữa Miranda và Umbriel và một quỹ đạo cộng hưởng khác 4:1 giữa Ariel và Titania có thể phù hợp cho hoạt động năng lượng nội sinh phát ra nhiệt của Miranda và Ariel.[30] [31] Một chứng cớ cho những quỹ đạo cộng hưởng trong quá khứ đó là độ nghiêng quỹ đạo rất lớn không bình thường của Miranda đối với các thiên thể gần hành tinh.[32] [33] Các vệ tinh lớn nhất của nhất của Sao Thiên Vương có cấu tạo bên trong rất khác nhau, với các nhân đá tại tâm của chúng được bao bọc bởi các lớp phủ băng [27] Titania và Oberon có thể chứa các đại dương chất lỏng tại ranh giới nhân và lớp phủ.[27] Các

vệ tinh chính của Sao Thiên Vương không có bầu khí quyển Ví dụ, Titania nếu tồn tại bầu khí quyển thì áp suất bầu khí quyển của nó chỉ không lớn hơn 10–20 nanobar.[34]

Tác phẩm của hoạ sĩ về đường di chuyển của Mặt Trời vào mùa hè trên

một vệ tinh lớn của Sao Thiên Vương

Khi quan sát sự di chuyển của Mặt Trời trên bầu trời

và trong những ngày cục bộ ở Sao Thiên Vương và

các vệ tinh chính của nó trong quá trình chúng ở chí

điểm (so với Sao Thiên Vương và so với Mặt Trời) là

rất khác so với khi nhìn ở những nơi khác trong Hệ

Mặt Trời Các vệ tinh chính có trục quay song song

với trục quay của Sao Thiên Vương.[3] Mặt Trời hiện

trên một đường tròn xung quanh thiên cực của Sao

Thiên Vương trên bầu trời, với điểm gần nhất cách

cực 7 độ.[35] Gần đường xích đạo, có thể nhìn Mặt

Trời gần ở phía nam hoặc phía bắc (phụ thuộc vào

mùa) Tại những vĩ độ lớn hơn 7°, Mặt Trời sẽ đi theo một đường tròn với đường kính 15 độ trên bầu trời, và không bao giờ lặn

Trang 5

Vệ tinh dị hình

Các vệ tinh dị hình của Sao Thiên Vương Trục X được thể hiện ở Gm (triệu km)

và theo tỷ lệ của bán kính quyển Hill Độ lệch tâm được thể hiện bởi các phân đoạn

màu vàng được biểu diễn nghiêng trên trục Y.

Cho đến 2005, Sao Thiên Vương được biết

có 9 vệ tinh dị hình, với quỹ đạo xa hơn

nhiều so với Oberon, vệ tinh lớn xa nhất Tất

cả các vệ tinh dị hình dường như là những

thiên thể bị bắt giữ bởi Sao Thiên Vương

sau khi hành tinh này hình thành.[1] Sơ đồ

minh hoạ chuyển động của các vệ tinh dị

hình được phát hiện tính đến ngày nay Bán

kính quyển Hill xấp xỉ 73 triệu km.[1]

Phạm vị kích thước của các vệ tinh dị hình

là từ khoảng 150 km (Sycorax) tới 18 km

(Trinculo).[1] Không như các vệ tinh dị hình

của Sao Mộc, Sao Thiên Vương không thể

hiện trục tương quan so với độ nghiêng

Thay vào đó, các vệ tinh nghịch hành có thể

chia thành hai nhóm dựa trên trục/độ lệch

tâm quỹ đạo Nhóm phía trong bao gồm các

vệ tinh ở gần Sao Thiên Vương hơn (a <

0.15 rH) và có độ lệch tâm vừa phải (~0.2),

cụ thể là Francisco, Caliban, Stephano và

Trinculo.[1] Nhóm phía ngoài (a > 0.15 rH)

bao gồm các vệ tinh có độ lệch lớn (~0.5):

Sycorax, Prospero, Setebos và Ferdinand.[1]

Các mặt phẳng quỹ đạo với độ nghiêng 60° < i < 140° không tồn tại một vệ tinh nào do sự bất ổn định Kozai.[1]

Trong vùng bất ổn định này, các nhiễu loạn trong Hệ Mặt Trời tại những khoảng cách xa nhất làm cho các vệ tinh có

độ lệch tâm lớn dẫn đến sự va chạm của chúng với các vệ tinh bên trong hay bị đẩy ra khỏi Sao Thiên Vương Thời gian sống của các vệ tinh trong vùng bất ổn định khoảng từ 10 triệu đến một tỷ năm tuổi[1]

Vệ tinh Margaret là vệ tinh dị hình duy nhất được biết đến có chuyển động quay cùng hướng với Sao Thiên Vương,

và hiện nay nó có độ lệch tâm quỹ đạo lớn nhất trong số các vệ tinh trong Hệ Mặt Trời, mặc dù vệ tinh Nereid của Sao Hải Vương có độ lệch tâm trung bình cao hơn Đến năm 2008, độ lệch tâm của Margaret là 0,7979.[36]

Bảng thống kê

Ghi chú

Vệ tinh chính

Vệ tinh nghịch hành

Các vệ tinh của Sao Thiên Vương được liệt kê ở đây theo chu kỳ quỹ đạo, từ ngắn nhất đến dài nhất Khối lượng các

vệ tinh vừa đủ để bề mặt của chúng có thể bị suỵ sụp hình tựa cầu được được được dấu màu xanh nhạt và bôi đen Các vệ tinh dị hình có quỹ đạo thuận hướng được thể hiện bằng màu xám sáng, còn có quỹ đạo nghịch hướng thể hiện ở màu xám đen

Trang 6

thứ

tự

[37]

Nhãn

[38]

(trợ giúp)

(km)[39]

Khối lượng (×10 18 kg)[40]

Bán trục lớn (km)[41]

Chu kỳ quỹ đạo (Ngày)[41]

[42]

Độ nghiêng (°)[41]

Độ lệch tâm [43]

Năm phát hiện[2]

Người phát hiện [2]

(50 × 36)

(Voyager 2)

(54 × 38)

(Voyager 2)

(64 × 46)

(Voyager 2)

(92 × 74)

(Voyager 2)

(90 × 54)

(Voyager 2)

(150 × 74)

(Voyager 2)

(156 × 126)

(Voyager 2)

(Voyager 2)

và Lissauer

(128 × 64)

(Voyager 2)

(Voyager 2)[44]

(Voyager 2)

và Lissauer

(481 × 468

× 466)

65.9 ± 7.5

Trang 7

15 I ‡Ariel ˈɛəriəl 1,157.8 ±

1.2 (1162 ×

1156 × 1155)

1,353

± 120

5.6

1,172

± 135

± 90

± 75

al.

al.

al.

al.[46]

al.

Jewitt

al.

al.

al.

Trang 8

Tham khảo

[1] Sheppard, Scott S.; Jewitt, David and Kleyna, Jan (2005) “ An ultradeep survey for irregular satellites of Uranus: Limits to completeness

(http:/ / adsabs harvard edu/ abs/ 2005AJ 129 .518S)” The Astronomical Journal 129: 518–525 doi: 10.1086/426329 (http:// dx doi.

org/ 10 1086/ 426329) .

[2] “Planet and Satellite Names and Discoverers” (http:/ / web archive org/ web/ 20080413033550/ http:/ / planetarynames wr usgs gov/

append7.html) Gazetteer of Planetary Nomenclature USGS Astrogeology (July 21 2006) Bản chính (http:// planetarynames wr usgs gov/

append7 html) lưu trữ 13 April năm 2008 Truy cập 6 August năm 2006.

[3] Smith, B.A.; Soderblom, L.A.; Beebe, A et al (1986) “ Voyager 2 in the Uranian System: Imaging Science Results (http:// adsabs harvard edu/ abs/ 1986Sci 233 .43S)” Science 233: 97–102 doi: 10.1126/science.233.4759.43 (http:// dx doi org/ 10 1126/ science 233 4759.

43) PMID 17812889 .

[4] Herschel, John (1834) “ On the Satellites of Uranus (http:/ / adsabs harvard edu/ cgi-bin/ nph-bib_query?bibcode=1834MNRAS 3Q .

35H& amp;db_key=AST& amp;data_type=HTML& amp;format=&amp;high=45eb6e10af10464)” Monthly Notices of the Royal

Astronomical Society 3 (5): 35–36 .

[5] Lassell, W (1851) “ On the interior satellites of Uranus (http:/ / adsabs harvard edu/ abs/ 1851MNRAS 12 .15L)” Monthly Notices of

the Royal Astronomical Society 12: 15–17 .

[6] Lassell, W (1848) “ Observations of Satellites of Uranus (http:/ / adsabs harvard edu/ cgi-bin/ nph-bib_query?bibcode=1848MNRAS 8 .

43 & amp;db_key=AST& amp;data_type=HTML& amp;format=&amp;high=45eb6e10af10464)” Monthly Notices of the Royal

Astronomical Society 8 (3): 43–44 .

[7] Lassell, W (1851) “ Letter from William Lassell, Esq., to the Editor (http:/ / adsabs harvard edu/ abs/ 1851AJ 2 70L)”.

Astronomical Journal 2 (33): 70 doi: 10.1086/100198 (http:// dx doi org/ 10 1086/ 100198) .

[8] Kuiper, Gerard P (1949) “ The Fifth Satellite of Uranus (http:/ / adsabs harvard edu/ abs/ 1949PASP 61 .129K)” Publications of the

Astronomical Society of the Pacific 61 (360): 129 doi: 10.1086/126146 (http:// dx doi org/ 10 1086/ 126146) .

[9] “Science in Review: Research Work in Astronomy và Cancer Lead Year's List of Scientific Developments” (http:/ / select nytimes com/ gst/ abstract html?res=F00F1EFE3F5E167B93C4AB1789D95F4C8485F9), December 26, 1948, trang 87.

[10] Karkoschka, E (18 May năm 1999) “IAUC 7171: S/1986 U 10; C/1999 J2; V1333 Aql” (http:/ / cfa-www harvard edu/ iauc/ 07100/

07171 html) IAU Circular Truy cập 31 October năm 2009.

[11] Karkoschka, Erich (2001) “ Voyager's Eleventh Discovery of a Satellite of Uranus and Photometry and the First Size Measurements of Nine Satellites (http:/ / adsabs harvard edu/ abs/ 2001Icar 151 .69K)” Icarus 151: 69–77 doi: 10.1006/icar.2001.6597 (http:// dx doi org/ 10.

1006/ icar 2001 6597) .

[12] Showalter, Mark R.; Lissauer, Jack J (2006) “ The Second Ring-Moon System of Uranus: Discovery and Dynamics (http:/ / adsabs.

harvard edu/ abs/ 2006Sci 311 .973S)” Science 311: 973–977 doi: 10.1126/science.1122882 (http:// dx doi org/ 10 1126/ science.

1122882) PMID 16373533 .

[13] Green, Daniel W E (9 October năm 2003) “IAUC 8217: S/2003 U 3; 157P; AG Dra” (http:/ / www cfa harvard edu/ iauc/ 08200/ 08217.

html) IAU Circular Truy cập 21 December năm 2008.

[14] Hughes, D W (1994) “ Lịch sử làm sáng tỏ đường kính bốn tiểu hành tinh đầu tiên (http:/ / articles adsabs harvard edu/ / full/

1994QJRAS 35 331H/ 0000334 000.html)” R.A.S Quarterly Journal 35 (3): 334–344 .

[15] Denning, W.F (22 tháng 10, 1881) “ Kỷ niệm 100 năm phát hiện Sao Thiên Vương (http:/ / www infomotions com/ etexts/ gutenberg/

dirs/ etext05/ 7030310.htm)” Scientific American Supplement (303) .

[16] William Lassell (1852) “ Beobachtungen der Uranus-Satelliten (http:/ / adsabs harvard edu/ / full/ seri/ AN / 0034/ / 0000169 000.

html)” Astronomische Nachrichten 34: 325 Truy cập 18 December năm 2008.

[17] Khối lượng Triton khoảng 2.14 × 10 22  kg, trong khi đó tổng khối lượng các vệ tinh Sao Thiên Vương là khoảng 0.92 × 10 22  kg.

[18] Thomas, P.C (1988) “ Radii, shapes, and topography of the satellites of Uranus from limb coordinates (http:/ / adsabs harvard edu/ abs/

1988Icar 73 .427T)” Icarus 73: 427–441 doi: 10.1016/0019-1035(88)90054-1 (http:// dx doi org/ 10 1016/ 0019-1035(88)90054-1) .

[19] Khối lượnh Sao Thiên Vương khoảng 8.681 × 10 25  kg / Khối lượng các vệ tinh Sao Thiên Vương khoảng 1 × 10 22

[20] Esposito, L W (2002) “ Planetary rings (http:/ / www iop org/ EJ/ article/ 0034-4885/ 65/ 12/ 201/ r21201.pdf)” (pdf) Reports On

Progress In Physics 65: 1741–1783 doi: 10.1088/0034-4885/65/12/201 (http:// dx doi org/ 10 1088/ 0034-4885/ 65/ 12/ 201) .

[21] Karkoschka, Erich (2001) “ Comprehensive Photometry of the Rings and 16 Satellites of Uranus with the Hubble Space Telescope (http:/ / adsabs harvard edu/ abs/ 2001Icar 151 .51K)” Icarus 151: 51–68 doi: 10.1006/icar.2001.6596 (http:// dx doi org/ 10 1006/ icar 2001.

6596) .

[22] Dumas, Christophe (2003) “ Hubble Space Telescope NICMOS Multiband Photometry of Proteus and Puck (http:/ / adsabs harvard edu/

abs/ 2003AJ 126.1080D)” The Astronomical Journal 126: 1080–1085 doi: 10.1086/375909 (http:// dx doi org/ 10 1086/ 375909) .

[23] Duncan, Martin J.; Jack J Lissauer (1997) “ Orbital Stability of the Uranian Satellite System (http:/ / adsabs harvard edu/ abs/ 1997Icar .

125 .1D)” Icarus 125 (1): 1–12 doi: 10.1006/icar.1996.5568 (http:// dx doi org/ 10 1006/ icar 1996 5568) Truy cập 10 May năm

2008.

[24] Jacobson, R.A.; Campbell, J.K.; Taylor, A.H and Synnott, S.P (1992) “ The masses of Uranus and its major satellites from Voyager

tracking data and Earth based Uranian satellite data (http:/ / adsabs harvard edu/ abs/ 1992AJ 103.2068J)” The Astronomical Journal

103 (6): 2068–78 doi: 10.1086/116211 (http:// dx doi org/ 10 1086/ 116211) .

Trang 9

[25] Mousis, O (2004) “ Modeling the thermodynamical conditions in the Uranian subnebula – Implications for regular satellite composition (http:/ / adsabs harvard edu/ abs/ 2004A& A 413 .373M)” Astronomy & Astrophysics 413: 373–80 doi: 10.1051/0004-6361:20031515

(http:/ / dx doi org/ 10 1051/ 0004-6361:20031515) .

[26] Hunt, Garry E.; Patrick Moore (1989) Atlas of Uranus Cambridge University Press 78–85 ISBN 0521343232.

[27] Hussmann, Hauke; Sohl, Frank; Spohn, Tilman (2006) “ Subsurface oceans and deep interiors of medium-sized outer planet satellites and large trans-neptunian objects (http:/ / adsabs harvard edu/ abs/ 2006Icar 185 .258H)” Icarus 185: 258–273 doi:

10.1016/j.icarus.2006.06.005 (http:/ / dx doi org/ 10 1016/ j icarus 2006 06 005) .

[28] Grundy, W.M.; Young, L.A.; Spencer, J.R et.al (2006) “ Distributions of H 2 O and CO 2 ices on Ariel, Umbriel, Titania, and Oberon from IRTF/SpeX observations (http:/ / adsabs harvard edu/ abs/ 2006Icar 184 .543G)” Icarus 184: 543–555 doi: 10.1016/j.icarus.2006.04.016

(http:/ / dx doi org/ 10 1016/ j icarus 2006 04 016) arΧiv:0704.1525 .

[29] Pappalardo, R T (http:/ / science jpl nasa gov/ people/ Pappalardo/ ); Reynolds, S J., Greeley, R (1996) “ Extensional tilt blocks on

Miranda: Evidence for an upwelling origin of Arden Corona (http:/ / www agu org/ pubs/ crossref/ 1997/ 97JE00802.shtml)” Journal of

Geophysical Research 102 (E6): 13,369–13,380 doi: 10.1029/97JE00802 (http:// dx doi org/ 10 1029/ 97JE00802) .

[30] Tittemore, W C.; Wisdom, J (1990) “ Tidal evolution of the Uranian satellites III Evolution through the Miranda-Umbriel 3:1,

Miranda-Ariel 5:3, và Ariel-Umbriel 2:1 mean-motion commensurabilities (http:/ / adsabs harvard edu/ abs/ 1990Icar 85 .394T)” Icarus

85 (2): 394–443 doi: 10.1016/0019-1035(90)90125-S (http:// dx doi org/ 10 1016/ 0019-1035(90)90125-S) .

[31] Tittemore, W.C (1990) “ Tidal Heating of Ariel (http:/ / adsabs harvard edu/ abs/ 1990Icar 87 .110T)” Icarus 87: 110–139 doi:

10.1016/0019-1035(90)90024-4 (http:/ / dx doi org/ 10 1016/ 0019-1035(90)90024-4) .

[32] Tittemore, W C.; Wisdom, J (1989) “Tidal Evolution of the Uranian Satellites II An Explanation of the Anomalously High Orbital

Inclination of Miranda” Icarus 78: 63–89 doi: 10.1016/0019-1035(89)90070-5 (http:// dx doi org/ 10 1016/ 0019-1035(89)90070-5).

[33] Malhotra, R., Dermott, S F (1990) “The Role of Secondary Resonances in the Orbital History of Miranda” Icarus 85: 444–480 doi:

10.1016/0019-1035(90)90126-T (http:/ / dx doi org/ 10 1016/ 0019-1035(90)90126-T).

[34] Widemann, T.; Sicardy, B.; Dusser, R et al (2008) “ Titania’s radius và an upper limit on its atmosphere from the September 8, 2001 stellar

occultation (http:/ / www lesia obspm fr/ perso/ thomas-widemann/ eprint/ Widemann_etal2009.pdf)” (PDF) Icarus 199: 458–476 doi:

10.1016/j.icarus.2008.09.011 (http:/ / dx doi org/ 10 1016/ j icarus 2008 09 011) .

[35] Độ nghiêng trục của Thiên Vương là 97°.

[36] “Natural Satellites Ephemeris Service” (http:/ / cfa-www harvard edu/ iau/ NatSats/ NaturalSatellites html) IAU: Minor Planet Center.

Truy cập 20 December năm 2008.

[37] Theo thứ tự khoảng cách trung bình từ vệ tinh đến Sao Hải Vương

[38] Đánh dấu theo chữ số La Mã theo thứ tự ngày khám phá ra vệ tinh.

[39] Số đo kích thước theo ba chiều như "60 × 40 × 34" cho thấy thiên thể không có dạng hình cầu hoàn hảo và mỗi kích thước đã được đo một cách cẩn thận Đường kính và kích thước của Miranda, Ariel, Umbriel và Oberon được lấy từ Thomas, 1988 Đường kính của Titania lấy từ Widemann, 2008 Đường kính và bán kính của các vệ tinh bên trong lấy từ Karkoschka, 2001, ngoại trừ Cupid và Mab, được lấy từ Showalter,

2006 Bán kính của các vệ tinh ngoài được lấy từ Sheppard, 2005.

[40] Khối lượng của các vệ tinh Miranda, Ariel, Umbriel, Titania và Oberon được trích từ Jacobson, 1992 Khối lượng của tất cả các vệ tinh khác được tính toán với giả sử mật độ của chúng là 1.3 g/cm 3 và dựa vào bán kính đã đo được.

[41] Williams, Dr David R (23 November năm 2007) “Uranian Satellite Fact Sheet” (http:/ / nssdc gsfc nasa gov/ planetary/ factsheet/

uraniansatfact html) NASA (National Space Science Data Center) Truy cập 20 December năm 2008.

[42] Chu kì quỹ đạo mang dấu âm cho biết quỹ đạo nghịch hành xung quanh Sao Thiên Vương (ngược với chiều quay của hành tinh).

[43] Jacobson, R.A (1998) “ Quỹ đạo các vệ tinh vòng trong của Sao Thiên Vương bởi Kính thiên văn không gian Hubble và các quan sát của Voyager2 (http:/ / adsabs harvard edu/ abs/ 1998AJ 115.1195J)” The Astronomical Journal 115: 1195–1199 doi: 10.1086/300263

(http:/ / dx doi org/ 10 1086/ 300263) .

[44] Một vệ tinh của Thiên vương không được coi là "mặt trăng" (http:/ / vnexpress net/ GL/ Khoa-hoc/ 2001/ 12/ 3B9B7DF9/ )

[45] Phát hiện năm 2001, công bố năm 2003.

[46] Tìm thấy mặt trăng thứ 21 của sao Thiên Vương (http:/ / vnexpress net/ GL/ Khoa-hoc/ 2002/ 10/ 3B9C1C4F/ )

Liên kết ngoài

• Simulation Showing the location of Uranus' Moons (http://orinetz.com/planet/tourprog/uranus.html)

• “Uranus: Moons” (http://solarsystem.nasa.gov/planets/profile.cfm?Object=Uranus&Display=Moons)

NASA's Solar System Exploration Truy cập 20 December 2008

• “NASA's Hubble Discovers New Rings và Moons Around Uranus” (http://hubblesite.org/newscenter/

newsdesk/archive/releases/2005/33/) Space Telescope Science Institute (22 December 2005) Truy cập 20

December 2008

• Sheppard, Scott “Uranus' Known Satellites” (http://www.dtm.ciw.edu/users/sheppard/satellites/urasatdata

html)

Trang 10

• Gazeteer of Planetary Nomenclature - Uranus (USGS) (http://planetarynames.wr.usgs.gov/jsp/

SystemSearch2.jsp?System=Uranus)

Ngày đăng: 06/11/2013, 17:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình được phát hiện tính đến ngày nay. Bán - Vệ tinh tự nhiên của Sao Thiên Vương
nh được phát hiện tính đến ngày nay. Bán (Trang 5)
Bảng thống kê - Vệ tinh tự nhiên của Sao Thiên Vương
Bảng th ống kê (Trang 5)
Hình ảnh Đường kính - Vệ tinh tự nhiên của Sao Thiên Vương
nh ảnh Đường kính (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w