BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG ------CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KIỂM TRA SỨC KHỎE ĐỊNH KỲ CỦA NGƯỜI DÂN TỈNH KHÁNH HÒA ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC SI
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
- -CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KIỂM TRA SỨC KHỎE ĐỊNH KỲ CỦA NGƯỜI DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC SINH VIÊN
Ngành đào tạo: Kinh tế phát triển
KHÁNH HÒA - 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
- -CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH
KIỂM TRA SỨC KHỎE ĐỊNH KỲ CỦA NGƯỜI DÂN
Trang 3MỤC LỤC
TÓM TẮT 1
1 GIỚI THIỆU 2
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 5
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.5 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu 6
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
2.1 Cơ sở lý thuyết về hành vi sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe 6
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân 9
2.3 Các nghiên cứu trong và ngoài nước 11
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 11
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 13
2.4 Khung phân tích của nghiên cứu 15
2.5 Định nghĩa các biến 15
2.6 Các giả thuyết nghiên cứu 17
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Cách tiếp cận nghiên cứu 17
3.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu 18
3.1.1 Phương pháp chọn mẫu 18
3.1.2 Cỡ mẫu 19
3.1.3 Thu thập dữ liệu 19
3.3 Các phương pháp phân tích 20
3.4 Công cụ phân tích dữ liệu 20
3.5 Quy trình nghiên cứu 20
4 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI 21
5 TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN 21
6 TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 4TÓM TẮT
Đề cương nghiên cứu nhằm đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kiểm trasức khỏe định kỳ của người dân trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Qua đó xác định mụctiêu và các câu hỏi nghiên cứu, đề cương đã hệ thống hóa và tổng quan lý thuyết liênquan đến các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ của ngườidân nhằm xây dựng khung phân tích và mô hình nghiên cứu cho đề tài luận văn.Phương pháp tiếp cận nghiên cứu, các nội dung trong phương pháp nghiên cứu đề tài,
kế hoạch và tiến độ thực hiện đề tài cũng được trình bày trong đề cương
Từ khoá: định kỳ, khám sức khỏe, Khánh Hòa, yếu tố ảnh hưởng.
Trang 51 GIỚI THIỆU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Sức khỏe ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống con người, sức khỏe được coinhư một đầu vào quan trọng của tăng trưởng và phát triển kinh tế Khi xã hội càngphát triển thì kéo theo đó là hàng loạt các vấn đề về môi trường sống sẽ ảnh hưởng đếnsức khỏe của con người, các yếu tố như ô nhiễm môi trường, áp lực công việc cànglàm gia tăng nguy cơ các bệnh hiểm nghèo như ung thư, bệnh lý tim mạch, gan, thận,tăng huyết áp, cholesterol, đái tháo đường, … Trong khi đó, biện pháp đơn giản vàkhoa học nhất để phát hiện sớm, hạn chế tối đa những thương tổn và ngăn ngừa biếnchứng của bệnh lý này là kiểm tra sức khỏe định kỳ thì cho đến nay vẫn rất ít người ýthức được tầm quan trọng của nó
Ngày nay, sống trong một xã hội hiện đại, xã hội ngày càng phát triển thì conngười càng quan tâm đến sức khỏe của mình Khám sức khỏe định kỳ đều đặn, pháthiện thấy các vấn đề sức khỏe bất thường, những trường hợp phát hiện bệnh ở giaiđoạn sớm sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị, tiết kiệm được thời gian, tiền bạc, tránhđược các biến chứng và kéo dài tuổi thọ Theo Tổ chức Y tế Thế giới, 1/3 các loạibệnh ung thư có thể chữa khỏi nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời Tuy nhiênvẫn có một bộ phận không nhỏ có tâm lý e ngại, sợ khám sức khỏe sẽ phát hiện rabệnh hoặc chưa thực sự quan tâm đến sức khỏe để đến khi bệnh diễn biến nặng hoặc
đã có biến chứng mới đến bệnh viện Kết quả khảo sát nhanh do báo Tuổi Trẻ thựchiện về việc khám sức khỏe định kỳ với 80 người dân tại TP.HCM thuộc hai nhóm đốitượng: nhóm những người đang làm nghề tự do và nhóm công nhân viên chức(CNVC) đang làm việc tại các cơ quan, doanh nghiệp, nghiên cứu chỉ ra rằng trong số
40 người dân đang làm nghề tự do trả lời khảo sát chỉ có 23% có ý thức khám sứckhỏe đều đặn từ 3 - 6 tháng/lần Những người này đều chung quan điểm là cần phảichủ động đi khám sức khỏe thường xuyên để “cảm thấy an tâm hơn” Trong nhóm làmnghề tự do, có 40% người dân cho biết chưa từng đi khám sức khỏe trước đó và một sốcũng không có ý định sẽ khám sức khỏe định kỳ trong tương lai, bởi theo họ việckhám sức khỏe là “không cần thiết nếu không có bệnh tật gì” Nhóm CNVC có mức
độ khám sức khỏe thường xuyên hơn, với tỉ lệ 58% đi khám định kỳ 1 năm/lần, theoquy định của nơi làm việc Phần đông số người được khảo sát chỉ nghĩ đến việc khám
Trang 6sức khỏe khi có chỉ định, yêu cầu hoặc thấy trong người có bệnh rồi mới đi khám Một
số người cũng cho rằng chính tâm lý “sợ bệnh rồi thêm lo” (chiếm 15% nhóm ngườidân và 8% nhóm văn phòng) cũng là một trong những nguyên nhân khiến họ khôngthăm khám sức khỏe thường xuyên
Theo số liệu thống kê năm 2016, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xếp Việt Namnằm trong 50 nước thuộc Top 2 của bản đồ ung thư, mỗi năm có hơn 70.000 ngườichết, và trung bình 205 người/ngày vì ung thư Và cũng theo WHO, việc chẩn đoánsớm căn bệnh ung thư có thể cứu sống được tính mạng và làm giảm chi phí điều trị,đặc biệt là tại những nước đang phát triển - nơi đa số ca ung thư bị phát hiện khi đãquá muộn Những nghiên cứu tại các quốc gia có thu nhập cao cho thấy việc điều trịcho bệnh nhân ung thư được chẩn đoán sớm sẽ ít tốn kém hơn từ 2-4 lần so với nhữngbệnh nhân được điều trị ở những giai đoạn muộn hơn Qua đó cho thấy, với sức khỏenói chung, hay căn bệnh ung thư nói riêng thì việc phòng bệnh tốt nhất vẫn là khámsức khỏe định kỳ ít nhất một năm một lần
Cũng theo số liệu nghiên cứu từ dự án Khảo sát nhận biết và Định vị thương hiệuHoàn Mỹ 2016 của Tập đoàn y khoa Hoàn Mỹ thực hiện vào cuối năm 2018 tại 8 tỉnhthành lớn có thành viên hệ thống hoạt động, trong đó gồm Tp Đà Nẵng, cho thấy tầnsuất khám chữa bệnh trung bình tại tất cả các cơ sở y tế trong một năm của người dân
Đà Nẵng là 1,42 lần (tính trên tổng số người đi khám và không đi khám) Tần suất kháthấp so với trung bình chung được khảo sát là 1,95 lần Nếu chỉ xét trên nhóm ngườithăm khám tại bệnh viện/phòng khám trong một năm qua (45%) thì tần suất khámchữa bệnh trung bình trong một năm là 2,06 lần
Hiện nay, nhiều người chỉ đến cơ sở khám chữa bệnh khi có bệnh mà chưa cóthói quen đi kiểm tra sức khỏe định kỳ Kiểm tra sức khỏe định kỳ là một cách giúpngười dân phòng ngừa và phát hiện bệnh sớm Người dân cần biết rằng khi có sứckhỏe thì sẽ có được tinh thần tỉnh táo, minh mẫn và mang đến được những giá trị chobản thân và gia đình Tầm soát, phát hiện bệnh sớm giúp việc điều trị trở nên dễ dànghơn, tiết kiệm thời gian, tiền bạc cũng như hạn chế tối đa các biến chứng xấu có thểxảy ra
Không những thế, cho dù bản thân đã ý thức được những điều trên thì tâm lý engại khi phải xếp hàng chờ đợi ở các bệnh viện, các trung tâm y tế, các cơ sở khámchữa bệnh… luôn trong tình trạng quá tải như hiện nay, hoặc thậm chí khi người dân
Trang 7đi khám bệnh sợ nếu phát hiện ra mình bị bệnh thì sẽ càng lo lắng đã khiến nhiềungười dân không sẵn lòng kiểm tra sức khỏe định kỳ mà chỉ đến khi có triệu chứng gì
đó trong người thì mới tiến hành đi khám Rất tiếc là nhiều trường hợp do không kiểmtra sức khỏe thường xuyên đã dẫn đến hậu quả là bệnh đã ở giai đoạn muộn hoặc cónhiều biến chứng khó chữa, mất nhiều thời gian và tốn kém chi phí
Để việc tầm soát, phát hiện sớm những căn bệnh tiềm ẩn trong mỗi con ngườimột cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả hơn trong tương lai thì đòi hỏi mỗi ngườidân chúng ta phải tự biết mình phải làm gì để bảo vệ sức khỏe cho bản thân Vì vậy,việc nghiên cứu để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kiểm tra sức khỏe định
kỳ của người dân trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa là một yêu cầu cần thiết và hữu íchnhằm cung cấp các bằng chứng khoa học và thực tiễn cho người dân quan tâm đếnkiểm tra sức khỏe định kỳ thường xuyên hơn
Tại Việt Nam, Bộ Y tế (2013), khuyến cáo mỗi cá nhân nên kiểm tra sức khỏeđịnh kỳ 6-12 tháng/lần nhưng đa số người dân chỉ đến cơ sở y tế khám khi biểu hiệnbệnh lý trong người mà chưa có thói quen kiểm tra sức khỏe định kỳ Với những lý donêu trên, cùng với sự mong muốn được tìm hiểu và đóng góp kiến thức của mình, tác
giả đã lựa chọn vấn đề nghiên cứu: “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kiểm tra
sức khỏe định kỳ của người dân tỉnh Khánh Hòa” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp
của mình Thông qua quá trình nghiên cứu sẽ làm sáng tỏ những yếu tố tác động liênquan đến quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân trên địa bàn tỉnh KhánhHòa hiện tại như thế nào, trên cơ sở đó đưa ra các hàm ý chính sách nhằm nâng cao ýthức người dân tham gia khám sức khỏe định kỳ trong thời gian tới
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 8(2) Xem xét và đo lường mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết địnhkiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân tỉnh Khánh Hòa
(3) Đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao ý thức người dân tham giakhám sức khỏe định kỳ trong thời gian tới
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ của
người dân tỉnh Khánh Hòa” sẽ giải quyết các câu hỏi nghiên cứu:
(1) Các yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ của ngườidân?
(2) Mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kiểm tra sức khỏeđịnh kỳ của người dân tỉnh Khánh Hòa đang ở mức nào?
(3) Các yếu tố đó tác động như thế nào đến quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳcủa người dân tỉnh Khánh Hòa?
(4) Những hàm ý chính sách nào nhằm thúc đẩy người dân tham gia khám sức khỏeđịnh kỳ trong thời gian tới?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các yếu tố ảnh hưởng đến quyết địnhkiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
- Đối tượng khảo sát: là người dân trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên phạm vi tỉnh Khánh Hòa Sốliệu đề tài được nghiên cứu, khai thác tại các địa bàn như: Tp Nha Trang, Tp CamRanh, Thị xã Ninh Hòa, các huyện: Cam Lâm, Khánh Sơn, Khánh Vĩnh, Diên Khánh,Vạn Ninh
- Về thời gian: Việc điều tra, thu thập số liệu, khảo sát lấy ý kiến người dân dựkiến được thực hiện từ tháng 3/2020 đến tháng 5/2020
- Về nội dung nghiên cứu: Xác định các yếu tố tác động liên quan đến quyết địnhkiểm tra sức khỏe định kỳ gồm: Độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng hônnhân, việc làm, thu nhập, tiểu sử bệnh mãn tính, chi phí và thời gian để xây dựng môhình nghiên cứu
Trang 91.5 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu
Về mặt khoa học: Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và thực tiễn về kiểm tra sức
khỏe định kỳ của người dân Xây dựng mô hình nghiên cứu về các yếu tốchính ảnh hưởng đến quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân
Về mặt thực tiễn:
- Nghiên cứu này sẽ là một trong những đóng góp cho người dân tỉnh Khánh Hòanhững bằng chứng khoa học về tình hình sức khỏe cũng như các yếu tố ảnh hưởng đếnquyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ
- Ngoài ra, đề tài còn là tài liệu tham khảo cho các sinh viên, những người nghiêncứu tiếp theo và cơ sở cho các nghiên cứu tương tự ở các địa phương khác
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Cơ sở lý thuyết về hành vi sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Luật Lao động số 10/2012/QH13 tại Điều 152, Khoản 2 quy định về chăm sóc
sức khỏe cho người lao động đã ghi rõ “Hàng năm, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động, kể cả người học nghề, tập nghề; lao động nữ phải được khám chuyên khoa phụ sản, người làm công việc nặng nhọc, độc hại, người lao động là người khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi phải được khám sức khỏe ít nhất 06 tháng một lần." Do đó, tổ chức khám
sức khỏe định kỳ là trách nhiệm của người sử dụng lao động Tham gia khám sức khỏeđịnh kỳ đầy đủ là quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động
* Khái niệm sức khỏe
WHO (1946) định nghĩa: “ Sức khỏe là tình trạng hoàn toàn thoải mái về thểchất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh hay tật” WHO đã xác địnhcác hoạt động hướng đến sức khỏe cho mọi người phải dựa trên bốn lĩnh vực chính,bao gồm: Thứ nhất, những cam kết chính trị, xã hội và sự quyết tâm đạt được sức khỏecho mọi người như một mục tiêu chính cho những thập kỷ tới Thứ hai, sự tham giacủa cộng đồng, người dân và huy động các nguồn lực của xã hội cho sự phát triển y tế.Thứ ba, hợp tác giữa các lĩnh vực khác nhau như nông nghiệp, giáo dục, truyền thông,công nghiệp, năng lượng, giao thông vận tải, nhà ở Thứ tư, hệ thống đảm bảo rằngmọi người có thể tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiết yếu, thông tin khoa học,công nghệ y tế thích hợp
Trang 10* Khái niệm dịch vụ
Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giảiquyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của kháchhàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu Trên góc độ hàng hóa, dịch vụ là hànghóa vô tình mang lại chuỗi giá trị thoả mãn nhu cầu nào đó của người tiêu dùng Quanniệm này cho rằng mỗi loại dịch vụ mang lại cho khách hàng một giá trị nào đó Nhưvậy giá trị ở đây là thoả mãn nhu cầu mong đợi của khách hàng và những giá trị của hệthống dịch vụ được gọi là chuỗi giá trị Ở nhiều nước, ngành dịch vụ được chia thành 3nhóm:
- Các dịch vụ kinh doanh: gồm vận tải, thông tin liên lạc, tài chính, bảo hiểm,kinh doanh bất động sản, các dịch vụ nghề nghiệp,
- Các dịch vụ tiêu dùng: gồm các hoạt động bán buôn, chăm sóc sức khỏe, dulịch, các dịch vụ cá nhân (như y tế, giáo dục, thể dục thể thao),
- Các dịch vụ công: gồm các dịch vụ hành chính công, các hoạt động đoàn thể
* Khái niệm dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Dịch vụ chăm sóc sức khỏe là một loại dịch vụ đặc biệt Nó bao gồm các hoạtđộng được thực hiện bởi nhân viên y tế như: khám, chữa bệnh phục vụ bệnh nhân vàngười nhà bệnh nhân Gồm 2 thành phần:
- Chất lượng kỹ thuật: Là sự chính xác trong kỹ thuật chẩn đoán và điềutrị bệnh
- Chất lượng chức năng: Bao gồm cơ sở vật chất bệnh viện, kỹ năng giao tiếp củanhân viên y tế, cách thức tổ chức quy trình khám chữa bệnh, cách thức bệnh viện chămsóc người bệnh,…
* Khái niệm về người tiêu dùng
Người tiêu dùng là một khái niệm quen thuộc, tuy nhiên cho đến
Trang 11Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, “Người tiêu dùng là người cuối
tiêu dùng hàng hóa, ý tưởng, dịch vụ nào đó Người tiêu dùng cũngđược hiểu là người mua hoặc ra quyết định như là người tiêu dùng cuốicùng”
Theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010), “Người tiêudùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng,sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức”
Qua các khái niệm trên, ta thấy có hai hành vi nổi bật của ngườitiêu dùng đó là hành vi mua và hành vi sử dụng:
Thứ nhất, với tư cách là người sử dụng sản phẩm, người tiêu dùngquan tâm đến các đặc tính, chất lượng của sản phẩm và cách sử dụnghàng hóa tối ưu
Thứ hai, với tư cách là người mua hàng, họ quan tâm nhiều đến
bè Người tiêu dùng này còn được gọi là “người tiêu dùng cuối cùng” Người tiêu dùng tổ chức: bao gồm các tổ chức kinh doanh (doanh
hành chính sự nghiệp… Họ là những người mua sản phẩm, dịch vụ phục
vụ cho hoạt động của cơ quan, tổ chức Trong nghiên cứu hành vi ngườitiêu dùng chủ yếu thường tập trung vào những người tiêu dùng cánhân, bởi vì tiêu dùng cuối cùng cũng là yếu tố bao trùm lên tất cả cácdạng khác nhau của hành vi tiêu dùng và liên quan đến mọi người vớivai trò là người mua, người tiêu dùng hoặc cả hai
* Khái niệm về hành vi người tiêu dùng
Trang 12Hành vi người tiêu dùng là những suy nghĩ, cảm nhận và hành
quá trình thông qua quyết định mua sắm hàng hóa, dịch vụ của ngườitiêu dùng dưới sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môitrường bên ngoài và quá trình tâm lý bên trong của họ Hay nói cáchkhác thì hành vi tiêu dùng là quá trình mà các cá nhân, nhóm, hay tổchức lựa chọn, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, ý tưởng hoặc kinh nghiệm đểthỏa mãn nhu cầu hoặc ước muốn của họ Định nghĩa về hành vi tiêudùng này bao gồm rất nhiều hoạt động và các vai trò khác nhau củangười tiêu dùng
Hành vi tiêu dùng là một bộ phận trong hệ thống hành vi của conngười Nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng giúp cho doanh nghiệptìm hiểu xem người tiêu dùng mua và sử dụng hàng hóa như thế nào.Trên cơ sở nhận thức rõ được hành vi của người tiêu dùng, doanhnghiệp sẽ có căn cứ chắc chắn để trả lời các vấn đề liên quan tới chiến lược Marketing cần vạch ra Đó là các vấn đề như sau:
Giới tính: Giới tính là yếu tố cá nhân đầu tiên có ảnh hưởng tiênquyết đến quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ Do những đặcđiểm tự nhiên, nam và nữ có nhu cầu kiểm tra sức khỏe khác
Trang 13nhau và cách lựa chọn gói sản phẩm dịch vụ cũng khác nhau Sovới nữ giới, nam giới thường ít quan tâm đến hoạt động mua sắmnhiều hơn (Slama & Tashlian, 1985) và nữ giới thường sẵn sàngchi trả nhiều hơn cho các dịch vụ tư vấn đối với hoạt động muasắm cá nhân Nữ giới có nhiều khả năng có rối loạn tâm thầnhơn nhưng ngược lại nam giới có nhiều khả năng có các hành vinguy hại sức khỏe hơn (Thái Thanh Trúc & Bùi Thị Hy Hân,
2016)
Tuổi: Tuổi là đặc điểm về nhân khẩu học nhận được rất nhiều sự quan tâm của
các nhà nghiên cứu, nghiên cứu về tuổi là để so sánh giữa khách hàng trẻ tuổi vàkhách hàng lớn tuổi, sự so sánh này thể hiện ở năng lực xử lý thông tin theo quátrình khi đánh giá sản phẩm (Smith & Balter, 1990), năng lực xử lý thông tin sẽgiảm xuống với sự tăng dần lên của độ tuổi, những khách hàng lớn tuổi thườnghạn chế trong việc xử lý thông tin hơn so với khách hàng trẻ tuổi Tuổi trongnghiên cứu này được tính đến năm đang tiến hành nghiên cứu Phân nhóm tuổiđược chia thành ba nhóm: (1) nhóm từ 18 đến 39 tuổi; (2) nhóm từ 40-59 tuổi,(3) trên 60 tuổi Hành vi của người sử dụng dịch vụ thường thay đổiqua các giai đoạn theo tuổi tác Các thị hiếu về quần áo, thựcphẩm, các ngành dịch vụ và các hoạt động giải trí đều có liên quanđến vấn đề tuổi tác
Trình độ học vấn: số năm đi học càng nhiều thì kiến thức về các yếu tố nguy cơ
gây cho sức khỏe càng cao, cá nhân sẽ ý thức hơn và dễ điều chỉnh được thóiquen sinh hoạt theo hướng tích cực hơn (Kenkel, 1995) Đề tài nghiên cứu chiathành 4 cấp độ gồm: (1) THCS; THPT; (2) Trung cấp, cao đẳng, Đại học; (3)Trên Đại học và (4) không có bằng cấp
Nghề nghiệp: Nghề nghiệp cũng ảnh hưởng đến cách thức tiêu dùng Trong quá
trình làm việc, họ sẽ chịu tác động của đặc thù công việc và môi trường làm việc,điều này sẽ ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng của người mua Mặt khác, nghềnghiệp còn ảnh hưởng tới thu nhập nên sẽ ảnh hưởng tới sức mua của người tiêudùng do vậy ảnh hưởng đến quyết định có đi khám sức khỏe định kỳ hay không
Đề tài nghiên cứu chia thành 5 cấp độ gồm: (1) Nhân viên nhà nước; nhân viên