“ CÁCH TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG CÁC TIẾT DẠY ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN” BÁO CÁO VỀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN:... Điều 24, luật giáo dục do Quốc hội khoá X thôn
Trang 1“ CÁCH TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG CÁC TIẾT DẠY ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN”
BÁO CÁO
VỀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN NGỮ
VĂN:
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
- Việc đổi mới phương pháp giảng dạy Ngữ văn hiện nay đã và đang thực sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy Phương pháp dạy học đổi mới chú trọng đến việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh làm cho học sinh ham thích môn học Điều 24, luật giáo dục (do Quốc hội khoá X thông qua) cũng đã chỉ rõ “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Đây là định hướng cơ bản thiết thực đối với mỗi giáo viên trong đó có giáo viên dạy bộ môn Ngữ văn.
- William Arthur Ward (1921 – 30/3/1994 ) là nhà giáo dục người Mỹ, tác giả cuốn sách nổi tiếng Fountains of Faith – “ Suối nguồn Niềm tin” đã từng nói: “Người thầy trung bình chỉ biết nói, Người thầy giỏi biết giải thích, Người thầy xuất chúng biết minh họa, Người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng” Với mỗi người giáo viên quá trình dạy học không chỉ là truyền thụ kiến thức một cách đơn thuần
mà điều quan trọng là phải biết định hướng, phải biết tổ chức các hoạt động dạy học, đem lại niềm vui, hứng thú trong học tập để các em phát huy hết những năng lực cá nhân từ đó tự chiếm lĩnh tri thức từ các bài học một cách chủ động và sáng tạo.
- Từ nhiều năm nay, phương pháp dạy văn đổi mới đã chú trọng phát triển hứng thú học văn của học sinh Một trong những mục đích của giờ văn là làm sao gây được rung động thẩm mĩ, giáo dục nhân cách cho học sinh Từ thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở THCS nhiều năm, tôi nhận thấy muốn giờ dạy đạt hiệu quả cao, ngoài việc truyền đạt kiến thức, tôi nghĩ rằng mình cần phải biết gây hứng thú học tập cho học sinh để tiết học thực sự nhẹ nhàng, sinh động; học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên, không gượng ép.
Trang 3THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
1 Về phía giáo
viên.Về cơ bản, giáo viên đã ý thức sâu sắc về việc phải đổi mới phương pháp dạy học Các thầy cô đã được tập huấn thay sách, tập huấn về đổi mới phương pháp dạy học Trong giảng dạy, một số giáo viên đã vận dụng phương pháp mới vào bài dạy, phần nào đã phát huy được tính cực chủ động ở học sinh, các em được bày tỏ ý kiến, tình cảm, cách hiểu của mình về bộ môn, về các vấn đề trong cuộc sống, được thực hành giao tiếp nhiều hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh số ít giáo viên tích cực thay đổi phương pháp dạy học, số ít các tiết dạy theo phương pháp mới (chủ yếu là tiết dạy thao giảng, dạy thực tập, dạy học theo nghiên cứu bài học) thì đại đa
số các bài giảng của giáo viên vẫn còn dạy theo phương pháp truyền thống: giáo viên làm việc quá nhiều, trong một tiết dạy đưa ra khá nhiều thông tin, vẫn là thầy đọc- trò chép; thầy hỏi, thầy trả lời Chẳng hạn, ở khâu khởi động: hầu hết giáo viên đều hỏi bài cũ, sau đó chuyển bài mới mà không tổ chức cho học sinh khởi động để tạo tâm thế nhập cuộc; Ở hoạt động hình thành kiến thức mới, GV không có hoặc có đôi khi tổ chức cho HS thảo luận, nhận xét đánh giá nhưng cũng rất qua loa chiếu lệ, đối phó Khâu tổng kết chốt kiến thức cần sử dụng sư đồ tư duy để hệ thống kiến thức thì GV chỉ gọi
HS khái quát nội dung và nghệ thuật bằng miệng rồi GV ghi bảng, học sinh chép vào vở Ở hoạt động luyện tập, GV vẫn chỉ cho học sinh làm bài tập ở SGK mà không mở rộng các dạng bài tập liên hệ tác phẩm, liên hệ cuộc sống
Trang 42 Về phía học sinh
Với phương pháp dạy học ít thay đổi như thế thì các em sẽ rơi vào thế bị động ghi nhớ, không tạo điều kiện để phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo cho các em; giờ học cũng trở nên nhạt nhẽo, làm tê liệt sự hứng thú của HS Từ đó dẫn đến bài dạy không mang lại hiệu quả giáo dục, học sinh không có cơ hội để phát triển phẩm chất và năng lực Sau này đứng trước nhiều vấn đề mới các em bỡ ngỡ, bị động, lúng túng và không có đủ khả năng, bản lĩnh để giải quyết những vấn đề phức tạp trong cuộc sống.
• Điều tra thực trạng:
Tôi đã điều tra và sát hạch về hứng thú học tập và kết quả học tập môn văn học sinh ở hai lớp 6A và 6B ở trường tôi thời điểm tháng 09 năm 2016 bằng phiếu điều tra và bài bài kiểm tra 90 phút kết hợp tự luận và trắc nghiệm cho kết quả như sau:
- Về hứng thú học tập:
- Về kết quả học tập :
Trang 5CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ Giải pháp 1: Tạo hứng thú cho học sinh qua hoạt động khởi động:
+ Mục đích: Khơi dậy sự tò mò, bất ngờ, hứng thú cho học sinh về chủ đề sẽ học Học sinh cảm thấy vấn đề gần gũi với các em Hoạt động này sẽ giúp các em phát triển năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác và năng lực cảm thụ
+ Cách thức thực hiện giải pháp: Nếu như trước đây, trước khi vào bài mới giáo viên giới thiệu bài bằng cách thuyết giảng một mình, học sinh nghe, thì dạy học theo định hướng phát triển năng lực cách vào bài được thực hiện bằng nhiều cách, tùy vào điều kiện, nội dung, tính chất từng bài và thực tế mà chúng ta lựa chọn cách thực hiện sao cho phù hợp để tạo được hứng thú ở học sinh Giáo viên có thể dẫn dắt từ bài cũ sang bài mới bằng cách đặt câu hỏi, kể chuyện, đặt một tình huống, khai thác kênh nhạc, kênh phim, tổ chức trò chơi hoặc sử dụng một số hình thức khác để giới thiệu bài mới Sau đây là một số cách vào bài:
Cách 1: Yêu cầu học sinh trình bày những ngữ liệu văn học liên quan đến đề tài, nội dung của văn bản đang học
Cách 2: Sử dụng kỹ thuật dạy học KWL (K: know - biết; W: Want - muốn; L: learn - học)
- Ghi các từ, cụm từ có liên quan đến chủ đề
- Học sinh thảo luận hoặc giải thích về những diều đã ghi
- Ghi những điều các em muốn biết thành câu hỏi
- Sau khi đọc - hiểu xong, học sinh suy nghĩ và ghi:
+ Những câu trả lời cho câu hỏi ghi ở cột W
Cách 3: GV cung cấp ngữ liệu bằng những đoạn video hoặc đoạn phim tư liệu có liên quan nội dung bài học.
Cách 4: Tạo tình huống giả định liên quan đến nội dung bài học để HS tự giải quyết tình huống có vấn đề.
Trang 6Giải pháp 2: Tạo hứng thú cho học sinh bằng phương pháp đàm thoại
Phương pháp đàm thoại là phương pháp mà GV căn cứ vào nội dung bài học khéo léo đặt ra câu hỏi, để HS căn cứ vào kiến thức đã có kết hợp với sự hướng dẩn của GV qua các thiết bị giảng dạy để làm sáng tỏ vấn đề Việc xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp môn học, đối tượng học Có nhiều dạng câu hỏi để học sinh sử dụng: Loại câu hỏi gợi mở, câu hỏi tái hiện, câu hỏi nêu vấn đề, câu hỏi cảm thụ, câu hỏi phân tích…
* Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy, bên cạnh các câu hỏi thông thường bấy lâu nay chúng ta vẫn sử dụng thì cần tăng thêm các loại câu hỏi đòi hỏi học sinh phải có sự tư duy mới trả lời được Qua các câu hỏi này sẽ tạo được sự hứng thú và phát huy được các năng lực của học sinh Ở đây cần phân loại một số dạng câu hỏi đặc trưng như sau:
- Dạng câu hỏi liên hệ so sánh ( có ba loại liên hệ: liên hệ với bản thân, liên hệ với cuộc sống, liên hệ với văn bản khác)
- Dạng câu hỏi sắm vai giả định: dạng câu hỏi này sẽ yêu cầu học sinh sắm vai hoặc giả định là nhân vật trong văn bản để học sinh tự thể hiện tâm trạng, suy nghĩ hành động của nhân
vật tức là học sinh sẽ được trải nghiệm mình là nhân vật, học sinh phải có sự liên tưởng, nhập vai và có sự hiểu biết về nhiều mặt để giải quyết vấn đề
- Dạng câu hỏi tưởng tượng sáng tạo: Tưởng tượng sáng tạo để phá vỡ lớp ngôn từ, HS hình dung những người những cảnh được miêu tả trong văn bản, làm cho văn bản trở nên sống
động Từ đó giúp HS phát triển trí tưởng tượng
Trang 7Giải pháp 3: Tạo hứng thú cho học sinh thông qua việc tổ chức hoạt động nhóm
+ Tổ chức hoạt động theo nhóm là phương pháp dạy học tích cực và hiệu quả Tuy nhiên để làm được điều này thì cách tổ chức của người thầy là vô cùng quan trọng
+ Hình thức và cách thức thảo luận nhóm trong quá trình dạy học khá phong phú như thảo luận theo bàn, thảo luận theo cặp, nhóm nhiều học sinh Khi thảo luận nhóm có thể sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực Tuy nhiên với điều kiện về cơ sở vật chất như hiện nay đặc biệt là với thời gian của một tiết dạy 45 phút thì việc áp dụng thảo luận nhóm theo kĩ thuật
Khăn trải bàn là một trong những sự lựa chọn phù hợp và hiệu quả nhất.
+ Cách thực hiện như sau: giáo viên thông qua mục đích hoạt động, chia nhóm, giao nhiệm vụ thảo luận; giáo viên phát phiếu học tập hoặc bảng phụ ghi câu hỏi, ấn định thời gian Mỗi nhóm sẽ trình bày vào một tờ giấy được chia đều cho các thành viên trong nhóm, mỗi thành viên sẽ trình bày ý kiến của mình vào một góc, sau đó nhóm trưởng sẽ chắt lọc, lấy
ý kiến của từng thành viên trong nhóm đi đến thống nhất Có thể mô phỏng hình thức thảo luận nhóm theo kĩ thuật Khăn trải bàn như sau:
Trang 8( Nguồn: Tài liệu tập huấn chuyên môn dành cho vùng khó khăn nhất)
Trang 9Giải pháp 4: Tạo hứng thú cho học sinh thông qua phương pháp giảng bình
Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học mặc dù giáo viên là người định hướng chỉ đạo hoạt động học, học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức nhưng ta không nên bỏ qua việc giảng bình Nhất là khi sử dụng bài giảng điện tử, giáo viên thiên về trình chiếu mà quên bước giảng bình cho học sinh, đây là một thiếu sót lớn trong quá trình giảng văn bởi bình giảng giúp các em hiểu sâu sắc hơn về tác phẩm Giáo viên bình hay còn tạo sự chú ý, thu hút người học (học sinh rất thích những lời diễn giảng hay) Công việc bình giảng nên xen kẽ trong quá trình phân tích tìm hiểu yếu tố nghệ thuật thì bài dạy sẽ hay hơn, đạt hiệu quả hơn Thao tác bình giảng trên lớp tỏ ra có ưu thế hơn so với phương pháp phân tích, diễn giảng theo lối truyền thống Trước kia, giáo viên thường phải “làm thay” việc cảm thụ tác phẩm cho học sinh, cách dạy ấy không tránh khỏi những áp đặt mà học sinh cũng không dám phát biểu tranh luận với giáo viên Còn dạy theo phương pháp phát triển năng lực, cần phải tạo môi trường thân thiện, tạo hứng thú khám phá, hướng học sinh cùng tham gia cảm thụ tác phẩm theo định hướng và những gợi ý từ giáo viên Giáo viên cần xây dựng hệ thống câu hỏi theo hướng bình giảng, bám sát những đặc trưng thể loại của tác phẩm Trong khâu này, giáo viên cần khuyến khích học sinh mạnh dạn phát biểu suy nghĩ riêng của bản thân Quá trình bình giảng, giáo viên cần chọn lọc những ý thơ, đoạn thơ, chọn lọc được những từ ngữ, hình ảnh đắt giá, những chi tiết đặc sắc đúng trọng tâm để bình thật trúng ý, vừa mang tính bao quát vừa thể hiện chiều sâu trong bài giảng
Trang 10Giải pháp 5: Tạo hứng thú cho học sinh bằng việc ứng dụng công nghệ thông tin
* Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn
Ứng dụng CNTT không đồng nhất với đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) CNTT chỉ là phương tiện tạo thuận lợi cho triển khai PPDH tích cực, chứ không phải là điều kiện
đủ của PPDH này Để một giờ học có ứng dụng CNTT là một giờ học phát huy tính tích cực của HS, thì điều kiện tiên quyết là việc khai thác CNTT phải đảm bảo các yêu cầu và tính
- Sử dụng công nghệ thông tin để cung cấp kiến thức về tác giả tác phẩm là rất tốt.
Ví dụ: Khi dạy “Lão Hạc” chúng ta có thể cung cấp cho học sinh những hiểu biết về nhà văn
Nam Cao, tác phẩm nổi tiếng của ông
* Ứng dụng công nghệ thông tin đối với từng dạng bài
- Sử dụng công nghệ chiếu những đoạn văn cần phân tích
Trang 11Ví dụ : khi dạy bài “Ếch ngồi đáy giếng”, chúng ta đưa ra tranh minh hoạ và yêu cầu học sinh kể chuyện
- Ứng dụng công nghệ thông tin giúp học sinh nắm vững và kể được nội dung câu chuyện đối với các văn bản ở lớp 6
Trang 12Trong quá trình giảng dạy tôi đã từng hướng dẫn học sinh làm nhiều BĐTD như Từ sự hướng dẫn của GV, các em HS cũng tự lập được nhiều BĐTD theo ý thích riêng của mình.
Giải pháp 6: Tạo hứng thú cho học sinh bằng việc sử dụng bản đồ tư duy
Sơ đồ tư duy trong dạy học là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh Mỗi học sinh có thể vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau Cùng một chủ đề nhưng mỗi học sinh có thể “thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng Do đó giáo viên nên khuyến khích học sinh lập BĐTD theo ý tưởng của riêng mình nhằm tạo hứng thú và phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi em
Trang 13Giải pháp 7: Tạo hứng thú cho học sinh bằng việc tổ chức các trò chơi
* Tổ chức trò chơi trong dạy Ngữ văn
Trò chơi trong văn học hay còn gọi là sân chơi lành mạnh bổ ích Đó là việc tổ chức cho học sinh thi trả lời bằng những hoạt động vui chơi giải trí nhằm khơi dậy sự hứng thú cho học
sinh và củng cố rèn luyện kĩ năng, phát triển óc tư duy linh hoạt sáng tạo
* Thiết kế nội dung trò chơi:
Chúng ta nên tổ chức trò chơi vào phần củng cố bài là hợp lý nhất Vì vậy, nội dung trò chơi phải nhằm củng cố, khắc sâu trọng tâm của bài dạy Xây dựng nội dung của trò chơi phải đảm bảo những yêu cầu sau:
- Đảm bảo yêu cầu phổ cập: nghĩa là đa phần các bài tập trong trò chơi phải có mức độ vừa phải, đủ để học sinh bình thường có thể giải quyết được trong thời gian ngắn Đồng thời,
có nhiều bài tập để nhiều học sinh tham gia
- Có yếu tố sáng tạo: trong trò chơi nên có 01 bài tập (hoặc 01 ý) trở lên có nội dung sáng tạo Để giải quyết những bài tập này học sinh phải vận dụng những kiến thức một cách có
hệ thống hơn, linh hoạt hơn, sáng tạo hơn
- Nội dung trò chơi phải được phân cách thành những yêu cầu, những đơn vị kiến thức, mỗi bài tập đó với từng cá nhân học sinh
- Nội dung trò chơi nên thể hiện trong nhiều dạng bài tập, nhiều hình thức thể hiện khác nhau (tùy theo mỗi dạng bài dạy, mỗi tiết dạy, mỗi khối lớp) Ví dụ: điền vào chỗ trống, ô trống, dùng vạch nối tương ứng để tạo thành cặp liên kết đúng, điền trắc nghiệm đúng sai, điền kết quả , điền từ theo chủ đề…
Trang 141 L U C B A T
VD : Khi dạy bài ôn tập văn học lớp 7 ta có thể thiết kế trò chơi sau đây
Hàng ngang
Câu 1 Gồm 6 chữ cái Bài “Côn Sơn ca” được dịch sang thể thơ nào?
Câu 2 Gồm 12 chữ cái Ông là người có địa vị tối cao nhưng tâm hồn ông luôn gắn bó
với nơi thôn dã Ông là ai?
Câu 3 Gồm 6 chữ cái Nguyễn Trãi có tên hiệu là gì?
Câu 4 Gồm 10 chữ cái Trần Nhân Tông cùng vua cha lãnh đạo nhân dân ta đánh tan
quân giặc nào?
Câu 5 Gồm 15 chữ cái “Thiên Trường vãn vọng” được Trần Nhân Tông sáng tác theo
thể thơ nào?
Câu 8 Gồm 7 chữ cái Cảnh vật ở phủ Thiên Trường được miêu tả vào thời điểm nào?
Câu 9 Gồm 5 chữ cái Nguyễn Trãi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn dưới ngọn cờ của ai?
Câu 10 Gồm 7 chữ cái Phủ Thiên Trường xưa nay thuộc tỉnh nào?
Hàng dọc Gồm 10 chữ cái Điền vào câu sau “Ca dao ca ngợi cảnh đẹp đất nước”
Câu 6 Gồm 10 chữ cái Đại từ “ta” trong bài “Côn Sơn ca” chỉ ai?
Câu 7 Gồm 6 chữ cái Một biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài “Côn Sơn ca” ?
Trang 15KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong những năm học gần đây, tôi đã áp dụng sáng kiến để soạn giảng và vận dụng vào thực tế, tôi nhận thấy có sự thay đổi đáng mừng Sau khi tôi điều tra và sát hạch bằng phiếu điều tra và bài kiểm tra 90 phút kết hợp trắc nghiệm và tự luận cho kết quả như sau:
- Về hứng thú :
- Kết quả học tập:
Trang 16KẾT LUẬN
Với các nội dung nghiên cứu trên tôi nhận thấy: Dạy học môn Ngữ văn nói chung, dạy phần văn bản nói riêng việc tạo hứng thú cho học sinh thực sự là hết sức quan trọng.Và trong đề tài này tôi đề cập đến vấn đề chủ yếu là cách tạo hứng thú cho học sinh trong một tiết dạy đọc hiểu văn bản Để một tiết dạy thành công thì điều cốt yếu là học sinh phải yêu thích, say mê, hợp tác, tích cực chủ động và sáng tạo Muốn làm được điều đó người giáo viên phải thiết kế được một chuỗi các hoạt động với nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, tổ chức các hoạt động phải phong phú, đa dạng và linh hoạt, phù hợp đối tượng
Quá trình áp dụng vào thực tế giảng dạy cho thấy kết quả rất khả quan Học sinh rất hào hứng, học tập tích cực, có tinh thần hợp tác cao, học sinh hoàn toàn làm chủ kiến thức Đề tài này có khả năng áp dụng dễ dàng, phổ biến và có thể nhân rộng vào quá trình giảng dạy Điều này chứng tỏ kết quả của nội dung nghiên cứu đề tài đã phần nào đạt được mục tiêu đề ra
Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng: Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực không có nghĩa là từ bỏ tất cả phương pháp dạy truyền thống mà là sự cải tiến, thay đổi và phát triển thêm Hi vọng rằng báo cáo này sẽ là một đóng góp nhỏ vào sự đổi mới trong dạy học môn Ngữ văn để đem lại chất lượng hiệu quả tốt hơn