1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Báo cáo Việt Nam: Khuôn khổ cung cấp dịch vụ nhận dạng điện tử

241 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khuôn khổ cung cấp dịch vụ nhận dạng điện tử
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Công nghệ thông tin
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 241
Dung lượng 4,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.0 Gi ớ i thi ệ u (18)
  • 1.1 M ụ c đích (18)
  • 1.2 B ố i c ả nh và s ự c ầ n thi ế t (18)
  • 2.0 Phương pháp lu ậ n (20)
  • 3.0 Bài h ọ c rút ra qua kinh nghi ệ m qu ố c t ế (21)
  • 4.0 Hi ệ n tr ạ ng s ử d ụ ng nh ậ n d ạ ng và các v ấ n đ ề v ề cung c ấ p d ị ch v ụ mà Vi ệ t Nam đang ph ả i đ ố i m ặ t (44)
  • 4.1 Tìm hi ể u v ề hi ệ n tr ạ ng các h ệ th ố ng nh ậ n d ạ ng t ạ i Vi ệ t Nam (44)
  • 4.2 Các v ấ n đ ề thư ờ ng g ặ p v ề nh ậ n d ạ ng khi cung c ấ p d ị ch v ụ t ạ i Vi ệ t Nam (49)
  • 5.0 T ầ m nhìn cho Khuôn kh ổ cung c ấ p d ị ch v ụ đ ị nh danh đi ệ n t ử (EISDF) (51)
  • 5.1 Mô t ả t ổ ng quát v ề Khuôn kh ổ cung c ấ p d ị ch v ụ đ ị nh danh đi ệ n t ử (EISDF) (52)
  • 5.2 Mô t ả chi ti ế t v ề các d ị ch v ụ nh ậ n d ạ ng đi ệ n t ử (63)
    • 5.2.1 D ị ch v ụ xác th ự c nh ậ n d ạ ng đi ệ n t ử (63)
    • 5.2.2 D ị ch v ụ nh ậ n d ạ ng và xác nh ậ n khách hàng đi ệ n t ử (67)
    • 5.2.3 D ị ch v ụ t ạ o ngu ồ n thông tin nh ậ n d ạ ng đi ệ n t ử (70)
    • 5.2.4 D ị ch v ụ thanh toán đi ệ n t ử (71)
    • 5.2.5 D ị ch v ụ ch ữ ký s ố (74)
    • 5.2.6 D ị ch v ụ nh ậ n d ạ ng di đ ộ ng (74)
  • 6.0 Các khuy ế n ngh ị v ề chi ế n lư ợ c tri ể n khai (77)
  • 6.1 Khuy ế n ngh ị v ề k ỹ thu ậ t (77)
  • 6.2 Khuy ế n ngh ị v ề th ể ch ế (90)
    • 6.2.1 Mô hình ho ạ t đ ộ ng (90)
    • 6.2.2 Cơ c ấ u t ổ ch ứ c (98)
  • 6.3 Khuy ế n ngh ị v ề chính sách (106)
  • 6.4 Khuy ế n ngh ị v ề chi ế n lư ợ c truy ề n thông (108)
  • 6.5 Khuy ế n ngh ị v ề tri ể n khai thí đi ể m (110)
  • 7.0 D ự trù kinh phí (116)
  • 7.1 Cơ s ở l ậ p d ự trù kinh phí (116)
  • 7.2 Chi ti ế t kinh phí (116)
  • 8.0 Các Ph ụ l ụ c (129)
  • 1. Các lo ạ i b ằ ng ch ứ ng thông báo nh ậ n d ạ ng (token) (130)
  • II. Tiêu chí l ự a ch ọ n hình th ứ c ch ứ ng th ự c c ủ a nhà cung c ấ p d ị ch v ụ (130)
  • III. Các k ị ch b ả n h ỗ tr ợ t ự ph ụ c v ụ và t ổ ng đài cung c ấ p d ị ch v ụ (131)
  • IV. Ti ệ n ích và N ề n t ả ng t ạ o ngu ồ n thông tin nh ậ n d ạ ng đi ệ n t ử (132)
  • V. Ti ệ n ích khách hàng v ớ i ch ữ ký s ố (134)
  • I. Nh ữ ng quy đ ị nh v ề đ ố i chi ế u tên (136)
  • II. Nh ữ ng quy đ ị nh v ề đ ố i chi ế u đ ị a ch ỉ (138)
  • I. Đ ề xu ấ t cơ c ấ u đ ị a ch ỉ tiêu chu ẩ n (140)
  • II. D ữ li ệ u s ử d ụ ng đư ợ c mã hoá (140)
  • I. Mô t ả chi ti ế t các thành ph ầ n k ỹ thu ậ t c ủ a N ề n t ả ng cung c ấ p d ị ch v ụ đ ị nh danh đi ệ n t ử (EISDP) (144)
  • II. Cơ c ấ u t ổ ch ứ c: Vai trò và trách nhi ệ m (185)

Nội dung

Tài liệu nghiên cứu này nhằm đề xuất tầm nhìn và các khuyến nghị triển khai Khuôn khổ cung cấp dịch vụ định danh điện tử (EISDF) tại Việt Nam. Ngoài ra tài liệu cũng chỉ ra các vai trò của rất nhiều các bên liên quan (khu vực công, khu vực tư nhân, cộng đồng phát triển, v.v.) trong lĩnh vực này. Tài liệu nghiên cứu đưa ra khuyến nghị về các loại dịch vụ định danh điện tử (eID) phù hợp và tiên tiến có thể được triển khai để chuyển đổi và nâng cao trách nhiệm giải trình cũng như hiệu suất cung cấp dịch vụ tại nhiều lĩnh vực.

M ụ c đích

Tài liệu nghiên cứu này đề xuất tầm nhìn và khuyến nghị triển khai Khuôn khổ cung cấp dịch vụ định danh điện tử (EISDF) tại Việt Nam, nhấn mạnh vai trò của các bên liên quan như khu vực công, tư nhân và cộng đồng phát triển Nghiên cứu cũng đưa ra các khuyến nghị về dịch vụ định danh điện tử (eID) tiên tiến nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình và hiệu suất cung cấp dịch vụ trong nhiều lĩnh vực, dựa trên kinh nghiệm quốc tế và đánh giá hiện trạng trong nước.

Bài viết tập trung vào các hệ thống định danh điện tử (eID) hoạt động trên điện thoại di động, đồng thời nhấn mạnh tiềm năng phát triển mạnh mẽ của chúng trong cả khu vực công và tư nhân tại Việt Nam.

B ố i c ả nh và s ự c ầ n thi ế t

Các hệ thống định danh điện tử (eID) mang lại nhiều lợi ích cho cá nhân, doanh nghiệp và chính quyền, giúp mở rộng khả năng xác thực và tiếp cận dịch vụ công Việc áp dụng công nghệ sinh trắc và số hóa trong eID tạo điều kiện cho sự phát triển của hệ thống nhận dạng chính thức Thiếu khả năng xác thực bản thân cản trở quyền lợi của cá nhân trong việc tiếp cận dịch vụ eID không chỉ là công cụ đổi mới trong khu vực công và tư nhân mà còn nâng cao giá trị dịch vụ yêu cầu bảo mật cao Sử dụng eID giúp giảm chi phí và tăng năng suất, đồng thời tạo thuận lợi cho việc sử dụng dịch vụ trực tuyến Sự tin cậy trong nhận dạng trực tuyến mang lại sự thuận tiện cho tất cả các bên tham gia giao dịch.

Hệ thống định danh điện tử (eID) giúp giảm gian lận trong nhận dạng và tăng cường an toàn cho cá nhân khi sử dụng dịch vụ, đặc biệt trong giao dịch ngân hàng qua điện thoại và ứng dụng chăm sóc sức khoẻ di động Đối mặt với thách thức trộm danh tính, nhiều chính phủ trên thế giới đang triển khai các hệ thống eID để cung cấp dịch vụ hiệu quả và bảo mật hơn.

Các đối tượng được hưởng phúc lợi xã hội bao gồm những người nghèo nhất, như tại Kenya và Pakistan, và người cao tuổi, ví dụ như những người hưởng hưu trí tại Nigeria Hệ thống này cũng hỗ trợ cung cấp các dịch vụ như trợ cấp có điều kiện bằng tiền mặt cho mục đích giáo dục, như đã thấy ở Ấn Độ và Tanzania.

Khu vực tư nhân đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai cơ sở hạ tầng dịch vụ định danh điện tử (eID), giúp đảm bảo tính khả thi và bền vững cho dự án Nhiều quốc gia như Bỉ, Estonia và Ấn Độ đã thành công trong việc áp dụng mô hình quan hệ hợp tác công – tư (PPP) để phát triển hệ thống eID.

Hiện nay, các bộ ngành chính phủ và tổ chức tư nhân tại Việt Nam đang đối mặt với thách thức về việc thiếu nhận dạng duy nhất cho mỗi công dân Nguyên nhân chính là do không có một hệ thống quốc gia tập trung để cấp mã định danh duy nhất Thẻ chứng minh thư nhân dân hiện được cấp ở cấp Quận/Huyện, dẫn đến việc mã số chứng minh không có tính duy nhất trên toàn quốc.

Chính phủ Việt Nam đang xem xét triển khai Khuôn khổ cung cấp dịch vụ dựa trên định danh điện tử (EISDF) và thí điểm Hệ thống định danh điện tử quốc gia mới do Bộ Công an thực hiện Đồng thời, chính phủ cũng chuẩn bị cho việc xây dựng Cơ sở hạ tầng mã khoá công khai (PKI) và cấp thẻ công dân bắt buộc Một Khuôn khổ xác thực điện tử quốc gia (NAF) sẽ được phát triển để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận dịch vụ chính phủ và phúc lợi xã hội thông qua định danh điện tử (eID) Mục tiêu của chính phủ là tối ưu hoá đầu tư công và nâng cao dịch vụ công, đặc biệt cho những người nghèo nhất.

Tài liệu nghiên cứu này nhằm xác định tầm nhìn và chiến lược triển khai dịch vụ định danh điện tử tại Việt Nam, tập trung vào các dịch vụ nhận dạng mới để nâng cao trách nhiệm giải trình và hiệu suất cung cấp dịch vụ Ngoài ra, tài liệu cũng giới thiệu các hệ thống và đề xuất phương án chia sẻ rủi ro, đầu tư và lợi ích thông qua hình thức hợp tác công – tư (PPP).

Phương pháp lu ậ n

Phương pháp luận của nghiên cứu này dựa trên cách tiếp cận ba bước, bao gồm các hoạt động dưới đây

Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về cung cấp dịch vụ dựa trên định danh điện tử (eID) là cần thiết để xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến việc triển khai và áp dụng eID Đồng thời, nghiên cứu cũng giúp xác định những thông lệ tốt nhất có thể áp dụng cho Việt Nam, dựa trên các khái niệm chung về nhận dạng điện tử, cũng như các khía cạnh kỹ thuật, thể chế và chính sách liên quan.

2 Xác định tầm nhìn về định danh điện tử (eID) cho Việt nam trên cơ sở những bài học rút ra qua kinh nghiệm quốc tế

Để xây dựng tầm nhìn về định danh điện tử (eID) và chiến lược triển khai tại Việt Nam, cần phân tích hiện trạng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT) cũng như khuôn khổ thể chế hiện có Việc này sẽ giúp xác định các yếu tố cần thiết để phát triển eID một cách hiệu quả và bền vững.

Phương thức nghiên cứu của tài liệu nghiên cứu này được mô tả dưới đây

1 Thu thập dữ liệu thứ cấp qua nghiên cứu tài liệu kết hợp với nghiên cứu tại thực địa qua phối hợp với các biên liên quan

Nghiên cứu tài liệu để thu thập thông tin về các thông lệ quốc tế tốt nhất, đặc biệt tập trung vào kinh nghiệm quốc tế trong việc cung cấp dịch vụ dựa trên định danh điện tử (eID).

Tham vấn rộng rãi trong nước với các bên liên quan là cần thiết để hiểu rõ quan điểm và kiến thức của họ về Hệ thống định danh điện tử quốc gia Quy trình này bao gồm việc thu thập thông tin về các đề án công nghệ thông tin và truyền thông liên quan, cũng như đánh giá môi trường thuận lợi và cơ sở hạ tầng hiện có.

Thu thập thông tin đầu vào từ các bên liên quan và phối hợp trong các hoạt động liên quan là rất quan trọng, đặc biệt là trong việc chia sẻ kết quả nghiên cứu với các tổ chức như Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Bộ Y tế, và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Ngoài ra, các bên liên quan khác như Cục Ứng dụng CNTT (AITA), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các ngân hàng tư nhân, doanh nghiệp viễn thông lớn, và Cơ quan quản lý chứng nhận của Chính phủ Việt Nam (VGCA) cũng cần được xem xét trong quá trình này.

Bài h ọ c rút ra qua kinh nghi ệ m qu ố c t ế

Chính phủ Việt Nam đang triển khai nhiều phương án khác nhau cho dịch vụ định danh điện tử (eID), với những kết luận quan trọng về khái niệm, thể chế và kỹ thuật ảnh hưởng đến quá trình này Kinh nghiệm từ các quốc gia như Ấn Độ, Ét-xtô-nia và Bỉ đã được rút ra để hỗ trợ việc triển khai eID tại Việt Nam Thông tin chi tiết về kinh nghiệm của từng quốc gia được trình bày trong Phụ lục 5.

Dưới đây là những ý tưởng chung về dịch vụ định danh điện tử (eID) được rút ra từ kinh nghiệm của Ấn Độ, Estonia và Bỉ Những bài học này có thể giúp cải thiện hệ thống eID và nâng cao hiệu quả sử dụng cho người dân.

Hệ thống nhận dạng quốc gia (NID) có thể được mở rộng để bao gồm nhận dạng điện tử (eID), cho phép xác thực trực tuyến và sử dụng nhận dạng di động Điều này giúp xác minh cá nhân một cách duy nhất ở bất kỳ đâu và thời điểm nào, đồng thời loại bỏ tình trạng trùng lặp và giả mạo Việc này không chỉ mở rộng dịch vụ mà còn giảm thiểu lợi dụng chức quyền và phiền hà cho người thụ hưởng, nâng cao hiệu suất cung cấp dịch vụ, cung cấp bút tích kiểm tra điện tử, và giảm chi phí cũng như rủi ro mất trộm nhận dạng Hồ sơ định danh điện tử (eID) quốc gia sẽ bao gồm Mã số định danh công dân (NIN) duy nhất, gắn với dữ liệu sinh trắc và nhân chủng học của công dân, giúp tạo ra một quy trình tập trung nhằm loại bỏ trùng lặp thông tin sinh trắc ở cấp quốc gia.

Nhận dạng (PoI) hợp pháp là yêu cầu quan trọng cho tất cả các nhà cung cấp dịch vụ trong cả khu vực công và tư nhân Để thực hiện điều này, việc thiết lập cơ sở hạ tầng phù hợp là cần thiết nhằm đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong việc áp dụng nhận dạng.

Hệ thống định danh điện tử quốc gia (NID) cung cấp dịch vụ định danh điện tử (eID), trong đó Mã số định danh công dân (NIN) giúp xác minh danh tính cá nhân Tuy nhiên, NIN không chứng minh tư cách công dân, như trường hợp ở Ấn Độ Mã số này đóng vai trò quan trọng trong việc nhận diện công dân và tạo điều kiện cho các tổ chức công và tư nhân xác thực danh tính trên toàn quốc.

Mã số định danh công dân (NIN) có ba đặc điểm chính: tính không đổi, nghĩa là nó không thay đổi suốt đời; tính duy nhất, đảm bảo rằng không có hai công dân nào có cùng một Mã số; và tính sử dụng phổ quát, cho phép mã này được áp dụng trong nhiều ứng dụng và môi trường khác nhau.

Xác thực định danh điện tử (eID) là công cụ quan trọng giúp người dùng chứng minh danh tính trực tuyến và kỹ thuật số, đồng thời cho phép các nhà cung cấp dịch vụ xác nhận thông tin nhận dạng của công dân để cung cấp dịch vụ hiệu quả Quy trình này bao gồm việc sử dụng Mã số định danh công dân (NIN) để xác định sự hiện diện và thực hiện xác thực khách hàng (KYC), giúp thống nhất thông tin xung quanh công dân eID đảm bảo rằng dịch vụ được cung cấp đúng đối tượng thụ hưởng, hỗ trợ theo dõi thời gian làm việc và giảm chi phí quy trình nhận dạng Nó cũng là yêu cầu chính để mở tài khoản cho khách hàng mới, đồng thời giúp chứng minh danh tính trong các tình huống an ninh như tại sân bay, khách sạn, hay trong kỳ thi tại trường học, góp phần thẩm định và làm sạch dữ liệu nhân chủng học trong các cơ sở dữ liệu dịch vụ.

Để tận dụng hỗ trợ về định danh điện tử (eID) trong cung cấp sản phẩm dịch vụ, các nhà cung cấp cần thu thập thông tin về Mã số định danh công dân (NIN) của khách hàng và đối tượng thụ hưởng Sau khi có thông tin này, họ phải sắp xếp, đối chiếu và lưu trữ cùng với mã số nhận dạng riêng (như mã số khách hàng) trong cơ sở dữ liệu của mình.

Quá trình tạo nguồn thông tin về Mã số định danh công dân (NIN) là bước quan trọng trước khi số hoá và tập trung hoá dữ liệu trong cơ sở dữ liệu của nhà cung cấp dịch vụ Quy trình này bao gồm hai phương pháp: áp từ trên xuống, sử dụng dữ liệu cá nhân hiện tại mà không cần liên hệ trực tiếp với công dân, và phương pháp hữu cơ, yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ phải liên hệ với công dân để thu thập thông tin Sau khi hoàn tất, quá trình này sẽ dẫn đến xác thực sinh trắc học hoặc nhân chủng học, đặc biệt khi không thể cập nhật trực tiếp cơ sở dữ liệu Hệ thống tạo nguồn thông tin cần được thiết kế để giải quyết các thách thức như dữ liệu không đầy đủ hoặc thông tin lặp lại từ các nguồn khác nhau Chính phủ cần cung cấp hệ thống tập trung và các tiện ích hỗ trợ để các nhà cung cấp dịch vụ thực hiện quy trình một cách chính xác và nhanh chóng, từ đó thúc đẩy việc cung cấp dịch vụ dựa trên định danh điện tử (eID).

Cơ quan chủ quản của chính phủ cần thiết lập các nhóm hỗ trợ và phương tiện vật chất nhằm giúp các nhà cung cấp dịch vụ triển khai quy trình cung cấp dịch vụ theo định danh điện tử (eID) Các nhóm hỗ trợ này bao gồm nhóm hỗ trợ ứng dụng, tư vấn và nhà cung cấp phần mềm, nhằm hướng dẫn xây dựng các ứng dụng và quy trình cần thiết Tài liệu hỗ trợ sẽ cung cấp hướng dẫn tích hợp eID vào các giải pháp dịch vụ, bao gồm khuôn khổ xác thực, hướng dẫn sử dụng, tiêu chí, danh mục kiểm tra và biểu mẫu hoạt động để trở thành Tổ chức sử dụng dịch vụ định danh điện tử (ISCA) hoặc Tổ chức cung cấp dịch vụ định danh điện tử (ISPA), đồng thời tạo nguồn thông tin eID cho việc nhúng Mã số chứng minh nhận dạng quốc gia (NIN).

Các thiết bị đầu cuối, bao gồm micro ATM, máy PoS và ATM, được sử dụng bởi các Tổ chức cung cấp dịch vụ định danh điện tử (ISCA) nhằm phục vụ công dân Những thiết bị này cài đặt ứng dụng của ISCA để thu thập số liệu sinh trắc phục vụ cho xác thực định danh điện tử (eID) Tính năng của các thiết bị này phụ thuộc vào nhu cầu dịch vụ cụ thể của từng tổ chức, đồng thời phải tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật của chính phủ để bảo vệ thông tin sinh trắc học và nhân chủng học của công dân.

Quy trình nhận dạng và xác nhận khách hàng điện tử (eKYC) là một phương pháp xác thực danh tính khách hàng qua phương tiện điện tử, yêu cầu sự đồng ý rõ ràng từ khách hàng eKYC cho phép cung cấp dịch vụ ngay lập tức mà không cần giấy tờ, giúp chính phủ sử dụng cơ sở hạ tầng hiện có để thực hiện xác thực danh tính điện tử Công dân cần cho phép chính phủ xác thực định danh điện tử (eID) bằng dữ liệu sinh trắc hoặc mật khẩu dùng một lần (OTP), từ đó cung cấp dữ liệu nhân chủng học và hình ảnh được mã hóa cho các nhà cung cấp dịch vụ Quy trình này giúp tiết kiệm thời gian, tránh việc thẩm định hồ sơ giấy tờ mất nhiều ngày Hơn nữa, việc áp dụng eKYC giúp giảm chi phí xử lý lặp lại, chi phí lưu trữ tài liệu giấy và rủi ro giả mạo trong các giấy tờ chứng minh danh tính.

Chính phủ có thể triển khai dịch vụ thanh toán điện tử (ePayment) dựa trên định danh điện tử (eID) nhằm nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình Điều này sẽ cải thiện hiệu suất và đảm bảo các khoản thanh toán được thực hiện đúng đối tượng trong các chương trình phúc lợi.

Chương trình phúc lợi của chính phủ, như hưu trí qua bảo hiểm xã hội và phúc lợi y tế, sẽ được hỗ trợ bởi thanh toán điện tử (ePayment) để chuyển khoản liền mạch vào Tài khoản ngân hàng mở theo định danh điện tử (eBA) của người hưởng lợi Trong quá trình đăng ký nhận dạng điện tử, công dân cần cung cấp thông tin về tài khoản ngân hàng hiện có hoặc mở tài khoản mới gắn với Mã số định danh công dân (NIN) để nhận các khoản thanh toán Cầu thanh toán điện tử (ePB) sẽ lưu trữ thông tin Mã số định danh công dân (NIN) và Tài khoản ngân hàng mở theo định danh điện tử (eBA) để tiếp nhận phúc lợi từ chính phủ Giải pháp đảm bảo công bằng tiếp cận tài chính bao gồm việc sử dụng Mã số định danh công dân (NIN) như một địa chỉ thanh toán kết hợp với chức năng nhận dạng và xác nhận khách hàng điện tử (eKYC) để tạo lập tài khoản tức thời trên cơ sở hạ tầng thanh toán dựa trên định danh điện tử (eID) Giai đoạn thí điểm cần tập trung giải quyết các vấn đề liên quan đến quy trình và thủ tục mở tài khoản.

Việc sử dụng Mã số định danh công dân (NIN) trong hệ thống thanh toán quốc gia mang lại nhiều lợi ích Mã số này cho phép chuyển tiền đến bất kỳ công dân nào, bất kể họ có tài khoản ngân hàng hay không Nếu người nhận có tài khoản ngân hàng mở theo định danh điện tử (eBA), tiền sẽ được chuyển thẳng vào tài khoản đó Ngược lại, nếu người nhận chưa có tài khoản ngân hàng, một tài khoản tức thời sẽ được tạo ra dựa trên NIN, với số tiền chuyển vào sẽ được ghi nợ vào tài khoản này Tài khoản tức thời sẽ được kích hoạt khi người nhận thực hiện lần rút tiền đầu tiên thông qua quy trình nhận dạng và xác nhận khách hàng điện tử (eKYC).

Mô t ả chi ti ế t v ề các d ị ch v ụ nh ậ n d ạ ng đi ệ n t ử

Khuy ế n ngh ị v ề th ể ch ế

Ngày đăng: 28/05/2021, 09:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w