1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

phân tích chuyên sâu đây thôn vĩ dạ

19 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 457,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài thơ bắt nguồn cảm hứng từ bức bưu ảnh mà Hoàng Cúc- người tình trong mộng của Hàn gửi tặng kèm lời thăm hỏi khi Hàn đang lúc bệnh đau và không còn cơ hội để trở lại với cuộc sống đời

Trang 1

điển trang nhã sâu lắng và vẻ đẹp hiện đại mang nặng một tấm lòng yêu nước, yêu quê hương

Khi bạn có tiền trong tay, chỉ có bạn quên mất mình là ai Nhưng…Khi bạn không có đồng nào, cả thế giới sẽ quên đi

bạn là ai Đó là cuộc sống Bill Gates

ĐÂY THÔN VĨ DẠ

~Hàn Mặc Tử~

I KIẾN THỨC CHUNG

1 tác giả

– Hàn Mặc Tử là một hiện tượng thơ kì lạ vào bậc nhất của phong trào Thơ mới Cuộc đời ông ngắn ngủi, đầy bi thương nhưng lại là một nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ, để lại chặng đường thơ sáng ngời và nhiều bài thơ bất hủ cho hậu thế

Nhà thơ Huy Cận từng nhận định: “Theo tôi thơ đời Hàn Mặc Tử sẽ còn lại nhiều

Ông là người rất có tài, đóng góp xứng đáng vào Thơ Mới”

– Một số tác phẩm tiêu biểu: Gái quê (1936), Thơ điên (1938), Duyên kỳ ngộ (1939),

Chơi giữa mùa trăng,…

– Phong cách thơ: Hồn thơ Hàn Mặc Tử là một hồn thơ phức tạp và đầy bí ẩn Thơ

ông chịu ảnh hưởng lớn từ thơ ca Pháp: Bút pháp tượng trưng và yếu tố siêu thực,là một trong những nhà thơ lớn của phong trào Thơ mới (1932 – 1945) Ông cũng là nhà thơ có số phận bất hạnh hiếm có Hàn Mặc Tử là một tài năng độc đáo, một tiếng thơ lạ, thể hiện rõ tấn bi kịch của một con người bất hạnh Mắc phải căn bệnh phong quái ác, phải sống trong

sự cách li khi đang tràn trề nhựa sống đã khiến thơ ông nhiều khi như điên loạn với một thế giới hình ảnh thơ đầy ma quái Thơ Hàn Mặc Tử vừa gợi cho người ta nỗi sợ hãi, vừa đem đến niềm say mê Chế Lan Viên từng quả quyết rằng : “Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kì này chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử” Bên cạnh thơ điên, Hàn Mặc Tử còn có những vần thơ trữ tình rất dịu dàng và duyên dáng Trong số đó có Đây thôn Vĩ Dạ

2 Bài thơ bắt nguồn cảm hứng từ bức bưu ảnh mà Hoàng Cúc- người tình trong mộng của Hàn gửi tặng kèm lời thăm hỏi khi Hàn đang lúc bệnh đau và không còn cơ hội để trở lại với cuộc sống đời thường Bài thơ mang vẻ đẹp huyền ảo và trong sáng Thực và hư hoà quyện tạo nên vẻ riêng cho cảm xúc Bài thơ thể hiện tình yêu tha thiết của tác giả đối với xứ Huế, nơi nhà thơ đã từng có nhiều kỉ niệm ngọt ngào, đồng thời thể hiện khát khao được sống, được yêu Đây cũng là những cố gắng cuối cùng của thi sĩ để níu lại trong mình những giây phút ngọt ngào của cuộc sống trần thế Cảnh thì đẹp mà tình thì buồn là sự thể hiện đầy đủ nhất tình yêu cuộc sống của thi sĩ bất hạnh mà đầy tài năng này

– Xuất xứ và nhan đề: Bài thơ ban đầu có tên là “Ở đây thôn Vĩ Dạ”, in trong tập “Thơ điên” (sau đổi thành “Đau thương”) bài thơ này nằm ở phần “Hương thơm” của tập thơ – Vị trí: “Đây thôn Vĩ Dạ” là bài thơ là một thi phẩm xuất sắc của Thơ mới và đồng

thời tiêu biểu cho phong cách sáng tác của Hàn Mặc Tử

1 Bức tranh thôn Vĩ buổi bình minh

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

– Câu hỏi tu từ mở đầu bài thơ vừa là lời thăm hỏi, lời mời gọi tha thiết vừa là lời trách móc nhẹ nhàng của cô gái thôn Vĩ Lời thăm hỏi này không phải là lời của cô gái thôn Vĩ mà là lời của Hàn trong lúc nhớ nhung tự tưởng tượng ra

– Bức tranh thôn Vĩ buổi sớm mai đẹp tinh khôi, trong trẻo và tràn đầy sức sống Là bức tranh phong cảnh nhưng cũng chính là bức tranh tâm cảnh bắt nguồn từ niềm vui khi Hàn nhận được tấm bưu ảnh – tín hiệu tình cảm của người tình mà Hàn thầm thương, trộm

Trang 2

nhớ Bức tranh thiên nhiên buổi bình minh có 3 đối tượng miêu tả: Nắng, hàng cau và vườn

+ Nắng: Là cái nắng “mới” tinh khôi, trong trẻo của buổi sớm mai Điệp từ “nắng”

gợi tả không khí ấm áp, dễ chịu của buổi sớm

+ “Hàng cau”: Là loài cây cao nhất trong vườn, đón ánh nắng tinh khôi đầu tiên của

ngày mới

+ “Vườn” : Tính từ “mướt” giàu giá trị biểu đạt, gợi tả khu vườn không chỉ tràn

đầy sức sống mà còn óng ả, mượt mà, long lanh Phép so sánh “mướt như ngọc” chứa đựng tình yêu, sự trân trọng, nâng niu của nhà thơ dành cho khu vườn thôn Vĩ Phép so sánh để lại nhiều ấn tượng trong lòng người đọc

– Điểm xuyết vào bức tranh thiên nhiên ấy là bóng dáng con người xuất hiện với vẻ đẹp phúc hậu, kín đáo, dịu dàng: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” Hình ảnh con người và thiên nhiên hài hòa Về hình ảnh “mặt chữ điền”, đây là hình ảnh đặc sắc nhưng cũng gây nhiều tranh cãi từ phía người đọc: Theo G.S Bùi Minh Đức: Mặt chữ điền là khuôn mặt của người phụ nữ miền trung được xây dựng bằng bút pháp cách điệu hóa; theo nhà nghiên cữu Nguyễn Bích Thuận thì khuôn mặt chữ điền không sử dụng bút pháp cách điệu hóa mà là khuôn mặt tả thực do chính Hàn tự họa khuôn mặt mình – Hàn trở về thôn

Vĩ nhưng vì mặc cảm bệnh tật chỉ dám đứng sau khóm khúc lặng lẽ, say sưa ngắm vẻ đẹp thần tiên của thôn Vĩ

– Đánh giá chung: Bức tranh thôn Vĩ trong khổ thơ đầu đẹp, tươi sáng, trong trẻo, gợi cảm

và đầy sức sống Bức tranh thiên nhiên tươi vừa là bức tranh phong cảnh vừa là bức tranh tâm cảnh – tâm trạng của Hàn Đó là niềm vui khi nhận được bức thư thăm hỏi – tín hiệu tình cảm của người trong mộng Niềm hi vọng về hạnh phúc lứa đôi lóe lên trong tâm hồn Hàn cũng đẹp và tươi sáng như bức tranh thiên thôn Vĩ vậy Nhưng ngoài niềm vui, còn ẩn chứa một nổi buồn thân phận (mặc cảm) bâng khuâng, kín đáo

2 Bức tranh sông nước đêm trăng

– [Luận điểm 1] Không còn trong trẻo, tươi sáng và tràn đầy sức sống, khổ thơ

này, khung cảnh mang nét đượm buồn chứa đựng dự cảm chia lìa Những mặc cảm,

chia lìa được hiện ra với hình ảnh “gió” và “mây”, “dòng nước”, “hoa bắp lay”:

Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

– Hai câu thơ đầu: “Gió theo lối gió, mây đường mây/Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay” chẳng còn những nét tương đồng như khổ thơ đầu mà gợi không gian ly tán, chia lìa Gợi

tả qua hình ảnh:

+ “gió” và “mây” chia cách đôi ngã: “gió” theo đường của “gió”, “mây” theo

đường của “mây” Trong tâm tưởng thi nhân bị ảm ảnh bởi sự chia cách lứa đôi mà phản chiếu nỗi ám ảnh ấy vào thiên nhiên

+ “dòng nước” vốn vô tri vô giác cũng mang nỗi niềm tâm trạng “buồn thiu” như một sinh thể sống động

Nỗi buồn ấy còn lây lan sang cả “hoa bắp” Hình ảnh “hoa bắp lay” nhẹ nhàng trong gió gợi lên sự hiu hắt, thưa vắng Nỗi buồn sông nước đã xâm chiếm vào hồn hoa bắp bên sông Nhịp điệu câu thơ chậm rãi như “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế” (Hoàng Phủ Ngọc Tưởng) của sông Hương Và đấy cũng chính là hồn Huế, nhịp điệu quen thuộc của Huế tự ngàn đời (GS Bùi Minh Đức) Đó là nỗi buồn hiu hắt, mang dự cảm về hạnh phúc chia xa

– [Luận điểm 2] Tình người, tình đời, tình yêu cuộc sống tha thiết, mãnh liệt của

nhà thơ qua 2 câu thơ:

Trang 3

+ Hai câu thơ trên là một tuyệt, là kết tinh rực rỡ bút pháp tài hoa, lãng mạn của Hàn

Mặc Tử

+ Về hình ảnh “sông trăng” Với trí tưởng tượng phi thường, Hàn Mặc Tử đã hư ảo hóa thế giới thực, tạo ra một thế giới giới mới, thế huyền ảo, huyển hoặc đưa người

đọc theo những chuyến viễn du đến một không gian huyền bí, ảo mộng mà ở đó chỉ có nước và trăng, giao thoa lấp lánh

+ Đại từ phiếm chỉ “ai” trong“Thuyền ai” không mang sắc thái nghĩa mơ hồ mà bộc lộ tâm trạng bâng khuâng, ngỡ ngàng Đồng thời, chứa đựng khát khao giao cảm của thi nhân Trong thơ ca xưa, hình ảnh thuyền trăng cũng đôi lần xuất hiện

như “Gió trăng chứa một thuyền đầy” (Nguyễn Công Trứ)

+ Về hình ảnh “trăng”, trăng xưa nay trong thơ ca được biết đến như là một người bạn tri kỉ, người bạn tâm tình của thi nhân Đồng thời “trăng” còn là hình ảnh ẩn dụ

của tình yêu, hạnh phúc lứa đôi

+ Câu hỏi tu từ: Từ những phân tích trên có thể hiêu câu hỏi “Có chở trăng về kịp tối nay ?” là con thuyền kia có vượt được thời gian, chở niềm hạnh phúc về “kịp”

những ngày khi ta còn trên cõi dương thế này hay không? Câu thơ là câu hỏi tu từ ẩn chứa bao nỗi niềm khắc khoải, mong chờ hạnh phúc, khao khát giao cảm với đời

Chữ “kịp”: Nhất là chữ “kịp”, chữ “kịp” không chỉ tạo điểm nhấn cho câu thơ mà chữ

“kịp” còn hé mở cho ta thấy một cuộc đời đầy mặc cảm, một thế sống đầy vội vàng, chạy đua cho kịp với thời gian ít ỏi còn lại Đó cũng chính là tình người, tình đời, tình yêu cuộc sống tha thiết, mãnh liệt của nhà thơ

– Đánh giá chung: Bức tranh thiên nhiên sông nước đêm trăng vẫn đẹp nhưng buồn Đồng thời, bức tranh phong cảnh này cũng là bức tranh tâm cảnh – chứa đựng nỗi buồn về dự cảm hạnh phúc chia xa nhưng vẫn thấy ở đó niềm khao khát giao cảm với đời, khao khát yêu, khao khát hạnh phúc của thi nhân vào những năm tháng cuối đời

3 Bức tranh sương khói mờ ảo cỏi mộng.

* Bức tranh sương khói mờ ảo cỏi mộng là tâm trạng tuyệt vọng của thi nhân Hàn Mặc Tử rơi vào thế giới ảo mộng:

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai

biết tình ai có đậm đà ?

– Hình ảnh “khách đường xa” có thể là người đang sống ở thôn Vĩ, cũng có thể chính Hàn đang tưởng tượng mình là khách về chơi thôn Vĩ Nhưng dù hiểu thế nào thì điệp ngữ

“khách đường xa” cũng khơi gợi nên khoảng cách xa xôi, mờ mịt giữa người và người – Hình ảnh “áo em trắng quá” là hình ảnh đậm nét nhất, rực rỡ nhất, nhưng cũng gây tuyệt vọng nhất Vẻ đẹp tinh khiết mà Hàn Mặc Tử hằng tôn thờ được thi sĩ dùng một sắc trắng

kì lạ để cực tả “áo em trắng quá”, mà đôi khi, thấy cả ngôn ngữ cũng bất lực không theo kịp trực giác của nhà thơ Hàn Mặc Tử đã dồn cả màu, cả ánh sáng để tả: “Chị ấy năm nay còn gánh thóc/Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”

– Cụm từ “nhìn không ra” là một cách cực tả sắc trắng, trắng một cách kì lạ, bất ngờ

(giống như cách viết “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”)

– Không gian thực hóa hư ảo bởi trí tưởng tượng của thi nhân Nhén lên trong lòng thi nhân một thứ tình cảm rất khó xác định, khó nắm bắt: “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/Ai biết tình ai có đậm đà ?” Cảnh vật và con người chìm sâu vào không gian hư ảo, ma mị như đang ở một thế giới rất khác… cõi chết Ranh giới giữa sống và chết, giữa thực và hư quá

Trang 4

đỗi mong manh Thi nhân cảm nhận rõ nét khoảng cách xa xôi, cái hư ảo ngày càng rõ của tình yêu, hạnh phúc * Bức tranh tâm cảnh:

– Ẩn chứa sâu trong khung cảnh “sương khói” mờ ảo ấy là sự bất lực, nỗi tuyệt vọng

của thi nhân

– Cảnh vật từ khổ một đến khổ ba biến đổi rõ rệt: từ tươi sáng, tràn đầy sức sống

đến hiu hắt, đượm buồn với cảnh sông nước rồi hư ảo mờ nhòe ở khổ thơ cuối cùng Tâm trạng thi nhân cũng thay đổi theo cảnh: từ hi vọng đến dự cảm chia lìa, hoài nghi đên tuyệt vọng

– Đại từ phiếm chỉ “ai” xuất hiện trong câu hỏi tu từ “Ai biết tình ai có đậm đà ?” mang nét nghĩa mơ hồ Câu hỏi tu từ không thỉ thể hiện sự hồ nghi về tình yêu mà còn là sự hồ nghi về tình đời, tình người Trong hoàn cảnh của bản thân hiện tại, chỉ có tình người, tình đời mới níu nhà thơ lại với trần gian Thế mà cái tình kia

sao quá đỗi mong manh

* Tâm trạng nhà thơ quyết định cảnh chứ không phải cảnh quyết định tâm trạng Nhìn chung vào bức tranh tổng quan và sự biến đổi của nó chúng ta sẽ cảm nhận rõ

điều này

4 Thái độ của nhà thơ qua 3 câu hỏi tu từ

Trong khổ thơ nào cũng xuất hiện câu hỏi tu từ, từ “Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?”, “Có chở trăng về kịp tối nay?” đến “Ai biết tình ai có đậm đà ?” Thế mới thấy, bao trùm cả bài thơ là những nỗi niềm khắc khoải, hồ nghi nhưng lại là niềm khát khao tình yêu,, hạnh phúc của thi nhân

*Phân tích từng khổ:

1 Khổ 1: Cảnh vườn thôn Vĩ tươi sáng trong nắng mai.

“ Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

“ Sao anh không về chơi thôn Vĩ”.

- Câu hỏi tu từ rất đặc biệt, chủ yếu là thanh bằng chiếm 6/7 từ  chất giọng ngọt ngào của

xứ Huế  chìa khóa để mở ra tác phẩm  nổi nhớ da diết của Hàn Mặc Tử về một xứ Huế mộng mơ

- Băn khoăn về chủ thể câu hỏi:

+ Câu hỏi của cô gái xứ Huế hỏi Hàn Mặc Tử  trách móc hờn dỗi nhẹ nhàng duyên dáng

 nhắc nhở, mời mọc người bạn lâu ngày không về

+ Chính tác giả tự hỏi mình, chất vấn mình  Trách mình, nhắc mình

• “ Không về”  mang niềm u uất, dự cảm đau lòng về sự xa cách, một phần vì hoàn cảnh

không cho phép, một phần vì bệnh tật vì định kiến xã hội nên Hàn Mặc Tử trở về trong tâm tưởng, trong hoài niệm nhà thơ

*3 câu cuối: Tái hiện vẻ đẹp của thôn Vĩ.

- Cảnh: + Vẻ đẹp của nắng ( lặp lại 2 lần trong câu)  ấn tượng với người đọc với nắng chan hòa khắp không gian, không gian rực rỡ, nắng hàng cau ( đặc điểm của thôn Vĩ), nắng mới lên ( tía nắng ban mai đầu tiên trong ngày,mang màu sắc riêng) Cây cau là loại cây cao nhất tiếp nhận nguồn ánh sáng tinh khôi của một ngày mới bắt đầu Tại sao ở đây Hàn Mặc

Tử chỉ nói đến cau mà không có trầu Phải chăng ở sâu trong lòng ông là một tình yêu đơn phương thầm kín và niềm khao khát cháy bỏng với người mình yêu thương tiếc thay mối tình đó chỉ là niềm ao ước Cây cau  thang đo bậc nóng tự nhiên, nắng mới lên bổ nghĩa

cho nắng hàng cau ( Liên hệ: “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”) của Hàn Mặc Tử.

Trang 5

+ Vẻ đẹp màu xanh: xanh mướt ( màu xanh của sự mở màng, trù phú của đất Huế, ướt nước mưa dài của Huế ( liên hệ trời mưa: Grời mưa ở Huế sao buồn quá) xanh như ngọc ( như

phát sáng, màu xanh ngọc tươi mát) ( Liên hệ: “Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá”)  tỏa

ra ánh sáng thanh nhẹ, cảm giác dễ chịu; “ vườn ai”  đại từ phiếm chỉ “ ai”  có hồn, có

tình hơn “ Quá”  phó từ chỉ mức độ  thể hiện sự ngạc nhiên.

- Con người: Dùng bút thì trung hữu họa dùng nét thanh, nét đẹp, lá trúc là nét thanh, khuôn

mặt chữ điền là nét đậm ( liên hệ: “ Mặt em vuông tựa chữ điền”)  gương mặt của người

con gái Khuôn mặt ấy ẩn hiện sau lá trúc vừa hư vừa thực vừa nhẹ nhàng, e ấp, kín đáo rất đậm chất Huế Thông thường theo quan điểm của nhân gian ta thì khuôn mặt trái xoan được

ví là khuôn mặt đẹp nhất nhưng ở đây Hàn Mặc Tử cố ý nhấn mạnh khuôn mặt chữ điền Khuôn mặt ấy thường làm cho người ta nghĩ đến bản chất nam nhi nhưng đối với người dân miền Trung thì khuôn mặt chữ điền phù hợp với cả nam và nữ Mặt chữ điền là khuôn mặt

có góc cạnh vuông, tròn, đầy đặn, phúc hậu Đây có thể là khuôn mặt của Hoàng Thị Kim Cúc hay cũng có thể là của Hàn Mặc Tử vì Hàn Mặc Tử luôn khao khát trở về thôn Vĩ nhưng có lẽ khi trở về được rồi ông lại không xuất hiện trực tiếp mà lại ẩn hiện sau lá trúc vì mặc cảm thân phận Đây là một nỗi đau lớn của một nhà thơ luôn yêu đời tha thiết với cuộc đời

 Ánh mắt đắm say, tấm lòng với thôn Vĩ cuộc đời trong thời gian bệnh tật  dồn toàn bộ cảm xúc

 Tóm lại với bút pháp tả cảnh ngụ tình, Hàn Mặc Tử đã vẽ lên bức tranh thôn Vĩ lúc bình minh tuyệt đẹp ở đó có cảnh và người giao hòa lẫn nhau Đồng thời thể hiện rõ một nỗi buồn sâu kín về hạnh phúc cũng như một nỗi đau về thân phận

2 Khổ 2: Cảnh sông nước, mây trời xứ Huế trong đêm trăng huyền ảo.

“ Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?”

* Hai câu đầu tả thực cảnh sông nước mây trời xứ Huế.

- Câu 1: Cảnh mây trời ( nhịp ngắt 4/3)

- Gió khép chặt mình, mây đóng khung hình

- Lối điệp từ: gió Sự chia cách,

Mây bẻ đôi

 Phi lí với logic tự nhiên, hợp lí với logic tâm trạng nhà thơ

- Theo quan điểm thực tế thì gió thổi mây bay, gió và mây sẽ có mối quan hệ khép kín quấn quýt nhưng với một tâm trạng đầy lo âu buồn chán thì Hàn Mặc Tử nhìn cảnh vật trong sự chia lìa tan tác lại trở nên phù hợp đúng với tâm trạng của Hàn Mặc Tử lúc này Gió đi đường gió, mây đi đường mây, gió đóng khung trong gió , mây bao phủ trong mây Mọi thứ

cứ trôi chảy theo dòng thời gian rồi cũng sẽ đến ngày chia li buông bỏ cuộc đời Cảnh vật nhuộm màu của tâm trạng con người

- Câu 2: Cảnh sông nước.

+ Thực tế: Sông Hồng có đặc điểm khác với sông khác ( Liên hệ bài: Ai đặt tên cho dòng sông)  Trở thành hình ảnh nhân hóa  trạng thái buồn của nỗi lòng cảm xúc của thi nhân

+ “ Hoa bắp lay”  màu sắc mờ nhạt, lay động nhẹ nhàng, thiếu sức sống, buồn tẻ ( Liên hệ: “Ai về giồng dứa qua truông; gió đưa bông sậy, dạ buồn nhớ ai”)

+ Dòng nước lặng lẽ  nỗi buồn nhuộm vào thơ ca

 Khung ảnh vô sắc, vô hướng, chia lìa, ảm đạm

* Hai câu cuối: Cảnh sông nước trong đêm trăng huyền ảo.

Trang 6

- Xuất hiện trong nỗi chờ của thi nhân, tìm đến trăng để bám núi khi mọi vật đều rơi bỏ  tri âm tri kỉ

- Trăng xuất hiện diễm lệ Dòng sông

Thuyền trăng

- Hình ảnh “ Thuyền ai đậu bến sông trăng đó” vừa là một hình ảnh ẩn dụ cho hạnh phúc

lứa đôi Nhưng đồng thời hình ảnh thuyền bến vừa hư vừa thực trong tâm trạng của Hàn Mặc Tử Thuyền ai là một con thuyền không xác định rõ Con thuyền ấy đã đậu ở bến sông trăng từ rất lâu rồi Cảnh càng trở nên lung linh huyền ảo hơn Ánh trăng như bao phủ khắp

toàn bộ cảnh sắc nơi đây Hình ảnh sông trăng chúng ta đã được gặp nhiều trong thi ca “ Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền” ( Rằm tháng giêng – Hồ Chí Minh) Nhưng

đến hôm nay chúng ta bắt gặp một hình ảnh rất độc đáo kì lạ mà chỉ có ở trong thơ ca của

Hàn Mặc Tử mà thôi “ Thuyền trăng” – một con thuyền chở đầy ánh trăng – một con

thuyền chở đầy hạnh phúc Ánh trăng đối với Hàn Mặc Tử thật đẹp, tri âm tri kỉ Có lẽ đây

là ánh trăng trong hoài niệm Ông khao khát hạnh phúc đến cháy bỏng con thuyền chở đầy ánh trăng kia liệu có kịp cập bến, kịp về trong tối nay hay không Một câu hỏi tu từ thể hiện

sự trăn trở lo âu, dự cảm mất mát lỡ làng, hạnh phúc sao quá mong manh Tại sao chỉ là tối hôm nay mà không phải những tối khác Đối với một người bình thường không tối hôm nay tối hôm khác cũng được nhưng đối với Hàn Mặc Tử thì khác Căn bệnh quái ác kia sẽ cướp

đi mạng sống của ông bất cứ giây phút nào vì vậy thời gian đã trở thành nỗi ám ảnh không dứt trong con người và đối với Hàn Mặc Tử, chỉ tối nay là tối duy nhất Hàn Mặc Tử có thể hạnh phúc hoặc là không

 Với một hồn thơ mông lung hư ảo kì lạ nhưng Hàn Mặc Tử đã bộc lộ rõ sự rạo rực, bâng khuâng, hi vọng, thất vọng, sự tiếc nuối, sự nhói đau về hạnh phúc về cuộc đời

3 Hình ảnh khách đường xa trong chốn sương khói mông lung.

“ Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?”

* Câu 1: Cõi người được cụ thể hóa trong hình bóng của giai nhân.

- “ Khách đường xa”  xa lạ  nghệ thuật điệp  trường liên tưởng  nghệ thuật hư ảo

 xã dần vượt qua khỏi tầm mắt, tầm thức, hình ảnh không thể nắm bắt, hình ảnh đến từ cõi mơ

- “ Khách đường xa” càng nhấn mạnh rõ khỏang cách xa xôi về địa lí hay khoảng cách tình

người nó đã trở nên xa xôi; hiệp vần xa càng nhấn mạnh rõ nỗi nhớ da diết về cảnh và người thôn Vĩ và Hàn Mặc Tử đang gấp gáp như chạy đua với thời gian để trở về thôn Vĩ thật mau Để được gặp hình bóng người thương

( Liên hệ: “Anh đi đấy, anh về đâu, cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm” - Mùa xuân nhỏ - HMT).

* Câu 2: Không níu kéo được.

- “ Trắng quá”  cực tả sắc trắng  đặc điểm thơ Hàn Mặc Tử ( liên hệ: “dọc bờ sông trăng trắng nắng chang chang”)  Không cảm nhận giác quan cảm giác thay bằng ảo

giác, ảnh thay bằng ảo ảnh, hình bóng giai nhân mất hình bóng để lại khỏang trống hẩm hiu

(LH: “Em tinh khiết tinh sạch quá”).

* Hai câu cuối: Tâm trạng của nhà thơ.

- Hình ảnh gjai nhân vẫn hiện về trong sương khói mờ nhạt Từ “ ở đây”  Hàn Mặc Tử

đang mơ về thôn Vĩ – xứ Huế mộng mơ

Trang 7

- Cảm giác mơ màng, giao lưu bằng tâm tuởng, vây quanh tâm hồn của Hàn Mặc Tử Càng thiết tha yêu đời thì trái tim ông lại càng nhói đau Ở đây có sự so sánh đối lập Ở đây là ở đâu? Ở xứ Huế mộng mơ hay là ở trại phong Quy Hòa Xứ Huế là một nơi đẹp thơ mộng, cảnh ở bên ngoài tràn đầy sức sống hạnh phúc nó đối lập hoàn toàn với nơi tác giả đang sống đầy u ám, bệnh tật, chết chóc, đau thương

- Câu hỏi tu từ kết hợp với đại từ “ Ai” không xác định rõ mặt nhưng có thể ngầm hiểu rằng

đó là : cô gái Hoàng Hoa, “ ai” là Hàn Mặc Tử hoặc “ ai” là ngoài kia, “ Ai” là Hàn Mặc

Tử

 Sự sống quá mong manh, sự cô đơn trống vắng, khao khát tình thương

 Hành trang tinh thần cho thơ văn

(Mở rộng: Áng thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ cùng bức thư của Hàn đã được Hoàng Thị Kim Cúc

trân trọng giữ gìn tại nhà riêng Đó là tờ giấy pelure mỏng, một mặt chép bài thơ, mặt kia ghi mấy dòng thư Rất may mắn được chị Cúc lúc sinh tiền cho xem tận mắt, tôi chú ý mấy điểm: bài thơ gồm 3 khổ thì khổ cuối trong thủ bản nằm cách biệt với hai khổ đầu, cuối bài

thơ, tác giả ký Hàn Mạc Tử rồi đề 11-1939 (chứ không phải 8-1939) Còn bức thư thì

nguyên văn như sau:

Túc hạ,

Có nhận được bức ảnh bến Vỹ Dạ lúc hừng đông (hay là một đêm trăng?) với mấy hàng chữ túc hạ gởi thăm Muôn vàn cảm tạ Túc hạ còn nhớ đến người năm xưa, thế là phúc hậu lắm rồi Mong ơn trên xuống lộc cho túc hạ thật đầy Và mong rằng một mùa xuân nào đây

sẽ gặp lại túc hạ phỉ dạ Thăm túc hạ bình an vui vẻ.

Hàn Mạc Tử

Hoàng Thị Kim Cúc với bút danh Hoàng Hoa đã âm thầm sáng tác một số bài thơ, trong đó

có những bài “đề tặng hương hồn anh HMT” như bài dưới đây viết vào đầu xuân Tân Tỵ

1941 - nghĩa là sau khi Hàn mất chưa đầy năm

Bao năm hoa sống nơi thôn Vỹ

Thầm giữ trong lòng một ý thơ

Cũng biết cách xa ngoài vạn dặm

Tình anh lưu luyến cảnh quê mơ

Một mình một cõi với trời mây

Với cả đau thương với hận này

Anh khéo lột hết tài nghệ sĩ

Tiếng vang muôn thuở vẫn còn đây

Hồn anh lẩn khuất ở đâu xa

Hoa biết cùng ai thổ lộ ra

Tuy sống giữa cảnh đời náo nhiệt

Tình ai ai vẫn cứ đậm đà!).

III Tổng kết.

1.Giá trị nội dung.

- Tái lược ba bức tranh thôn Vĩ có sự dịch chuyển đặc sắc  tình cảm yêu mến với thiên nhiên con người xứ Huế, tình yêu với cuộc đời

- Thể hiện rõ nỗi buồn, đau thương về số phận, tình yêu, hạnh phúc

- Thấy được nghị lực phi thường của Hàn Mặc Tử đối với cuộc đời

2 Đặc sắc nghệ thuật.

- Hình ảnh thơ độc đáo, gợi cảm

- Ngôn ngữ trong sáng tinh tế đa nghĩa

Trang 8

- Biện pháp nghệ thuật làm tăng lên tầng nghĩa cho ý thơ ( nhân hóa, so sánh, câu hỏi tu từ)

*Bài Phân tích:

Phong trào Thơ mới xuất hiện trên thi đàn văn học đã tạo ra một bất ngờ lớn nhưng sự xuất hiện của Hàn Mặc Tử còn tạo ra sự ngạc nhiên hơn nhiều Một đời thơ không dài nhưng Hàn Mặc Tử đã để lại một lượng tác phẩm đáng phục và anh được ví như “ngôi sao băng có ánh sáng khác lạ vụt qua bầu trời văn học” và làm người ta nhớ mãi không quên Hàn Mặc

Tử khiến người ta nhớ đến bởi giọng thơ độc đáo mới lạ của một hồn thơ luôn quằn quại đau đớn trong bất hanh Bên cạnh những vần thơ điên, thơ say, thơ siêu thực với một thế giới đầy ma quái là một giọng thơ trữ tình đằm thắm Tất cả thể hiện một tình yêu đời tha thiết, khao khát tình người đến cháy bóng Dãy thôn Vĩ Dụ là một bài thơ như thế Mười hai câu thơ là một mạch cảm xúc chan chứa tình cảm với xứ Huế thơ mộng, với con người trần thế

Đây thôn Vĩ Dạ ra đời khi Hàn Mặc Tử đã lâm bệnh nặng, không có cơ hội để trở về với cuộc sống đời thường bởi căn bệnh phong quái ác Vì vậy bài thơ là sự hoà quyện giữa thực

và ảo Hiện thực là những kỉ niệm về xứ Huế, ảo mộng là những hình ảnh về con người trong mơ tưởng của thi nhân Theo những người bạn của Hàn Mặc Tử kể lại thì bài thơ được gợi cảm xúc từ tấm bưu ảnh của Hoàng Cúc gửi cho thi sĩ Bài thơ là sự quyện hoà của giọng điệu chủ thể trữ tình (thi nhân) và khách thể trữ tình (em)

Mở đầu bài thơ là khổ thơ viết về thiên nhiên thôn Vĩ với những vẻ đẹp đầy thơ mộng qua dòng hồi tưởng của nhà thơ Câu thơ đầu có một khả năng gợi mở rất lớn :

Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?

Câu thơ là lời mời, lời trách hay sự nuối tiếc ? Có lẽ là cả ba Đó là lời mời của cô gái nào

đó đang trách hờn “anh” – chủ thể trữ tình của bài thơ hay câu thơ chính là sự phân thân của nhân vật trữ tình để bộc lộ tâm trạng nuối tiếc của mình vì không được trở lại thôn Vĩ nữa

Ba câu sau được nối với câu trước bởi nghệ thuật “vắt dòng” của câu hai Nhìn nắng hàng cau là lời giải thích “sao anh không về để nhìn nắng” còn nắng mới lên tồn tại độc lập Đây

là lời của cô gái hay chàng trai ? Lời của cô gái nhưng bắt đầu có sự xuất hiện của nhân vật trữ tình Cảnh và người thôn Vĩ hiện lên rõ dần Bắt đầu là hình ảnh hàng cau – một loại cây quen thuộc trong những khu nhà vườn xứ Huế

Đây là hình ảnh hàng cau trong nắng sớm ban mai, giữa những vườn mướt “xanh như ngọc”, một hình ảnh trong sáng, thân thuộc đến bất ngờ Câu thơ như một cái ngước nhìn đầy thú vị Nắng ban mai êm dịu xen giữa những thân cau thẳng tắp lá còn ướt đẫm sương đêm tạo ra cho cảnh vật một nét đẹp rất thơ mà cũng rất đời thường Khi nhớ đến thôn Vĩ, nhớ đến xứ Huế mơ mộng người ta không thể không nhắc đến những khu nhà vườn xinh đẹp dưới ánh nắng mai

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Vẻ đẹp của thôn Vĩ đã được cảm nhận bằng nỗi nhớ của nhân vật trữ tình (tác giả) chứ không phải là của cô gái nữa Nhân vật trữ tình đã hiện ra qua lời ngợi ca vẻ đẹp của thôn

Vĩ Chữ mướt gợi màu xanh non tơ, mềm mại đầy xuân sắc và màu “xanh như ngọc” là màu xanh như có ánh sáng từ bên trong Ngọc vừa có màu vừa có ánh, vừa toả mát ánh sáng, vừa rười rượi sắc xanh, mướt quá là trầm trồ chứ không phải là nhận xét “quá mướt” Đọc thơ Hàn Mặc Tử, Hoài Thanh có nhận xét : ”có những câu thơ đẹp một cách lạ lùng, đọc lên như rưới vào hồn một nguồn sáng lạ” Nhận xét này thật đúng với câu thơ trên Có lẽ những giọt sương đêm vẫn còn đọng trên lá và khi ánh bình minh soi xuống đã tạo cho khu vườn

vẻ đẹp lung linh huyền ảo Câu thơ cho thấy Hàn Mặc Tử yêu Vĩ Dạ, yêu Huế biết bao

Trang 9

nhiêu Ai có thể tin rằng câu thơ đầy sức sống này lại là của một thi sĩ không còn cơ hội trở lại với đời thường

Tình yêu Vĩ Dạ của thi nhân bắt nguồn từ tình yêu cuộc sống, từ tình yêu với người con gái

xứ Huế Vì vậy con người xứ Huế trong cảm nhận của nhà thơ trong khung cảnh thật gợi :

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Câu thơ viết theo hướng cách điệu hoá Cách điệu từ đường nét “lá trúc che ngang” đến hình ảnh “mặt chữ điền” Mặt chữ điền từng xuất hiện trong những câu ca dao xứ Huế :

Mặt em vuông tựa chữ điền,

Da em thì trắng, áo đen mặc ngoài

Lòng em có đất có trời,

Có câu nhân nghĩa, có lời thuỷ chung

Vói biện pháp nghệ thuật cáẹh điệu hoá, tác giả đã diễn tả được vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng, hoà hợp với thiên nhiên của người Vĩ Dạ Người Huế vốn rất yêu thiên nhiên, cây cỏ là bạn với họ Họ chăm sóc cây cối giống như chăm sóc con người Và những ngôi nhà truyền thống của người Huế bao giờ cũng ẩn sau những mảnh vườn mướt xanh Bốn câu thơ đã tạo nên một vẻ đẹp lung linh huyền diệu cho thôn Vĩ

Khổ thơ thứ hai có sự thay đổi về không gian và cảm xúc nhưng vẫn là dòng hồi tưởng của nhân vật trữ tình, kỉ niệm lúc này tràn về mãnh liệt đến nỗi từng bước của chàng trai lan toả, xen đầy cả không gian :

Gió theo lối gió ý mây đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Mạch cảm xúc không dứt mà tạo một dư âm :

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay ?

Có lẽ cấu tứ của đoạn thơ này được bắt nguồn từ nỗi nhớ về dòng sồng Hương êm đềm Cảnh vật trong khổ thơ buồn da diết, vừa hiện thực vừa hư ảo Nó khiến người đọc như vừa gặp một ảo giác, cụ thể đấy mà cũng thật mơ hồ Gió mây thường có mối quan hệ gắn bó khăng khít, “gió thổi mây bay”, nhưng ở đây gió mây lại theo hai đường, thậm chí ngăn cách nhau quyết liệt :

Gió theo lối gió mây đường mây

Gió mây ở đây không phải là hiện thực mà nó mang tâm trạng của người trong cảnh chia lìa Nhớ Vĩ Dạ nhưng không thể trở về nơi ấy được nữa nên buồn và nỗi buồn đã tràn ra cảnh vật :

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Trong hồi tưởng của nhân vật trữ tình, dòng Hương giang hiện lên thật buồn Nhớ Hương giang lại nhớ đến những đêm trăng huyền diệu Trăng gợi vẻ đẹp huyẻn ảo song trăng cũng

dễ gợi sự cô đơn, lạnh lẽo :

Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá

Hai người nhưng chẳng bớt cô đơn

(Xuân Diệu)

Trăng từng xuất hiện rất nhiều trong thơ Hàn Mặc Tử với đủ hình dạng, trạng thái khác nhau :

Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi

Còn ánh trăng ở đây lại là một ánh trăng huyền ảo, một không gian tràn đầy trăng và thơ : Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay ?

Trang 10

Sáng tạo độc đáo của Hàn Mặc Tử là ở hình ảnh “sông trăng” Trăng tràn đầy không gian từ dòng sông đến cõi mộng Hàn Mặc Tử chịu ảnh hưởng của trường phái thơ siêu thực và tượng trưng Pháp, có lẽ câu thơ này là kết quả của những ảnh hưởng đó Hai câu thơ hay mà không thể lí giải cụ thể Đó cũng chính là bí mật hấp dẫn của thi ca Ai có thể chở được ánh trăng Câu thơ gợi lên vẻ đẹp huyền ảo của xứ Huế và thể hiện tâm hồn thơ lãng mạn của thi nhân

Đến khổ thơ thứ ba, cảnh vật không còn nữa, kỉ niệm trở về ngập hồn nhân vật trữ tình Và lúc này những rung động của anh đối với Vĩ Dạ đã tập trung ở hình ảnh người con gái “mờ

mờ nhân ảnh”

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ớ đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà ?

“Ở đây” là ở đâu ? Dù ở đâu thì cũng đã bị bao phủ bởi sương khói của thời gian Ai là một đại từ phiếm chỉ Một đại từ phiếm chỉ được sử dụng hai lần trong một câu thơ, gợi lên bao

ý nghĩa Câu thơ tha thiết một khát khao, một ước nguyện muốn có người hiểu được tâm sự của mình Đồng thời thể hiện tâm trạng hoài nghi Trong bài thơ có tới bốn lần tác giả sử dụng đại từ ai, và “anh” và “em” đã hoà nhập trong từ ai ấy, hoà nhập trong tâm tưởng của thi nhân Câu thơ cuối cùng thoáng chút hoài nghi ấy xuất phát từ lòng khát khao sống, khát khao giao tiếp với cuộc đời ; xuất phát từ niềm khao khát thuỷ chung Vượt lên nỗi đau riêng, thơ Hàn Mặc Tử nói lên tâm trạng chung của bao lứa đôi xa cách…

“Thơ đi từ cái thực tới cái ảo ảnh, từ ảo ảnh đi tới cái huyền diệu, từ huyền diệu đi tới chiêm bao Bao trùm cả bài thơ là thế giới mơ”, đó là lời của Hàn Mặc Tử về thơ và có lẽ là về chính Đây thôn Vĩ Dạ

LIÊN HỆ

[…] Về cái tên Vĩ Dạ có tí này vui Tình cờ đọc Thương Sơn thi tập của Miên Thẩm, thấy ông hay nhắc ông em Miên Trinh biệt hiệu là Vĩ Dã (Vĩ Dã chữ Hán có nghĩa là Đồng Lau, cũng như Lộc Dã là Đồng Nai), nhưng giọng Huế đọc thành Vĩ Dạ, và cứ thế lưu truyền Xưa kia có thể đây là một vùng còn là lau sậy nên mới có tên ấy Nhưng đến thời có câu chuyên tình trong bài thơ này – hồi trước Cách mạng tháng Tám – thì đây là một xóm làng trù mật, dòng họ nhà vua có nhiều gia đình ở đây Người Huế hay gọi là phủ Tùng Thiện, phủ Tuy Lí của hai ông hoàng tước vương là Miên Thẩm, Miên Trinh có tiếng ở làng này là vậy Vĩ Dạ khá tiêu biểu cho đất đế đô Nó nằm sát bờ sông Hương, nhìn qua Cồn Tiên, cù lao giữa sông, cách có mấy con sào, từ đầu cầu Trường Tiền đi theo con đường xuống cửa Thuận chỉ mấy trăm thước Vườn tược đúng là xanh mướt những thanh trà (một thứ bưởi rất ngon và rất thanh), những đào tiên (tức roi ở Bắc và mận ở Nam), những cam, chanh, quýt, và cau vút cao, tạo thế cân bằng hội hoạ cho bức tranh um tùm nơi mặt đất Đặc biệt không vườn nào, dù nghèo nhất lại thiếu một mảnh cây kiểng (cây cảnh) trước sân, khách đến là thay chủ đón cười với khách trước khi khách được tiếp bằng hớp trà uống trong cái chung (cái chén) nhỏ xíu mà chủ nhân vừa chùi tro, lòng chung trắng muốt Nhỏ nhẹ thanh trong, kín đáo, lịch sự từ giọng nói trở đi, từ cô hàng thanh trà đến các bậc cao sang… Đó là Huế, đó cũng là Vĩ Dạ…

(Lê Trí Viễn, Đến với thơ hay, Sđd)

[…] Đi tìm cái đẹp của cõi thực, cõi thực hờ hững Đi tìm sự đồng cảm, đồng điệu trong cõi mộng, cõi mộng hư ảo, mù mịt Cho nên, đắm say rồi nguội lạnh, băng giá, mộng rồi lại tỉnh Đó là lôgíc vận động tâm trạng của một cái tôi ham sống, yêu đời trong Đây thôn Vĩ

Dạ Lôgíc tâm trạng đã chi phối lôgíc phong cảnh và tổ chức điệu giọng trữ tình Cảnh lúc

Ngày đăng: 28/02/2021, 21:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w