mẫu nước trong môi trường tự nhiên.Ngoài ra từ môi trường này có thể tạo ra các môi trường phân lập khác bằng cách : +Pha trộn tỉ lệ môi trường của CPC khác nhau+Giảm nông độ Colistin tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA NUÔI TRỒNG
Chủ đề 4:
trên môi trường CPC agar từ mẫu
nước biển tự nhiên
Trang 21.Mở đầu
Như đã biết thì vi khuẩn (chẳng hạn như
Vibrio spp) là một trong những nguyên nhân gây bệnh nguy hiểm cho các đối tượng nuôi trồng
thủy sản cũng như những tác hại của chúng với sức khỏe con người Song những hiểu biết và
những nghiên cứu về chúng đến thời điểm hiện tại cũng đang còn nhiều hạn chế
Do đó việc nghiên cứu, phân lập, nhận dạng chúng để có những hiểu biết sâu sắc từ đó làm cơ sở cho việc chẩn đoán và phòng trị bệnh
có vai trò to lớn trong nuôi trồng thủy sản cũng như trong việc bảo vệ sức khỏe con người!
Trang 3mẫu nước trong môi trường tự nhiên.
Ngoài ra từ môi trường này có thể tạo ra các môi trường phân lập khác bằng cách :
+Pha trộn tỉ lệ môi trường của CPC khác nhau+Giảm nông độ Colistin trong môi trường nuôi cấy +Loại bỏ một thành phần nào đó của CPC agar
Mẫu nước tự nhiên/mẫu ĐVTS ước lượng mật độ của Vibrio vulnificus
CPC agar Phương pháp cấy vạch
Trang 4Những cuộc điều tra gần đây về V vulnificus như của Arias và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu mẫu nước biển và mẫu động vật thủy sản tại khu vực ven bờ biển Tây Ban Nha thuộc biển Địa Trung Hải:
Mẫu nước tự nhiên/mẫu ĐVTS các khuẩn lạc CPC agar
TCBS agar
Đặc điểm hình thái
Kiểm tra PCR (các đoạn mồi đặc biệt)
Kết luận ? (nhanh, chính xác)
Trang 5Các khuẩn lạc của Vibrio vulnificus
trên các môi trường TCBS và CPC
Trang 6V vulnificus
Trang 7Trong quá trình nghiên cứu đó, V vulnificus đã được phát hiện đầu tiên ở vùng biển Tây Ban Nha thuộc biển Địa Trung Hải Nhưng chỉ có 7.6% khuẩn lạc phát triển và nhận dạng được thông qua những đặc điểm về hình thái của V vulnificus (đã kiểm chứng bằng PCR) Những khuẩn lạc không thể kiểm chứng được bằng PCR thì sẽ không được nhận dạng.
Người ta đã tiến hành việc xác định một số dòng tiêu biểu thu được trên môi trường CPC agar Trong những nghiên cứu đó đã thấy
sự xuất hiện của các loài tương tự như V vulnificus nhưng chưa được kiểm chứng một cách chắc chắn
Kết quả thu được nếu sai lệch thì do :
+Sự thiếu chính xác của phương pháp PCR+sự có mặt của vi khuẩn cạnh tranh khác (chúng có đặc điểm hình thái tương tự như V vulnificus)
Trang 8Đặc điểm sinh hóa V parahaemolyticus V harveyi V alginolyticus V anguillarum V vulnificus
+ + + Xanh - + + - + +
+ + + Vàng - + + - + +
+ + + Vàng - - + - + -
+ + + Xanh - + + - + -
-Bảng : đặc điểm sinh hóa một số loài Vibrio
Trang 9Để nhận diện những loài không phải Vibrio các nhà nghiên cứu
đã chọn ra 284 chủng mà đã xác định không phải là V vulnificus để phân lập trên CPC agar
Trong 284 chủng được phân lập thì có 57 thể phân lập là những loài thuộc Vibrio không được nhận dạng Những chủng này có kết quả dương tính với Arginine dehidrolase và chỉ một số chúng âm tính với
Decacboxylase Thêm vào đó khi tỉ lệ của Enterobacteriaceae thấp được xác định bởi API 20E Và một vài dòng không thể phát triển
được trên môi trường lên men thì không phải là Vibrio và không xác định
Những loài phong phú nhất như V harveyi (chiếm 24%) thể phân lập cùng với V splendidus, V navarrensis, V alginolyticus, V
parahaemolyticus Những loài còn lại chiếm tỉ lệ thấp hơn 1% V
harveyi, V splendidus là những loài phong phú nhất trong quá trình nghiên cứu suốt cả mùa nóng lẫn mùa lạnh và chúng có khả năng cạnh tranh với những loài khác có nhu cầu về độ mặn thấp như: V
vulnificus, V parahaemolyticus.
Điều này liên quan đến phạm vi tác động hẹp của V vulnificus,
V parahaemolyticus
Trang 10Vì vậy, với điều kiện độ mặn cao ở Địa Trung Hải lại thuận lợi cho các loài Vibrio khác Do đó nhận thấy rằng số lượng V vulnificus gần như được giữ trong ngưỡng giới hạn nhất định
Một vài
Serratia sp, Citrobacter sp và Proteus sp chiếm ưu thế lớn Những thể phân lập phát triển này phát triển trên môi trường CPC agar lấy được
từ mẫu nước với mật độ cao, không ổn định của trực khuẩn đường
ruột Coliform
Có một chú ý rằng 2 loài V alginolyticus, V parahaemolyticus
được xác định rằng không có khả năng sử dụng Cellulose như nguồn Cacbon tạo năng lượng duy nhất của chúng
Sự phát triển quá mức của các loài Vibrio cạnh tranh khác bao gồm những dòng có khả năng sử dụng Cellulose sẽ làm giảm hoạt tính của môi trường CPC agar
Từ đó sẽ dẫn đến sự sai lệch của việc xác định những mẫu
có trong môi trường nơi mà chúng sinh sống chiếm số it
Trang 11Bảng 1 Các loài (khác với V vulnificus) thu được trên môi trường CPC agar từ mẫu nước biển tự nhiên
4 20
284
(%) total
24 19 13 8 5 0.7 0.7 0.7 0.3 0.3 20
1.5 7
100
Trang 12Massad và Oliver cho rằng môi trường CPC agar là sự lựa chọn tốt nhất cho V cholerae và V vulnificus Đồng thời họ đã kiểm tra
cùng với 19 loài Vibrio và một số loài khác và nhận ra rằng khi ủ ấm
ở 400C chỉ có 1 trong 9 chủng V parahaemolyticus là có thể phát
triển được
Trong những nghiên cứu sau đó, một vài tác giả đã dùng môi trường CPC agar hoặc làm giảm hoạt tính môi trường bằng cách giảm nồng độ Colistin (mCPC) cho sự phân lập V vulnificus từ những mẫu nước biển hay mẫu động vật thủy sản có vỏ từ những vùng biển khác nhau
Moriss và cộng sự kiểm tra và nhận thấy rằng V fluvialis, V harveyi cũng có khả năng sử dụng Cellulose trên môi trường CPC
Trang 13Mô hình nghiên cứu của Moriss và cộng sự
CPC agar mCPC
Kiểm tra PCR (các đoạn mồi đặc biệt)
Mẫu nước tự nhiên/mẫu ĐVTS
Trang 14Høi và cộng sự đã sử dụng môi trường CC agar
(Cellobiose-Colistin agar) vì nhận thấy Polymyxin B không thật sự cần thiết (chất kháng sinh và Colistin được xem như chất kháng khuẩn)
Họ nhận thấy rằng: môi trường mới này đã cải thiện một cách đáng kể tốc độ phân lập của V vulnificus từ mẫu nước hoặc mẫu lắng cặn so với môi trường mCPC agar Tuy vậy việc làm giảm nồng độ của chất kháng sinh không ngăn chặn được hoàn toàn khả năng cạnh tranh và ức chế của các loài Vibrio khác Họ nhận thấy rằng những
chủng V vulnificus được phân lập từ những mẫu cá Chình bị bệnh
không phát triển trên môi trường CPC agar Điều này có liên quan đến việc đánh giá thấp sự có mặt của những loài này khi sử dụng môi
trường CPC agar
Trang 16Ngoài ra họ đã kiểm tra 125 chủng đã xác nhận
trên môi trường chọn lọc Tất cả thể phân lập của V
broth) ở 280C trong 14 giờ và nuôi cấy trên môi
trường CPC agar trong 14 giờ ở 400C Chỉ có một số phát triển được và cho dương tính với Cellulose
Việc kiểm tra được tiến hành trên 2 lô của môi
trường CPC agar hoàn toàn độc lập 91% mẫu cá
Chình bị bệnh dòng E (serovar E) cùng với 25% thể phân lập của những mẫu trong môi trường và 33% thể phân lập của những dòng có liên quan (không
phải dòng E) không thể phát triển
Trang 17125 dòng V vulnificus
và các chủng liên quan
Môi trường MB
Trang 18Bảng 2 Sự phát triển của các dòng V vulnificus trên CPC agar
Trang 19Sự kém phát triển của V vulnificus từ những
mẫu cá Chình bị bệnh có thể được giải thích là do
nhiệt độ ủ quá cao (400C) vượt qua giới hạn nhiệt
độ của những chủng này
Phát hiện này chỉ ra rằng khả năng phát triển
trên môt trường CPC agar là không được chia sẻ ở tất cả chủng V vulnificus đã được trình bày bởi
Høi và cộng sự (đã tìm thấy rằng một vài chủng gây bệnh và chủng có liên quan phát triển ở trong MICs (là một chế phẩm vi sinh)
Trang 203 Kết luận
Từ kết quả thu được ở trong những nghiên cứu hiện tại và trước đó ở vùng biển Địa Trung Hải có thể kết luận rằng:
mẫu thí nghiệm chứa một số lượng lớn các loài Vibrio có
sử dụng Cellulose như là nguồn Cacbon và nguồn năng
chính xác và khả năng phán đoán của môi trường.
Trang 21 Không phải tất cả những chủng V vulnificus được kiểm tra thì đều phát triển được trên môi trường CPC agar.
Phương pháp PCR có độ tin cậy cao khi nhận dạng
Tính chọn lọc thấp của môi trường CPC agar đối với thể phân lập
do sự hiện diện với số lượng cao của các loài Vibrio cạnh tranh
khác phù hợp hơn với môi trường đặc biệt này mà không thể ức chế chúng một cách hoàn toàn
Ngoài sự kết hợp của môi trường CPC agar và phương pháp PCR
để phát hiện được sự có mặt của những loài gây bệnh này người ta còn sử dụng các phương pháp khác
Vấn đề đang còn tranh cãi hiện nay là để mang lại sự xác minh chính xác và có cơ sở cho các khuẩn lạc của V vulnificus trên CPC agar khi mà trong những mẫu nghiên cứu có một số lượng lớn các loài cạnh tranh khác