1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hop dong vo hieu do nham lan

83 18 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 830,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HCM, năm 2009; Luận án tiến sĩ“Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu”của Nguyễn Văn Cường, Khoa luật Trường Đại học Quốc gia Hà Nội,

Trang 1

NGUYỄN THỊ DIỄM

HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

NGUYỄN THỊ DIỄM

HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu đã sử dụng trong luận văn là trung thực Những kết luận nêu trong luận văn chưa công bố ở bất kỳ công trình khoa học nào

Tác giả

Nguyễn Thị Diễm

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN 7

1.1 Khái niệm hợp đồng vô hiệu 7

1.2 Khái niệm hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn 13

1.3 Các trường hợp hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn 18

1.4 Hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn theo quy định của một số nước trên thế giới 27

1.5 Ý nghĩa pháp lý của quy định về hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn 29

Chương 2: HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 34

2.1 Điều kiện của hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn 34

2.2 Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn 40

2.3 Thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn 46

2.4 Bảo vệ quyền và lợi ích của người thứ ba ngay tình khi hợp đồng bị tuyên bố là vô hiệu do nhầm lẫn 55

2.5 Bất cập về thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng vô hiệu do nhầm lần và nguyên nhân 56

Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN 60

3.1 Yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn 60

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn 67

KẾT LUẬN 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 So sánh quy định về HĐVH của BLDS năm 2015 và BLDS năm

2005 35

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Không phải ngẫu nhiên mà trong hệ thống pháp luật của bất kỳ quốc gia nào, chế định hợp đồng luôn được coi là một chế định pháp lý quan trọng vào bậc nhất Bởi hợp đồng tạo ra những tiền đề pháp lý cho sự vận động linh hoạt và an toàn của các giá trị vật chất trong xã hội Đã từ lâu pháp luật về hợp đồng chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bởi vì, hầu hết các giao dịch trong xã hội, dù có mục đích kinh doanh hay nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thông thường, đều liên quan đến hợp đồng Vấn đề HĐVH là một trong những vấn đề nổi cộm hiện nay của chế định hợp đồng Đây là một vấn đề phức tạp, còn nhiều vướng mắc cần được trả lời sớm nhằm tạo niềm tin cho các chủ thể tham gia vào hợp đồng Khi xây dựng pháp luật về HĐVH, các nhà làm luật đều quan tâm tới các quy định

về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, về xử lý HĐVH Các quy định này có tác dụng đảm bảo sự ổn định của xã hội, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ hợp đồng Do vậy, các quy định về HĐVH phải phù hợp với thực tiễn cuộc sống, đảm bảo sự hài hòa giữa quyền của các bên chủ thể và lợi ích của cộng đồng, Nhà nước nói chung

Tuy nhiên, hiện nay các quy định về HĐVH nói chung và HĐVH do nhầm lần vẫn còn nhiều vướng mắc Các quy định có phần còn cứng nhắc, chưa đầy đủ, có quy định còn chồng chéo, gây nên cách hiểu không thống nhất Chẳng hạn như: các căn cứ để tuyên bố HĐVH còn có nhiều điểm chưa

rõ ràng; hậu quả pháp lý của HĐVH còn quy định chung chung, khó áp dụng Quyền lợi của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự không được đảm bảo thỏa đáng khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu

Trang 8

Về phía các cơ quan nhà nước, do tính phức tạp của các quan hệ hợp đồng, những quy định không rõ ràng của pháp luật đã tạo cho họ rất nhiều khó khăn, lúng túng trong công tác xét xử có liên quan tới HĐVH do nhầm lẫn Nói cách khác, chính điều đó làm hạn chế năng lực của các cơ quan chức năng trong việc giải quyết các tranh chấp về hợp đồng Và trên thực tế, cũng không ít trường hợp hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu do nhầm lẫn hoặc cố ý nhầm lẫn, nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của mình

Với thực trạng đó, các quy định pháp luật về HĐVH cần sớm được hoàn thiện đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, hướng tới sự bảo đảm an toàn và lẽ công bằng cho các chủ thể, góp phần làm lành mạnh hóa môi trường kinh doanh Một cơ sở pháp lý đầy đủ, hoàn chỉnh, một hành lang pháp lý thông thoáng không những là yêu cầu chính đáng của người dân, của các doanh nghiệp để họ thực hiện hoạt động kinh doanh và bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình mà còn là điều kiện để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ mà nhà nước giao Hơn thế nữa, cần phải khẳng định rằng việc nhận thức đúng về bản chất của HĐVH và việc xử lý chúng để từ đó xây dựng các quy định về HĐVH một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn cũng sẽ góp phần hoàn thiện chế định hợp đồng trong hệ thống pháp luật của nước ta

Từ những lý do trên, với mong muốn được góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về HĐVH nói chung và HĐVH do nhầm lẫn nói riêng,

tác giả đã lựa chọn đề tài: “Hợp đồng vô hiệu do nhầm lần theo pháp luật

Việt Nam hiện nay” để làm luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Việc nghiên cứu về HĐVH, việc giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng, giao dịch dân sự vô hiệu đã được nhiều nhà khoa học quan tâm trong các thời kỳ với nhiều góc độ khác nhau Nhìn chung, vấn đề này đã được đề

Trang 9

cập tới trong Giáo trình Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học Quốc gia, Trường đại học Kiểm sát

Các vấn đề liên quan còn được đề cập trong một số công trình nghiên

cứu như: Luận án tiến sĩ“Hợp đồng kinh tế vô hiệu và hậu quả pháp lý của

hợp đồng kinh tế vô hiệu” của Lê Thị Bích Thọ, Trường Đại học Luật TP

HCM, năm 2009; Luận án tiến sĩ“Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết

hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu”của Nguyễn Văn Cường, Khoa

luật Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004; Luận văn thạc sĩ“Xử lý

HĐVH theo pháp luật dân sự Việt Nam”của Nguyễn Thị Thanh, Trường Đại

học Luật Hà Nội, năm 2015; Luận văn thạc sĩ “Những vấn đề lý luận và thực

tiễn về xử lý HĐVH ở Việt Nam”của Cao Thị Thùy Dương, Trường Đại học

Luật Hà Nội, năm 2014; …

Bên cạnh đó, cũng có nhiều bài viết của các tác giả như: Phạm Nguyễn

Linh (2018), Xử lý HĐVH trong lĩnh vực thương mại, Tạp chí luật học số 11/2018; Hoàng Quảng Lực (2011), Bàn về giải quyết hậu quả HĐVH, Tạp

chí Tòa án nhân dân số 21/2011; …

Tuy nhiên, sau khi tìm hiểu và nghiên cứu các công trình có liên quan thì tác giả thấy rằng các công trình này chỉ nghiên cứu các quy định của BLDSnăm 2005, nhất là việc áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp trong thực tiễn, chưa có công trình nào nghiên cứu tổng hợp về pháp luật hợp đồng thương mại vô hiệu do nhầm lẫntrong những năm gần đây, nhất là trong điều kiện BLDS năm 2015 đã được Quốc hội có hiệu lực

Do vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện các quy định về HĐVH do nhầm lẫn có ý nghĩa quan trọng Cùng với sự phát triển của tình hình kinh tế

xã hội, các quan hệ xã hội biến đổi ngày càng phức tạp và đa dạng hơn, vấn

đề xử lý HĐVH do nhầm lẫn cũng nảy sinh nhiều vấn đề cấp thiết đòi hỏi phải có sự sửa đổi, bổ sung

Trang 10

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài là đề xuất một số kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về HĐVH do nhầm lẫn

Với mục đích trên, luận văn tập trung vào những nhiệm vụ cụ thể sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về hợp đồng dân sự vô hiệu do nhầm lẫn như: khái niệm nhầm lẫn và khái niệm HĐVH do nhầm lẫn; đặc điểm của HĐVH do nhầm lẫn; điều kiện của HĐVH do nhầm lẫn; xử lý hậu quả pháp

- Đưa ra phương án góp phần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định HĐVH do nhầm lẫn và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định về hợp đồng của pháp luật dân sự hiện hành

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn, tác giả tập trung vào các đối tượng nghiên cứu sau:

- Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về HĐVH, mà cụ thể là tập trung vào các quy định về HĐVH do nhầm lẫn trong BLDS năm 2005, 2015

và các văn bản hướng dẫn, đặt trong tương quan một số quy định của Luật thuơng mại, Luật doanh nghiệp… và các công ước, văn bản pháp luật quốc tế điều chỉnh vấn đề này

- Thực tiễn áp dụng các quy định về HĐVH do nhầm lẫn

Về phạm vi nghiên cứu, trong giới hạn nghiên cứu đề tài cao học luật, tác giả luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản nhất về HĐVH

Trang 11

do nhầm lẫn Trên cơ sở lý luận phân tích, đánh giá quy định pháp luật về HĐVH do nhầm lẫn đồng thời xem xét thực tiễn áp dụng các quy định nêu trên kể từ thời điểm BLDS năm 2015 có hiệu lực

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch

sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Tác giả còn kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, so sánh… kết hợp giữa lý luận với thực tiễn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của đề tài đã góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận

về hợp đồng và HĐVH do nhầm lẫn Đồng thời, những kết quả nghiên cứu mới của luận văn sẽ đề cập một cách có hệ thống, chi tiết quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng, HĐVH, HĐVH do nhầm lẫn; đưa ra những đánh giá nhận xét về tính hợp lý, logic, độ phù hợp với thực tiễn của các quy định này và nêu quan điểm về hướng sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về HĐVH do nhầm lẫn ở nước ta hiện nay

Dưới góc độ thực tiễn, luận văn chỉ ra những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng, thực hiện pháp luật, đồng thời có những kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, thực hiện pháp luật về HĐVH do nhầm lẫn tại Việt Nam, góp phần cải thiện, nâng cao ý thức pháp luật nói chung, thích ứng với hội nhập quốc tế

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về HĐVH do nhầm lẫn

Trang 12

Chương 2 HĐVH do nhầm lẫn theo quy định của pháp luật Việt Nam

và thực tiễn áp dụng

Chương 3 Một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật về HĐVH do nhầm lẫn

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN

1.1 Khái niệm hợp đồng vô hiệu

1.1.1 Khái niệm hợp đồng

Hợp đồng là một công cụ chủ yếu để xác lập quan hệ giữa người và người liên quan đến tài sản trong một xã hội có tổ chức Các quan hệ ấy không chỉ hình thành trong dân sự mà còn cả trong lĩnh vực thương mại, lao động, thậm chí trong lĩnh vực hành chính Trong mỗi loại hợp đồng, trong mỗi lĩnh vực có những đặc điểm rất riêng và do đó, được chi phối bởi những quy định riêng [45, tr.26] Tuy nhiên là sản phẩm của sự gặp gỡ ý chí, tất cả các hợp đồng đều hình thành và vận hành trên cơ sở nguyên tắc tự do kết ước

và những nguyên tắc cơ bản khác mà xoay quanh những nguyên tắc đó, một

hệ thống các quy tắc pháp lý được xây dựng và tạo thành luật về quan hệ kết ước hay còn gọi là luật chung về hợp đồng

Theo quy định tại Điều 388 BLDS năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định khái niệm hợp đồng như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [32]

Tuy nhiên, quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng bao gồm cả những quan hệ về đầu tư, lao động, kinh doanh thương mại, bảo hiểm… Theo đó, nếu trong khái niệm về hợp đồng từ “dân sự” được đặt đằng sau hai từ “hợp đồng” và sau hai từ nghĩa vụ thì điều này dẫn đến thực tiễn thi hành pháp luật

có cách hiểu rằng những quy định của BLDS hiện hành chỉ liên quan đến hợp đồng dân sự Do đó, mà tại BLDS năm 2015 các nhà làm luật đã có những chỉnh sửa liên quan đến khái niệm “hợp đồng” để khắc phục bất cập trên

Cụ thể, Điều 385 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ

Trang 14

dân sự” So với BLDS hiện hành thì BLDS năm 2015 đã bỏ cụm từ “dân sự” sau hai từ “hợp đồng” Quy định mới về khái niệm hợp đồng tại Điều 385 của BLDS năm 2015 là điểm mới quan trọng, đáng chú ý không những về mặt kỹ thuật lập pháp và còn làm tăng tính khả thi, minh bạch trong thực tiễn áp dụng [43, tr.46] Trong phạm vi luận văn, thì hợp đồng được hiểu là sự thoả thuận

có hiệu lực pháp luật hoặc làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý của hai hay nhiều bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ

1.1.2 Hợp đồng vô hiệu

Cho đến nay, khoa học pháp lý vẫn chưa có một khái niệm thống nhất

về HĐVH mà chỉ nêu căn cứ xác định HĐVH hoặc có hiệu lực

Người làm luật không định nghĩa cụ thể như thế nào là HĐVH mà chỉ xác định hệ quả của sự vô hiệu Theo khoản 1, Điều 137 BLDS năm 2005 quy

định “giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt

quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập” [32]

Trên cơ sở khái niệm hợp đồng, giao dịch dân sự vô hiệu, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn: Hợp đồng vô hiệu được hiểu là hợp đồng khi giao kết

và thực hiện không đảm bảo những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, hoặc đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được vì lý do khách quan

Phân loại HĐVH:

Căn cứ váo thủ tục tố tụng có HĐVH tuyệt đối và HĐVH tương đối

- HĐVH tuyệt đối: Là những hợp đồng bị xem là đương nhiên vô hiệu

do việc xác lập hợp đồng là trái pháp luật, xâm phạm tới lợi ích của nhà nước hoặc lợi ích công cộng Hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau thì bị coi là vô hiệu tuyệt đối:

+ HĐVH do giả tạo

+ Hợp đồng có nội dung, mục đích vi phạm điều cấm của pháp luật + Hợp đồng có nội dung, mục đích trái đạo đức xã hội

Trang 15

Hợp đồng không đúng hình thức do pháp luật quy định và đã được Tòa

án cho các bên thời hạn để thực hiện đúng quy định về hình thức này nhưng hết thời hạn đó mà các bên vẫn chưa thực hiện; hoặc trường hợp pháp luật có quy định về hợp đồng vi phạm hình thức nhưng các bên chưa thực hiện hợp đồng và các bên có tranh chấp thì hợp đồng bị xem là vô hiệu [47]

Một HĐVH tuyệt đối thì không giải quyết theo yêu cầu của các bên Mọi trường hợp đều giải quyết theo quy định của pháp luật và không được hòa giải, không có quyền công nhận giá trị pháp lý của hợp đồng trong quá trình thụ lý và giải quyết tranh chấp về hợp đồng hoặc các nội dung pháp lý

có liên quan [47]

- HĐVH tương đối: Là những hợp đồng được xác lập, nhưng có thể bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan Sự vô hiệu tương đối là ở chỗ: giao dịch dân sự đó “có thể vô hiệu” hay

“không đương nhiên bị xem là vô hiệu” vì nó chỉ xâm hại trực tiếp tới quyền lơi hợp pháp của cá nhân của từng bên chủ thể tham gia Do đó, hợp đồng này nếu không có sự xem xét của Tòa án thì vẫn có hiệu lực Trong trường hợp muốn tiêu hủy hợp đồng này, các bên phải yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tư pháp thông thường chứ hợp đồng không đương nhiên bị xem là vô hiệu

Trên thế giới, hiện có ba cách thức xây dựng quy tắc pháp lý để xác

định HĐVH, cụ thể:

Thứ nhất, quy định các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, theo đó,

những HĐVH được xác định là hợp đồng không thoả mãn những điều kiện có hiệu lực Các nước quy định theo cách này là các nước theotruyền thống pháp luật La Mã Cách thức quy định này cho thấy sự can thiệp mạnh của Nhà nước

đến quan hệ hợp đồng

Trang 16

Thứ hai, liệt kê các trường hợp vô hiệu của hợp đồng và việc xác định

hợp đồng có hiệu lực bằng phương pháp loại suy Quy định theo cách này là

các nước như Nhật bản, Cộng hoà Liên bang Đức

Thứ ba, quy định các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và quy định

những trường hợp vô hiệu của hợp đồng Quy định theo cách này có vẻ đảm bảo cả về lôgíc hình thức và lôgíc biện chứng, tuy nhiên, đã thể hiện sự can thiệp quá sâu vào quan hệ luật tư vốn dĩ “cốt ở đôi bên” Việt Nam là nước có

quy định về HĐVH theo cách này [54]

Ba cách thức xây dựng quy này hoặc xuất phát từ những đặc điểm chung mang tính bản chất của hợp đồng và ý chí của nhà làm luật Tuỳ theo điều kiện lịch sử, kinh tế xã hội và nhu cầu cường thịnh của quốc gia hay khu vực mà nhà làm luật can thiệp nhiều hay ít vào quan hệ hợp đồng Ví dụ, Cộng Hoà Pháp, Trung Quốc… không can thiệp vào quan hệ hợp đồng bằng cách quy định hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng; Thái Lan, Việt Nam vẫn ghi nhận hình thức là điều kiện có hợp đồng; Châu Âu không có

sự can thiệp nào liên quan đến hình thức của hợp đồng “Hợp đồng có thể được chứng minh bằng bất kì cách thức nào, kể cả bằng nhân chứng” Nghiên cứu các quy định về HĐVH theo ba cách trên cho thấy việc xác định HĐVH theo các dấu hiệu sau [54, tr.38-39]:

Năng lực giao kết của các chủ thể: Chủ thể là một trong những yếu tố

cấu thành quan hệ pháp luật nói chung hay quan hệ hợp đồng nói riêng, trong quan hệ hợp đồng tối thiểu phải có hai chủ thể Các chủ thể là cá nhân có thể

tự nhân danh chính mình hoặc thông qua người đại diện để xác lập hợp đồng; chủ thể là tổ chức xác lập hợp đồng thông qua người đại diện Như vậy, việc giao kết hợp đồng buộc phảithông qua hành vi của con người cụ thể Hành vi hợp pháp thì được pháp luật thừa nhận và ngược lại, do đó, khi tham gia giao kết hợp đồng chủ thể phải có năng lực để nhận biết về hành vi của mình, đó

Trang 17

chính là năng lực hành vi - một trong những yếu tố căn bản để tạo lên thẩm quyền giao kết hợp đồng Đối với cá nhân khi tự nhân danh mình tham gia quan hệ hợp đồng năng lực hành vi của họ có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của họ Một cá nhân luôn được coi là có thể thiệt hại khi khi họ tham gia quan

hệ hợp đồng tại thời điểm bị hạn chế hoặc không có năng lực hành vi hoặc năng lực hành vi chưa đầy đủ Trên cơ sở đó, pháp luật cho phép bên bị thiệt hại gây ra sự vô hiệu nhằm bảo vệ lợi ích một cách công bằng Đối với tổ chức, pháp nhân thì thẩm quyền giao kết hợp đồng được xác định kết hợp giữa năng lực hành vicủa người đại diện và điều kiện, phạm vi kinh doanh thẩm quyền

và năng lực thiết lập thoả thuận là do pháp luật quy định hoặc được ghi nhận trên cơ sở pháp luật Do vậy, pháp luật chỉ công nhận và bảo vệ những thoả thuận do chủ thể có thẩm quyền giao kết Ngược lại, thoả thuận đó sẽ không

được công nhận, không có hiệu lực pháp luật - vô hiệu [54]

Sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể: Một thoả thuận được coi là hình

thành khi có sự thống nhất ý chí giữa các bên về một hoặc nhiều vấn đề Quá trình đàm phán và thiết lập thoả thuận thực chất là việc tuyên bố ý chí và chấp nhận ý chí của các bên tham gia Trong quan hệ hợp đồng, việc tuyên bố ý chí gọi là đề nghị giao kết hợp đồng và việc chấp nhận ý chí gọi là xác lập quan

hệ hợp đồng Sự thống nhất ý chí chỉ được coi là đích thực khi các bên tham gia thực hiện hành vi của mình một cách tự nguyện, chính thuật ngữ “thoả thuận” đã thể hiện rõ bản chất nguyên tắc tự nguyện Pháp luật các nước trên thế giới đều ghi nhận và bảo vệ nguyên tắc tự nguyện trong quan hệ hợp đồng

và có thể nói rằng điều kiện bắt buộc đối với việc giao kết hợp đồng là phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện - tự nguyện được hiểu là tự nguyện tuyên bố ý chí và chấp nhận ý chí Ý chí của các bên không thể coi là được thống nhất khi ý chí đó được tuyên bố hoặc chấp nhận một cách không tự nguyện Các thoả thuận được hình thành một cách thiếu tự nguyện - không có sự thống

Trang 18

nhất ý chí sẽ không được pháp luật bảo vệ Nói cách khác thoả thuận này bị

vô hiệu và đương nhiên là không được đảm bảo thi hành [54]

Hành vi giao kết và thực hiện thoả thuận của các bên xâm phạm trật tự công: Nguyên tắc “công dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không

cấm” được phổ biến rộng rãi, pháp luật các nước đều thừa nhận nguyên tắc này Nhật bản -BLDS điều 90; Cộng hoà liên bang Đức -BLDS điều 134 Việt Nam, trong lĩnh vực kinh doanh, Luật thương mại và Luật doanh nghiệp quy định về vấn đề này cụ thể như sau: “Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm”; “Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm”

Tự do là một giá trị chung của nhân loại, tự do là một nguyên tắc căn bản trong quan hệ hợp đồng luôn được pháp luật tôn trọng Trong xã hội có pháp luật, việc xác định phạm vi hành xử của một người không có nghĩa là hạn chế

sự tự do của họ mà có nghĩa là bảo vệ quyền tự do của họ, nếu không có ranh giới đó thì quyền tự do của họ luôn bị đe doạ xâm phạm và có thể dẫn đến không có tự do, vì bản tính tập thể của con người, "tính bắt buộc" phải sống trong xã hội của nó; con người không có khả năng trở nên hạnh phúc và thậm chí đơn giản là tồn tại khi thiếu những người khác Do đó, khi các bên tham gia thoả thuận thực hiện hành vi mà pháp luật cấm luôn bị coi là xâm phạm

đến những giá trị mà pháp luật bảo vệ [54]

Thoả thuận không tuân thủ quy định về hình thức: Hiện tại, pháp luật

của một số quốc gia vẫn còn quy định hình thức của hợp đồng là một trong những điều kiện có hiệu lực, ví dụ: BLDS và Luật thương mại Thái Lan, tại điều 115 quy định “Một hành vi pháp lý không theo đúng hình thức quy định thì vô hiệu”, còn Việt Nam BLDS năm 1995 quy định về hình thức tương tự như Thái Lan BLDS năm 2015 có sửa đổi một cách mềm dẻo hơn “Hình thức

Trang 19

giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định” tuy nhiên về bảnchất không có gì thay đổi - vẫn ghi nhận hình thức là điều kiện có hiệu lực Mặc dù quy định tuân thủ hình thức không phải là dạng quy phạm cấm, tuy nhiên, khi pháp luật không thừa nhận thì thoả thuận và bảo đảm thi hành thì thoả thuận không tuân thủ hình thức bị vô hiệu

kể từ thời điểm giao kết Xét đến cùng thì có lẽ nhà làm luật đặt ra quy định này nhằm đảm bảo trật tự công, mặc dù trên thực tế quy định này thường ban phát lợi ích tư (nếu không có lợi có lẽ không ai yêu cầu tuyên vô hiệu) và đặc biệt hơn là quy định này có thể làm tăng chi phí giao dịch và hạn chế sự sinh

lời của tài sản và quyền của chủ tài sản [54]

Trong phạm vi luận văn thì HĐVH được hiểu là thoả thuận không có hiệu lực pháp luật kể từ khi giao kết, do một hoặc các bên chủ thể không có thẩm quyền xác lập hoặc các bên chủ thể không có sự thống nhất ý chí đích thực hoặc hành vi giao kết và thực hiện thoả thuận của các chủ thể bị pháp luật cấm hoặc xâm phạm trật tự công hoặc thoả thuận không được pháp luật

thừa nhận do không tuân thủ hình thức

1.2 Khái niệm hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn

1.2.1 Định nghĩa

Trong thực tế không hiếm trường hợp sự ưng thuận có “tì vết” và yếu

tố nhầm lẫn trong giao kết hợp đồng là một “tì vết” mà luật đã dự liệu để cho phép tuyên bố HĐVH Nhìn chung vấn đề quy định về nhầm lẫn trong giao kết hợp đồng được quy định lần đầu tiên trong Pháp lệnh hợp đồng dân sự và BLDS năm 1995 Cụ thể, theo khoản 3, Điều 15 Pháp lệnh hợp đồng dân sự, HĐVH “khi một bên hợp đồng nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của hợp đồng”

và Điều 141 BLDS năm 1995 về giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn: “Khi một bên do nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của giao dịch mà xác lập giao dịch, thì có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung giao dịch đó, nếu bên kia

Trang 20

không chấp nhận yêu cầu thay đổi của bên bị nhầm lẫn thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu Khi giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn thì bên có lỗi trong việc để xảy ra nhầm lẫn phải bồi thường” [32]

Theo quy định tại điều 116 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 quy định: Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Từ quy định tại điều luật này

có thể xác định: kết quả của việc xác lập giao dịch dân sự là làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lí (hành vi pháp lí đơn phương hoặc đa phương – một bên hoặc nhiều bên) làm phát sinh hậu quả pháp lí Tuỳ từng giao dịch cụ thể mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan

hệ pháp luật dân sự [38]

Giao dịch là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, với những mục đích và động cơ nhất định

Những quy định về sự vô hiệu của giao dịch dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thiết lập trật tự kỷ cương xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và nhà nước; bảo đảm an toàn pháp lý cho các chủ thể trong giao lưu dân sự

So với quy định về giao dịch dân sự vô hiệu tại BLDS 2005, BLDS

2015 có bổ sung thêm cụm từ “trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác” Đây là quy định cần thiết, bởi lẽ các quy định về điều kiện có hiệu lực của BLDS để áp dụng cho đa số các trường hợp nhằm đảm vảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên Tuy nhiên, trong một số trường hợp việc vô hiệu giao dịch dân sự là không cần thiết Thực tế, cho thấy giao dịch có thể thiếu điều kiện quy định tại Điều 117 BLDS 2015 nhưng vẫn không vô hiệu Chẳng hạn như quy định tại điểm a khoản 2 điều 125 BLDS 2015, giao dịch dân sự của

Trang 21

người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó thì không bị xem là giao dịch dân sự vô hiệu Sự bổ sung quy định này thể hiện sự linh hoạt trong các quy định của pháp luật [43, tr.61-62]

Hiện nay các nhà làm luật vẫn không đưa ra một khái niệm cụ thể nên nhầm lẫn ở đây có thể hiểu là việc các bên trong giao dịch hình dung sai về nội dung của giao dịch mà tham gia vào giao dịch gây thiệt hại cho mình hoặc bên kia, sự nhầm lẫn xuất phát từnhận thức các bên hoặc phán đoán sai lầm về đối tượng của sự việc, sự nhầm lẫn phải được thể hiện rõ ràng mà căn cứ vào nội dung của giao dịch phải xác định được Nếu bị nhầm lẫn chứng minh được sự nhẫm lẫn của mình thì giao dịch có thể bị tuyên bố vô hiệu

1.2.2 Đặc điểm

Nhầm lẫn đã tồn tại trong hai BLDS nhưng lại không đưa ra định nghĩa chính xác thế nào là nhầm lẫn nên rất khó khăn khi xác định sự tồn tại của nhầm lẫn Nhầm lẫn trong ngôn ngữ pháp lý là sự nhận định không chính xác

về cái có thật, tưởng cái sai sự thật là thật và ngược lại Nhầm lẫn là sự khác biệt giữa nhận thức của một bên về vấn đề và thực tế của vấn đề Ví dụ anh A xác lập hợp đồng mua bán xe máy với giá 30 triệu với anh B nhưng không biết rằng xe máy đó là tang vật trong một vụ án hình sự cướp tài sản (ở đây anh B cũng được mua lại từ anh D và không biết tình trạng thật của chiếc xe) Điều này có nghĩa là đối với bên mua có sự khác nhau về nhận thức của họ về chiếc xe và thực tế về chiếc xe này Bất kỳ sự khác nhau nào giữa nhận thức

và thực tế đều có thể được coi là nhầm lẫn Và nhầm lẫn phải tồn tại ở thời điểm xác lập giao dịch Điều đó có nghĩa là nhận thức của bên nhầm lẫn về hợp đồng và sự thật về hợp đồng này phải được xác định tại thời điểm xác lập hợp đồng Nhầm lẫn khác với giả tạo ở chỗ trong hợp đồng có sự nhầm lẫn thì bản thân người xác lập hợp đồng không biết được điều đó còn giả tạo trong

Trang 22

hợp đồng thì người thể hiện ý chí muốn xác lập hợp đồng biết việc đó không đúng với sự thể hiện ý chí đích thực của họ với sự thể hiện thực tế trong hợp đồng Nhưng để đánh giá nhận thức của bên bị nhầm lẫn thực chất là rất khó vì

nó liên quan đến vấn đề nội tâm Nếu các bên không ghi rõ trong hợp đồng về nhận thức của mình thì rất khó để xác định Phân tích ví dụ trên vì người mua không biết về tình trạng thật của chiếc xe Ở đây chúng ta nên dùng phương pháp suy đoán bằng cách xác định nhận thức của một người bình thường trong hoàn cảnh tương tự vì nếu một người bình thường nếu biết chiếc xe đó là tang

vật của một vụ hình sự thì có lẽ họ sẽ không mua với giá như thế [43]

Thực tế áp dụng pháp luật Việt Nam vẫn chưa tổng kết được các trường hợp nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của hợp đồng thành lý luận chung Và một vấn đề đặt ra là các quy định của pháp luật chỉ nói đến nhầm lẫn về nội dung vậy nhầm lẫn về chủ thể của hợp đồng thì như phải giải quyết như thế nào? Ví dụ: C là nhà thiết kế thời trang nổi tiếng, có người khác cũng tên là C cũng làm nghề thiết kế thời trang nhưng không nổi tiếng, nhưng D không biết tưởng nhầm người đó là C nên ký kết hợp đồng thiết kế hàng mẫu cho Công

ty mình Ở đây, D có nhầm lẫn về chủ thể và C không biết D đã nhầm lẫn mà nghĩ D cần mình thật Và trên thực tế nhầm lẫn về chủ thể của hợp đồng không phải là ít Mặc dù trong một số trường hợp tòa án tuyên bố vô hiệu, nhưng xét về gốc độ văn bản để áp dụng luật về tuyên bố HĐVH do nhầm lẫn thì thiếu cơ sở pháp lý Thiết nghĩ về lâu dài BLDS cần bổ sung thêm trường

hợp này [43]

Trong thực tế có thể xảy ra trường hợp một bên có thể nhầm lẫn mà không do lỗi của bên kia, có nghĩa là bên kia cũng không có lỗi vô ý hay cố ý Tiếp theo ví dụ về chiếc xe máy ở trên ta thấy thực chất chiếc xe máy của anh

B bán cho anh A không phải của anh mà là tang vật trong một vụ cướp mà anh cũng không biết Dù Tòa án có tuyên hợp đồng này vô hiệu nhưng không

Trang 23

thể coi ai trong hai anh là có lỗi cả Ngoài ra luật cũng không quy định về trường hợp sự nhầm lẫn đó là do chính bên bị nhầm lẫn gây ra ví dụ như sự cẩu thả, trình độ hiểu biết thấp của chính họ gây ra Vì có trường hợp do sự chủ quan chưa xem xét kỹ hợp đồng họ đãchấp nhận xác lập hoặc ngay từ khi giao kết họ đã biết mình bị nhầm lẫn nhưng vẫn để mặc rồi sau này xem xét lại thấy không có lợi gì cho mình thì mới yêu cầu Tòa tuyên bố HĐVH do mình đã nhầm lẫn Ở đây nếu như không quy định cụ thể về vấn đề này sẽ dẫn đến khiếu nại tràn lan do người hiểu lầm cứ tưởng họ có quyền khiếu nại để tuyên bố HĐVH do nhầm lẫn bất cứ lúc nào miễn là còn thời hạn khởi kiện từ

đó dẫn đến tình trạng lạm dụng để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của bên bị nhầm lẫn Vì vậy thiết nghĩ BLDS cần sửa đổi hoàn thiện hơn quy định về

vấn đề này [51]

Vậy trong lừa dối cũng có yếu tố của nhầm lẫn Nhầm lẫn và lừa dối đều có một điểm chung là bên bị nhầm lẫn và bên bị lừa dối đều đã hiểu sai lệch về chủ thể, về tính chất của đối tượng nên đã xác lập giao dịch Vì vậy

để tuyên bố HĐVH do lừa dối thì phải chứng minh có một bên bị nhầm lẫn và

sự nhầm lẫn này phải do hành vicố ý của bên kia gây ra Và việc tuyên bố một HĐVH do nhầm lẫn vì việc xác định hành vicố ý là rất khó phải cần nhiều giai đoạn xác minh, làm rõ các chứng cứ đưa ra của đương sự điều này tùy

thuộc nhiều vào phán quyết của Thẩm phán xử lý vụ việc đó [51]

Giải pháp tuyên bố HĐVH không phải là giải pháp tối ưu được ưu tiên

áp dụng trong các trường hợp vô hiệu tương đối dạng này Vì hợp đồng được xác lập nhằm mục đích đem lại một lợi ích hợp pháp nào đó cho các bên và được pháp luật bảo vệ nếu như nó không trái pháp luật và đạo đức xã hội Cho nên trong trường hợp này Tòa án không triệt tiêu hợp đồng nếu như hợp đồng vẫn có thể khắc phục được Giải pháp này tương đối khả thi đối với trường hợp hai bên đều nhầm lẫn Hai bên có thể thỏa thuận sửa đổi lại nội dung hợp

Trang 24

đồng hoặc lập ra một hợp đồng mới hoàn toàn Còn chỉ một bên nhầm lẫn bên kia biết mà không thông báo, để mặc cho hợp đồngđược ký kết thì đó lại là một dạng của hành vi lừa dối trong giao kết hợp đồng Ngoài ra quy định này chỉ cho phép vô hiệu nếu bên nhầm lẫn yêu cầu mà bên kia không chấp nhận

Và bên không chấp nhận có khả năng thay đổi mà không thay đổi được thì mới có quyền yêu cầu tuyên bố vô hiệu Nhưng nếu bên đó cũng không thể thay đổi, khắc phục được thì sao? Tương tự ví dụ chiếc xe máy ở trên thì cả hai anh A và B đều không thể thay đổi được hoàn cảnh, không thể biến chiếc

xe bất hợp pháp thành hợp pháp dù ý chí của anh B có muốn chiếc xe mình trở thành hợp pháp hay không cũng không được Vì vậy thiết nghĩ, BLDS cần

bổ sung thêm quy định này để bảo vệ được quyền lợi của các bên trong giao kết hợp đồng.HĐVH do bị nhầm lẫn thuộc trường hợp vô hiệu tương đối vì vậy nếu không có yêu cầu của bên bị nhầm lẫn thì hợp đồng vẫn có giá trị thi

hành đối với các bên giao kết [51, tr.66]

1.3 Các trường hợp hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn

Hợp đồng là sự thoả thuận, sự thoả thuận này dựa trên nguyên tắc tự do hợp đồng, có nghĩa là ý chí của các bên được thể hiện một cách tự do, không chịu bất kỳ một sự tác động nào Tuy nhiên trong thực tiễn có nhiều trường hợp các bên hoặc một trong các bên khi đàm phán, ký kết hợp đồng ý chí của

họ được hình thành một cách không tự nguyện, tức là họ không được tự do trong việc thể hiện ý chí của mình hoặc xuất phát từ những ý niệm không xác thực Pháp luật gọi các trường hợp này là hợp đồng được ký kết trái nguyên tắc tự do tự nguyện thoả thuận Những trường hợp này là: nhầm lẫn, lừa dối

và đe doạ [43]

Theo quy định của pháp luật của tất cả các nước, nhầm lẫn có thể được coi là căn cứ để yêu cầu toà án tuyên bố HĐVH, tuy nhiên thế nào là nhầm lẫn được xem xét không giống nhau trong pháp luật của các nước khác nhau

Trang 25

Pháp luật của các nước hầu như không ra khái niệm nhầm lẫn, còn trong khoa học pháp lý, về vấn đề này có nhiều cách nhìn khác nhau

Có quan đỉểm cho rằng, nhầm lẫn là những trường hợp hợp đồng được

ký kết nhưng ý chí của một hoặc của các bên được hình thành không đúng vì nhiều lý do khác nhau Nhầm lẫn có thể do các bên chưa thoả thuận hết mọi điều khoản của hợp đồng, có thể do các bên không thể hiện sự cẩn thận cần phải có, cũng có thể do sự tự tin thái quá của chủ thể hoặc hành vi của người thứ ba Ý kiến khác cho rằng, nhầm lẫn có nghĩa là hợp đồng được ký kết không phản ánh ý chí đích thực của các bên, không có khả năng mang lại kết quả mà các bên hướng đến tại thời điểm ký kết hợp đồng Có thể nói, nhầm lẫn là khi ý chí của các bên không giống với ý chí của họ trong giai đoạn thống nhất ý chí mặc dù không bị đe doạ hoặc lừa dối

Việc coi nhầm lẫn là căn cứ tuyên bố HĐVH gặp phải hai vấn đề phức tạp trong khoa học pháp lý và trong thực tiễn Một mặt, trên xuất phát từ thuyết ý chí, nhầm lẫn được coi là việc hợp đồng được ký kết trái với ý chí đích thực của chủ thể và vì vậy nên cần phải coi hợp đồng đó là vô hiệu Mặt khác nếu trong mọi trường hợp khi hợp đồng được ký kết trái với ý chí đích thực của chủ thể sẽ bị vô hiệu, điều này sẽ tạo ra sự không ổn định, mất trật tự trong lưu thông dân sự và trong hoạt động kinh doanh thương mại- điều mà không ai muốn Chính vì vậy nên pháp luật cũng như Toà án cẫn phải thận trọng trong việc xem xét HĐVH Để tìm giải pháp hài hoà các mối quan hệ trên cần phải phân biệt hai loại nhầm lẫn: nhầm lẫn không có ý nghĩa pháp lý, tức là không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng và nhầm lẫn có ý nghĩa pháp lý-là căn cứ để yêu cầu toà án tuyên bố HĐVH Như vậy không phải mọi nhầm lẫn đều có ý nghĩa pháp lý đối với bên nhầm lẫn Điều này là nhất quán trong mọi hệ thống pháp luật Tuy nhiên trong thực tiễn việc phân biệt

Trang 26

hai loại nhầm lẫn nói trên là việc không đơn giản, trong khi đó hậu quả pháp

lý của chúng lại khác nhau [52]

Có thể nói rằng, nhầm lẫn, nhìn từ góc độ là điều kiện để yêu cầu Toà

án tuyên bố HĐVH là một trong những vấn đề phức tạp nhất của pháp luật hợp đồng và gây nhiều khó khăn cho người học khinghiên cứu vấn đề này

Người bán hàng bán cho người mua một bình gốm Trung Quốc với giá

rẻ vì cho rằng, đó là bình gốm giả cổ do người địa phương làm ra Sau đó người mua phát hiện ra rằng đó là một tác phẩm nghệ thuật vô giá được làm

từ thời Nhà Minh Trong trường hợp này người bán có quyền yêu cầu toà án tuyên bố HĐVH và đòi lại bình cổ với lý do đã không đánh giá chính xác giá trị của chiếc bình hay không? Có hay không có ý nghĩa việc người bán là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực đố cổ và có thể đánh giá đúng giá trị của chiếc bình nhưng đã bất cẩn khi thực hiện việc đánh giá? Có quan trọng hay không việc người mua biết chính xác hoặc đoán biết được đó là bình cổ nhưng đã giấu người bán? Sẽ như thế nào nếu cả người bán và người mua của hợp đồng ban đầu đều là các chuyên gia trong lĩnh vực đánh giá đồ cổ? Có ý nghĩa hay không việc người mua, vì tin vào hiệu lực của hợp đồng đã bỏ ra một khoản tiền lớn để phục hồi chiếc bình với mục đích bán lại, hoặc đã bán lại cho người khác? Nếu người mua, một cách trung thực cam kết với người mua rằng, đó là bình giả cổ và yêu cầu người bán thực hiện hợp đồng? Và cuối cùng, nếu người bán yêu cầu người mua trả lại bình, người mua đồng ý nhưng yêu cầu trả mức chênh lệch giá? Để trả lời câu hỏi nói trên cần phải xem xét một số điều kiện của sự nhầm lẫn [57]

Phạm vi của nhầm lẫn: Điều 126 BLDS năm 2015 về “giao dịch dân sự

vô hiệu do bị nhầm lẫn” quy định: “Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu

Trang 27

bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên

bố giao dịch vô hiệu Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều

132 của Bộ luật này” [37] Như vậy theo pháp luật của Việt Nam hiện hành, nhầm lẫn chỉ có thể liên quan đến nội dung của hợp đồng mà không quy định nhầm lẫn về chủ thể Mặc dù pháp luật không quy định cụ thể nội dung, tuy nhiên có thể hiểu rằng, trong nội dung của hợp đồng có rất nhiều vấn đề, ví

dụ, đối tượng của hợp đồng, tính chất của hàng hoá, công việc

Không quy định nhầm lẫn về chủ thể có phải là khiếm khuyết của pháp luật hợp đồng Việt Nam hay không? Và việc thiếu vắng quy định của pháp luật trong trường hợp này gây ra những hậu quả pháp lý như thế nào? Có tác giả cho rằng, pháp luật quy định như vậy là chưa đủ, bởi lẽ trong thực tế, hoàn toàn

có thể xảy ra nhầm lẫn về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng và mặc dù pháp luật chưa quy định nhưng thực tiễn xét xử đã thừa nhận nhầm lẫn về chủ thể

Tính chất của nhầm lẫn phải nghiêm trọng Điều 126 BLDS năm 2015

chỉ quy định sự nhầm lẫn liên quan đến nội dung của giao dịch mà không quy định mức độ, tính chất của nhầm lẫn Thật ra pháp luật của nhiều nước không quy định những tiêu chí để xác định một sự nhầm lẫn nào đó là nghiêm trọng hay không nghiêm trọng, mà việc xác định này tuỳ thuộc vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể cũng như khả năng nhận biết của chủ thể về đối tượng nhầm lẫn Tuy nhiên khác với pháp luật Việt Nam, sự thừa nhận án lệ của pháp luật nhiều nước có thể giải quyết được vấn đề đặt ra Trong ví dụ mua bán bình cổ nói trên, nếu người bán là chuyên gia trong lĩnh vực đồ cổ thì sự nhầm lẫn không thể coi là nghiêm trọng Bởi lẽ người bán biết hoặc buộc phải biết về đối tượng của hợp đồng Nếu người mua là chuyên gia đồ cổ, còn người bán

là người bình thường thì sự nhẫm lẫn của người bán có thể coi là nghiêm trọng Nhầm lẫn chỉ có ý nghĩa nếu nó là động lực chủ yếu để bên bị nhầm lẫn

Trang 28

ký kết hợp đồng Với tư cách là động lực chủ yếu nhầm lẫn chỉ được xem xét nếu nó là cơ sở duy nhất để bên bị nhầm lẫn ký hợp đồng Nếu còn có khả năng ký hợp đồng với những điều kiện khác thì không thể coi nhầm lẫn là động lực chủ yếu Thực tiễn xét xử của nhiều nước không coi HĐVH nếu nhầm lẫn là do động cơ thông thường Nhầm lẫn có ý nghĩa pháp lý chỉ trong trường hợp, nếu sự nhầm lẫn đó có liên quan đến đặc tính, vì nó mà các bên đạt được sự thoả thuận một cách trực tiếp [43]

Có thể nhận thấy, việc pháp luật Việt Nam không quy định rõ ràng nhầm lẫn đến mức nào thì có ý nghĩa pháp lý trong xác định hiệu lực của hợp đồng cộng với việc pháp luật không thừa nhận án lệ sẽ làm cho Toà án gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn xét xử Bởi lẽ khó có tiêu chí rõ ràng khi đánh giá mức độ nghiêm trọng của nhầm lẫn Một vấn đề nữa cần phải được xem xét một cách thận trọng dưới góc độ pháp lý khi xác định nhầm lẫn là có cần thiết phải xác định lỗi của một bên là nguyên nhân dẫn đến sự nhầm lẫn của bên kia hay không Vấn đề này được xem xét không giống nhau trong pháp luật của các nước khác nhau Theo pháp luật Việt Nam hiện hành , nhầm lẫn phải do hành vi lỗi vô ý của một bên gây ra Điều đó có thể hiểu rằng, nếu không có lỗi của một bên thì không có sự nhầm lẫn hay nhầm lẫn (nếu có) sẽ không có ý nghĩa pháp lý và không thể là căn cứ để yêu cầu toà án tuyên bố HĐVH Cũng có thể hiểu rằng, các nhà làm luật Việt Nam không loại trừ nhầm lẫn không phải do lỗi bên kia, tuy nhiên họ chỉ cho rằng, nhầm lẫn do lỗi của bên kia mới có thể có ý nghĩa pháp lý và có thể được coi là điều kiện

để tuyên bố HĐVH Khoản 2 Điều 126 BLDS năm 2015 quy định, trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này Có

lẽ vì quy định này nằm trong Điều 126 BLDS dưới tên gọi “Giao dịch dân sự

vô hiệu do bị nhầm lẫn” [37] nên có tác giả cho rằng, BLDS năm 2015 dự liệu

Trang 29

hai trường hợp nhầm lẫn của một bên: nhầm lẫn do lỗi vô ý hay cố ý của bên kia và thực tế cho thấy hai loại nhầm lẫn này hoàn toàn có thể tồn tại.Ở đây, BLDS năm 2015 không coi nhầm lẫn là do lỗi cố ý của một bên mà bằng khoản 2 chỉ nhấn mạnh rằng, nếu một bên có lỗi cố ý làm cho bên kia hiểu sai

về nội dung của giao dịch thì bị coi là lừa dối Thật vậy khi một bên có hành vicố ý làm cho bên kia hiểu sai về nội dung cả hợp đồng tức là trong hành vi

đó bao gồm các thủ đoạn gian dối Một bên cố ý làm cho bên kia hiểu sai bởi

lẽ biết rằng, nếu không như vậy thì bên kia hiểu đúng về nội dung của hợp đồng thì sẽ không bao giờ ký [43]

Cùng nhầm lẫn: Pháp luật Việt Nam có xem xét trường hợp khi cả hai

bên cùng nhầm lẫn hay không? Đây là vấn đề đã có tác giả đặt ra trong khoa học pháp lý Việt Nam Không riêng gì pháp luật Việt Nam mà pháp luật của nhiều nước không đề cập đến vẫn đề này một cách trực tiếp, ví dụ, BLDS của Đức, Pháp, Liên bang Nga và chỉ có pháp luật của một số nước và Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế và Bộ nguyên tắc luật hợp đồng châu Âu lại quy định vấn đề này khá cụ thể Và việc pháp luật có quy định cả hai bên cùng nhầm lẫn một cách trức tiếp hay không ít có ý nghĩa pháp lý bởi lẽ:

Thứ nhất, mặc dù không quy định trực tiếp nhưng điều đó không có

nghĩa pháp luật các nước không có sự điều chỉnh loại nhầm lẫn này Rõ ràng, với cách quy định tại Điều 126 BLDS năm 2015 nhiều người có thể hiểu rằng, theo pháp luật Việt Nam chỉ có một bên trong giao dịch bị nhầm lẫn Tôi cho rằng, với cách quy định tại Điều 126 BLDS năm 2015 cũng có thể hiểu rằng, hoàn toàn có thể có truờng hợp cả hai bên cùng nhầm lẫn Đó là những trường hợp cả hai bên đều có hành vi vô ý và làm cho bên kia hiểu nhầm Và trong những trường hợp này cả hai bên đều có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố HĐVH [43] [45]

Trang 30

Thứ hai, theo quan điểm của tôi thì pháp luật quốc gia cũng không nhất

thiết quy định rõ trường hợp cả hai bên cùng nhầm lẫn, bởi lẽ vấn đề này có thể được giải quyết bằng các công cụ pháp lý khác Để làm sáng rõ loại nhầm lẫn này người ta thường lấy ví dụ: A và B, khi giao kết hợp đồng bán một xe hơi thể thao, đều không thể biết hay không thểbiết thực sự là chiếc xe hơi này

là xe hơi bị ăn cắp.Việc huỷ bỏ hợp đồng này là chấp nhận được Trong thực tiễn xét xử của Việt Nam có một bản án tương tự Anh Mạnh mua xe của anh Thắng, anh Thắng mua xe của anh Quang, sau một thời gian thì mới biết rằng,

xe là tang vật của một vụ cướp tài sản Toà án tuyên HĐVH do bị nhầm lẫn bởi lẽ cho rằng cả A và B đều nhầm lẫn Trong khoa học pháp lý Việt Nam có người đồng tình với cách giải quyết nói trên của Toà án

Thứ ba, ở nhiều nước, mặc dù pháp luật không quy định trực tiếp, tuy

nhiên sự khiếm khuyết này của pháp luật được khắc phục bằng thực tiễn xét

xử của Toà án Trong thực tiễn xét xử của một số nước cả hai bên cùng nhầm lẫn là những trường hợp, ví dụ, tại thời điểm ký kết hợp đồng tài sản là đối tượng của hợp đồng không còn tồn tại, hoặc trường hợp các bên trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ tại thời điểm ký kết hợp đồng không biết người được bảo hiểm đã chết

Sự tồn tại các điều kiện nói trên chỉ là điều kiện cần để HĐVH mà chưa phải là điều kiện đủ

Để tuyên bố HĐVH do bị nhầm lẫn, theo ý kiến của tôi, ngoài các điều kiện nói trên còn cần phải có các điều kiện đủ Liên quan đến vấn đề này trong pháp luật Việt Nam chỉ có một quy định mang tính chất chung tại khoản

1 Điều 136 BLDS 2005, nếu bên bị nhầm lẫn không yêu cầu Toà án tuyên bố HĐVH trong thời hạn hai năm kể từ thời điểm ký hợp đồng thì mất quyền viện dẫn Điều 131 Tôi cho rằng, sự để ngỏ này sẽ tạo ra nhiều cách hiểu khác

Trang 31

nhau khi áp dụng Điều 131 BLDS năm 2005, nhất là khi chức năng giải thích pháp luật của thẩm phán bị hạn chế và án lệ không được thừa nhận [43]

Khác với pháp luật của Việt Nam, vấn đề này được pháp luật và thực tiễn xét xử của các nước giải quyết triệt để, thấu đáo hơn tuỳ thuộc vào các điều kiện cần sau đây: Thứ nhất, nhận thức của bên bị nhầm lẫn, trong mọi trường hợp không phụ thuộc vào nguyên nhân bị nhầm lẫn, bên bị nhầm lẫn mất quyền yêu cầu tuyên bố HĐVH nếu bên bị nhầm lẫn biết và buộc phải biết về sự nhầm lẫn Thứ hai, nhận thức của bên không nhầm lẫn, nhầm lẫn liên quan đến nội dung chủ yếu của hợp đồng là điều kiện để HĐVHnếu chứng minh được rằng, bên kia, với tư cách là người bình thường, biết hoặc buộc phải biết về sự nhầm lẫn này nếu thể hiện được sự chú ý, cẩn trọng Thứ

ba, thời điểm thông báo cho bên kia (bên không bị nhầm lẫn), bên bị nhầm lẫn phải thông báo kịp thời về sự nhầm lẫn của mình cho bên kia Kịp thời có nghĩa là phải thống báo trước thời điểm bên kia, vì tin vào hiệu lực của hợp đồng đã có những hành việcụ thể, ví dụ, bán lại, sửa chữa vật…Ví dụ, theo quy định tại Điều 871 BLDS Áo, trong trường hợp người bán nhầm lẫn về đặc tính của hàng hoá thì người bán mất quyền viện dẫn đến nhầm lẫn nếu hàng hoá đã được người mua bán lại hoặc đã cho thuê, ngoại trừ trường hợp người mua biết về sự nhầm lẫn hoặc có hành vi làm cho người bán nhầm lẫn [12]

Thật khó có thể đưa ra một định nghĩa pháp lý về nhầm lẫn Theo một

số luật gia, nhầm lẫn là “niềm tin không phù hợp với thực tế”, một số luật gia khác lại cho rằng nhầm lẫn là “sự khác biệt giữa ý chí nội tâm và ý chí biểu hiện bên ngoài” Tựu chung lại, sự nhầm lẫn làm cho sự thể hiện ra bên ngoài của ý chí một trong các bên không phù hợp với ý chí đích thực bên trong của

họ khiến cho sự thỏa thuận đạt được đã bị khiếm khuyết, và vì vậy, về nguyên tắc, mọi sự nhầm lẫn đều làm cho HĐVH vì đã không có sự thống nhất ý chí giữa các bên Tuy nhiên, nhằm mục đích bảo đảm sự ổn định của giao lưu dân

Trang 32

sự, nhà làm luật chỉ chấp nhận nhầm lẫn là nguyên nhân khiến HĐVH trong một số trường hợp nhất định Luật pháp một số nước thường chia sự nhầm lẫn

- nguyên nhân khiến HĐVH ra ba loạiHĐVH [12]:

- Nhầm lẫn về bản chất hợp đồng (chẳng hạn, A nghĩ là B cho mình mượn tài sản, B lại nghĩ mình gửi giữ tài sản cho A);

- Nhầm lẫn về đối tượng của nghĩa vụ của hợp đồng (chẳng hạn, A nghĩ bán cho B lô đất 1, trong khi B lại nghĩ A bán cho mình lô đất 2; hoặc A và B

ký kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa, A tưởng phải giao hàng hóa tại địa điểm X, trong khi B nghĩ A phải giao hàng tại địa điểm Y…)

- Nhầm lẫn về các yếu tố chủ yếu có ý nghĩa quyết định tới sự thỏa thuận của các bên (thực chất, ở đây muốn nói tới nhầm lẫn về một động cơ nào đó khiến một người muốn ký kết hợp đồng) Về nguyên tắc, nhầm lẫn về một yếu tố chủ yếu có ý nghĩa quyết định tới sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể là nguyên nhân khiến HĐVH khi yếu tố này đã được bên kia chú ý tới, trừ phi, căn cứ vào bản chất hợp đồng và hoàn cảnh cụ thể, đó là một yếu tố hiển nhiên Vì vậy, một người mua một bức tượng chỉ vì anh ta nhầm tưởng rằng bức tượng này đã từng được tác giả trưng bày ở salon chỉ có thể yêu cầu Tòa

án tuyên HĐVH nếu anh ta đã từng nói tại sao anh ta lại có ý định mua bức tượng đó với người bán

Không theo cách tiếp cận bằng việc phân chia các loại nhầm lẫn, BLDS tại Điều 131, chỉ quy định khi một bên, do lỗi vô ý của bên kia, nhầm lẫn về nội dung của giao dịch mà xác lập giao dịch thì có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó; nếu bên kia không chấp nhận yêu cầu thay đổi của bên bị nhầm lẫn thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu Như vậy, theo luật Việt Nam, bên bị nhầm lẫn phải chứng minh được nguyên nhân dẫn đến nhầm lẫn là do lỗi của bên kia [12]

Trang 33

1.4 Hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn theo quy định của một số nước trên thế giới

Có thể thấy rằng việc phân loại HĐVH như trên được hình thành cùng với lịch sử phát triển của Luật La Mã, xuất phát từ tư tưởng phân chia pháp luật theo luật công và luật tư, thông thường các quan hệ thuộc lĩnh vực công

sẽ chịu sự can thiệp sâu hơn của Nhà nước

Nếu xét các quy định về HĐVH tuyệt đối trong hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau, nhận thấy rằng trong BLDS Cộng hòa Pháp ghi nhậnloại hợp đồng này dưới tên gọi hợp đồng đương nhiên vô hiệu hoặc trong BLDS của Cộng hòa Liên bang Đức, BLDS Nhật Bản, Luật Hợp đồng Công hòa nhân dân Trung Hoa sử dụng khái niệm vô hiệu (void) Trong khi đó, luật hợp đồng của các nước theo hệ thống common law như Anh, Mỹ… ghi nhận loại hợp đồng này là “hợp đồng không thể thực thi” (unenforceable) Mặc dù

về tên gọi khác nhau nhưng bản chất là như nhau

Còn đối với loại hợp đồng thương mại vô hiệu tương đối mà các yếu tố dẫn đến sự vô hiệu như: hợp đồng giao kết do bị lừa dối, đe dọa, nhầm lẫn,… thì chúng cũng có những tên gọi khác nhau theo quy định của các nước khácnhau Theo quy định của BLDS Cộng hòa Pháp loại hợp đồng này có tên gọi là “HĐVH có điều kiện”, hoặc theo quy định của pháp luật một số nước theo hệ thống thông luật (Common law) hợp đồng thương mại vô hiệu tương đối có tên gọi là “hợp đồng có thể vô hiệu” (voidable)

Về hợp đồng thương mại vô hiệu do bị đe dọa, pháp luật Việt Nam không phân biệt rõ hành vi đe dọa xảy ra lúc nào và mức độ như thế nào thì hợp đồng thương mại bị coi là vô hiệu Do đó, nếu đe dọa ở giai đoạn thực hiện hợp đồng để buộc bên kia phải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng thì hợp đồng thương mại lúc này có bị tuyên bố vô hiệu hay không? Giải quyết vấn đề đó, luật của Pháp có khái niệm “đe dọa không chính đáng” để phân biệt với khái

Trang 34

niệm “gây sức ép chính đáng”, là sự đe dọa không dẫn đến khả năng vô hiệu hóa các hợp đồng Một trong những trường hợp gây sức ép chính đáng là việc thực hiện một quyền hợp pháp kèm theo yêu cầu đánh đổi quyền này với sự ưng thuận của người bị đe dọa trong việc xác lập hợp đồng với những điều kiện hoàn toàn bình thường Chính đáng bởi vì, một là, việc gây sức ép không bao gồm một dự tính trái pháp luật; hai là, người gây sức ép không thu nhận các lợi ích bất thường, lợi ích quá đáng từ hợp đồng và người bị gây sức ép cũng không bị thiệt hại do việc thực hiện hợp đồng đó [1]

Về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng: Ở Việt Nam, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và hợp đồng nói riêng được quy định tại Điều 122 BLDS 2005, theo đó, một giao dịch có hiệu lực khingười tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện Nếu pháp luậtcó quy định hình thức hợp đồng là điều kiện để hợp đồng có hiệu lực thì cũng phải tuân thủ quy định này [32] [1]

Như vậy, về cơ bản, trừ điều kiện về nghĩa vụ đối ứng, các điều kiện hợp đồng có hiệu lực của Hoa Kỳ và Việt Nam khá tương đồng với nhau Liên quan đến hợp đồng không có hiệu lực thi hành, pháp luật Hoa Kỳ chia thành 3 loại là HĐVH (void), có thể vô hiệu (voidable) và không thể thực thi (unenforceable) HĐVH là hợp đồng bị coi là không tồn tại, không được toà

án công nhận và không được thực thi (loại hợp đồng này giống HĐVH tuyệt đối theo quan niệm trong khoa học pháp lí của Việt Nam) Hợp đồng có thể bị

vô hiệu là hợp đồng mà một bên có quyền lựa chọn chấm dứt hợp đồng, ví dụ hợp đồng kí sai thẩm quyền (loại hợp đồng này cũng giống HĐVH tuyệt đối ở Việt Nam) Hợp đồng không thể thực thi là hợp đồng mà không bên nào có thể thực thiệnghĩa vụ hợp đồng, ví dụ ở Hoa Kỳ, một số loại hợp đồng bắt

Trang 35

buộc phải kí bằng văn bản, nếu các bên không tuân thủ quy định này thì hợp đồng bị coi là không thể thực thi BLDS năm 2005 của Việt Nam cũng lần đầu tiên đưa ra căn cứ HĐVH do có đối tượng không thể thực hiện được (Điều 411) Tuy vậy, với cách quy định tại Điều 411 “Trong trường hợp ngay

từ khi kí kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì lí do khách quan thì hợp đồng này bị vô hiệu” có thể tạo ra sự hiểu nhầm là trong mọi trường hợp, khi có lí do khách quan làm cho đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được thì hợp đồng sẽ bị coi là vô hiệu Ví dụ: A kí hợp đồng mua hàng của B nhưng không may, số hàng này gặp hỏa hoạn và bị tiêu huỷ toàn bộ Rõ ràng đối tượng của hợp đồng này không thể thực hiện được nhưng không thể nói hợp đồng bị vô hiệu Hợp đồng vẫn có hiệu lực, bên bán

vi phạm hợp đồng(không giao được hàng cho bên mua) nhưng do gặp phải lí

do bất khả kháng nên được miễn trách nhiệm hợp đồng [1] [2]

1.5 Ý nghĩa pháp lý của quy định về hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn

1.5.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh quan hệ hợp đồng bằng pháp luật

Để tồn tại và phát triển, cá nhân hay tổ chức đều phải tham gia vào nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau, trong đó việc các bên thiết lập với nhau những quan hệ để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, đóng vai trò quan trọng và là tất yếu đối với đời sống xã hội Song, việc chuyển giao các lợi ích này không phải tự nhiên thiết lập mà chỉ được hình thành khi có hành vicó ý chí của của chủ thể, như C Mác đã từng nói: "Tự chúng, hàng hoá không thể đi đến thị trường và trao đổi với nhau được Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau, thì những người giữ chúng phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật đó” Theo đó, chỉ khi có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên, thì quan hệ trao đổi lợi ích vật chất mới được hình thành và được gọi là hợp đồng

Trang 36

Hợp đồng chưa xuất hiện trong xã hội nguyên thủy bởi vì khi ấy lực lượng sản xuất còn kém phát triển, còn tồn tại hình thức sở hữu chung về tư liệu sản xuất Khi xuất hiện chế độ tư hữu và sự phân công lao động trong xã hội thì nhu cầu trao đổi hàng hóa giữa con người đòi hỏi phải có sự thống nhất ý chí của những người chủ hàng hóa ấy mà hình thức của nó là bản giao kèo Đây chính là hợp đồng hay khế ước Vì vậy, có thể khẳng định những điều kiện ra đời của nền sản xuất hàng hóa cũng chính là những điều kiện ra đời của hợp đồng Hợp đồng là hình thức cơ bản của mối quan hệ trao đổi sản phẩm hàng hóa, dịch vụ giữa các chủ thể pháp luật trong xã hội Nhưng cùng với sự phát triển của xã hội loài người thì hợp đồng không chỉ dừng lại ở hình thức biểu đạt cho nhu cầu trao đổi sản phẩm mà nó còn phát triển vượt ra ngoài phạm vi của mối quan hệ này Bản thân việc trao đổi sản phẩm giữa những người sản xuất với nhau, giữa người sản xuất với người tiêu dùng cũng không còn mang tính ngẫu nhiên mà nó đã dần chuyển hóa thành một nghề độc lập - nghề thương mại Ban đầu, khi tiến hành các hoạt động thương mại, giữa các thương nhân hình thành những quy tắc xử sự mang tính nghề nghiệp

Qua thời gian, các quy tắc này được lưu truyền và dần dần hình thành tập quán được các thương nhân thừa nhận rộng rãi, gọi là tập quán thương mại Các tập quán này lại dần được pháp điển hóa trong các bộ luật, đạo luật đơn hành hoặc được cấu thành những phần riêng trong pháp luật dân sự Những văn bản pháp luật này lần lượt ra đời ở một số nước Châu Âu, những nước có điều kiện kinh tế, địa lý thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và giao lưu buôn bán như: Đức, Pháp, Thụy Sỹ…

Chế định hợp đồng từ chỗ chỉ là tập hợp những hợp đồng cụ thể trực tiếp xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt nghĩa vụ đã dần dần trở thành một chế định pháp lý thực sự với một khái niệm về hợp đồng tương đối chặt chẽ và hoàn chỉnh Từ thời La Mã, hợp đồng đã được định nghĩa là căn cứ làm phát

Trang 37

sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật với hai dấu hiệu đặc trưng không thể thiếu: thứ nhất, phải có sự thỏa thuận (convention, consensus); thứ hai, phải có mục đích (căn cứ pháp lý) nhất định (causa) mà các bên hướng tới Pháp luật về hợp đồng ngày càng được khẳng định cùng với sự ra đời của các Bộ dân luật Trong pháp luật tư sản, chế định hợp đồng tồn tại trong lĩnh vực công pháp và tư pháp, song đặc biệt phát triển trong lĩnh vực tư pháp Điều 1101 BLDS La Mã quy định, hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó Trên cơ sở

kế thừa những hạt nhân hợp lý, khoa học của khái niệm này, tại Điều 1101 BLDS Pháp hiện hành cũng đưa ra định nghĩa tương tự như vậy vềhợp đồng Theo quy định của Điều 1101 BLDS Pháp năm 1804 thì “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc chuyển giao một vật, làm hay không làm một công việc” Hoặc theo quy định của Điều 420 BLDS Liên Bang Nga năm

1994 thì “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”…

Ở Việt Nam, pháp luật về hợp đồng xuất hiện từ khi có các định nghĩa khái quát về khế ước trong các Bộ Dân luật giản yếu Nam Kỳ (năm 1883), Bộ Dân luật Bắc Kỳ (năm 1931) và Bộ Dân luật Trung Kỳ (năm 1936)3 Tuy nhiên, khái niệm khế ước không để lại dấu ấn sâu đậm và không có ảnh hướng lớn đến hệ thống pháp luật về hợp đồng sau này Trong bối cảnh hiện nay nhiều nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường thì quan hệ trao đổi hàng hóa mà hình thức của nó là hợp đồng ngày càng phức tạp, có nhiều sắc thái biến động khiến các chủ thể kinh doanh không thể lường trước được Sự

ra đời của pháp luật về hợp đồng là kim chỉ nam, là công cụ hữu hiệu nhất điều hòa mối quan hệ thương mại mang tính hai mặt này Như vậy, các quy

Trang 38

phạm pháp luật về hợp đồng nói chung và pháp luật về hợp đồng thương mại nói riêng là điều rất cần thiết cho việc điều chỉnh quan hệ hợp đồng giữa các thương nhân, giữa thương nhân với chủ thể kinh doanh

1.5.2 Mục đích và ý nghĩa của quy định về HĐVH

Quy định về HĐVH, có thể xuất phát từ những quan niệm khác nhau, hoặc chủ yếu từ nguyên tắc căn bản “nguyên tắc tự do ý chí” hoặc kết hợp giữa tự do ý chí và ý chí Nhà nước Tuy nhiên, quan niệm tôn trọng sự tự do ý chí luôn được mong đợi hơn, sự tự do được hiểu là tự do của “con người xã hội” không phải là “con người tự nhiên” Trong lịch sử phát triển xã hội loài người, một sản phẩm lịch sử được hình thành do quan niệm tự do hoặc những học thuyết tự do đó là “nguyên tắc tự do ý chí” Theo đó, một chủthể sẽ bị ràng buộc khi tuyên bố ý chí hoặc chấp nhận ý chí một cách tự nguyện và không chống lại lợi ích công “Nghĩa vụ tự do ý chí của các người kết ước mà

có Lẽ dĩ nhiên, hiệu lực bắt buộc của nghĩa vụ cũng căn cứ vào nguyên tắc ý chí tự do Tuy nhiên, ở trên nguyên tắc này cần tôn trọng ích lợi chung và trật

tự công cộng” Nhà nước chỉ luật hoá nguyên tắc tự do thành luật và ở chừng mực nào đó quy định hoặc chấp nhận những giá trị được gọi là chuẩn mực chung cần bảo vệ, buộc các chủ thể phải tôn trọng những chuẩn mực xã hội

đó - tự do giao kết nhưng không được xâm phạm trật tự công hoặc lợi ích của

chủ thể khác

Xuất phát từ mục tiêu điều chỉnh của pháp luật, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia quan hệ hợp đồng là tất yếu và việc bảo vệ của pháp luật luôn đặt ra đối với hợp đồng hợp pháp và HĐVH Pháp luật dân sự Cộng Hoà Pháp có quy định “Hợp đồng được giao kết hợp pháp

có giá trị là luật đối với các bên giao kết”; tương tự, BLDS hiện hành của Việt Nam cũng thể hiện sự bảo vệ này, “Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể

Trang 39

khác tôn trọng” Đối với HĐVH, pháp luật không những bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia mà còn bảo vệ trật tự công cộng và các giá trị chung của xã hội như đạo đức, thuần phong mỹ tục Đây chính là nội dung thể hiện mục

đích và ý nghĩa của việc quy định HĐVH

Tiểu kết chương

Kết quả nghiên cứu tại Chương 1 của luận văn đã nêu lên những nét khái quát nhất về khái niệm cũng như đặc thù của HĐVH do nhầm lẫn, từ đó bước đầu có nhận thức chung về HĐVH do nhầm lẫn qua việc phân tích khái niệm, phân loại HĐVH do nhầm lẫn, đặc điểm của HĐVH do nhầm lần Cuối cùng, sau khi đã nắm được những kiến thức cơ bản về HĐVH do nhầm lẫn, tác giả bắt đầu tìm hiểu chung về cấu trúc và nội dung của pháp luật khi quy định về vấn đề này để giới hạn được phạm vi tìm hiểu của đề tài Kết quả nghiên cứu lý luận tại chương 1 của luận văn giúp tác giả định hướng các nghiên cứu về quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật trong thực tế về HĐVH do nhầm lẫn

Trang 40

Chương 2 HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU DO NHẦM LẪN THEO QUY ĐỊNH

CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1 Điều kiện của hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn

Trong quá trình xây dựng và ký kết hợp đồng, người soạn thảo cần lưu

ý đến điều kiện của hợp đồng có hiệu lực và các trường hợp vô hiệu của hợp đồng nhằm tránh các trường hợp đáng tiếc xảy ra trong quá trình hai bên thực hiện hợp đồng Điều 388 BLDS năm 2015 quy định: Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa

vụ dân sự Như vậy hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Hợp đồng có hiệu lực khi đáp ứng đủ 4 điều kiện [37]:

Thứ nhất, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hợp pháp Thông thường

các bên giao kết phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự

Thứ hai, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện tức là

xuất phát từ ý chí thực, từ sự tự do ý chí của các bên trong các thỏa thuận hợp đồng đó

Thứ ba, nội dung của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội

Đối tượng của hợp đồng không thuộc hàng hóa cấm giao dịch, công việc cấm thực hiện Bên cạnh đó, nội dung của hợp đồng cần phải cụ thể, bởi vì việc xác lập nghĩa vụ trong hợp đồng phải cụ thể và có tính khả thi Những nghĩa

vụ trong hợp đồng mà không thể thực hiện được thì hợp đồng cũng không được coi là có hiệu lực pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ

Thứ tư, thủ tục và hình thức của hợp đồng phải tuân theo những thể

thức nhất định phù hợp với những quy định của pháp luật đối với từng loại

Ngày đăng: 28/02/2021, 13:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thị Lan Anh (2008), Hợp đồng thương mại và pháp luật về hợp đồng thương mại của một số nước trên thế giới, Tạp chí luật học, số 11 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng thương mại và pháp luật về hợp đồng thương mại của một số nước trên thế giới
Tác giả: Vũ Thị Lan Anh
Năm: 2008
2. PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ, PGS.TS. Trần Thị Huệ (Đồng Chủ biên, 2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
3. PGS.TS. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung, nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hợp đồng phần chung, nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội
Tác giả: PGS.TS. Ngô Huy Cương
Nhà XB: nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
4. Nguyễn Văn Cường (2005), Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, Luận án tiến sĩ luật học, Trường đại học luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
Tác giả: Nguyễn Văn Cường
Năm: 2005
5. Nguyễn Văn Cường (2004), Một số vướng mắc trong việc áp dụng các văn bản pháp luật về việc tuyên bố HĐVH và giải quyết hậu quả của HĐVH, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao, số 12/2004, tr. 19-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vướng mắc trong việc áp dụng các văn bản pháp luật về việc tuyên bố HĐVH và giải quyết hậu quả của HĐVH
Tác giả: Nguyễn Văn Cường
Năm: 2004
6. Nguyễn Thị Chính (2000), Bàn về hiệu lực của hợp đồng lao động và việc xử lý HĐVH, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp, Số 8/2000, tr.19-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về hiệu lực của hợp đồng lao động và việc xử lý HĐVH
Tác giả: Nguyễn Thị Chính
Năm: 2000
9. Nguyễn Thị Dung (2008), Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư - Những vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư - Những vấn đề pháp lý cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Dung
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
10. Cao Thùy Dương (2004), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về xử lý HĐVH ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về xử lý HĐVH ở Việt Nam
Tác giả: Cao Thùy Dương
Năm: 2004
11. TS. Đỗ Văn Đại (2010), Luật Hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án
Tác giả: TS. Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
12. PGS.TS Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015, nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt nam, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015
Tác giả: PGS.TS Đỗ Văn Đại
Nhà XB: nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt nam
Năm: 2016
13. Phạm Bá Đông (2013), Một số vấn đề về hợp đồng dân sự vô hiệu - thực trạng và hướng hoàn thiện, Luận Văn Thạc sỹ, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về hợp đồng dân sự vô hiệu - thực trạng và hướng hoàn thiện
Tác giả: Phạm Bá Đông
Năm: 2013
14. Lê Thị Vân Hà (2002), Thực trạng pháp luật hợp đồng kinh tế vô hiệu và phương hướng hoàn thiện, Luận văn tốt nghiệp đại học, Trường đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng pháp luật hợp đồng kinh tế vô hiệu và phương hướng hoàn thiện, Luận văn tốt nghiệp đại học
Tác giả: Lê Thị Vân Hà
Năm: 2002
15. Nguyễn Tất Hiếu (2012), Liên ngành tư pháp trung ương cần sớm hướng dẫn chế định “thời hiệu khởi kiện”, “HĐVH” trong việc giải quyết các tranh chấp về đất đai, Tạp chí Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số 24/2012, tr 61-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên ngành tư pháp trung ương cần sớm hướng dẫn chế định “thời hiệu khởi kiện”, “HĐVH” trong việc giải quyết các tranh chấp về đất đai
Tác giả: Nguyễn Tất Hiếu
Năm: 2012
16. Dương Đặng Huệ (2002), Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam, tạp chí NNPL số 6/2002, tr13-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam, tạp chí NNPL số 6/2002
Tác giả: Dương Đặng Huệ
Năm: 2002
17. Lê Huy Hùng (2010), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng dân sự vô hiệu theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành, Trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng dân sự vô hiệu theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành
Tác giả: Lê Huy Hùng
Năm: 2010
18. Lê Minh Hùng (2010), Hiệu lực của hợp đồng theo quan điểm của Bộ luật dân sự 2005, Luận án tiến sĩ luật học, Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu lực của hợp đồng theo quan điểm của Bộ luật dân sự 2005
Tác giả: Lê Minh Hùng
Năm: 2010
19. Bùi Thị Thu Huyền (2010), Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện ý chí chủ thể, Luận văn thạc sĩ luật học, Truờng đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện ý chí chủ thể
Tác giả: Bùi Thị Thu Huyền
Năm: 2010
20. Nguyễn Thị Khế (1997), Hợp đồng kinh tế và các hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế, Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng kinh tế và các hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế
Tác giả: Nguyễn Thị Khế
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 1997
21. Hoàng Thế Liên, Phạm Hữu Nghị, Trần Hữu Quỳnh (1993), Hợp đồng kinh tế và vấn đề giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng kinh tế và vấn đề giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay
Tác giả: Hoàng Thế Liên, Phạm Hữu Nghị, Trần Hữu Quỳnh
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1993
22. PGS.TS. Hoàng Thế Liên (2009), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, phần II,Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, phần II
Tác giả: PGS.TS. Hoàng Thế Liên
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w