Luật Doanh nghiệp Tư nhân 1990 và Luật Sửa đổi một số điều của Luật Doanh nghiệp Tư nhân 1994 a Luật Doanh nghiệp Tư nhân 1990 Cùng với sự ra đời của Luật Công ty, Luật DNTN 1990 được Qu
Trang 1HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP PHỔ BIẾN,
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TRUNG ƯƠNG
ĐẶC SAN TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT
Số: 3 /2015
CHỦ ĐỀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP
HÀ NỘI - NĂM 2015
Trang 24 DNNN Doanh nghiệp nhà nước
5 DNTN Doanh nghiệp tư nhân
6 ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông
Trang 3Trên phương diện lý thuyết có khá nhiều cách hiểu về doanh nghiệp vìsuy cho cùng tiếp cận doanh nghiệp ở góc độ nào thì sẽ có khái niệm doanhnghiệp ở góc độ đó Điều ấy cũng là đương nhiên vì doanh nghiệp, như bao kháiniệm khác, được nghiên cứu và xem xét dưới nhiều khía cạnh khác nhau Theo
M.Francois Peroux, “doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy.”
Còn theo quan điểm phát triển, “doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được 1 ”
Thực chất thì doanh nghiệp là khái niệm chung nhất để chỉ các loại hìnhdoanh nghiệp, trong đó công ty là một loại hình doanh nghiệp2 và nó rất phổbiến Trên thế giới, so với các loại hình doanh nghiệp khác, thì công ty xuất hiệnmuộn hơn, vào khoảng giữa thế kỷ 19 Trước đó, các hoạt động kinh doanh thựchiện dưới hình thức hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân3 Cũng kể từ thế kỷ 19
và đặc biệt trong nửa đầu thế kỷ 20, công ty là loại hình kinh doanh phát triểnmạnh mẽ nhất Nhiều nước trên thế giới hiện nay, thay vì thiết lập luật doanhnghiệp, đã thiên về quy định tổ chức và hoạt động của các loại hình công ty
Theo quan điểm của các nước tư bản, công ty là một tổ chức kinh tế đượcthành lập theo vốn, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về trái vụ của công
ty trong phạm vi số vốn mà thành viên đó góp vào công ty Công ty được thànhlập dựa trên một thỏa thuận về quản lý điều hành, thường gọi là điều lệ, có thể
1 D.Larua.A Caillat, "Kinh tế doanh nghiệp”, Nxb Khoa học Xã hội, 1992.
2 CIEM, GIZ, “Các loại hình doanh nghiệp – Đâu là loại hình phù hợp nhất với doanh nghiệp của bạn” Hà Nội, 2007.
3 CIEM, GIZ, sđd, tr 7.
Trang 4phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn và được thừa nhận là phápnhân ở hầu hết các nước4
Như vậy, dù định nghĩa ở góc độ mở rộng là doanh nghiệp hoặc xem xét ởgóc độ hẹp là công ty, thì hình thức thể hiện phổ biến nhất của doanh nghiệp làmột tổ chức kinh tế và mục đích chủ yếu nhất của nó là kinh doanh Theo luật
doanh nghiệp của Việt Nam thì “doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh 5 ”
II ĐẶC ĐIỂM DOANH NGHIỆP
Xem xét các khái niệm về doanh nghiệp để rút ra các điểm chung nhất thì
có thể thấy rằng một doanh nghiệp có các đặc trưng cơ bản sau đây:
1 Có hoạt động kinh doanh hoặc cung ứng dịch vụ thường xuyên
Phần lớn doanh nghiệp được thành lập nhằm mục đích kinh doanh, muabán hàng hóa tạo lợi nhuận hoặc cung ứng dịch vụ hoặc cả hai để phục vụ lợi íchngười tiêu dùng Tuy nhiên, cũng có một số doanh nghiệp đặc thù, thành lập vàhoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Các doanh nghiệp này đa phần là doanhnghiệp công ích hoặc doanh nghiệp xã hội, do Nhà nước thành lập và chủ sởhữu, thực hiện các hoạt động vì lợi ích của cộng đồng và xã hội, chẳng hạn cácdoanh nghiệp về điện, nước, vệ sinh công cộng v v
Trong đời sống kinh tế xã hội, bất kỳ thực thể nào cũng có thể làm nảy sinhcác hoạt động sản xuất kinh doanh hay cung ứng dịch vụ Ví dụ: một hộ nôngdân, khi thu hoạch mùa vụ, có thể bán thóc gạo của mình để kiếm thêm thu nhậpsau khi đã đủ gạo để ăn, họ thực hiện hoạt động này một lần trong trong năm hoặcvài năm một lần một cách rất tự phát Các hoạt động lẻ tẻ và mang tính cá biệtnhư vậy không phải đặc trưng của doanh nghiệp, vốn có hoạt động sản xuất kinhdoanh, cung ứng dịch vụ rất thường xuyên, chuyên nghiệp và liên tục Một doanh
4 GS.TS Nguyễn Thị Mơ, Bài giảng “Pháp luật doanh nghiệp – Công ty TNHH hai thành viên trở lên”
5 Điều 4.1 Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 của Việt Nam được thông quan ngày 25 tháng 11 năm 2005 và
Trang 5nghiệp phải có đầy đủ hoạt động kinh doanh mà hoạt động đó phải được thực hiện
trong một quá trình lâu dài Theo các quy định hiện hành của Việt Nam, “kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi 6 ” Như vậy, chỉ khi một tổ chức kinh tế thực hiện
hoạt động kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho người tiêu dùng một cách chuyênnghiệp, liên tục, thường xuyên, lâu dài thì tổ chức đó mới có thể được coi là mộtdoanh nghiệp
3 Doanh nghiệp có tính hợp pháp
Tại rất nhiều quốc gia, doanh nghiệp muốn được thừa nhận là một phápnhân, tham gia hoạt động kinh doanh và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mìnhthì đều phải đăng ký một cách hợp pháp Pháp luật nhiều nơi quy định về trình
tự, thủ tục đăng ký hoặc công nhận một tổ chức là doanh nghiệp Việc đăng kýthực hiện thông qua thủ tục “hai chiều”, tức là chủ sở hữu khi muốn thành lậpdoanh nghiệp phải nộp hồ sơ xin cấp phép, và cơ quan quản lý nhà nước, khichấp thuận bộ hồ sơ ấy thì ban hành giấy phép thành lập doanh nghiệp Một khidoanh nghiệp được “cấp phép”, nó đương nhiên được thừa nhận ra đời, đượcpháp luật bảo hộ và phải chịu sự ràng buộc bởi các quy định pháp lý có liênquan Có thể nói, giấy phép hay chấp thuận của cơ quan nhà nước về việc thànhlập doanh nghiệp chính là giấy khai sinh của doanh nghiệp vậy
6 Điều 4.2 Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 của Việt Nam được thông quan ngày 25 tháng 11 năm 2005
Trang 6Tính hợp pháp không chỉ thể hiện ở việc doanh nghiệp xin phép đăng ký
và được cấp phép thành lập và hoạt động, để nhà nước ghi nhận sự hình thànhhay tồn tại của doanh nghiệp, mà còn thể hiện ở việc, khi tham gia vào các quan
hệ xã hội, doanh nghiệp cũng là một thực thể độc lập và phải chịu trách nhiệmcho các hoạt động của mình, bằng tài sản riêng của mình Điều này đòi hỏidoanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toánnhững khoản công nợ khi phá sản hay giải thể
III CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP
Hiện có rất nhiều cách để xác định loại hình doanh nghiệp, tùy thuộc vàocác tiêu chí phân loại khác nhau
1 Phân loại dựa trên bản chất kinh tế của chủ sở hữu
Nếu căn cứ vào bản chất kinh tế của chủ sở hữu để xác định, thì doanhnghiệp có 3 loại hình chính dựa trên hình thức và giới hạn trách nhiệm của chủ
sở hữu, cụ thể bao gồm:
(1) doanh nghiệp tư nhân (proprietorship),
(2) doanh nghiệp hợp doanh (partnership),
và (3) doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn (limited liability)
Thông thường doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng sốcác doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn lại chiếm tỷ trọnglớn nhất về doanh thu, đặc biệt trong các lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn như sản xuấthàng hóa, tài chính…7
Bên cạnh cách phân loại này, còn có cách phân loại khác dựa vào bản chất
sở hữu, theo đó, doanh nghiệp được chia làm hai loại chủ yếu: (1) doanh nghiệpnhà nước và (2) doanh nghiệp tư nhân
Trang 72 Phân loại dựa trên hình thức pháp lý của doanh nghiệp
Mỗi quốc gia có quy định về hình thức pháp lý của doanh nghiệp khácnhau trong luật nội địa của mình Tuy nhiên, ở góc độ tổng quát, các hình thứcpháp lý cơ bản của doanh nghiệp bao gồm các dạng sau:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn (“TNHH”): đây là loại hình doanh nghiệp
mà thành viên/các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ vànghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
- Công ty cổ phần (“CTCP”): đây là loại hình doanh nghiệp mà vốn điều lệ
của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cá nhân hay
tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu tráchnhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đãgóp vào doanh nghiệp
- Công ty hợp danh (“CTHD”): đây là loại hình doanh nghiệp trong đó có
ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cáitên chung (gọi là thành viên hợp danh) Thành viên hợp doanh phải là cá nhân
và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn
- Doanh nghiệp tư nhân (“DNTN”): là doanh nghiệp do một cá nhân làm
chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động củadoanh nghiệp Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một DNTN
3 Phân loại dựa vào chế độ chịu trách nhiệm của doanh nghiệp
Căn cứ vào chế độ chịu trách nhiệm của doanh nghiệp, có thể phân ra hailoại chủ yếu là (1) doanh nghiệp có chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn và (2)doanh nghiệp có chế độ chịu trách nhiệm vô hạn
Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn là loại hình doanh nghiệp mà
ở đó chủ sở hữu doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệpbằng tất cả tài sản của mình, khi doanh nghiệp không đủ tài sản để thực hiện các
Trang 8nghĩa vụ tài chính của nó8 Theo pháp luật Việt Nam, có hai loại doanh nghiệp
có chế độ trách nhiệm vô hạn là DNTN và CTHD Chủ sở hữu DNTN và thànhviên hợp danh sẽ chịu trách nhiệm đến cùng về mọi nghĩa vụ tài sản của doanhnghiệp mà không giới hạn ở phần tài sản mà chủ doanh nghiệp, hay các thànhviên hợp danh đó đã bỏ vào đầu tư kinh doanh tại DNTN và CTHD Điều này cónghĩa là nếu tài sản của DNTN và CTHD không đủ để thực hiện các nghĩa vụ vềtài chính của doanh nghiệp khi các doanh nghiệp này phải áp dụng thủ tục thanh
lý khi phá sản, chủ sở hữu doanh nghiệp và các thành viên hợp danh phải sửdụng cả tài sản riêng không đầu tư vào doanh nghiệp để thanh toán cho cáckhoản nợ của doanh nghiệp
Doanh nghiệp có chế độ TNHH là các doanh nghiệp chịu trách nhiệm một
cách hạn chế, tức là giới hạn trách nhiệm của họ gói gọn trong phạm vi tài sản củadoanh nghiệp hay vốn đăng ký của doanh nghiệp đó Điều này có nghĩa là khi sốtài sản của doanh nghiệp không đủ để trả nợ thì chủ sở hữu không có nghĩa vụphải trả nợ thay cho doanh nghiệp Theo pháp luật Việt Nam, các doanh nghiệp cóchế độ TNHH cụ thể gồm: công ty TNHH và CTCP
4 Một số hình thức phân loại khác
Ngoài các cách thức phân loại như trên, còn có một số cách phân loại vàkhái niệm về doanh nghiệp khá đặc thù dù không mấy phổ biến:
Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với
nhau về quản trị, lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanhkhác Nó gồm có các hình thức sau: công ty mẹ - công ty con, tập đoàn kinh tế
Doanh nghiệp nhà nước (“DNNN”) là doanh nghiệp trong đó nhà nước
sở hữu trên 50% vốn điều lệ9 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanhnghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại
Phương Đông
9 Theo Luật Doanh nghiệp 2005 thì DNNN là doanh nghiệp Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ nhưng theo
Trang 9Việt Nam hoặc doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần,sáp nhập, mua lại.
IV KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
Ở Việt Nam, khái niệm “luật doanh nghiệp” hay “pháp luật về doanhnghiệp” đã có từ lâu nhưng thực sự chỉ mới bắt đầu được bàn luận sôi nổi vào nửacuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước và đặc biệt vào đầu những năm 1990, khi ViệtNam bước vào giai đoạn đầu phong trào “Đổi mới” và “mở cửa thị trường”
Năm 1992, Hiến pháp mới được Quốc hội Việt Nam thông qua đã côngnhận quyền tự do kinh doanh của cá nhân, đặt nền móng cơ bản cho việc pháttriển cộng đồng doanh nghiệp trong một nền kinh tế “mở” và “thông thoáng”
1 Luật Công ty 1990 và Luật Sửa đổi một số điều của Luật Công ty 1994
b) Luật sửa đổi một số điều của Luật Công ty năm 1994
Trong số 8 nội dung sửa đổi, Luật sửa đổi một số điều của Luật Công ty
đề cập chủ yếu đến việc tăng quyền hạn cho các cá nhân kinh doanh, các chủ
Trang 10doanh nghiệp trong việc thực hiện quyền đăng ký thành lập công ty Tức là khiđăng ký kinh doanh và bị từ chối một cách không thỏa đáng, các cá nhân thựchiện thành lập công ty có quyền khiếu nại để bảo vệ quyền lợi của mình Về mặtquản lý nhà nước, nếu như Luật Công ty 1990 quy định xin cấp phép thành lậpcông ty được thực hiện tại UBND cấp tỉnh và việc đăng ký kinh doanh của công
ty đó được thực hiện tại trọng tài kinh tế thì với luật sửa đổi, việc đăng ký, cấpphép thành lập công ty được thực hiện tại ủy ban kế hoạch tỉnh, thành phố cấptrung ương Các chế độ quản lý đối với công ty như sửa đổi giấy phép, đăng kýlại ngành nghề, kinh doanh cũng phải được thực hiện tại ủy ban kế hoạch củatỉnh Ngoài ra, luật mới bổ sung quy định về tình trạng phá sản của công ty vàdẫn chiếu việc giải quyết phá sản tới luật phá sản doanh nghiệp
2 Luật Doanh nghiệp Tư nhân 1990 và Luật Sửa đổi một số điều của
Luật Doanh nghiệp Tư nhân 1994
a) Luật Doanh nghiệp Tư nhân 1990
Cùng với sự ra đời của Luật Công ty, Luật DNTN 1990 được Quốc hộithông qua ngày 21/12/1990, là văn bản quan trọng quy định về tổ chức, quản lý
và hoạt động của các DNTN, vốn là thành phần được Đảng và Nhà nước chútrọng phát triển trong tình hình mới, đặc biệt trong giai đoạn đầu khi mới mởcửa và phát triển thị trường Luật DNTN 1990 ra đời cũng cùng với chủ trươngphát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, khuyến khích việc đầu tư kinhdoanh, bảo hộ lợi ích hợp pháp của chủ DNTN; tăng cường hiệu lực quản lýNhà nước đối với các hoạt động kinh doanh với cơ sở nền tảng là quy định tạiHiến pháp năm 1992
b) Luật Sửa đổi một số điều của Luật Doanh nghiệp Tư nhân 1994
Về cơ bản, luật sửa đổi chú trọng đến quy định thay đổi cơ quan quản lý
và cấp phép đối với DNTN để đảm bảo nâng cao chất lượng quản lý Nhà nướcđối với cộng đồng kinh doanh trong thời kì mới mở cửa Cụ thể, cơ quan chịutrách nhiệm đăng ký kinh doanh DNTN được chuyển từ trọng tài kinh tế về cho
Trang 11cơ quan kế hoạch cùng cấp với UBND cấp phép thành lập DNTN Luật sửa đổicũng đề ra cơ chế khiếu nại đối với việc từ chối cấp giấy phép từ phía cơ quanNhà nước, chú trọng vào việc quản lý sát sao hoạt động của các DNTN Nói tómlại, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DNTN năm 1994 chỉ tập trungvào nội dung tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động của DNTN để đảmbảo khối DNTN sẽ phát triển một cách mạnh mẽ trong thời kỳ mới.
3 Luật Doanh nghiệp 1999
Sau gần 9 năm thi hành Luật Công ty năm 1990 và Luật DNTN năm
1990, Luật Doanh nghiệp năm 1999 được Quốc hội Khóa X thông qua ngày12/6/1999, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2000, thay thế Luật Công ty năm 1990
và Luật DNTN năm 1990, quy định chi tiết hơn các loại hình tổ chức kinh tế tưhữu đã có trước đó và bổ sung thêm một loại hình mới là CTHD Luật Doanhnghiệp 1999 cũng lần đầu tiên quy định về hình thức công ty TNHH một thànhviên, nhưng quy định chủ sở hữu của công ty TNHH một thành viên chỉ có thể
là tổ chức Ngoài ra, theo Luật Doanh nghiệp năm 1999 thì CTHD không có tưcách pháp nhân
Luật Doanh nghiệp năm 1999 được ban hành dựa trên cơ sở tiếp thu cóchọn lọc các quy định trong Luật Công ty và Luật DNTN năm 1990 đồng thời
bổ sung và hoàn thiện các chế định trong hai bộ luật này, gộp chung lại để xâydựng một bộ luật chung điều chỉnh hầu hết các loại hình doanh nghiệp ngoàiquốc doanh Luật Doanh nghiệp 1999 bao gồm 10 chương, 124 điều quy định vềthành lập và đăng ký kinh doanh, về công ty TNHH (với hai loại hình là công tyTNHH một thành viên và công ty TNHH hai thành viên trở lên), về CTCP,CTHD, DNTN và tổ chức lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp
Trong Luật Doanh nghiệp 1999, cơ chế quản lý điều hành doanh nghiệpđược quy định rất rõ ràng, bộ máy quản lý bao gồm ĐHĐCĐ, HĐQT, GĐ hay
TGĐ trong CTCP, hay Hội đồng thành viên (“HĐTV”), Chủ tịch HĐTV, GĐ
hay TGĐ trong công ty TNHH Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp 1999 cũng quyđịnh cụ thể về cách thức tiến hành họp ĐHĐCĐ, triệu tập cuộc họp HĐQT, thể
Trang 12thức thông qua quyết định của CTCP, cách thức tiến hành họp HĐTV và tỉ lệbiểu quyết thông qua quyết định trong công ty TNHH Riêng CTHD và DNTNvẫn được phép tự định đoạt về tổ chức và hoạt động của mình do tính chất chịutrách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp.
4 Luật Doanh nghiệp Nhà nước 1995, sửa đổi bổ sung 2003
Bên cạnh việc ban hành các quy định về quản lý doanh nghiệp thuộcthành phần tư nhân, ngày 20/04/1995 Quốc hội Khóa IX đã thông qua LuậtDNNN năm 1995 để quy định cụ thể việc thành lập và quản lý phần vốn của nhànước đầu tư trong các DNNN, mà trước đó mới chỉ được điều chỉnh bởi cácNghị định và hướng dẫn của Chính phủ Các DNNN được tổ chức theo mô hìnhquản lý riêng, không giống như mô hình quản lý của các doanh nghiệp tư nhân
Tiếp tục việc hoàn thiện pháp luật, ngày 26/11/2003 Quốc hội Khóa XI đãthông qua Luật DNNN năm 2003 để thay thế Luật DNNN năm 1995 Về cơ bản,Luật DNNN năm 2003 đã quy định 3 mô hình quản lý của các DNNN bao gồm:(1) Công ty nhà nước, (2) Công ty TNHH nhà nước, và (3) CTCP nhà nước;trong đó, 2 mô hình sau là gần tương đồng với mô hình quản lý của các doanhnghiệp thuộc lĩnh vực tư nhân được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm1999
5 Luật Doanh nghiệp 2005
Luật Doanh nghiệp 1999 tuy được đánh giá là rất thành công, nhưng mớichỉ dừng lại ở việc quản lý và áp dụng đối với các doanh nghiệp ở lĩnh vực tưnhân trong khi các DNNN vẫn hoạt động ở một “sân chơi” riêng và chịu sự quản
lý tách bạch của Luật DNNN năm 2003 Với hướng tiếp cận như vậy, Nhà nước
có chủ trương xây dựng một luật doanh nghiệp chung thay thế cho Luật Doanhnghiệp 1999 để thống nhất quản lý tất cả các loại hình doanh nghiệp, tránh cácquy định rời rạc, tản mát ở rất nhiều các bộ luật khác nhau như Luật Doanhnghiệp, Luật DNNN, Luật Khuyến khích Đầu tư trong nước… Tại kỳ họp thứ 8,
Trang 13Quốc hội khóa XI, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật Doanh nghiệp 2005,
có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006 và bao gồm 10 chương, 172 Điều
Xét một cách tổng quát, Luật Doanh nghiệp 2005 ra đời được coi là mộtbước đột phá mới trong việc xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý cho cộngđồng các doanh nghiệp Trước hết, luật này hướng đến việc hợp nhất các quyđịnh tản mát của Nhà nước quy định về nhiều thành phần doanh nghiệp khácnhau gồm cả doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tư nhân và DNNN, tạo động lực lớncho Việt Nam trong việc thể chế hóa các nguyên tắc cơ bản của Tổ chức Thươngmại thế giới WTO như các nguyên tắc bảo đảm đầu tư, kinh doanh, đối xử quốcgia, công khai, minh bạch tạo ra sân chơi bình đẳng và môi trường pháp lýtrong sạch, lành mạnh
Điểm nhấn quan trọng thứ hai của Luật Doanh nghiệp 2005 là việc mởrộng các quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp Về cơ bản, quyền tự do kinhdoanh của doanh nghiệp được hiểu là quyền của doanh nghiệp được tự chủquyết định các vấn đề trong các hoạt động kinh doanh, đặc biệt là quyền đầu tưkinh doanh và quyền huy động vốn Luật Doanh nghiệp 2005 cho phép cácdoanh nghiệp kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được kinh doanh tất
cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm chứ không chỉ bị giới hạn trong nộidung của giấy phép đầu tư như qui định trong Luật Đầu tư nước ngoài Cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ không bị giới hạn ở một loại hìnhcông ty TNHH mà sẽ được tự do chọn các loại hình doanh nghiệp phù hợp, ví dụCTCP, để có lợi thế về huy động vốn trên thị trường tài chính Luật Doanhnghiệp 2005 cũng tạo ra bước đột phá trong việc “cởi trói” cho các DNNN.Trước đó, nếu như nhà đầu tư tư nhân trong nước và nước ngoài được tự quyết
về công việc kinh doanh của mình thì DNNN vẫn phải chịu ràng buộc hay chiphối bởi sự can thiệp mang tính chất hành chính, chủ quan và thiếu phối hợp củakhông ít cơ quan nhà nước Nhưng kể từ khi có Luật Doanh nghiệp 2005, quyềnkinh doanh của tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần, bao gồm cả
Trang 14DNNN, sẽ được mở rộng, tính tự chủ kinh doanh do đó sẽ đươc nâng cao, việcquản trị sẽ được cải thiện và sẽ ít phải phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước hơn.
PHẦN THỨ HAI GIỚI THIỆU LUẬT DOANH NGHIỆP 2014
I SỰ CẦN THIẾT PHẢI BAN HÀNH LUẬT DOANH NGHIỆP 2014
Theo báo cáo tổng kết thi hành Luật Doanh nghiệp 2005, kể từ khi Luậtnày có hiệu lực thi hành vào 01/01/2006 số lượng doanh nghiệp đăng ký thành
Trang 15lập mới hàng năm luôn tăng so với năm trước Kể từ đầu năm đến hết tháng7/2012, cả nước đã có 46.818 doanh nghiệp thành lập mới10.
Về mặt xây dựng pháp luật, có thể nói rằng Luật Doanh nghiệp năm 2005
là một bước đột phá về thể chế khi lần đầu tiên, tất cả các doanh nghiệp thuộcmọi thành phần kinh tế, có được sân chơi chung, có sự bình đẳng đáng kể trongthành lập, đăng ký, tổ chức và vận hành Luật Doanh nghiệp 2005 cũng tạo điềukiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo cơ hội để Nhà nước thu hútnguồn lớn ngoại tệ từ các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài cho phát triểnkinh tế
Tuy vậy, thực tế cho thấy, việc triển khai thực hiện Luật Doanh nghiệptrong hơn 7 năm qua cũng đã gặp phải không ít vướng mắc, hạn chế đối vớihoàn thiện và nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh nói chung và pháttriển doanh nghiệp nói riêng Những điểm yếu này vô hình chung cản trở sự pháttriển của các doanh nghiệp, làm suy giảm niềm tin của nhà đầu tư, và khôngkhuyến khích, phát huy được hết tiềm lực của các doanh nghiệp trong nền kinh
tế
Thứ nhất, về thành lập doanh nghiệp, mặc dù Luật Doanh nghiệp 2005 đã
cải cách đáng kể quy trình, thủ tục thành lập doanh nghiệp để đổi mới môitrường đầu tư, kinh doanh nhưng những cải cách này chưa triệt để So sánh quốc
tế và khu vực, thủ tục thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam vẫn còn phức tạp, tốnkém về thời gian và chi phí11
Thứ hai, các quy định về vốn của công ty còn có nhiều điểm chưa hợp lý,
quy định về vốn điều lệ của CTCP chưa rõ ràng, cơ chế tăng vốn điều lệ củaCTCP thông qua chào bán cổ phần riêng lẻ chưa được quy định cụ thể; tương tự,quy trình đăng ký giảm vốn điều lệ của CTCP do sụt giảm tài sản còn gặp nhiềukhó khăn dẫn đến bế tắc trong thực hiện
10 Báo cáo tổng kết thi hành Luật Doanh nghiệp 2005, sđd, tr.3
11 Nguồn: http://www.doingbusiness.org/data/exploreeconomies/vietnam/ : Theo cách tính của Ngân hàng thế giới năm 2013, thủ tục khởi sự kinh doanh của nước ta gồm 10 bước với tổng thời gian vào khoảng 34 ngày và được xếp hạng thứ 109 trên 189 quốc gia và nền kinh tế
Trang 16Thứ ba, các quy định về quản trị công ty không phù hợp; các quy định về
triệu tập họp ĐHĐCĐ, HĐQT còn nhiều điểm bất cập, gây lãng phí và tạo phiền
hà cho chính doanh nghiệp trong công tác tổ chức và quản lý của mình
Thứ tư, về bảo vệ các cổ đông, đặc biệt là cổ đông thiểu số, Luật Doanh
nghiệp năm 2005 chưa thể hiện rõ nét đặc tính này Thực tế trong nhiều trườnghợp, quyền lợi của cổ đông thiểu số trong doanh nghiệp bị ảnh hưởng nghiêmtrọng khi họ bị gạt ra khỏi cơ chế giám sát và quản lý doanh nghiệp, trong khiluật chưa đưa ra được quy trình cụ thể để những cổ đông này có thể khởi kiện đểbảo vệ quyền lợi của mình
Thứ năm, các quy định về tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp trong Luật
Doanh nghiệp năm 2005 còn rất sơ sài, khó áp dụng và thiếu tính đồng bộ Cóthể thấy rằng các quy định về sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp mớichỉ được quy định mang tính “định hướng” chứ chưa có hướng dẫn cụ thể đểdoanh nghiệp có thể thực hiện các thủ tục này, chưa đề ra cơ chế chuyển giao tàisản khi chia, tách, hợp nhất, tăng hay giảm vốn điều lệ do tổ chức lại doanhnghiệp Những điểm bất hợp lý này đã phần nào cản trở hoạt động tổ chức lạicủa doanh nghiệp, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện tổchức lại để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh
Thứ sáu, mặc dù là một bộ luật chung áp dụng cho tất cả các loại hình
doanh nghiệp và thay thế cho Luật DNNN nhưng Luật Doanh nghiệp năm 2005lại quy định rất sơ sài về tổ chức, hoạt động và giám sát các DNNN Các đặc thù
về quản lý, điều hành của DNNN chưa được cụ thể hóa trong Luật Doanhnghiệp năm 2005 đã tạo ra một điểm “khuyết” đáng kể, làm giảm hiệu quả ápdụng của bộ luật này Thêm nữa, Luật Doanh nghiệp năm 2005 chưa quy định
về mục đích hoạt động và giới hạn phạm vi ngành, nghề kinh doanh của DNNNphù hợp với vai trò, chức năng của Nhà nước nói chung và DNNN nói riêngcũng như chưa quy định đặc thù tổ chức, hoạt động và quy trình ra quyết địnhđối với HĐTV công ty TNHH 100% vốn của Nhà nước và mối quan hệ giữa cơ
Trang 17quan chủ sở hữu Nhà nước và người đại diện quyền chủ sở hữu Nhà nước tạidoanh nghiệp 12
Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp 2005 còn có các quy định không tươngthích với những văn bản dưới luật, thậm chí, còn mâu thuẫn với các điều ướcquốc tế mà Việt Nam là thành viên Ví dụ, theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật
Doanh nghiệp 2005 thì: “Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế” Quốc hội Việt Nam đã ban hành
Nghị quyết 71/2006/NQ-QH11 để phê chuẩn việc Việt Nam gia nhậpWTO, trong đó quy định rằng: Công ty TNHH, CTCP được quyền quy định
trong Điều lệ công ty các nội dung sau: “Tỉ lệ đa số phiếu cần thiết (kể cả tỷ lệ
đa số 51%) được áp dụng để thông qua các quyết định của HĐTV, ĐHĐCĐ 13 ”.
Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2005 lại quy định tỷ lệ tối thiểu cần có để thôngqua quyết định của HĐTV, ĐHĐCĐ là 65% (khoản 2 Điều 52 và khoản a Điều
104 Luật Doanh nghiệp 2005)
Ngoài các lý do kể trên, cần nhận thấy rằng đến nay tình hình kinh tế - xãhội và môi trường kinh doanh đã có nhiều thay đổi so với thời kỳ ban hành LuậtDoanh nghiệp 2005, cụ thể: nền kinh tế nước ta đã có sự phát triển lên tầm caohơn, mức độ hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam trong thời kỳ này cũngsâu rộng hơn Bối cảnh kinh tế - xã hội nêu trên vừa đặt ra những yêu cầu mớiđối với doanh nghiệp, vừa đòi hỏi Nhà nước phải có môi trường kinh doanh phùhợp để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thành lập, hoạt động có hiệuquả, đồng thời cũng buộc doanh nghiệp tăng cường năng lực cạnh tranh để tồntại và phát triển trong thời kì hội nhập và hợp tác quốc tế và khu vực
II NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG LUẬT
Luật Doanh nghiệp 2014 được xây dựng dựa trên hai nguyên tắc cơ bản:
12 Trích “Tờ trình dự án Luật Doanh nghiệp (sửa đổi)” số 1353/TTr-BKHĐT, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ngày 10 tháng 3 năm 2014
13 Trích “Báo cáo rà soát Luật Doanh nghiệp 2005”, Luật gia Cao Bá Khoát, Công ty tư vấn KAC, Trưởng nhóm nghiên cứu
Trang 18- Kế thừa và phát huy những thành tựu của Luật Doanh nghiệp 1999 vàLuật Doanh nghiệp 2005, đồng thời, khắc phục các hạn chế, bất cập của luậtdoanh nghiệp cũ, từng bước làm tốt vai trò quản lý doanh nghiệp trong thời kỳmới, đặc biệt trong giai đoạn Việt Nam tham gia sâu rộng vào thị trường thếgiới, hòa nhập và cộng đồng kinh doanh khu vực.
- Tiếp tục hiện thực hóa đầy đủ các quyền tự do kinh doanh theo nguyêntắc doanh nghiệp được quyền kinh doanh tất cả các ngành nghề pháp luật khôngcấm và không hạn chế; tạo thuận lợi hơn cho các hoạt động: góp vốn thành lậpdoanh nghiệp, tổ chức quản lý doanh nghiệp, chuyển nhượng vốn và rút khỏi thịtrường của doanh nghiệp Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp 2014 còn tập trungvào thể chế hóa các vấn đề mới phát sinh, để khắc phục những khiếm khuyết củakhung pháp luật cũ Thừa nhận chính thức sự tồn tại về mặt pháp lý của cácdoanh nghiệp xã hội, đồng thời thúc đẩy sự phát triển loại hình doanh nghiệpnày như một phương thức mới giải quyết các vấn đề xã hội
III BỐ CỤC LUẬT DOANH NGHIỆP 2014
Luật Doanh nghiệp 2014 bao gồm 10 Chương với 213 Điều Đối chiếuvới Luật Doanh nghiệp 2005, thì Luật Doanh nghiệp 2014 vẫn giữ nguyên sốlượng các chương, chỉ tăng số lượng điều khoản (từ 172 Điều lên 213 Điều) để
đi sâu quản lý doanh nghiệp một cách chi tiết hơn Luật Doanh nghiệp 2014dành hẳn một chương để quy định về DNNN (Chương IV) trong khi các quyđịnh về quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp được gộp chung vào Chươngcuối về tổ chức thực hiện (Chương X) Luật Doanh nghiệp 2014 được bố cụcnhư sau:
1 Chương I: Những quy định chung (Điều 1 – Điều 17)
Chương này gồm 17 điều, tăng 5 điều so với Luật Doanh nghiệp cũ năm
2005 Điều 4 (giải thích từ ngữ) được Luật Doanh nghiệp năm 2014 đi sâu chitiết hơn, các thuật ngữ được bổ sung bao gồm “địa chỉ thường trú”, “giá thịtrường của phần vốn góp hoặc cổ phần”, “hệ thống thông tin quốc gia về đăng
Trang 19ký doanh nghiệp”, “người thành lập doanh nghiệp”, “nhà đầu tư nước ngoài”,
“tổ chức nước ngoài”, “vốn có quyền biểu quyết”
Các quy định bổ sung mới gồm quy định về quyền và nghĩa vụ của doanhnghiệp cung ứng các sản phẩm dịch vụ công ích (Điều 9), tiêu chí, quyền vànghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội (Điều 10), báo cáo thay đổi thông tin củangười quản lý doanh nghiệp (Điều 12) Đặc biệt, Luật Doanh nghiệp 2014 còn
bổ sung thêm chế định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tạiĐiều 13 cũng như trách nhiệm của họ tại Điều 14 trong khi Điều 15, Điều 16 bổsung quy định về người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu, thành viên, cổđông là tổ chức
2 Chương II: Thành lập doanh nghiệp (Điều 18 – Điều 46)
Nếu như Luật Doanh nghiệp 2005 gộp chung hai nội dung “thành lập
doanh nghiệp” và “đăng ký kinh doanh” trong Chương II thì Luật Doanh nghiệp
2014 chỉ đề cập đến nội dung thành lập doanh nghiệp, vì trong đó đã bao hàmnội dung về đăng ký kinh doanh
Các điều khoản sửa đổi bao gồm Điều 18 (Quyền thành lập, góp vốn, mua
cổ phần, mua phần vốn góp và quản lý doanh nghiệp) Theo đó, Luật Doanhnghiệp 2014 bỏ đối tượng không được thành lập, góp vốn, mua cổ phần, vốngóp và quản lý doanh nghiệp là các đối tượng được quy định trong luật phá sản.Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp 2014 còn làm rõ hơn các trường hợp thế nào là
“thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình” của các cơ quan Nhà nước, đơn vị vũtrang nhân dân sử dụng tài sản Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp Các quyđịnh về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của DNTN (Điều 20), công ty TNHH (Điều21), CTCP (Điều 23) đều được cập nhật, sửa đổi theo hướng giảm thiểu thủ tụchành chính, giảm sức ép về thời gian, chi phí chuẩn bị thành lập doanh nghiệp
Trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp cũng được sửa đổi theohướng rút ngắn thời gian cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
(“GCNĐKDN”) xuống còn 3 ngày (Điều 27) so với trước đây là 10 ngày làm
Trang 20việc Các quy định về công bố thông tin liên quan đến doanh nghiệp như công
bố nội dung đăng ký kinh doanh (Điều 33), cung cấp thông tin về nội dung đăng
ký doanh nghiệp (Điều 34) đều được sửa đổi, bổ sung theo hướng minh bạchhơn Về con dấu doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp 2014 cho phép doanh nghiệpđược tự quyền quyết định về số lượng và hình thức con dấu cũng như cách quản
lý và sử dụng con dấu được cụ thể hóa trong điều lệ của doanh nghiệp (Điều 44)
Các điều khoản mới bổ sung bao gồm quy định về cấp GCNĐKDN (trướcđây vẫn gọi là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp2005), mã số doanh nghiệp (Điều 30) cùng các quy định về tài sản góp vốn(Điều 35, 36, 37) bao gồm cả quyền sở hữu trí tuệ, trình tự, thủ tục chuyểnquyền sở hữu tài sản góp vốn và định giá lại tài sản góp vốn (Luật Doanh nghiệp
2005 chỉ gói gọn quy định về tài sản góp vốn tại Điều 30)
Về tên doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp 2014 cũng bổ sung thêm một quyđịnh về tên chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh của doanhnghiệp tại Điều 41 để chấm dứt tình trạng không có hướng dẫn cụ thể về tên gọicủa các đối tượng này theo luật cũ năm 2005 đồng thời bổ sung luôn quy trình, thủtục thành lập chi nhánh và văn phòng đại diện của doanh nghiệp
3 Chương III: Công ty TNHH (Công ty TNHH hai thành viên trở lên
từ Điều 47 đến Điều 72; Công ty TNHH một thành viên từ Điều 73 đến Điều 87)
Các nội dung sửa đổi ở Chương III bao gồm việc rút ngắn thời gian màthành viên phải nộp khi thành lập công ty xuống còn 90 ngày kể từ ngày đượccấp GCNĐKDN (Điều 48); cho phép công ty áp dụng các thủ tục linh hoạt,giảm tỉ lệ thành viên dự họp bắt buộc phải có để đủ điều kiện triệu tập họpHĐTV nhằm tăng cường khả năng quản trị, điều hành công ty (Điều 59); thừanhận giá trị pháp lý của cuộc họp HĐTV dưới hình thức hội nghị trực tuyếnhoặc phương tiện thông tin tương tự khác (Điều 60) Ngoài ra, một điểm sửa đổiquan trọng của Chương III là luật mới đã quy định rất mềm dẻo về tỉ lệ biểu
Trang 21biểu quyết đối với quyết định thông thường và 65% đối với các quyết định quantrọng, tuy nhiên cho phép doanh nghiệp tự quy định một tỉ lệ cụ thể thấp hơn các
tỉ lệ vừa nêu trong Điều lệ hoạt động của mình Đây là quy định có tính đột phá,khẳng định quyền tự chủ và tự quyết của doanh nghiệp Luật Doanh nghiệp
2014 cũng có các quy định bổ sung chi tiết hơn các quyền của kiểm soát viêngồm tham dự và thảo luận các cuộc họp của HĐTV và cuộc họp khác của công
ty (Điều 82)
Về nội dung bổ sung, Luật Doanh nghiệp 2014 có hai bổ sung đáng chú ýđối với loại hình công ty TNHH một thành viên là (1) Hiệu lực nghị quyết củaHĐTV (Điều 63) và (2) Cơ chế khởi kiện người quản lý (Điều 72) Các nội dungnày thực chất là để cụ thể hóa những quy định tại Nghị định 102/2010/NĐ-CP
về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp 2005 Đối với loạihình công ty TNHH hai thành viên trở lên, Luật Doanh nghiệp 2014 bổ sungthêm nguyên tắc thực hiện quyền chủ sở hữu trong một số trường hợp đặc biệtnhư chủ sở hữu chết, mất tích, bị kết án tù, giải thể hoặc phá sản (Điều 77)
4 Chương IV: DNNN (Điều 88 – Điều 109)
Đây là một Chương hoàn toàn mới trong Luật Doanh nghiệp 2014 Tạichương này, các quy định cơ bản về DNNN được xác định và điều chỉnh loạihình doanh nghiệp đặc thù này Các quy định tại chương này bao gồm: cơ cấu tổchức quản lý, HĐTV, chủ tịch HĐTV, quyền và nghĩa vụ của thành viên trongHĐTV, Chủ tịch công ty, GĐ/TGĐ công ty, BKS và công bố thông tin
5 Chương V: CTCP (Điều 110 – Điều 171)
Tại Chương IV, Luật Doanh nghiệp 2014 sửa đổi mô hình quản trị doanhnghiệp trong CTCP theo đó CTCP có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạtđộng theo một trong hai mô hình: có hoặc không có BKS, dựa trên số lượng cổđông trong công ty (Điều 134) Ngoài ra, các quy định sửa đổi trong Luật Doanhnghiệp 2014 áp dụng đối với CTCP còn cho phép công ty quy định nguyên tắcquản trị doanh nghiệp cụ thể hơn, chi tiết hơn so với Luật Doanh nghiệp 2005
Trang 22hoặc chỉ phải áp dụng quy định của luật nếu điều lệ công ty không có quy địnhkhác, chẳng hạn như áp dụng nguyên tắc bầu dồn phiếu, trình tự, thủ tục triệutập cuộc họp, cách thức biểu quyết tại cuộc họp (các Điều từ 136 đến 142) Về
tỉ lệ biểu quyết thông qua quyết định trong CTCP, Luật Doanh nghiệp 2014 cũnggiảm tỉ lệ yêu cầu bắt buộc xuống còn 51% đối với các quyết định thông thường
và 65% với các quyết định quan trọng (các tỉ lệ tương ứng theo luật cũ là 65%
và 75%)
Luật Doanh nghiệp 2014 bổ sung rất nhiều quy định quan trọng, trong đóphải kể đến các quy định nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của cổđông như: đảm bảo người quản lý phải có trách nhiệm cao đối với công ty (Điều160) hoặc cổ đông có quyền khởi kiện đối với thành viên HĐQT, GĐ/TGĐ củacông ty trong một số trường hợp vi phạm nghĩa vụ quản lý, gây thiệt hại chocông ty (Điều 161)
Ở góc độ quản trị, Luật Doanh nghiệp 2014 bổ sung nhiều quy định nhằmminh bạch hóa CTCP như công khai các lợi ích liên quan trong CTCP (Điều 159)hay công khai thông tin của CTCP (Điều 171) Một quy định bổ sung rất quan trọngnữa đối với CTCP là Luật Doanh nghiệp 2014 đưa thêm quy định về phát hành cổphần riêng lẻ đối với CTCP không phải là công ty đại chúng một cách hợp lý, đơngiản hơn so với các quy định hiện hành (Điều 123)
6 Chương VI: CTHD (Điều 172 – Điều 182)
Chương VI quy định về CTHD trong Luật Doanh nghiệp 2014 không cónhiều biến động so với Luật Doanh nghiệp 2005, chủ yếu sửa đổi bổ sung cácquy định về quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp danh (Điều 176), điều hànhkinh doanh của CTHD (Điều 179), chấm dứt tư cách thành viên hợp danh (Điều180) và quyền, nghĩa vụ của thành viên góp vốn (Điều 182)
7 Chương VII: DNTN (Điều 183 – Điều 187)
Cũng giống như Chương VI quy định về CTHD, Chương VII của LuậtDoanh nghiệp 2014 quy định về DNTN không có biến động nhiều so với luật cũ
Trang 23năm 2005 Nội dung sửa đổi cơ bản chỉ tập trung làm rõ địa vị pháp lý củaDNTN và hạn chế của chủ DNTN khi không được đồng thời làm chủ hộ kinhdoanh hay thành viên CTHD khác (Điều 183).
8 Chương VIII: Nhóm công ty (Điều 188 – Điều 191)
Luật Doanh nghiệp 2014 vẫn giữ nguyên số lượng 4 điều khoản để quy định
về nhóm công ty so với luật cũ năm 2005 Tuy nhiên, khác với luật cũ, vốn chỉ tậptrung giải thích nhóm công ty là gì thì Luật Doanh nghiệp 2014 xác định rõ hơnkhái niệm “Tập đoàn kinh tế” và “tổng công ty” Đây là nhóm các công ty có mốiquan hệ với nhau thông qua sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc liên kết khác màkhông phải là một loại hình doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân, không phảiđăng ký thành lập theo luật doanh nghiệp (Điều 188)
Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp 2014 có bổ sung thêm các quy định vềnhóm các công ty mẹ - công ty con trong đó quy định quan trọng là cấm cáccông ty con của cùng một công ty mẹ không được cùng nhau góp vốn, mua cổphần để sở hữu chéo lẫn nhau (Điều 189) Nhằm làm rõ hơn cơ cấu và mối liên
hệ giữa các công ty con trong cùng một tập đoàn và để đảm bảo tính minh bạchtrong hoạt động của công ty mẹ, công ty con, Luật Doanh nghiệp 2014 cũng bổsung thêm các quy định về quyền và trách nhiệm của công ty mẹ đối với công tycon tại Điều 190 và đưa ra một số yêu cầu về báo cáo tài chính của công ty mẹ,công ty con tại Điều 191
9 Chương IX: Tổ chức lại, giải thể và phá sản doanh nghiệp (Điều 192 – Điều 207)
Ở Chương này, ngoài việc kế thừa các quy định trước đây, Luật Doanhnghiệp 2014 đã tập trung vào việc hoàn thiện các quy định bất cập, thiếu tínhkhả thi khi áp dụng thực tiễn thời gian qua Luật mở rộng đối tượng được quyềnhợp nhất, sáp nhập, chia, tách công ty và cho phép các công ty có cùng bản chất
có thể được hợp nhất, sáp nhập, chia, tách mà không bắt buộc phải có cùng loạihình tổ chức như ở Luật Doanh nghiệp 2005 (Điều 192, 193, 194, 195)
Trang 24Luật Doanh nghiệp 2014 cũng bổ sung các quy định về trình tự, thủ tục,phương thức hợp nhất, sáp nhập, chia, tách doanh nghiệp cũng như quy định chitiết cách thức chuyển đổi công ty và đăng ký kinh doanh lại doanh nghiệp sau khithực hiện các thủ tục này (Điều 196, 197, 198, 199) Bên cạnh đó, Luật Doanhnghiệp 2014 còn quy định chi tiết hơn về các trường hợp, điều kiện giải thể doanhnghiệp, trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp và hướng dẫn doanh nghiệp chuẩn bị
hồ sơ giải thể một cách rất rõ ràng (các Điều 201, 202, 203) Đây cũng là điểm mớitiến bộ của Luật Doanh nghiệp 2014
10 Chương X: Tổ chức thực hiện (Điều 208 – Điều 213)
Theo Luật Doanh nghiệp 2005 thì quy định về quản lý Nhà nước đối vớidoanh nghiệp và quy định về tổ chức thực hiện được tách làm hai chương khácnhau Với Luật Doanh nghiệp 2014, hai chương này được gộp làm một vì về bảnchất toàn bộ Luật Doanh nghiệp đã thể hiện được nội dung quản lý đối vớidoanh nghiệp bao gồm cả việc tổ chức quản lý, tổ chức lại và giải thể doanhnghiệp
Nội dung thay đổi quan trọng nhất ở chương này là là thu hẹp các trườnghợp thu hồi GCNĐKDN so với luật cũ Theo luật mới, chỉ còn 4 trường hợp màdoanh nghiệp bị thu hồi GCNĐKDN so với 8 trường hợp của luật cũ (Điều 211).Các quy định về chuyển đổi DNNN sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp,vốn tồn tại từ Luật Doanh nghiệp 2005 đều bị bãi bỏ do không còn phù hợp
IV NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP 2014
1 Thành lập doanh nghiệp
Thành lập doanh nghiệp là khâu đầu tiên mà chủ doanh nghiệp cần tínhđến trước khi bắt tay vào các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách chínhthức Khi doanh nghiệp thành lập, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phụ tráchhoạt động của doanh nghiệp, sẽ cấp giấy phép thành lập dựa trên bộ hồ sơ xincấp phép của các chủ doanh nghiệp Theo Luật Doanh nghiệp 2014,GCNĐKDN là văn bản pháp lý chứng minh sự ra đời của một doanh nghiệp
Trang 251.1 Quyền thành lập doanh nghiệp
Theo Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014, thì hầu hết các tổ chức, cá nhân đềuđược quyền lập doanh nghiệp, trừ một số đối tượng nhất định bao gồm:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụngtài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơquan, đơn vị mình;
- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, côngchức, viên chức;
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòngtrong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩquan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân ViệtNam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốngóp của Nhà nước tại doanh nghiệp;
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp nhŕ nýớc, trừnhững ngýời đýợc cử lŕm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp củaNhà nước tại doanh nghiệp khác;
- Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bịmất năng lực hành vi dân sự;
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyếtđịnh xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặcđang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhấtđịnh liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theoquy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng
Như vậy những người không được phép thành lập doanh nghiệp có thể chia
ra làm ba nhóm chính: (1) Công chức, viên chức, cán bộ quản lý Nhà nước, (2)
Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong các đơn vị quân đội và công
an, và (3) Những người không đủ các điều kiện nhất định như: chưa đủ tuổi vịthành niên, mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và những người đang bị
Trang 26truy cứu trách nhiệm hình sự, bị phạt tù Những đối tượng không được phépthành lập doanh nghiệp cũng không được phép góp vốn, mua cổ phần, mua phầnvốn góp và quản lý doanh nghiệp.
1.2 Hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp
Hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp là nội dụng, thực chất, được quyđịnh từ Luật Doanh nghiệp năm 1999 và được chỉnh sửa trong Luật Doanhnghiệp 2005 trước khi được hoàn thiện trong Luật Doanh nghiệp 2014 Về cơbản, hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp là thỏa thuận của những người thànhlập doanh nghiệp với những đối tượng có liên quan để phục vụ cho việc thànhlập, hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp(Điều 19)
Như vậy, văn bản thỏa thuận nguyên tắc về thuê địa điểm giữa ngườithành lập doanh nghiệp và chủ địa điểm là hợp đồng trước đăng ký doanhnghiệp Các hợp đồng này mặc dù phục vụ cho hoạt động đăng ký doanh nghiệpnhưng đặc điểm của nó là được thiết lập trước thời điểm doanh nghiệp cóGCNĐKDN Chính vì vậy, nó chỉ ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp nếu,sau khi được thành lập, doanh nghiệp đó kế thừa và tiếp tục thực hiện các nghĩa
vụ mà người thành lập đã thỏa thuận trong hợp đồng đó Trong trường hợpdoanh nghiệp không được thành lập (ví dụ: không được cấp GCNĐKDN) thìnhững người thành lập doanh nghiệp (người đứng tên trong hợp đồng) phải chịutrách nhiệm thực hiện những thỏa thuận mà mình đã ký
1.3 Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp
Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là bộ hồ sơ pháp lý mà người thành lập doanhnghiệp cần phải chuẩn bị để nộp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấpGCNĐKDN Tùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp mà pháp luật có quy địnhkhác nhau về bộ hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp Tuy nhiên, về cơ bản, bộ
hồ sơ đăng ký doanh nghiệp bao gồm các tài liệu sau đây:
- Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp;
Trang 27- Điều lệ công ty;
- Danh sách thành viên hoặc cổ đông sáng lập;
- Giấy tờ chứng thực hợp pháp của các cá nhân, tổ chức thành lập doanh nghiệp Trong bộ hồ sơ này, Giấy đề nghị thành lập doanh nghiệp được làm theo mẫu
mà pháp luật quy định, liệt kê toàn bộ thông tin cần thiết về doanh nghiệp dựkiến thành lập, bao gồm: (1) Tên doanh nghiệp, (2) Địa chỉ trụ sở và các thôngtin liên lạc cần thiết, (3) Ngành, nghề kinh doanh, (4) Vốn điều lệ, (5) Các loại
cổ phần và thông tin về cổ phần (áp dụng cho việc thành lập CTCP), (6) Thôngtin đăng ký thuế, (7) Số lượng lao động, (8) Tên, địa chỉ và giấy tờ chứng thựchợp lệ về chủ DNTN, thành viên CTHD hay người đại diện theo pháp luật đốivới công ty TNHH hay CTCP
Một trong những văn bản quan trọng trong bộ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp làĐiều lệ của công ty Có thể nói, Điều lệ được coi là “luật nội bộ của công ty”quy định về hầu hết các vấn đề quản trị nội bộ cũng như cách thức điều hành cáchoạt động của doanh nghiệp Theo quy định tại Điều 25 Luật Doanh nghiệp
2014, “Điều lệ bao gồm Điều lệ khi đăng ký doanh nghiệp và Điều lệ được sửa đổi, bổ sung trong quá trình hoạt động” Như vậy, ngay khi đăng ký doanh
nghiệp ban đầu, người thành lập doanh nghiệp phải chuẩn bị sẵn một bản Điều
lệ theo quy định tại Điều 25 Luật Doanh nghiệp 2014, với các nội dung chủ yếunhư sau:
- Tên, địa chỉ của trụ sở chính của công ty; tên và địa chỉ chi nhánh và vănphòng đại diện, nếu có;
- Mô tả hoạt động kinh doanh chủ yếu;
- Vốn điều lệ; tổng số cổ phần, loại cổ phần và mệnh giá từng loại cổ phầnđối với công ty cổ phần
- Họ, tên, địa chỉ, quốc tịch và các đặc điểm cơ bản khác của các thành viênhợp danh đối với CTHD; của chủ sở hữu công ty, thành viên đối với công tyTNHH; của cổ đông sáng lập đối với CTCP; phần vốn góp và giá trị vốn góp
Trang 28của mỗi thành viên đối với công ty TNHH và CTHD; số cổ phần, loại cổ phần,mệnh giá cổ phần từng loại của cổ đông sáng lập;
- Quyền và nghĩa vụ của thành viên đối với công ty TNHH, CTHD; của cổđông đối với CTCP;
- Cơ cấu tổ chức quản lý;
- Người đại diện theo pháp luật đối với công ty TNHH, CTCP;
- Thể thức thông qua quyết định của công ty; nguyên tắc giải quyết tranhchấp nội bộ;
- Căn cứ và phương pháp xác định thù lao, tiền lương và thưởng cho ngườiquản lý và Kiểm soát viên;
- Những trường hợp thành viên có thể yêu cầu công ty mua lại phần vốngóp đối với công ty TNHH hoặc cổ phần đối với CTCP;
- Nguyên tắc phân chia lợi nhuận sau thuế và xử lý lỗ trong kinh doanh;
- Các trường hợp giải thể, trình tự giải thể và thủ tục thanh lý tài sản công ty;
- Thể thức sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
Sau khi Điều lệ được cơ quan cấp phép phê duyệt cùng hồ sơ đăng ký doanhnghiệp, chủ doanh nghiệp vẫn hoàn toàn có quyền sửa đổi, bổ sung Điều lệ trongsuốt thời gian hoạt động của doanh nghiệp đề phù hợp với tình hình hoạt động
và quản lý của mình
1.4 Trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp
Theo Điều 27 Luật Doanh nghiệp 2014 thì người thành lập doanh nghiệp cóthể tự mình nộp bộ hồ sơ hoặc ủy quyền cho người khác (tư vấn pháp lý, luật sư )thay mặt mình nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký kinh doanh tạiđịa phương, nơi doanh nghiệp dự định đặt trụ sở chính
Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét tính hợp lệ hồ sơđăng ký doanh nghiệp và cấp GCNĐKDN trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể
Trang 29từ ngày nhận hồ sơ Trường hợp từ chối cấp GCNĐKDN thì phải thông báobằng văn bản cho người thành lập doanh nghiệp biết Thông báo phải nêu rõ lý
do và các yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ Như vậy, thời gian đăng ký doanhnghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014 đã được cải thiện đáng kể so với luật cũ (3ngày so với 10 ngày như trước đây) Điều này giúp cải thiện môi trường đầu tưkinh doanh của Việt Nam, giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí, hạn chế thủ tụchành chính và tiết kiệm thời gian Trong thời gian tới, Chính phủ sẽ quy định chitiết trình tự, thủ tục, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, phối hợp liên thông giữa các
cơ quan trong cấp GCNĐKDN, đăng ký lao động, bảo hiểm xã hội và đăng kýdoanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử
1.5 Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
GCNĐKDN là văn bản do cơ quan có thẩm quyền (cơ quan đăng ký kinhdoanh của địa phương nơi doanh nghiệp dự định đặt trụ sở chính) cấp cho doanhnghiệp, ghi nhận sự “khai sinh” của doanh nghiệp đó Thông thường, pháp luậtquy định doanh nghiệp có tư cách pháp nhân tại thời điểm được cấpGCNĐKDN và được quyền thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, kýhợp đồng và giao dịch với đối tác kể từ thời điểm này
Tuy nhiên, để được cấp GCNĐKDN, doanh nghiệp phải có đủ các điều kiện:(1) Ngành, nghề đăng ký kinh doanh không bị cấm đầu tư kinh doanh, (2) Têncủa doanh nghiệp được đặt đúng quy định (không gây nhầm lẫn, không trùnglặp, không vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹtục ), (3) Có hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ, (4) Nộp đủ lệ phí đăng ký doanhnghiệp Nội dung GCNĐKDK bao gồm các thông tin sau đây:
- Tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp
- Địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp
- Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấychứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác củangười đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đối với công ty TNHH và
Trang 30CTCP; của các thành viên hợp danh đối với CTHD, và của chủ doanh nghiệpđối với DNTN; họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân,Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp kháccủa thành viên là cá nhân và tên, mã số doanh nghiệp và địa chỉ trụ sở chính củathành viên là tổ chức đối với công ty TNHH
- Vốn điều lệ
Theo quy định của pháp luật hầu hết các nước, GCNĐKDN của một công
ty bao hàm đầy đủ nội dung hoạt động kinh doanh của công ty đó Nói cáchkhác, nó là “căn cước” định danh của công ty Do vậy, bất kỳ thay đổi nào đốivới nội dung GCNĐKDN (như thay đổi ngành nghề kinh doanh, thay đổi ngườiđại diện theo pháp luật, thay đổi trụ sở chính…) cũng phải được cơ quan Nhànước rà soát và ghi nhận bằng việc chỉnh sửa các nội dung thay đổi đó trongGCNĐKDN
Theo Điều 31 Luật Doanh nghiệp 2014, thì người đại diện theo pháp luậtcủa doanh nghiệp chịu trách nhiệm đăng ký thay đổi nội dung GCNĐKDN trongthời hạn 10 ngày, kể từ ngày có thay đổi Cơ quan đăng ký kinh doanh có tráchnhiệm kiểm tra tính hợp lệ hồ sơ và cấp GCNĐKDN mới trong thời hạn 03ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ Trường hợp từ chối thì phải thông báo bằngvăn bản cho doanh nghiệp biết; thông báo phải nêu rõ lý do và các yêu cầu sửađổi, bổ sung, nếu có
1.6 Tài sản góp vốn vào doanh nghiệp
Một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu khi thành lập doanh nghiệp
đó là tài sản (vốn) ban đầu để góp vào doanh nghiệp đó Vốn của doanh nghiệp
là tài sản tối cần thiết để doanh nghiệp đó có thể duy trì hoạt động của mình từkhi mới thành lập cho đến khi có khả năng đứng vững về tài chính bằng cácnguồn thu từ hoạt động của mình
Theo Luật Doanh nghiệp 2014, “Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu
Trang 31trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng tiền Việt Nam.” Như vậy, bất kỳ loại tài sản góp vốn nào cũng phải định giá sang
đồng Việt Nam và được ghi nhận vào sổ sách kế toán của doanh nghiệp Các loạitài sản này có thể ở dạng hữu hình như nhà đất, xe cộ, tiền, vàng nhưng cũng cóthể ở dạng vô hình như quyền sở hữu trí tuệ Điều 35 Luật Doanh nghiệp 2014
quy định “Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn.”
Song song với việc quy định khá kỹ lưỡng về khái niệm “Tài sản gópvốn”, điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2014 còn ở chỗ luật quy định khá chitiết về chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn và định giá tài sản góp vốn Đây làcác nội dung chưa được quy định hoặc quy định chưa đầy đủ trong Luật Doanhnghiệp cũ năm 2005
Về chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn, luật quy định những thành viên
công ty TNHH, cổ đông CTCP phải chuyển quyền sở hữu tài sản mà mình cócho công ty để ghi nhận tài sản đó là tài sản mà họ góp vào trong công ty Nếutài sản yêu cầu phải đăng ký quyền sở hữu như nhà đất, xe cộ thì chủ sử dụnghay sở hữu các tài sản này phải đăng ký lại tài sản dưới tên công ty Nếu tài sảnkhông yêu cầu đăng ký quyền sở hữu như máy móc, thiết bị hay công cụ sảnxuất thì việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn
có xác nhận bằng biên bản Riêng tài sản được sử dụng vào hoạt động kinhdoanh của chủ DNTN không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu do tính chấtchịu trách nhiệm vô hạn về tài sản của DNTN
Về việc định giá tài sản góp vốn, Luật quy định tài sản góp vốn không
phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên,
cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá và được thể hiệnthành Đồng tiền Việt Nam Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải
Trang 32được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí hoặc domột tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá Trường hợp tổ chức định giáchuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được đa số các thànhviên, cổ đông sáng lập chấp thuận Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động dochủ sở hữu, HĐTV đối với công ty TNHH và CTHD, HĐQT đối với CTCP vàngười góp vốn thoả thuận định giá hoặc do một tổ chức định giá chuyên nghiệpđịnh giá Trường hợp tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sảngóp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận Trường hợp nếutài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thìngười góp vốn, chủ sở hữu, thành viên HĐTV đối với công ty TNHH và CTHD,thành viên HĐQT đối với CTCP cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữagiá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc địnhgiá; đồng thời, liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do việc cố ý định giátài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.
Trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tạithời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêmbằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốntại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệthại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế
2 Công ty trách nhiệm hữu hạn
Cùng với CTCP và DNTN thì công ty TNHH là một trong ba loại hìnhdoanh nghiệp phổ biến nhất tại Việt Nam hiện nay Công ty TNHH có các đặcđiểm như sau:
- Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp GCNĐKDN Chủ sởhữu công ty và công ty là hai thực thể pháp lý riêng biệt Trước pháp luật, công
ty là pháp nhân, chủ sở hữu công ty là thể nhân với các quyền và nghĩa vụ tươngứng với quyền sở hữu công ty
Trang 33- Công ty chịu TNHH Thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ vànghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn cam kết góp vào công ty.
- Công ty TNHH không được quyền phát hành cổ phần để huy động vốn
- Với bản chất là công ty dạng “đóng”, việc chuyển nhượng vốn góp củathành viên công ty TNHH bị hạn chế, các thành viên công ty TNHH khi muốnchuyển nhượng vốn góp trước hết phải ưu tiên chuyển nhượng cho các thànhviên khác của công ty
- Trên bảng hiệu hóa đơn chứng từ và các giấy tờ giao dịch khác của công
ty phải ghi rõ tên công ty kèm
Theo Luật Doanh nghiệp 2014, công ty TNHH được chia làm hai loạihình căn cứ vào quy mô và số lượng chủ sở hữu công ty, là (1) Công ty TNHHhai thành viên trở lên và (2) Công ty TNHH một thành viên
2.1 Công ty TNHH hai thành viên trở lên
Theo tại Điều 47 Luật Doanh nghiệp 2014, công ty TNHH hai thành viên
trở lên là doanh nghiệp trong đó: (a) Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá 50; (b) Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp; (c) Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo trình tự, thủ tục nhất định.
Trang 34Mức vốn góp cũng là căn cứ để phân chia lợi nhuận hoặc để chia sẻ các rủi ro,thua lỗ giữa các thành viên trong công ty
Nếu như trước đây, các thành viên trong công ty TNHH được phép gópvốn trong thời hạn tối đa là 36 tháng kể từ ngày được cấp GCNĐKDN thì vớiLuật mới năm 2014 lần này, khoảng thời gian góp vốn của các thành viên đãđược giảm thiểu rất đáng kể: chỉ còn lại 90 ngày, kể từ ngày được cấpGCNĐKDN Lý do cho việc giảm thời hạn góp vốn của các thành viên trongcông ty TNHH là vì theo thực tiễn rà soát quá trình thi hành Luật Doanh nghiệp
2005 thì quy định cho phép thành viên công ty TNHH góp vốn trong 36 thángkhông khả thi, làm giảm khả năng hoàn thành nghĩa vụ góp vốn, ảnh hưởng đếnquá trình hoạt động của doanh nghiệp Chính vì vậy, lần này, Luật Doanh nghiệp
2014 đã siết chặt hơn nghĩa vụ góp vốn của công ty TNHH Sau thời hạn gópvốn 90 ngày mà thành viên công ty TNHH chưa góp hoặc chưa góp đủ số vốn
đã cam kết góp thì được xử lý như sau:
- Thành viên chưa góp vốn theo cam kết đương nhiên không còn là thànhviên của công ty;
- Thành viên chưa thanh toán đủ phần vốn góp như đã cam kết có cácquyền tương ứng với phần vốn góp đã được thanh toán;
- Phần vốn góp chưa được thanh toán của các thành viên được chào bántheo quyết định của HĐTV
Sau thời hạn 90 ngày theo quy định phải góp đủ vốn đăng ký mà các thànhviên chưa góp hoặc góp không đủ, công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ
và tỉ lệ góp vốn của mỗi thành viên bằng với số vốn góp thực tế Nếu các thànhviên công ty góp đủ số vốn cam kết đóng vào công ty, thì công ty phải cấp Giấychứng nhận phần vốn góp cho thành viên tương ứng với giá trị phần vốn đã góp.Giấy chứng nhận phần vốn góp phải có đầy đủ các thông tin về công ty, về thànhviên góp vốn có xác nhận của người đại diện theo pháp luật của công ty
2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của thành viên công ty
Trang 35Về cơ bản, thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên là một trongnhững đồng sở hữu công ty cùng với các thành viên khác Tuy nhiên, quyền lợicủa mỗi thành viên được giới hạn trong số vốn mà thành viên đó góp vào công
ty Số vốn càng cao thì quyền lợi càng lớn và ngược lại, số vốn càng ít thì quyềnlợi càng nhỏ Theo Điều 50 Luật Doanh nghiệp 2014 thì thành viên công ty cócác quyền sau:
- Có quyền tham gia quản lý điều hành công ty (thể hiện qua việc đượctham gia vào các phiên họp, thảo luận, cho ý kiến, biểu quyết các vấn đề thuộcthẩm quyền của HĐTV);
- Có quyền biểu quyết ra quyết định, trong trường hợp này, thành viên có sốphiếu biểu quyết tương đương với phần vốn góp;
- Có quyền được chia lợi nhuận và chia giá trị tài sản còn lại của công ty;
- Có các quyền ưu tiên góp thêm vốn khi công ty tăng vốn điều lệ;
- Có quyền chuyển nhượng, định đoạt số phận số vốn góp của mình theocác hình thức tặng, cho;
- Có quyền khởi kiện các nhân sự lãnh đạo của công ty nếu hành vi củanhững người này gây thiệt hại cho công ty;
Ngoài ra thành viên công ty cũng có một số quyền khác liên quan đếnquản lý, điều hành công ty như triệu tập họp HĐTV, kiểm tra, xem xét, trích lục,sao chép sổ sách kế toán, báo cáo tài chính của công ty, yêu cầu tòa án hủy bỏnghị quyết của HĐTV nếu trình tự, thủ tục, điều kiện cuộc họp hoặc nội dungcủa nghị quyết đó không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc Điều lệ củacông ty
Về mặt nghĩa vụ, thành viên của công ty TNHH có nghĩa vụ tương ứngvới số vốn góp của họ trong công ty Tức là số vốn của họ trong công ty là baonhiêu thì nghĩa vụ về tài sản của họ trong công ty cũng tương ứng với số vốn đó
Số vốn càng nhiều thì nghĩa vụ càng cao và ngược lại, số vốn càng ít thì nghĩa
Trang 36vụ càng nhỏ Theo Điều 51 Luật Doanh nghiệp 2014 thì thành viên công tyTNHH hai thành viên trở lên có các nghĩa vụ sau đây:
- Góp đầy đủ và đúng hạn số vốn cam kết góp;
- Không được rút vốn ra khỏi công ty dưới mọi hình thức trừ một vài trườnghợp như mua lại, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế vốn góp cho người khác;
- Tuân thủ Điều lệ công ty và nghị quyết, quyết định của công ty;
Ngoài ra, các thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên còn phải chịutrách nhiệm cá nhân khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhân danh công ty,hoặc tiến hành các hoạt động không nhằm phục vụ lợi ích của công ty gây thiệthại cho người khác
2.1.3 Mua lại và chuyển nhượng vốn góp
Khi thành viên góp vốn vào công ty, số tiền đó đương nhiên sẽ được sửdụng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay cung ứng dịch vụ của công
ty Thành viên công ty không được rút vốn ra khỏi công ty theo ý chí của riêngmình, trừ trường hợp thành viên đó không đồng tình với công ty về một sốtrường hợp cá biệt hoặc thành viên đó chuyển nhượng phần vốn góp của mìnhcho người khác
Theo Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2014, thành viên có quyền yêu cầu công tymua lại phần vốn góp của mình, nếu thành viên đó bỏ phiếu không tán thành đốivới quyết định của HĐTV về các vấn đề sau đây:
- Sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều lệ công ty liên quan đến quyền
và nghĩa vụ của thành viên, HĐTV;
- Tổ chức lại công ty;
- Các trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty
Như vậy, khi công ty có biến động lớn như tổ chức lại hoạt động hoặc sửađổi các nội dung Điều lệ làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của thành viên,thì bất kỳ thành viên nào cũng có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp
Trang 37của mình Về nguyên tắc, công ty sẽ mua lại phần vốn góp của thành viên yêucầu công ty mua lại phần vốn góp của mình theo giá thỏa thuận, nếu không thỏathuận được thì giá chuyển nhượng được xác định theo giá thị trường hoặc theocách thức định giá ghi trong Điều lệ
Trường hợp công ty không mua lại, số vốn góp đó có thể được chào báncho thành viên khác trong công ty hoặc bất kỳ người thứ ba nào không phảithành viên của công ty Mặc dù pháp luật quy định: việc bán và mua lại vốn gópcủa thành viên theo Điều 52 kể trên là quyền của thành viên trong công ty nhưnglại không phải nghĩa vụ bắt buộc của công ty Do vậy, nếu công ty không thựchiện mua lại số vốn góp đó và thành viên yêu cầu chuyển nhượng vốn gópkhông tìm được người mua là thành viên khác trong công ty hay bên thứ ba, thìđương nhiên thành viên đó vẫn phải tiếp tục nắm giữ vốn trong công ty
Công ty TNHH hai thành viên trở lên là một dạng công ty “đóng”, tức làloại công ty phải chịu ràng buộc bởi một số hạn chế nhất định, chẳng hạn nhưchuyển nhượng vốn Theo Luật Doanh nghiệp 2014, thành viên công ty đượcphép chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho ngườikhác nhưng phải, trước tiên, chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lạitheo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện.Nếu các thành viên khác không mua hoặc không mua hết số vốn góp chào bántrong vòng 30 ngày kể từ ngày chào bán thì thành viên chuyển nhượng mớiđược phép chào bán phần vốn góp của mình cho các bên thứ ba không phải làthành viên của công ty Các điều kiện chuyển nhượng dành cho bên thứ ba phảitương tự như các điều kiện áp dụng khi chào bán cho các thành viên trong công
ty, không được thuận lợi hơn Trường hợp việc chuyển nhượng dẫn đến chỉ cònmột thành viên, thì công ty phải đăng ký lại dưới hình thức công ty TNHH mộtthành viên do không đủ điều kiện để duy trì hình thức pháp lý là công ty TNHHhai thành viên trở lên
Trang 38Các quy định về cơ cấu tổ chức quản lý của công ty TNHH hai thành viêntrở lên theo Luật Doanh nghiệp 2014 không có gì thay đổi so với các luật cũ, cụthể bao gồm: HĐTV, chủ tịch HĐTV, GĐ/TGĐ Với các công ty có từ 11 thànhviên trở lên thì việc thành lập BKS là điều bắt buộc trong khi công ty có ít hơn
11 thành viên có thể lựa chọn thành lập hay không thành lập BKS
Sơ đồ minh họa cơ cấu tổ chức của công ty TNHH hai thành viên trở lên a) Hội đồng thành viên
HĐTV là cơ quan quyết định cao nhất của công ty TNHH hai thành viên trởlên, bao gồm toàn bộ các thành viên của công ty Điều lệ công ty quy định cụ thểđịnh kỳ họp HĐTV, nhưng ít nhất mỗi năm phải họp một lần Quyền hạn vànghĩa vụ của HĐTV được Luật Doanh nghiệp 2014 quy định và được cụ thể hóatrong Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty Cụ thể, các quyền và nghĩa vụcủa HĐTV bao gồm:
- Quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hằng năm củacông ty;
- Quyết định tăng hoặc giảm vốn điều lệ, quyết định thời điểm và phương
Trang 39- Quyết định dự án đầu tư phát triển của công ty;
- Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và chuyển giao côngnghệ; thông qua hợp đồng vay, cho vay, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công bốgần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn quy định tại Điều
lệ công ty;
- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch HĐTV; quyết định bổ nhiệm, miễnnhiệm, bãi nhiệm, ký và chấm dứt hợp đồng đối với GĐ/TGĐ, Kế toán trưởng
và người quản lý khác quy định tại Điều lệ công ty;
- Quyết định mức lương, thưởng và lợi ích khác đối với Chủ tịch HĐTV,GĐ/TGĐ, Kế toán trưởng và người quản lý khác quy định tại Điều lệ công ty;
- Thông qua báo cáo tài chính hằng năm, phương án sử dụng và phân chialợi nhuận hoặc phương án xử lý lỗ của công ty;
- Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty;
- Quyết định thành lập công ty con, chi nhánh, văn phòng đại diện;
- Sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
- Quyết định tổ chức lại công ty;
- Quyết định giải thể hoặc yêu cầu phá sản công ty;
- Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định Điều lệ công ty
Như vậy, HĐTV là cơ quan quản lý điều hành hầu hết các hoạt động củacông ty nhưng các hoạt động này là các hoạt động cơ bản, mang tính định hướng
và chiến lược
b) Chủ tịch Hội đồng thành viên
Chủ tịch HĐTV là người điều hành, chủ trì các cuộc họp của HĐTV và làngười được HĐTV lựa chọn trong số các thành viên Chủ tịch HĐTV có thể
Trang 40kiêm luôn chức vụ GĐ hoặc TGĐ của công ty Theo quy định tại Điều 57 LuậtDoanh nghiệp, chủ tịch HĐTV có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
- Chuẩn bị hoặc tổ chức việc chuẩn bị chương trình, kế hoạch hoạt độngcủa HĐTV;
- Chuẩn bị hoặc tổ chức việc chuẩn bị chương trình, nội dung, tài liệu họpHĐTV hoặc để lấy ý kiến các thành viên;
- Triệu tập và chủ trì cuộc họp HĐTV hoặc tổ chức việc lấy ý kiến cácthành viên;
- Giám sát hoặc tổ chức giám sát việc thực hiện các quyết định của HĐTV;
- Thay mặt HĐTV ký các quyết định của HĐTV;
- Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp vàĐiều lệ công ty
Nhiệm kỳ của Chủ tịch HĐTV không quá 05 năm và có thể được bầu lạivới số nhiệm kỳ không hạn chế Trường hợp vắng mặt hoặc không đủ năng lực
để thực hiện các quyền và nhiệm vụ của mình, thì Chủ tịch HĐTV ủy quyềnbằng văn bản cho một thành viên thực hiện các quyền và nhiệm vụ của mình.Trường hợp không có thành viên được ủy quyền thì một trong số các thành viênHĐTV triệu tập họp các thành viên còn lại bầu một người trong số các thànhviên tạm thời thực hiện quyền và nhiệm vụ của Chủ tịch HĐTV theo nguyên tắc
đa số quá bán
c) Giám đốc/ Tổng Giám đốc
Như trên đã trình bày, HĐTV mặc dù là cơ quan có quyền quyết định caonhất trong công ty nhưng lại không phải cơ quan phụ trách, điều hành các hoạtđộng sản xuất kinh doanh hay cung ứng dịch vụ hàng ngày của công ty Để đảmbảo các hoạt động này, công ty cần có một GĐ hay TGĐ đứng ra chỉ đạo và điềuphối công việc GĐ hay TGĐ chịu trách nhiệm trước HĐTV về việc thực hiện