1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN KINH tế CHÍNH TRỊ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH và PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT về DOANH NGHIỆP ở VIỆT NAM

26 443 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 168,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nền kinh tế nào bao giờ cũng biểu hiện thông qua các đơn vị, các loại hình tổ chức kinh tế nhất định, với nhiều loại hình đa dạng và phong phú. Trong đó doanh nghiệp là hình thức phổ biến nhất, chung nhất, được ví như là tế bào cơ bản cấu thành nền kinh tế quốc dân thống nhất. Đối với nền kinh tế Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ, đặc biệt kể từ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới thì vấn đề doanh nghiệp trở thành trung tâm cần giải quyết trong quá trình quản lý, duy trì, tổ chức hoạt động của nền kinh tế. Trong thực tế doanh nghiệp ngày càng trở thành lực lượng vật chất quan trọng cấu thành và quết định đến hiểu quả, chất lượng hoạt động của nền kinh tế nước nhà. Để doanh nghiệp hoạt động có hiểu quả, phục vụ đắc lực cho mục tiểu phát triển kinh tế, cần phải có những cơ chế, chính sách, qui định…

Trang 1

MỞ ĐẦU

Nền kinh tế nào bao giờ cũng biểu hiện thông qua các đơn vị, các loạihình tổ chức kinh tế nhất định, với nhiều loại hình đa dạng và phong phú.Trong đó doanh nghiệp là hình thức phổ biến nhất, chung nhất, được ví như là

tế bào cơ bản cấu thành nền kinh tế quốc dân thống nhất Đối với nền kinh tếViệt Nam cũng không phải là ngoại lệ, đặc biệt kể từ khi nước ta thực hiệncông cuộc đổi mới thì vấn đề doanh nghiệp trở thành trung tâm cần giải quyếttrong quá trình quản lý, duy trì, tổ chức hoạt động của nền kinh tế Trong thực

tế doanh nghiệp ngày càng trở thành lực lượng vật chất quan trọng cấu thành

và quết định đến hiểu quả, chất lượng hoạt động của nền kinh tế nước nhà Đểdoanh nghiệp hoạt động có hiểu quả, phục vụ đắc lực cho mục tiểu phát triểnkinh tế, cần phải có những cơ chế, chính sách, qui định…về cách thức thànhlập, tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, phá sản…Tổng hợp các qui định,các chính sách, cơ chế đó được biểu hiện tập trung nhất qua các văn băn phápluật về doanh nghiệp, mà cụ thể, trực tiếp nhất là pháp luật về doanh nghiệp.Việc nắm được quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về doanhnghiệp của nước ta, đặc biệt là trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa rất quan trong trong nhận thức cáchiện tượng, các quá trình kinh tế xã hội đang diễn ra Đồng thời nhận thứcđược các vấn đề liên quan đến quá trình phát triển của doanh nghiệp trong quátrình xây dựng đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Xuất phát từ ý nghĩa đó,

tác giả chọn vấn đề “Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về doanh

ở Việt Nam ” làm chủ đề tiểu luận của mình sau khi được nghiên cứu học tập

môn “Luật kinh tế” Trong phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu và yêu cầu học tập,tác giả trình bày chủ đề tiểu luận thông qua các nội dung cụ thể sau:

1 Doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp

2 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam

3 Những điểm mới và bất cập của luật doanh nghiệp 2005 được rút rathông qua thực tiễn thi hành

Trang 2

NỘI DUNG

1 Doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp.

Khi bàn về doanh nghiệp có nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau tùyvào góc độ tiếp cận và mục đính nghiên cứu Theo quan điểm của nhà tổ chức:Doanh nghiệp là tổng thể các phương tiện, máy móc, thiết bị và con ngườiđược tổ chức lại nhằm đạt được một mục đích.Theo quan điểm mục tiêu cơbản cho mọi hoạt động của mọi doanh nghiệp là lợi nhuận: Doanh nghiệp làmột tổ chức sản xuất, thông qua đó, trong khuôn khổ một số tài sản nhất địnhngười ta kết hợp nhiều yếu tố sản xuất khác nhau nhằm tạo ra sản phẩm vàdịch vụ để bán trên thị trường nhằm thu về một khoản chênh lệch giữa giáthành và giá bán sản phẩm.Theo quan điểm chức năng: Doanh nghiệp là mộtđơn vị sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện một, hoặc một số, hoặc tất cả cáccông đoạn trong quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, hoặc thựchiện các nhiệm vụ nhằm mục đích sinh lãi Theo quan điểm lý thuyết hệthống: Doanh nghiệp là một bộ phận hợp thành trong hệ thống kinh tế, mỗiđơn vị trong hệ thống đó phải chịu sức tác động tương hỗ lẫn nhau, phải tuânthủ những điều kiện hoạt động mà nhà nước đặt ra cho hệ thống kinh tế đónhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng của xã hội

Dưới góc độ pháp luật doanh nghiệp thì thống nhất nhận thức vềdoanh nghiệp là: Doanh nghiệp là thành tố cơ bản của hệ thống kinh tế - xãhội Bản chất của doanh nghiệp là những thực thể kinh tế - xã hội, có tư cáchchủ thể pháp lý độc lập, có chức năng chủ yếu là hoạt động kinh doanh Trongđiều kiện kinh tế thị trường, doanh nghiệp là chủ thể chủ yếu của quan hệpháp luật kinh doanh Ở nước ta, Điều 4, Khoản 1 Luật doanh nghiệp năm

2005 quy định: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ

sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luậtnhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

Trong nền kinh tế, doanh nghiệp tồn tại dưới nhiều hình thức, đa dạng

và phong phú ở trong nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề kinh doanh khác

Trang 3

nhau Để thực hiện có hiệu quả công tác quản lý và kịp thời có những cơ chếchính sách cho phù hợp với đặc điểm của từng doanh nghiệp cụ thể thì chúng

ta phải tiến hành phân loại doanh nghiệp Về lý thuyết cũng như thực tiễn cóthể phân loại doanh nghiệp theo những dấu hiệu khác nhau

Nếu xét từ dấu hiệu sở hữu (tính chất sở hữu của những vốn và tài sảnđược sử dụng để thành lập doanh nghiệp - sở hữu vốn) Doanh nghiepj ở nước

ta có thể chia doanh nghiệp thành các loại doanh nghiệp sau: Doanh nghiệpnhà nước, Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp tập thể, Doanh nghiệp củacác tổ chức chính trị - xã hội, Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thànhviên trở lên, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Công ty cổ phần,Công ty hợp danh

Nếu xem xét theo dấu hiệu về phương thức đầu tư vốn, có thể chiadoanh nghiệp thành: Doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước, Doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài (bao gồm doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp100% vốn nước ngoài)

Theo luật doanh nghiệp năm 2005 quy định bốn loại hình doanhnghiệp cơ bản hoạt động tại Việt Nam Đó là: công ty TNHH, công ty cổ

phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân

Theo Điều 141 Luật doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp tư nhân làdoanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tàisản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Từ quy định trên chúng tathấy doanh nghiệp tư nhân gồm những đặc điểm cơ bản sau:

Một là: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân đầu tư

vốn thành lập và làm chủ Chủ sở hữu tài sản của doanh nghiệp là một cánhân Bởi vậy mà chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định nhữngvấn đề liên quan tới quản lý doanh nghiệp, thuê người khác điều hành ( trongtrường hợp này phải khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh và vẫn phải

Trang 4

chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của doanh nghiệp), có quyền cho thuê toàn

bộ doanh nghiệp, bán doanh nghiệp, tạm ngừng hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp theo quy định của pháp luật

Hai là: Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân bởi vì tài sản

của doanh nghiệp không tách bạch rõ ràng với tài sản của chủ doanh nghiệp Tàisản mà chủ doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tưnhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp

Ba là: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô

hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp

Công ty Trách nhiệm hữu hạn ( TNHH ).

Công ty TNHH hai thành viên trở lên Công ty trách nhiệm hữu hạn

hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây;Hình thức sở hữu của công ty là thuộc hình thức sở hữu chung của các thành

viên công ty; Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng

thành viên mỗi công ty không ít hơn hai và không vượt quá năm mươi; Công

ty không được quyền phát hành cổ phần; Công ty là doanh nghiệp có tư cáchpháp nhân và chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sảnkhác của doanh nghiệp

Công ty TNHH một thành viên Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây: Chủ sở hữu công ty phải là

một tổ chức hoặc cá nhân và có thể là: Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang,các pháp nhân của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xãhội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các loại doanh nghiệp, các tổ chức khác theo

quy định của pháp luật Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ

hoặc một phần vốn điểu lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác theo quy định về

chuyển đổi doanh nghiệp Công ty không được phát hành cổ phần Công ty có

Trang 5

tư cách pháp nhân và chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm hữu hạn đối với kếtquả kinh doanh của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.

Công ty cổ phần

Công ty cổ phần là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây:Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cổ đông cóthể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế tốiđa.Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy độngvốn, theo quy định của pháp luật về chứng khoán Công ty cổ phần có tư cáchpháp nhân và là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn, cổ đông của công tychỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanhnghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp

Công ty hợp danh

Công ty hợp danh là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây:Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh còn cóthành viên góp vốn Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyênmôn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản củamình về các nghĩa vụ của công ty ( Trách nhiệm vô hạn ) Thành viên góp vốnchỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã gópvào công ty Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân Công ty hợp danh khôngđược phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào Như vậy, công ty họp danh có hailoại: Công ty hợp danh mà tất cả các thành viên đều là thành viên hợp danh vàcông ty hợp danh có cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn

2 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về doanh nghiệp

ở Việt Nam.

Do điều kiện kinh tế xã hội và đặc điểm lịch sử của đất nước có nhiềubiến động thăng trầm Chịu sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện, biến

Trang 6

động của tình hình kinh tế chính trị trên thế giới và ảnh hưởng sâu sắc bởi xuthế quốc tế hóa, toàn cầu hóa về kinh tế Ở trong nước những thay đổi có tínhbước ngoặc trong tuy duy quản lý kinh tế xã hội và sự phát triển mạnh mẽ củacác loại hình doanh nghiệp đã tác động trược tiếp đến quá trình hình thành vàphát triển pháp luật về doanh nghiệp Từ đặc điểm đó, có thể phân chia quátrình hình thành và phát triển pháp luật về doanh nghiệp ở nước ta thành haigiai đoạn chính Giai đoạn trước đổi mới và giai đoạn đổi mới, xây dựng nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.

Pháp luật về doanh nghiệp trong giai đoạn trước đổi mới 1985)

(1945-Từ khi dành độc lập đến 1985, đất nước ta vừa phải kháng chiến đánhđuổi hai đế quốc lớn và Pháp và Mỹ, thực hiện hai cuộc chiến tranh biên giớibảo vệ Tổ quốc, thực hiện nghĩa vụ quốc tế giúp nước bạn Cămpuchia thoátkhỏi nạn diệt chủng, các thế lực thù địch bao vây cấm vận, vừa phải xây dựng

và phát triển nền kinh tế Trong giai đoạn này vấn đề nổi trội, chủ đạo nhất, phổbiến nhất ở nước ta là phát triển kinh tế quốc doanh được ưu tiên đặc biệt Kinh

tế quốc doanh được phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốcdân Để phát triển kinh tế quốc doanh chúng ta đã thành lập rất nhiều doanhnghiệp nhà nước Vấn đề địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhà nước đã đượcĐảng và Nhà nước ta quan tâm thích đáng Ngay sau cách mạng Tháng Támthành công, chúng ta đã có các văn bản pháp luật về doanh nghiệp nhà nước

Văn bản pháp luật đầu tiên về doanh nghiệp nhà nước là Sắc lệnh số104/SL do Chủ tịch nước ban hành ngày 01/01/1948 Sắc lệnh này khẳng địnhdoanh nghiệp quốc gia thuộc sở hữu quốc gia do Nhà nước quản lý Nhiệm vụcủa xí nghiệp quốc gia là sản xuất ra nhiều sản phẩm để đáp ứng nhu cầu củanền kinh tế, điều phối các hoạt động kinh tế trong nước; bảo vệ kinh tế và tăngthêm tài chính quốc gia…

Trang 7

Ngày 25/02/1949, Chủ tịch nước ký Sắc lệnh số 09/SL bổ sung Sắclệnh số 104/SL về việc thành lập xí nghiệp quốc doanh Để triển khai hai sắclệnh đó, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Điều lệ tạm thời về xí nghiệp quốcgia theo Nghị định số 214/TTg ngày 31/10/1952 Điều lệ này đã xác định vaitrò chủ đạo của xí nghiệp quốc doanh trong nền kinh tế nước ta, xác định xínghiệp quốc doanh là pháp nhân và có trách nhiệm trước bộ chủ quản về thựchiện kế hoạch và quản lý tài sản nhà nước.

Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Nhà nước ta bắt đầu chínhthức triển khai thực hiện những nguyên tắc và phương pháp quản lý kinh tế xãhội chủ nghĩa Vì vậy, ngày 04/4/1957, Thủ tướng Chính phủ đã ban hànhQuyết định số 130/TTg về việc thi hành từng bước chế độ hạch toán kinh tế

để tăng cường việc quản lý kinh doanh của xí nghiệp quốc doanh nhằm từngbước thi hành chế độ hạch toán kinh tế để sản xuất

Trong những năm 60, trong hoàn cảnh chiến tranh, Đảng và Nhà nước

ta không có điều kịên để thực hiện những quy định có tính nguyên tắc trên.Mãi tới những năm 70, chúng ta mới có dịp quan tâm cải tiến công tác quản lýkinh tế ở xí nghiệp quốc doanh Ngày 09/01/1971, Thủ tướng Chính phủ raChỉ thị số 11/TTg về ổn định sản xuất và cải tiến quản lý xí nghiệp quốcdoanh Tuy nhiên năm 1976 những quy định này mới được áp dụng thốngnhất ở tất cả các xí nghiệp quốc doanh

Như vậy, để quản lý doanh nghiệp thời kỳ này, Nhà nước ta đã banhành nhiều văn bản pháp luật xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhànước nhưng những văn bản đó còn rất sơ sài, thiếu đồng bộ và một số văn bảnchỉ có giá trị tạm thời Thời kỳ này, Đảng và Nhà nước còn ban hành nhiềuchủ trương và quy định về quản lý xí nghiệp quốc doanh như Điều lệ xínghiệp công nghiệp quốc doanh kèm theo Nghị định số 93/CP và Điều lệ liênhiệp các xí nghiệp kèm theo Nghị định số 302/CP ngày 10/12/1977 của Chínhphủ Đó là những văn bản pháp lý quan trọng quy định tương đối đầy đủ và cụthể các quyền và nghĩa vụ chủ yếu của xí nghiệp quốc doanh trong các lĩnh

Trang 8

vực sản xuất kinh doanh Có thể nói đó là những văn bản pháp luật quan trọngnhất về địa vị pháp lý của doanh nghiệp thời đó Bản điều lệ này đã xác định

vị trí, vai trò của xí nghiệp công nghiệp quốc doanh và liên hiệp các xí nghiệpquốc doanh trong hệ thống kinh tế Điều lệ cũng hoàn thiện thêm một bước về

cơ chế quản lý trong nội bộ doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp tập thể, trong cơ chế quản lý kinh tế tập trungbao cấp có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước và đã được ghi nhận trong các văn bản pháp lý khác nhau ngay từ khiNhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời

Kinh tế tập thể được tổ chức với nhiều hình thức khác nhau như: tổhợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong nhiều ngành kinh tế quốc dân,như: nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng,vận tải, thuỷ sản, làm muối, mua bán, tín dụng, tiêu thụ… Tất cả các tổ chứckinh tế này được gọi chung là doanh nghiệp tập thể

Như vậy, trong giai đoạn này do điều kiện kinh tế và xu thế của thờiđại, pháp luật về doanh nghiệp tuy có những yếu tổ để trở thành một hệ thốngthống nhất trong quản lý kinh tế, nhưng vấn còn nhiều hạn chế, thiếu sót, thậmchí là sai lầm Những văn bản pháp luật về doanh nghiệp không đáp ứng vàtheo kịp thực tiễn phát triển của nền kinh tế nói chung và doanh nghiệp nóiriêng Thực trạng đó đã đặt ra yêu cầu bức thiết cần phải bổ sung, sửa đổi vàhoàn thiện hệ thống pháp luật về doanh nghiệp và yêu cầu đó đã được tườngbước cụ thể hóa trong thời kỳ đổi mới đất nước, xây dựng nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ chủ nghĩa

Pháp luật về doanh nghiệp trong giai đoạn đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc

tế

Đây là giai đoạn pháp luật về doanh nghiệp có bước phát triển vượtbậc cả về số lượng và chất lượng Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIcủa Đảng và nhất là sau Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 3

Trang 9

(khoá VI), quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ta vềdoanh nghiệp đã có nhiều thay đổi quan trọng Trong khoảng thời gian 20 nămđổi mới, nước ta đã ban hành các đạo luật về doanh nghiệp như: Luật doanhnghiệp tư nhân năm 1990, Luật công ty năm 1990, Luật phá sản năm 1994, Luậtsửa đổi một số điều của Luật công ty số 35 - L/CTN của Quốc Hội Luật thươngmại năm 1997… Ngày 12/6/1999 tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá X đã thôngqua Luật doanh nghiệp thay thế cho Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990 Luậtdoanh nghiệp năm 1999 ra đời đã đánh dấu một mốc son trên con đường hoànthiện khung pháp luật về các loại hình doanh nghiệp ở nước ta Gần đây nhất,ngày 29/11/2005, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thôngqua Luật doanh nghiệp thay thế cho Luật doanh nghiệp năm 1999, Luật doanhnghiệp nhà nước năm 2003 và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996(sửa đổi, bổ sung năm 2000) Luật doanh nghiệp năm 2005 ra đời thể hiện sựthống nhất trong việc điều chỉnh địa vị pháp lý của các doanh nghiệp ở Việt Namtrong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Luật công ty năm 1990, Luật doanh nghiệp tư nhân 1990.

Để thực hiện đường lối phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, lao động và tài nguyêncủa đất nước, tạo thêm việc làm; bảo hộ lợi ích hợp pháp của người góp vốnđầu tư, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế; khuyến khích việc đầu tư kinhdoanh, bảo hộ lợi ích hợp pháp của chủ doanh nghiệp tư nhân; tăng cườnghiệu lực quản lý Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh Tại kỳ họp lầnthứ 8 Quốc hội khóa VIII ngày 21.12.1990 đã thông qua hai đạo luật quantrong về doanh nghiệp, Luật công ty năm 1990 và Luật doanh nghiệp tư nhân

1990, hai luật này có hiệu lực từ ngày 15.04.1991 Luật công ty 1990 gồm 6chương và 46 điều, quy định về Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổphần Luật doanh nghiệp tư nhân 1990 gồm 5 chương và 28 điều, qui định vềdoanh nghiệp tư nhân Việc ban hành và thực hiện 2 đạo luật này đã tạo nênbước phát triển đột phá của các loại hình doanh nghiệp, đặc biệt là doanh

Trang 10

nghiệp tư nhân, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, sau mộtthời gian thực hiện, cùng với những thay đổi của thực tiễn nền kinh tế, hai luật

này đã bộc lộ những vấn đề bất cập cần được khắc phục Do vậy, Luật Sửa đổi một số điều của Luật công ty 1990 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội

chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 22/0 6/1994 Luậtquy định sửa đổi một số điều của Luật công ty Luật này sửa đổi một số điềucủa Luật công ty được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namthông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990 cụ thể như sau:

Điều 1 Sửa đổi một số điều của Luật công ty như sau:

1- Đoạn cuối Điều 16 được sửa đổi như sau: "Trong trường hợp ngườixin phép thành lập công ty thấy việc từ chối cấp giấy phép là không thoảđáng, thì có quyền khiếu nại lên Thủ tướng Chính phủ"

2- Đoạn đầu Điều 17 được sửa đổi như sau: "Công ty phải đăng kýkinh doanh tại Uỷ ban kế hoạch tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Hồ sơđăng ký kinh doanh bao gồm: giấy phép thành lập, điều lệ công ty và giấy tờchứng thực trụ sở giao dịch của công ty"

3- Đoạn cuối Điều 18 được sửa đổi như sau: "Trong thời hạn bảyngày, kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Uỷ ban kế hoạchphải gửi bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh kèm theo hồ sơ củacông ty cho cơ quan thuế, tài chính, thống kê và các cơ quan quản lý ngànhkinh tế, kỹ thuật cùng cấp"

4- Điểm 1 Điều 20 được sửa đổi như sau: "1- Xin phép Uỷ ban nhândân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nơi đặt chi nhánh hoặc văn phòngđại diện và đăng ký kinh doanh tại Uỷ ban kế hoạch cùng cấp như quy định tạicác điều 14, 17 và 18 của Luật này;"

5- Điều 21 được sửa đổi như sau: "Điều 21-Khi thay đổi mục tiêu, ngành,nghề kinh doanh, vốn điều lệ và các nội dung khác trong hồ sơ đăng ký kinh doanh,công ty phải khai báo lại với Uỷ ban kế hoạch đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh và phải đăng báo theo quy định tại Điều 19 của Luật này"

Trang 11

6- Điều 24 được sửa đổi như sau: "Điều 24 Công ty lâm vào tìnhtrạng phá sản là công ty gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinhdoanh, sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khảnăng thanh toán các khoản nợ đến hạn Việc giải quyết phá sản công ty đượcthực hiện theo quy định của Luật phá sản doanh nghiệp"

7- Điểm 2 Điều 32 được sửa đổi như sau: "2- Trong trường hợp côngkhai gọi vốn từ những người khác thì sau khi được cấp giấy phép thành lập,các sáng lập viên phải nộp tại Uỷ ban kế hoạch nơi cấp giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh một bản dự thảo điều lệ, danh sách sáng lập viên, địa chỉthường trú và nghề nghiệp của họ;"

8- Các chữ "Hội đồng bộ trưởng" được sửa đổi thành các chữ "Chínhphủ" Các chữ "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng" được sửa đổi thành các chữ

"Thủ tướng Chính phủ"

Điều 2 Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 1994.Những

quy định trước đây trái với luật này đều bãi bỏ

Điều 3 Chính phủ sửa đổi các văn bản quy định chi tiết thi hành

Luật công ty cho phù hợp với Luật này

Luật Sửa đổi một số điều của Luật Doanh nghiệp tư nhân1990 Được

Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5thông qua ngày 22/06/1994 Luật Quy định Sửa đổi một số điều của Luậtdoanh nghiệp tư nhân 1990 cụ thể như sau:

Điều 1 Sửa đổi một số điều của Luật doanh nghiệp tư nhân như sau

1- Điều 10 được sửa đổi như sau: "Điều 10- Uỷ ban nhân dân nhậnđơn phải cấp hoặc từ chối cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp trong thờihạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận đơn; nếu từ chối cấp giấy phép thì phảinói rõ lý do Trong trường hợp người xin phép thành lập doanh nghiệp tư nhânthấy việc từ chối cấp giấy phép là không thoả đáng thì có quyền khiếu nại lên

cơ quan Nhà nước cấp trên trực tiếp của Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền cấpgiấy phép thành lập doanh nghiệp"

Trang 12

2- Đoạn đầu Điều 11 được sửa đổi như sau: "Trong thời hạn sáu mươingày, kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập, chủ doanh nghiệp tư nhânphải đăng ký kinh doanh tại cơ quan kế hoạch cùng cấp uỷ ban nhân dân đãcấp giấy phép thành lập"

3- Đoạn cuối Điều 12 được sửa đổi như sau: "Trong thời hạn bảyngày, kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cơ quan kế hoạchphải gửi bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh kèm theo hồ sơ củadoanh nghiệp cho cơ quan thuế, tài chính, thống kê và các cơ quan quản lýngành kinh tế, kỹ thuật cùng cấp"

4- Điểm 1 Điều 14 được sửa đổi như sau:

"1- Xin phép Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương,nơi đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện và đăng ký kinh doanh tại cơ quan

kế hoạch cùng cấp Uỷ ban nhân dân đã cho phép dặt chi nhánh hoặc vănphòng đại diện theo quy định tại Điều 8 và Điều 11 của Luật này;"

5- Điều 15 được sửa đổi như sau: "Điều 15- Khi thay đổi mục tiêu,ngành, nghề kinh doanh, vốn đầu tư ban đầu và các nội dung khác trong hồ sơđăng ký kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân phải khai báo lại với cơ quan

kế hoạch đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Đối với doanh nghiệp

tư nhân được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấpgiấy phép thành lập, thì chủ doanh nghiệp còn phải đăng báo về những nộidung thay đổi"

6- Điều 17 được sửa đổi như sau: "Điều 17-Doanh nghiệp tư nhân lâmvào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thùa lỗ trong hoạtđộng kinh doanh, sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mấtkhả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Việc giải quyết phá sản doanh nghiệp

tư nhân được thực hiện theo quy định của Luật phá sản doanh nghiệp"

7- Điều 23 được sửa dổi như sau: "Điều 23- Chủ doanh nghiệp tưnhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình Trước khi cho thuê,chủ doanh nghiệp phải báo cáo bằng văn bản với cơ quan kế hoạch đã cấp

Trang 13

giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Trong thời hạn chho thuê, chủ doanhnghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sởhữu doanh nghiệp"

8- Đoạn cuối Điều 24 đựơc sửa đổi như sau:

"Sau khi hoàn tất thủ tục bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp vào mộtdoanh nghiệp khác, chủ doanh nghiệp tư nhân phải khai báo với cơ quan kếhoạch đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh để xoá tên trong sổ đăng

ký kinh doanh và phải thông báo công khai"

9- Các chữ "Hội đồng bộ trưởng" được sửa đổi thành các chữ "Chínhphủ" Các chữ "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng" được sửa đổi thành các chữ

"Thủ tướng Chính phủ"

Điều 2 Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 1994 Những

quy định trước đây trái với Lụât này đều bãi bỏ

Điều 3 Chính phủ sửa đổi các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật

doanh nghiệp tư nhân cho phù hợp với Luật này

Tuy luật sửa đổi luật công ty 1990 và luật doanh nghiệp tư nhân 1990

đã giải quyết được những bất cập trước mắt của nền kinh tế, nhưng so với yêucầu thực tế thì còn nhiều vấn đề phải được bổ sung, sửa đổi Do vậy, Quốc hộinước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào ngày 12 tháng 6 năm 1999 và

có hiệu lực thi hành vào ngày 01.01.2000

Luật doanh nghiệp 1999.

Để góp phần phát huy nội lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước; đẩy mạnh công cuộc đổi mới kinh tế; bảo đảm quyền tự

do, bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh của các doanh nghiệp thuộcmọi thành phần kinh tế; bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; tăngcường hiệu lực quản lý nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh Quốc hộikhóa X, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật doanh nghiệp 1999, gồm 10 chương

và 124 điều Luật này quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổphần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân Khi có hiệu lực thì đối

Ngày đăng: 26/08/2017, 18:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w